Sống, Chết, Luân Hồi, Lên Đồng, Gọi Hồn

Trong Sự Quán Chiếu Của
Thập Nhị Nhân Duyên và Duy Thức Học  

                                                                                               Trần Ngẫu Hồ                                                                                  

Đám ma của ông bố vợ của tôi đã xong, đến hôm nay, đời sống và mọi sự trở lại bình thường, tôi mới có thời giờ viết lời cám ơn bằng hữu đã gởi những lời phân ưu tới tang quyến, lời cảm ơn không gì bằng một bài tiểu luận về vấn đề này, vì nó diễn tả được đầy đủ những điều muốn nói. Ngày xưa triết gia Socrates (469-399) tuyên một tam đoạn luận thời danh, mà bây giờ người ta vẫn còn nhắc lại: “Làm người ai ai cũng phải chết, Socrates là người, nên Socrorat phải chết”.

Vâng, Đức Phật Thích Ca, đức Lục Tổ Huệ Năng, Socrorates, ngài Lão Tử, ngài Khổng Tử cũng đều đã chết, mà theo như trong một email của một vị Bác Sĩ (BS), là BS Bùi Duy Tâm (từ đây xin viết tắt là BS BDT), thì: “Phật cũng đã chết ngoẻo”, trong nguyên văn câu của ông: “Chúa, Phật, Mohamet đều cũng đã chết ngoẻo”:

http://buiduytam.com/20-dieu-chung-nghiem-trong-nam-2017/

Với Chúa và Mohamet thì tôi không lạm bàn, nhưng với sự “chết ngoẻo” của đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong nhận định của BS BDT, thì tôi có vài điều cần thưa chuyện với BS BDT một chút, và xin được nói trước, là chẳng có gì nghiêm trọng cả, chỉ vì nhân những sự kiện sau đây:

1) Cái chết của ông cụ nhạc của tôi.  

2) Lời đánh giá của BS BDT là Phật đã “chết ngoẻo”.

3) Và cũng vì Sống và Chết là những chủ đề lớn của đời sống, hay đúng ra là cái Chết mới là điều quan trọng, cần nhiều biện luận, giải trình.  

Ba điều trên đây đã là động lực để tôi đã viết bài này.

Tôi không cho lời nhận xét của BS BDT về cái “chết ngoẻo” của đức Phật là sai, nhưng thật ra là nó chỉ đúng một nửa, đúng trên mặt hiện tượng, nhưng với câu ngạn ngữ Pháp cũng đã nói: “Một nửa sự thật, chưa phải là sự thật”. Mà nhất là với những vấn đề phi hữu, thì phải đi đến sự rốt ráo, tỏ rõ sau cùng.

Do vậy, nếu không phân tách đến nơi, đến chốn thì thật là uổng một cơ hội làm sáng tỏ một vấn đề lớn là cái Chết tổng quát và cái Chết của đức Phật, như vậy chẳng phải là đáng tiếc lắm sao?

Trước hết, xin thưa tôi không có cái duyên để làm bạn, dù là bạn vong niên với BS BDT, vì với tôi, ông thuộc lớp trọng tuổi, đàn anh của tôi xa lắm, tuy không có dịp để trao đổi nhiều, và chỉ gặp có một lần, nhưng tôi luôn giữ cảm tình với với vị giáo sư y khoa, bắc kỳ, có khuôn mặt phúc hậu đẹp đẽ và hào sảng này.

Số là, hôm ra mắt sách “Trả Ta Sông Núi” của Đại Tá Phạm Văn Liễu, tôi có tham dự và định bụng sẽ mua sách của ông. Hôm đó tham dự thật đông người, tôi tiến đến bàn bày sách và hỏi người phụ nữ phụ trách việc bán: “Có nhận check hay thẻ không cô? Vì tôi không mang đủ tiền mặt”. Với tập sách dầy, 3 quyển, mỗi quyển 25 USD. Cô ta trả lời: “Chúng tôi rất tiếc, chưa chuẩn bị để nhận thẻ và cũng không nhận check, xin lỗi ông”. Tôi tặc lưỡi: “Như vậy là tôi phải mua dịp khác thôi”.

Lúc này, có một ông trung niên ngồi xéo ở bên, nhìn tôi đăm đăm và nói rằng: “Anh cứ lấy sách đi, gởi tiền trả sau cũng được”, tôi trả lời: “Cám ơn ông, nhưng tôi không muốn phải nhớ để gởi trả tiền”.

Ý tôi muốn né phải thêm việc, vì đời sống hiện tại đã là quá bận rộn rồi.

Rồi nhự sợ một người thích đọc sách, bị lỡ mất cơ hội đọc được một tập sách hay. Ông lại nói, chẳng biết là thật hay đùa? “Anh cứ lấy sách đọc đi, quên không trả tiền cũng chẳng sao”. Tôi trả lời nhanh để vào trong nghe tác giả nói chuyện: “Xin cám ơn ông, ai lại làm vậy?” với nụ cười cảm tình, thoải mái.

Vì vậy mà tôi cứ nhớ đến buổi gặp gỡ, đối thoại hào sảng và lòng tốt của ông từ đó tới giờ, sau này tôi mới biết đó là BS BDT, nên xin được nhắc tới ông và góp ý với ông về những chủ đề nêu trên với nhiều sự quý, trọng.

Trước hết xin nói tới vế đầu, tức là cái Sống hay Sự Sống. Phần này tôi nói kỹ tới cái sống, vì khi hiểu và thấu rõ cái sống không bao giờ bị ngưng hoàn toàn, mà nó chỉ tạm ngưng, thì cái chết cũng chỉ là tạm chết mà thôi. Nghĩa là đằng sau cái chết là sự trở về trở lại cái sống bằng sự luân hồi là một sự thực tế.

Với Phật Giáo, con nguời không chết theo ý nghĩa của sự triệt tiêu hoàn toàn, nó chỉ tạm thời vắng mặt, như sự phân tách, lý giải bên dưới đây.

Sự Sống:

Sự hình thành cái sống nói chung, bao gồm sự sống của một người, của các sinh vật hữu tình khác, đối với Phật Giáo không phải là một sự tình cờ, nó có nguyên nhân, nó phải có một nguyên nhân. Và cũng giống như khoa học (KH), luôn luôn đi tìm nguyên nhân và họ, KH, đã mất rất nhiều công sức để tìm nguyên nhân của cái sống ra từ đâu?

Sau cùng khoa học cũng đã tìm thấy, gốc của tất cả cái sống ra và bắt đầu từ Big Bang, như trong bài:

Để Trả Lời Cho Câu Hỏi: Con Người Từ Đâu Đến? http://sachhiem.net/TONGIAO/tgTR/TranNgauHo.php

Tác giả Trần Ngẫu Hồ (TNH) đã viết trong bài dẫn trên: <Trích>

Giải thích rõ được Big Bang thì coi như câu hỏi Con Người Đến Từ Đâu được giải quyết trọn vẹn. Vì cái sống (sinh sinh, diệt diệt, biến đổi) ra từ Big Bang, và con người chỉ là một phần của toàn thể cái sống đó.

Như vậy đối với câu hỏi con người đến từ đâu? Thì phải đổi lại là Big Bang đã xảy ra như thế nào? Và từ đâu?

Cho tới nay, có vẻ như Big Bang đã được phần đông giới giới khoa học đồng ý với nhau là nó đã xảy ra và nó đã tạo ra Vũ Trụ mà con người đang sống trong đó.

Xin giới thiệu một đoạn ngắn trong cuốn: “VÔ TẬN TRONG LÒNG BÀN TAY” của Giáo Sư Trịnh Xuân Thuận (TXT):

“<Trích> “… Heisenberg đồng ý với quan niệm này khi ông viết: Như vậy, thế giới giống một chuỗi phức tạp sự kiện, trong đó các mối liên hệ đủ loại xen vào nhau, chúng chập lên nhau và kết hợp với nhau, qua đó quyết định nền tảng tổng thể”.

Tôi (TXT) muốn thêm vào: “Khoa học đã phát hiện ra một khía cạnh khác, mối liên kết của vũ trụ này: Tất cả chúng ta đều được sinh ra từ Big Bang. Các nguyên tử hydro và heli chiếm 98% tổng khối lượng vật chất thông thường trong vũ trụ, đã được sinh ra trong 3 phút đầu tiên tồn tại của vũ trụ. Các nguyên tử hidrô của nước trong các Đại Dương hay trong các cơ thể sống, đều phát xuất từ món súp nguyên thủy này. NHƯ VẬY CHÚNG TA ĐỀU CÓ CHUNG MỘT PHẢ HỆ” <HếtTrích>.

Như thế, Big Bang quả là đã được phần đông giới khoa học đồng ý, chí ít, trên những điều căn bản của vấn đề:

Big Bang là khởi đầu của biến đổi, sinh sinh, diệt diệt và từ đó đã tạo ra một thế giới với những chuỗi phức tạp sự kiện, trong đó các mối liên hệ đủ loại đan, xen vào nhau, chập lên nhau, tương tác qua lại, hủy diệt rồi lại tạo ra những sự kiện mới: Lý Duyên Sinh xem ra quan trọng và hợp lý trong sự khởi đầu này.

Cái này sinh vì cái kia sinh, cái này diệt vì cái kia diệt.

Và sau cùng, tạo ra cái sống, thế giới, cùng con người cũng với những tương tác qua lại, trao đổi, biến hoá, tiến hoá, và tiếp tục tiến hóa, tiến hóa… mà nên.

Vậy là câu hỏi cái sống đến từ đâu xem như đã có câu trả lời rõ rệt:

Cái sống ra từ những biến đổi từ Big Bang. Lâu xa từ 15 tỷ năm trước mà thành hình. <Hếttrích>

Đã Trả lời được cái sống biến đổi ra trừ Big Bang, nhưng khoa học lại gặp phải một đau đầu khác là Big Bang đó ra từ đâu? Và cho tới hôm nay tháng 10/2018, vấn đề này vẫn chưa có lời giải đáp rõ ràng.

Tác giả Trần Ngẫu Hồ, đã trả lời xác quyết và rõ ràng về những vấn đề Vũ Trụ trước Big Bang, nguồn gốc của Big Bang, và nhiều vấn đề của cuộc sống chỉ trong một tác phẩm mang tựa: “Tuyên Ngôn Về Thể Trạng Vũ Trụ Tiền Big Bang” (Viết tắt TNVTTVTTBB), trong đấy, thế giới và cái sống đã được nhận định rõ ràng như sau:

Con người là đại diện rõ nét, sau cuối của biến đổi, tiến hóa, sinh sinh, diệt diệt. Đã biến đổi ra từ những thành phần của Big Bang, mà Big Bang đã khởi đầu từ 2 dây Lạc, ra từ Đại Lạc [Tác giả đã chứng minh: Đời sống khởi đầu từ 2 dây (Cung) Lạc trong chương 4, 5, 6, trang 62-112 TNVTTVTTBB], của Vũ Trụ thể Tâm, chặp vào nhau theo công thức của Einstein, để đã tạo ra năng lượng, tức một khối lửa lớn lúc ban đầu. Mà tướng của Vũ Trụ Thể Tâm này là một Đại Định, nên được tác giả đặt là Vũ Trụ Đại Định.

Đó là cách đã giải thích được sự liên hệ tuyến tính giữa Hữu (tức Big bang) và Phi Hữu (tức Vũ Trụ Thể Tâm, Thực Hữu, Phi Hữu, tức Bản Thể Vĩnh Cửu).

Vũ Trụ Đại Định, tức Vũ Trụ thể Tâm rỗng lặng, bất sinh, bất diệt, rộng lớn bao la không ngằn mé. Cái sinh tức Vũ Trụ Sinh Diệt, tức Vũ Trụ Big Bang ra từ cái Vũ Trụ bất sinh là điều có thể hiểu được, muốn hiểu thấu điều này phải trong tình trạng kiến tánh vô sanh, hay gần tới trạng thái này, sẽ thấy rõ điều đó.

Cũng như phải từ trong căn nhà mà bước ra thì mới có thể mô tả nội thất của căn nhà đó như thế nào, hoặc nếu không vào được căn nhà để mà xem xét kỹ lưỡng thì tối thiểu, cũng phải đi tới cửa sổ, để nhìn vào bên trong căn nhà, thì cũng có được một số hiểu biết căn bản về nội thất của nó.

Muốn thấu triệt được một vấn đề, chúng ta phải là vấn đề đó, hay tối thiểu chúng ta cũng phải gần giống nó, cũng như muốn hiểu được trước Big Bang sinh diệt là như thế nào, chúng ta phải đứng trước sinh diệt vậy, sự đứng trước sinh diệt đó chính là Kiến Tánh Vô Sanh.

Thế nên tại sao sự kiến tánh (Enlightenment), sự sống trong tánh không, với bản thể, thực tại, thiền định và Thể Trạng Vũ Trụ Tiền Big Bang mang tính chất của nhau và liên hệ đến nhau một cách tuyến tính, mật thiết.

Theo tư duy của Kiến Tánh Vô Sanh, tôi đã chứng minh rằng những cung Lạc của Đại Lạc trong Vũ Tru Đại Định thải ra, (Lạc và những Đối Lạc ẩn chứa đã cấu thành cuộc sống hiện tại) là tác nhân chính của sự nổ bùng Big Bang và Đại Lạc cũng tham dự, có mặt trong sự tồn sanh của Vũ Trụ Đại Định, Vũ Trụ Đại Định tồn sanh (Tồn sanh: Sống, tồn tại giữa những sinh diệt xung quanh) trong giác cảm thanh tịnh, dịu dàng, đại từ bi, nên Đại Lạc đã luôn luôn thay đổi cung bậc và thải những cung lạc cũ ra, và sự thay đổi cũng do bản chất của Lạc. Tôi đã giải thích rõ trong các chương: 4, 5, và 6 trong tác phẩm TUYÊN NGÔN VỀ THỂ TRẠNG VŨ TRỤ TIỀN BIG BANG (TNVTTVTTBB) mà nếu quý độc giả nào thích thú về đề tài này, có thể tìm mua bằng cách email về thetrangvutru@yahoo.com.

Sự đào thải những cung Lạc cũ khiến cho Vũ Trụ Đại Định bao la không ngằn mé có vô lượng những cung lạc, bay lăng quăng trong Vũ Trụ Đại Định này, do bản chất lạc của chúng, và cũng do sự cô đơn của chúng (sự sinh, diệt đã bắt đầu từ sự cô đơn này, gọi là vô thỉ vô minh) nên chúng tìm đến nhau và chặp vào nhau. 2 cung lạc chặp vào nhau, ở trạng thái phi trọng trường, phi không gian, nên đã tạo ra năng lượng. (Lửa tạo ra do sự chặp vào nhau) theo công thức: 

E = mc2.

Trong đó khối lượng ‘m’ của Vũ Trụ Thể Tâm đã được giải thích, chứng minh trong các trang 101-103 trong TNVTTVTTBB.

Hỏa tạo ra do sự chập vào nhau của 2 cung Lạc, nên luận trình của tôi không loại trừ Big Bang.

Như vậy, yếu tố hỏa là yếu tố xuất hiện đầu tiên, trong cái mênh mang, không ngằn mé của Vũ Trụ Đại Định, vô lượng những đám cháy do 2 cung lạc chặp vào nhau. Những đám cháy lớn thâu, nhập những đám cháy nhỏ, tro bụi do sự thâu nhập này mỗi lúc càng lớn. Lâu dần chúng quyện vào với nhau để trở thành yếu tố thổ (tức địa, hay đất). Ở giai đoạn đầu tiên này HỎA sinh => THỔ.

Những mảng thổ (Địa) trôi nổi trong hỏa, kết hợp với nhau thành một khối, cuộn tròn một phần HỎA bên trong ruột của mình, hỏa hợp với một phần thổ thành dung nham, rồi thổ lại kết hợp với nhau trở thành những mảng lục địa trượt lên nhau. 

Bằng cớ là Địa Cầu ngày nay kết hợp với nhau bằng nhiều địa tầng.

Do sự nung nấu ở trong lẫn ở ngoài, các thành phần tro bụi, tương tác lên nhau, các chất, hạt trong thổ biến thể, kết hợp với nhau để trở thành yếu tố KIM, tức kim loại, và các quặng mỏ kim loại các loại, vậy là chúng ta có tiến trình thứ 3: HỎA sinh =>THỔ sinh => KIM.

Hỏa tiếp tục đốt thổ, và những mảng lục địa vẫn tiếp tục trườn qua nhau, để lộ kim (các mỏ kim loại). Kim bị hỏa đốt nóng chảy bốc hơi, lâu ngày hơi thành một thế lực, thoạt đầu đơn giản, sau lại tiếp tục kết hợp với nhau để thành bầu khí quyển, bầu khí quyển này gặp sức nóng của hỏa, thành THỦY, tức nước và đã tạo nên những cơn mưa, rơi xuống. Giai trình thứ tư thành hình:

HỎA sinh => THỔ sinh => KIM sinh => THỦY

Thủy, (tức nước) gặp hỏa thành hơi nước, bay lên kết hợp với nhau thành những thế lực lớn dần, rồi thành những cơn bão mang tính hành tinh (do thủy và hỏa khắc nhau, không chịu nhau).

Ở giai đoạn này chúng ta thấy Đất, Nước, Gió, Lửa đã hiện hữu.

Mưa bão càng lúc càng lớn, vì những số lượng nước rơi xuống gặp lửa đốt cháy ngay, bốc hơi ngày càng nhiều, biến thành những cơn lụt mênh mang dập tắt hỏa ở nhiều nơi, đại hồng thủy (Nước và lửa cùng xuất hiện, tương tranh nhau) lần đầu xảy ra, do sự ức chế của hỏa, nên thủy cũng lớn theo, một số lớn nước mưa rơi xuống thấm, biến vào đất thành những mạch nước ngầm lớn, phần còn lại chảy vào những chỗ trũng, do sự đẩy nhau của các lục địa. Trở thành sông, hồ, biển cả, đại dương.

Những chỗ đọng nước do sức nóng của hỏa, tức mặt trời soi rọi (4 tương tác xuất hiện trước đó => Mặt trời, hệ thống solar system, đã thành hình, cũng do những đám cháy lớn do va chạm lớn của 2 cung Lạc kết với nhau và y tha khởi tánh trong Vũ Trụ can thiệp, khởi đầu) trở thành những tảo, rong rêu, các mầm sống chưa rõ rệt đã bắt đầu, tiến hóa phân nhánh thành những rừng cây lớn. Giai đoạn thứ 5 thành hình: 

HỎA sinh => THỔ sinh => KIM sinh => THỦY sinh => MÔC.

Mộc thời kỳ này ở giai đoạn phát triển sung mãn, do sự ưu đãi tới lạm phát của Thủy, nên cây cỏ đã mọc kín dầy trên mặt đất. Thổ bị ép chế nên hợp cùng hỏa tạo nên những cuộc động đất lớn kinh hoàng, những mảng địa tầng và dung nham bộc phát lớn, trườn lên vùi lấp nhiều khu rừng nguyên sinh vĩ đại vào lòng đất.

(Giai đoạn này đã thành lập nên những mỏ dầu hỏa, mỏ than đá, mỏ khí đốt lớn, do sự nung nấu của dung nham trong lòng đất trên những khu rừng nguyên sinh lớn, đồng thời tạo nên mỏ khí metal, và các chất khí phức tạp khác. Khí metal, và các khí này len lỏi qua các khe nứt hở của các địa tầng thoát ra ngoài, tụ ở những bãi bùn, sình, thành hình ngâm dưới đáy sông hồ, kết hợp bởi hỏa (sức nóng trong lòng các địa tầng) thổ, (tức địa), và thủy(nước). Chúng cũng hợp với những tảo, rêu, chất nhờn trong bùn sình thành những vi sinh đơn giản đầu tiên, chúng biến đổi và tiến hoá chia nhánh, và lại đột biến DNA để tiến lên thành những, tảo, rêu, là trước nhất rồi, thảo mộc các loại, rồi siêu vi khuẩn và các sinh vật đơn bào, rồi đa bào và các chủng loại khác nhau ngày nay).

Như vậy quả nhiên, cái sống và cả con người ngày nay được tạo thành bởi đất, nước, gió, lửa. và Thức.

Chứ mầm sống chẳng phải là từ những tác nhân khác ngoài Địa Cầu, như khoa học đã nêu.

Thế nên đất, nước, gió, lửa cũng bắt buộc phải qua một thời kỳ rạo rực hình thành như trên.

Thảo mộc và các loài thú là những chúng sinh thấp nên thức của chúng cũng thấp nên tồn tại, sinh diệt theo bản năng. Con người là một loại chúng sinh cao nhất (sau cùng của tiến hóa), hình thành được thức người, phát huy mạnh thức thứ 6 (Xem Nguồn Gốc Của Thức chương 7 trang 115: TNVTTVTTBB), tiến hóa, sinh diệt, rộn ràng, nên tạo nên sự tiến bộ. Sum la vạn tượng được nhận diện rõ ràng hơn, và cũng nhờ thức thứ 6. Tức Ý Thức, tức sự thông minh, con người có thể trở về tánh không, bổn lai diện mục của mình được.

Trên đây là giải trình Big Bang và tiền Big Bang của tôi, và sự thành lập cái sống, sau yếu tố hỏa xảy ra, và dựa trên thuyết ngũ hành tương sinh của Đông Phương giải thích đơn sơ thế giới và cái sống khởi đầu.

Như vậy Vũ Trụ thực tướng, phi tướng tức lớp phi hữu vô sanh và Vũ Trụ Big Bang sinh diệt đã được giải trình, nhận định, và đã tạo nên sum la vạn tượng, tức lớp hữu vi số 1, định giá như vậy chúng ta sẽ nhận định thế giới 5 lớp về sau. Xin giới thiệu bài:

http://sachhiem.org/vu-tru-tien-big-bang-va-the-gioi-5-lop-voi-hinh-minh-hoa-mo-ta-tong-quat-6316.html/

Kết luận:

“… Sự khởi đầu như vậy đã được giải thích rõ ràng, có nguồn gốc, có trình tự hợp lý, bắt đầu từ những cung Lạc vui tươi hay trầm mặc của Đại Lạc trong Vũ Trụ Thể Tâm rỗng lặng hồn nhiên và con người có thể câu thông, thể nhập với nguồn gốc đó bằng tâm Đại Định Vô Sanh của mình, mà không cần qua sự thần bí, tạo dựng, mơ hồ, là Thượng Đế, Chúa, hay God gì cả, cũng không cần qua những phương trình toán học đồ sộ, phức tạp, khó hiểu. Nhưng từ chính những con người cụ thể chúng ta. Hay chính là từ Tâm đơn sơ của từng con người.

Tóm lại, sự thành lập Vũ Trụ Big Bang theo lập trình như sau:

Vũ Trụ Đại Định, thể Tâm gồm thường, Lạc, Ngã, Tịnh với Đại Lạc đào thải những cung bậc cũ ra => Hai Cung Lạc (các dây theo lối gọi mới) chập vào nhau, theo công thức E = mc2, tạo ra nổ bùng sinh => HỎA+ HỎA(n+1) sinh => THỔ sinh => KIM sinh => THỦY sinh => TẢO + SIÊU VI ĐƠN GIẢN + MỘC => MỎ KHÍ => ĐA CHẤT PHỨC TẠP, VI KHUẨN => CÁC SINH VẬT ĐƠN BÀO => CÁC SINH VẬT ĐA BÀO => TIẾN HÓA ĐỘT BIẾN DNA => THÚ VẬT => NGƯỜI NGÀY NAY…”.

Cái sống và sự xuất hiện của con người là một phần trong đó. Con người xuất hiện trễ nhất trong chuỗi sinh sinh, hóa hóa, biến đổi này, nếu không có sự sinh sinh, hóa hóa, biến đổi này thì chúng ta không có mặt ngày hôm nay. Sự sinh sinh, hóa hóa này nhà Phật gọi là sự sinh sinh, diệt diệt.

Chữ của nhà Phật luôn luôn bao quát và hàm chứa, như giữa sự sinh sinh thì phải có diệt ở trong đó, vì nếu không qua tiến trình diệt thì làm sao mà có sinh tiếp theo được? Sự diệt này, thế gian đời thường gọi là chết.

Chúng ta khảo sát cái sống kỹ lưỡng, sẽ hiểu được cái chết rõ ràng.

Trong “TNVTTVTTBB” ở các chương 5, 6 và 7 tôi đã giới thiệu rõ cái gia đình của con người đầu tiên. Mà theo khoa học, đã đi tìm bằng chứng từ DNA, thì tổng số nhân loại ngày hôn may đều từ một gia đình đầu tiên này.

Từ khi cuộc sống cộng đồng được thành lập cho tới nay, có thể nói một cách không quá chủ quan là tư duy và cách đánh giá của con người đều hướng về, và đều ở bên trong vùng hữu vi, vật chất, nghĩa là thế giới hiện tượng, nhưng lại bỏ quên hoàn toàn khía cạnh phi hữu (gọi tắt là những khía cạnh “phi”), mà thật ra rất mật thiết với đời sống của con người. Hiểu rõ, thấu triệt được phi hữu là sẽ thấu triệt được bản thể, thấu triệt bản thể là thấy được Vũ Trụ Thực Tướng phi tướng, thể trạng của Vũ Trụ trước Big Bang xảy ra.

Bài này, sẽ chỉ rõ rệt khía cạnh phi hữu này, mà thuật ngữ của Phật Giáo hay bắt đầu bằng những từ “không”. Do nhu cầu này, chúng ta cần định nghĩa, giải thích cho rõ những từ không này, để tránh dùng lẫn chúng với nhau ngõ hầu làm rõ nghĩa của phi hữu.

Phi hữu là những thực thể không ở trong thế giới hiện tượng, chỉ có thể dùng biểu tượng để chỉ ra tướng trạng của phi hữu, bằng ngôn ngữ nhưng rất giới hạn. Có những phi hữu hợp lý, có lý, nhưng cũng có những phi hữu vô lý hay tợ lý cũng được một số đông tin theo, bài này chúng ta chỉ nói tới những phi hữu hợp lý mà thôi.

Xin hãy bắt đầu định nghĩa và sự giải thích các từ “không” của lãnh vực “Phi hữu”

Tướng không:  Tướng không, thường ở bên cạnh tướng có (tướng có tức hữu tướng. Như tướng không của con người thì gắn liền với hữu tướng của con người), nhưng một đôi khi không nhất thiết phải gắn liền với hữu tướng, như Tướng không của cái bàn là khoảng không gian trong giới hạn của mặt bàn và dưới gậm bàn. Thì tướng không của cái chổi có thể là cả cái sàn nhà, và tướng không của chiếc phi cơ thì ngoài cái không gian bên trong phi cơ thì cả cái không gian vươn tới của phi cơ đều có thể là tướng không của phi cơ.

Hư không: Thường dùng như một thể trạng đại diện chỉ cho cái không, nơi không xuất hiện vật chất.

Thể không, chân không, cái không: Có ý nghĩa giống nhau, thể của chúng giống nhau ở khía cạnh rỗng lặng, không gì hủy diệt được (sẽ chứng minh sau). Tướng không, thể không: Là cái căn bản của những vật hữu vi, và những chúng sinh hữu tình dạng thấp dưới loài người.

Tánh không: Là cái căn bản, cái gốc bổn của một con người. Tánh không có thể đạt được từ con người, loài vật không thể đạt được tánh không.

Tâm không: Sự rỗng lặng, hồn nhiên của một con người, có chứa giác tính. Tâm không là giá trị mà hành giả muốn đạt tới. Tâm không là lối gọi khác của Tánh không. Tâm không đồng một thể với Bản Thể, và thể của Vũ Trụ Đại Định.

Như vậy, cái bàn, cái ghế, căn nhà, cái xa lộ v…v… Đều có tướng không, vậy tướng không của một con người là đâu? Xin thưa, tướng không của con người là tất cả những chỗ không nơi con người dựa trên nó để sống, để tồn tại: Chỗ không của cặp mắt, chỗ không của lỗ mũi, lỗ tai, cái miệng, dạ dầy, ruột, gan, kinh mạch, và cả hư không chung quanh con người đó v…v…

Tất cả những phạm trù không này đều có liên hệ tuyến tính, ở ý nghĩa rỗng lặng và đều ra từ Bản Thể tức Vũ Trụ Thể Tâm, rỗng lặng, hồn nhiên mà ra. Thiền định rỗng lặng thường xuyên cũng có thể nối kết giữa thế giới phi hữu này.

Tại sao Tánh Không có thể câu thông được với các cái không khác? Vì Tánh Không và các cái không khác có một số đặc tính của nhau là: Rỗng lặng, bất khả hủy diệt, không hiện tướng, không sinh diệt thay đổi. Chính nhờ sự thâm nhập được vào không bằng Tâm Không mà đức Thích Ca tuyên bố chia chẻ tới tận cùng của vật chất là hư không hay cái thể không cũng vậy.

Cái không (tức Chân Không, hư không) này luôn luôn theo cạnh hữu tướng, giúp cho hữu tướng thực hiện được chức năng của mình, nó chính là cái phi tướng của tướng. Cái không này lúc nào cũng quanh quẩn theo hữu tướng một cách tự nhiên, khiến con người không nhận ra và bỏ quên hẳn nó, không tìm hiểu về nó.

Chính sự thiếu sót trong sự tìm hiểu về phi hữu mà đã làm cho nền văn minh thiên về vật chất của con người trở thành khập khiễng và mặc dầu có nhiều tiến bộ nhưng vẫn chưa thật sự mang lại hạnh phúc cho từng con người và mọi con người.

Sự tôn thờ một thực thể hữu- huyễn thần là do sự cạn cợt của tư duy nên đã đem tới sự mất dấu của phi hữu. Vì khi dựa vào thượng đế hữu thể hay những thuộc tính của thượng đế hữu thể đó thì vẫn chỉ là quanh quẩn trong vùng hữu vi mà thôi. Đem đến tác hại là đã giam hãm con người một cách liên lỉ trong muôn vàn vấn đề trong phạm vi phi hữu (cái phi hữu mơ hồ, mâu thuẫn của chính nó), nhưngkhông bao giờ được trả lời.

Thấu triệt và giải thích rõ những phi hữu sẽ trả lời thỏa đáng một số vấn đề cơ bản của cuộc sống, vì như đã nói, phi hữu gắn liền với cái sống hữu vi, giúp cho hữu vi có giá trị và hành hoạt như chứng minh sau đây:

Hãy Lấy một cái bàn gỗ đơn giản làm thí dụ, bàn gỗ hữu vi này có thể bị hủy diệt ngay bởi lửa, bởi sự già cỗi, bởi của sự xử dụng, hay bởi sự bất cẩn của chủ nhân, hay sự tàn phá của thời gian. Nhưng phi tướng của bàn thì không bao giờ bị hủy diệt, bởi bất cứ tác nhân nào.

Phi tướng của bàn gỗ, xin nhắc lại, là khoảng không gian trong giới hạn khoảng xung quanh bàn và khoảng không gian trên và dưới mặt bàn, phi tướng gắn liền với cái bàn hữu tướng và phải giúp cho bàn trở thành hữu dụng thực tế, nếu nó không giúp gì được cho bàn thì nó chẳng cần có mặt làm chi, và chúng ta cũng không cần phải nêu nó ra làm gì.

Khi có cái bàn, chúng ta thường chỉ nghĩ tới việc xử dụng cái bàn vật thể (Vì sự chấp hữu đã trở thành thói quen quán tính), nhưng đúng ra là nhờ cái bàn có phi tướng mà bàn mới xử dụng được. Giả thử chúng ta dùng những hộp không là đại diện cho tướng không phi tướng của bàn, hộp không phi tướng đó đặt ở chỗ không của bàn, và chiếm hữu những khoảng không chung quanh bàn (bao gồm cả trên, dưới mặt bàn). Với sự chiếm hữu phi hữu này thì cái bàn bị trở nên vô dụng tức khắc trong mọi mặt, mọi thời. Và phút, giây nào mà phi tướng của bàn còn bị chiếm hữu thì cái bàn còn bất khiển dụng, không thể dùng cho bất cứ vào việc gì. Chỉ khi nào chúng ta trả lại tướng không cho bàn, thì bàn mới lại xử dụng được. Như vậy chính tướng không của cái bàn đã định đoạt giá trị của cái bàn đó, nghĩa là chính tướng không của bàn khiến cho bàn có thể xử dụng được hay không?

Tướng không của cái bàn chính là phi tướng của bàn. Thế nên kinh nói: “Phi tướng là thực tướng” trong nghĩa này.

Chúng ta bỏ hộp ra, đánh dấu 4 chỗ chân bàn một cách kỹ lưỡng, xong đem cất bàn hữu vi vào một chỗ, xem như tại nơi bàn chỉ còn tướng không, phi tướng của bàn. Trước hết chúng ta dùng chất nổ lớn, phá hủy tướng không của bàn, sau đó chúng ta dùng lửa đốt cho tướng không của bàn bị cháy tiêu đi nhìều ngày, để cho bàn bị chắc chắn hủy diệt, chúng ta dùng một khối đất chôn kín tướng không của bàn vài năm.

Sau những sự hủy diệt và chôn bàn vài năm sau, phá chỗ đất đã chôn bàn ra, xong chúng ta đem cái bàn cũ đặt trở lại nơi đánh dấu 4 chân bàn, thì chúng ta vẫn thấy phi tướng của bàn vẫn xử dụng đưọc bình thường. Chẳng những vậy, nếu chúng ta đem một chiếc xe tới đặt vào chỗ của bàn thì tướng không của bàn thành tướng không của xe, hoặc mang cái ghế đặt vào chỗ đó, thì tướng không của cái ghế cũng xử dụng được, hoặc dựng một căn phòng ở ngay chỗ của bàn thì tướng không của bàn thành tướng không của căn phòng.

Cái gì mà có thể dùng cho bất cứ vật gì khác nó, và nó không thể bị hủy diệt bởi bất cứ cái gì, thì cái đó phải là bản thể.

Bản thể như vậy cũng là tướng không, hay cái không rỗng lặng.

Tướng không, phi tướng của bàn đồng với thể không của bàn, đồng với hư không. Nếu chúng ta đem cái bàn gỗ ra nghiền nát, thành những hạt vi trần, thì sau cùng bên trong của chúng cũng là (thành) cái Hư không mà ngài Thích Ca đã giảng cho ông Anan, như vậy chúng ta cũng có thể nói thể của cái bàn gỗ chính là cái không đó.

Phân tách vi trần của một hạt sắt, thép, hay những DNA của một con người thì sau cùng cũng là cái không đó, nên Vạn vật đồng nhất thể là thế, là ở cùng cái thể không này.

Tới đây, chúng ta phải phân tách và xác định cho rõ sự kiện luân hồi, là một chủ đề mà nhiều người, ngay cả trong văn hóa Phật Giáo cũng vẫn còn mơ hồ, bàn cãi:

Ngay những trang trước, chúng ta đã chứng minh, tướng không, phi tướng của cái bàn gỗ không gì có thể hủy diệt được.

Vậy tướng không, phi tướng của một con người thì cũng đương nhiên không thể bị hủy diệt được bởi bất cứ thứ gì như thế, dẫu cho nó có bị nổ lớn tan tác thân xác hữu vi, hay đốt bằng lửa cao độ, hay chôn trong bao lâu đi nữa thì phi tướng ấy cũng không thể bị hủy diệt được.

Sau khi chúng ta qua đời vì những lý do tự nhiên như hết nghiệp thân, hay bất chợt vì bất cứ lý do nào khác, thì cái phi tướng của chúng ta cũng không thể bị hủy diệt. Phi tướng của một con người không thể bị hủy diệt bởi bất cứ thứ gì, thì tánh không gốc bổn của con người trong đó cũng không thể bị hủy diệt bởi bất cứ thứ gì.

Như thế, sau chuyện chết xảy ra, thì sau đó chúng ta sẽ về đâu? Khi chúng ta chưa sống đưọc trong tánh không như những người đã kiến tánh, ở trong tánh? Xin thưa, chúng ta phải trở lại trong cái sinh sinh, diệt diệt, tức đời sống hữu vi này, điều mà Phật Giáo gọi là luân hồi đó.

Như vậy, từ nay chúng ta không còn nghi ngờ về luân hồi nữa. Lại nữa, các Vị Phật, vị Tổ đã kiến tánh, sống trong tánh, mà tôi gọi là cõi Vô Sanh, thì vĩnh cửu. Vì tướng không không gì có thể hủy diệt được, thì tánh không trong tướng không đó cũng vĩnh viễn không gì có thể hủy diệt được là lẽ đương nhiên.

Thế nên ngay từ trang đầu của TNVTTVTTBB tôi đã xác định, chỉ có cái bất sinh diệt tức cõi Vô Sanh và cái sinh sinh, diệt diệt tức luân hồi mà thôi. Đức Phật Thích Ca, và các vị Tổ đã kiến tánh, sống trong tánh, thì tồn sanh trong cõi Vô Sanh là một điều thực tế.

Trở lại vấn đề, tướng không phi tướng, thể không, hư không là đồng với nhau vì cùng là rỗng lặng, cùng không gì có thể hủy diệt được, cùng không hiện tướng. Và tất cả chúng ta đều có thể thể nhập vào nó bằng tâm rỗng lặng của chúng ta, nên để hiểu và diễn tả cái không này rõ hơn thì chính chúng ta phải thể nhập vào nó, tâm rỗng lặng chính là tâm kiến tánh vô sanh, hay Đại Định Vô Sanh. Sống thường xuyên với Đại Định Vô Sanh với cái phi tướng không gì có thể hủy diệt được, như đã nói đó chính là giải thoát theo lối nói của Phật Pháp.

Như vậy, thể trạng của Vũ Trụ trước Big Bang sinh diệt xảy ra (Như chúng ta đã biết Big Bang chỉ là bắt đầu của sinh diệt biến đổi mà thôi) và bản thể và tánh không và sự kiến tánh đều có liên hệ đến nhau, đều mang tính chất của nhau. Và đều là rỗng lặng hồn nhiên, không cái gì có thể hủy diệt được nó.

Giải thoát chỉ là một từ khác diễn tả sự không gì có thể hủy diệt ấy.

Kết luận và nhắc lại: Khi phi tướng của con người không bị hủy diệt, thì cái bổn lai diện mục tức tánh không trong con người cũng không thể bị hủy diệt bởi bất cứ thứ gì.

Vậy đức Phật Thích Ca, sống thường xuyên trong tánh của ngài, với phi tướng của ngài thì chúng ta phải hiểu và thấy ngài là vĩnh cửu trong cõi của ngài là một sự thực, cõi đó là cõi Vũ Trụ Đại Định tức Niết Bàn Vô Dư, tức Vũ Trụ Thực Tướng, Vô Tướng trước tất cả các Big Bang sinh sinh, diệt diệt biến đổi xảy ra.

 

Đức Phật Thích Ca đã kiến tánh vô sanh trong Đại Định, nên ngài đã sống trong trạng thái giải thoát ngay sau sát na (khana) nhìn thấy sao mai hiện trên nền trời, và ngài đã nhập diệt (Sống trong hữu vi niết bàn lúc còn thân xác) ngay sau sát na đó và đã thành Phật. Ngài luôn luôn trong trạng thái Đại Định Vô Sanh.

Tức là ngài không sanh (vô sanh) nên không chết (tử) ngay từ sau sát na đó, thế nên nhận định là ngài Phật Thích Ca đã chết là một nhận định sai với thực trạng của ngài.

Vì vậy mà Ngài Phật Thích Ca chưa bao giờ chết ngẻo, trong sự quán chiếu tận cùng, ngài đã và mãi mãi, vĩnh cửu trong cõi Phật, tức cõi Đại Định Vô Sanh. Hay niết bàn diệu tâm, hay Vũ Trụ Thực Tướng Phi Tướng.    

Muốn hiểu rõ điều này thì phải hiểu lý Đạo, muốn hiểu lý Đạo phải giải được nghi tình công án.

Cái chết:

Đối với Phật Giáo thì cái chết chỉ là sự vắng mặt một giai đoạn, và phải bắt buộc trở lại cái sống như đã giải thích rõ ở trên.

Mặc dù đều công nhận luân hồi là thực trạng, nhưng vẫn có những bất đồng giữa các bộ phái Phật Giáo với nhau về trạng thái luân hồi. Mật Tông cho rằng tiến trình luân hồi phải qua giai đoạn trung ấm, khoảng 49 ngày. Thì phái Therevada, Nam Tông, lại cho rằng tiến trình luân hồi phải ngay tức khắc.

Sự khác biệt giữa các quan niệm của các tông phái, cho thấy sự ẩn quá sâu của luân hồi trong phi hữu, nếu không có công phu thiền định sâu xa hơn luân hồi, thì khó mà nêu rõ vấn đề này một cách xác quyết được.

 

Trong khi chờ đợi một sự giải thich ngọn ngành hơn, tôi xin được thử áp dụng và tỷ giảo pháp thập nhị nhân duyên và pháp duy thức học để dung hòa. Và mong có được sự chỉ giáo, học hỏi thêm từ các bậc cao nhân, Phật Tử Ngẫu Hồ xin đảnh lễ và sửa đổi trong sự chỉ dẫn của chư vị với lòng biết ơn sâu xa.

Cùng là sự thực hiện lời hứa sẽ viết về luân hồi gọi hồn, lên đồng trong sự quán xuyến của thập nhị nhân duyên và duy thức học.

Theo Phật giáo, con người luân hồi trong các thể trạng như sau:

Vô minh Hành Thức Danh sắc Lục nhập Xúc Thọ Ái Thủ HữuSinh Lão Tử.

Đây là pháp thập nhị nhân duyên (TNND), đã được giảng giải nhiều bởi các luận sư, giảng sư, nếu muốn đọc thì vào các Website lớn của Phật Giáo sẽ có giải thích đầy đủ, thế nên tôi sẽ chỉ dựa vào các nét chính của TNND để giải thích luân hồi và ngồi đồng, gọi hồn là những quan tâm chính.

Để giải quyết vấn đề luân hồi này, theo tư duy của tôi, chúng ta phải thêm thức vào mỗi chi thì ở chi kế tiếp có sự hợp lý, vì nếu không có thức thì danh, sắc làm sao trưởng dưỡng để thành lục nhập? (tức tứ chi đầu mình tay chân, mắt, mũi, tai, lưỡi, ý thức) và xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão, tử thì cũng cần phải có thức như thế, thiếu thức thì tiến trình này sẽ ngưng tức khắc, xin thêm thức vào các chi:

Thức vô minh thức hành thức, thức thức danh sắc thức lục nhập thức xúc thức thọ thức ái thức thủ thức hữu thức sinh, lão, bệnh thức tử.

Thức Tử trở về Thức vô minh. Và cứ tiếp diễn như vậy mãi mãi.

Đến đây, chúng ta thấy rõ thức là một dòng liên tục không đứt đoạn, đúng như nhận định của Phật Giáo khi gọi thức là những kiết sinh thức, một cái thức nối kết những biểu tưọng và giá trị phi hữu trong thức, khiến tiến trình luân hồi trong thập nhị nhân duyên thành hiện thực, không bị đứt đoạn. Cũng có lẽ vì lý do này mà Phật Giáo Nguyên Thủy (therevada) cho rằng luân hồi là một tiến trình tức khắc.

Ở những trang trước, chúng ta đã chứng minh phi tướng của con người không gì có thể huỷ diệt được, ở đây chúng ta lại thấy thức của một con người trong phi tướng của con người là liên tục nên không thể bị huỷ diệt được.

                                                                                                                                                                                   Thức này là thức sinh sinh, diệt diệt. Nên nơi đây, chúng ta thấy luân hồi là một tiến trình rõ hơn sau khi chúng ta qua đời, cái thức đấy nó phải trở về cái sinh sinh diệt diệt hữu vi này là điều hiển nhiên.

Nơi chi thứ 3, chúng ta thấy có 2 thức, gồm thức cũ và thức mới.

Triển khai chi thứ 3 này, chúng ta sẽ khám phá toàn thể bí ẩn của luân hồi và cõi thức phi hữu, bao gồm lên đồng gọi hồn trong đó. Kể cả những hiện tượng mà người ta gọi là ma, quỷ.

Tới đây, để có thể hiểu rõ hơn về luân hồi chúng ta cần tham khảo thêm duy thức học về lãnh vực thức.

Xin được tóm tắt, Duy thức học giải thích một con người gồm có 8 thức chính, 8 thức này đại diện cho một con người, nối kết với nhau một cách chặt chẽ, qua hình minh họa như sau:                                                             

                                                                    Thức của một con người sống

Giải thích:

1] Vòng ngoài cùng chứa năm thức tiếp xúc với đời sống, cảnh vật đó là: Mắt (Nhãn thức), Mũi (Tỷ thức), Tai (Nhĩ thức), Lưỡi (Thiệt thức) và Thân (Thân thức, hay xúc chạm thức).

2] Thức thứ 6, tức Ý thức, là thức nguời, được thành lập từ một gia đình đầu tiên, bởi 1 ngưòi đàn ông và 2 người đàn bà (TNVTTVTTBB trg 123).

3] Thức thứ 7 là Mạt Na thức, thức này nằm sâu hơn ý thức, có công năng thay thế ý thức khi ý thức vắng mặt.

4] A Lại Da thức, thức thứ 8, theo Duy Thức Học thì thức thứ 8 còn được gọi là tàng thức, nơi chứa các chủng tử thiện, ác để thành nghiệp dắt con người đi luân hồi. Nên còn được gọi là Ngã thức, nơi được nhận diện là cái ta, cái ngã của con người, nên A Lại Da thức chính là thức chủ thể.

Nơi thức này cũng thưòng xuyên nổi lên những ý nghĩ, những hình bóng mà nó đã từng gặp trong quá khứ cũng như hiện tại, sự kiện này gọi là Tâm sinh sinh, diệt diệt.

Khi A Lại Da thức nhờ công phu của nghi tình thoại đầu mà được sự vắng lặng hồn nhiên thì gọi là Tâm thiền, rỗng lặng thường xuyên, Tâm này cũng còn gọi là Tâm Đại Định Vô Sanh, Tâm Đại Định Vô Sanh không còn bị chi phối bởi luân hồi và sự hủy diệt của vô thưòng hay bất cứ một thế lực nào, kể cả sự co cụm của Big Bang.

Một người được gọi là sống, khi tám thức hành hoạt binh thường, lẽ tất nhiên, nếu một trong năm thức đầu tiên mà hỏng, khuyết, thì người đó thành một người khuyết tật, nhưng vẫn sống. Thức thứ 6 mà không còn thì con người sống đời thực vật, cái biết vẫn còn mơ hồ, yếu ớt, nhờ Mạt Na thức và A Lại Da thức. Thức thứ 7 mà hỏng thì coi như đi vào thức tử, chi cuối cùng, thứ 12, luôn.

Thế nên vì lý do này, mà chúng ta đã phải thêm thức vào mỗi chi của Thập Nhị Nhân Duyên (TNND).

Và đây là Thức của một người đã chết:

Duy Thức Học cho biết A Lại Da thức, thức thứ 8 của một chúng sinh, đem những chủng tử trong nó đi luân hồi, từ thức thứ 3, tức thức thức, qua thức danh sắc (chi thứ 4) và từ thức danh sắc thành thức lục nhập (tức tứ chi, và rồi thành một hữu tướng và phi tướng mới). Thức lục nhập là chi thứ 5 trong TNND.

Một chúng sinh, đầy đủ gồm: Sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Sắc là hình tướng tổng quát bên ngoài, thọ là những cảm nhận của một hình tướng, tưởng là những sự nhớ, nghĩ, suy tư của một hình tướng, hành là hành động, những tạo tác của một hình tướng, và thức là gồm tám thức như đã nêu trên.

Xin tạm gọi một hình tướng này là một chúng sinh X.

Khi X qua đời, thì thức thứ 8 của X tức AlạiDa thức của X mang những chủng tử, thiện, ác của X đi vào một hình tướng mới. Vậy 7 thức còn lại của X đi đâu? Xin thưa, 7 thức còn lại của X ở lại trong phi tướng cũ của X. Và như đã chứng minh ở trên, phi tướng của X không bị hủy diệt bởi bất cứ thứ gì, và thức là một dòng liên tục không bị đứt đoạn. Nhưng khi ngã thức, thức chủ tể của X lúc này đã sang một hình hài mới, với phi tướng mới, trong khi phi tướng cũ của X vẫn còn 7 thức, nhưng vì không còn ngã thức tức thức thứ 8, thì X sẽ phải dùng tưởng thức của mình làm ngã của mình, theo như sự minh họa như sau đây:

                             Thức X cũ                                                               Thức X mới                   

                              Đây là chi thứ 3 trong Thập Nhị Nhân Duyên: Thức, Thức

Xin giải thích rõ hơn ở chỗ này, và tới đây chúng ta vẫn cũng đang dựa vào đúng sách vở, kinh điển mà giải thích. Đọc sách tự mình tư duy và phát huy, mà không xa rời lời dậy của Phật, lời Tổ cũng là chánh tư duy vậy.

Sau khi X qua đời phi tướng của X không thể bị hủy diệt như đã chứng minh, và thức là một dòng liên tục, nhưng ngã thức của X đã đi qua một phi tướng mới, nên X tiếp tục tồn tại phải bắt buộc dùng tưởng thức làm ngã chủ tể cho sự tồn tại của mình.

Một con người đầy đủ gồm sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Thì sắc, thọ, hành của một chủ thể X bị hủy diệt khi X qua đời, và chỉ còn lại tưởng và 7 thức còn lại, với tưởng làm ngã, tức tưởng sẽ thay cho Alạida thức. Trong lúc với phi tướng cũ không bao giờ bị hủy diêt nên thức X cũ cứ việc thoải mái ngự trong cõi thức âm bao lâu mà X muốn. Tôi gọi X này là một hình tướng tưởng thức (HTTT). Hay còn gọi là cõi thức âm. Bao giờ thì thức X cũ sẽ tan hủy đi? Chỉ khi nào thức X cũ đó hiểu được “mình” chỉ còn là cái vỏ của X ngày xưa, và X thật đã luân hồi từ đời “tám hoánh” nào rồi.

Giải trình này dắt tới một câu hỏi về vấn đề thờ cúng và đốt vàng mã? Câu trả lời của tôi là tuyệt đối không nên thờ cúng rườm rà, cỗ bàn mà làm gì, còn việc đốt vàng mã, nhà lầu, xe hơi là tuyệt đối tránh. Mà chỉ nên vào ngày tưởng nhớ giỗ kỵ, chỉ để chúng ta đuợc cảm thấy là làm được gì đó cho người đã khuất, chúng ta chỉ nên thắp 1 nén nhang, ly nước lọc là đủ, nếu muốn chắc ăn để cho HTTT tan nhanh vào hư không, tức siêu thoát ra khỏi sự khổ ở cõi thức âm thì nên thâu băng bài Kinh Kim Cang và phát liên tục ngày giỗ kỵ này là hay nhất.

Thế nên, nơi cõi dương, tức cõi thức dương ngày càng tăng dân số thì cõi thức âm cũng tăng dân số, xin đọc TNVTTVTTBB từ trang 154-158 về Luân Hồi về sự tăng dân số Địa Cầu. Nếu một thức ỏ cõi thức dương ngại ngùng việc chết, thì cõi thức âm cũng ngại phải buông bỏ cái HTTT của mình cũng là điều chúng ta có thể hiểu được, thế nên cõi thức âm cũng tăng dân số là thế.

Xin kể một chuyện có thật xảy ra từ một thân hữu. Một thời ở SJ, chính tai tôi đã nghe như vầy:

“Anh cho tôi biết, chẳng hiểu từ lúc nào, vợ của anh bỗng dưng thấy mình cần phải cúng cô hồn, vì cô ta theo lý luận ‘âm siêu thì dương thới’ tức là cõi âm mà được lưu chuyển luân hồi (siêu) thì cõi dương trần này mới được mạnh, khỏe. Thôi mặc kệ Em nó, vì sau khi buổi cúng những cô hồn đó mình lại có vài món có thể nhâm nhi với nước trà là được rồi.

Bẵng đi một hôm, áng chừng một năm sau, khi đi làm về đêm, mệt quá buông người xuống ghế sofa nằm, chợp mắt lúc nao không hay, ở trạng thái mơ hồ, mơ màng thấy mình đang đi vào ngõ nhà mình, vừa mớ cửa ra bỗng dưng gặp những gương mặt xa lạ đứng, ngồi ngổn ngang, vắt vẻo nơi thành cửa sổ là mấy tên Mỹ đen, trắng, từ trong hành lang xuống tới bếp, sân sau cũng đầy người, nhưng chẳng thấy ai là quen cả. Lạ quá, mình lên tiếng hỏi:

Quý vị là ai? Đây là nhà tôi mà? Có gương mặt như đang cười cười trả lời: Ngày mai bà chủ nhà cúng cô hồn, thí thực, chúng tôi đến để xin hưởng hương, quả.

Mình giật mình thức dậy, đi tìm vợ hỏi ra, thì đúng ngày mai cô ấy định cúng cô hồn thật, cái bánh bò nước dừa, túi kẹo mè xửng, bánh, kẹo M and M xanh đỏ, giấy, tiền, nhang, đèn cũng đã chuẩn bị xong. ”- Ghê một điều là “họ” đến đầy nhà ông ơi”.

Đúng như vậy, chúng ta thử tưởng tượng từ khi cõi người được thành lập cho tới nay, thì những người chết đi HTTT của họ trong cõi thức âm là dầy đặc, nhưng tất cả chỉ là những cái vỏ không còn ngã thức chủ tể, vật vờ, trong cõi thức âm, lẫn lộn trong đó là những thức còn ngã thức, còn chưa đi luân hồi vì những chấp chước của mình, những thức này ở trong cõi thức chuyển tiếp, mà Mật Tông gọi là cõi trung ấm.

Cách đây vài năm, đài NBC cho trình chiếu một phim về luân hồi của một người phi công Mỹ, thời thế chiến thứ 2, bị chết trận năm 1945 mãi tới 2005, 60 năm sau, mới luân hồi trở lại, xin vào youtube đánh hàng chữ: “Chuyện luân hồi của phi công tên James” Là sẽ có sự tường thuật đầy đủ.

Còn việc đi luân hồi ngay, như lý luận của Therevada thì cũng không sao, vì nơi cuộc sống mới, thức mới sẽ vẫn trả quả được mà không cần có sự tham dự của những tác nhân cũ, bởi nghiệp đã ghi nơi Alạida thức rồi.

Thí dụ: Một chủ thể lường gạt một người ở kiếp trước một số tiền, thì khi qua kiếp mới anh ta cũng sẽ bị thiệt hại số tiền tương đương hay nhiều hơn vì lực cộng hưởng, mà không cần có mặt của nạn nhân của anh ta.

Hy vọng những lý giải trên đây sẽ dung hòa được khuynh hướng thân trung ấm và đi luân hồi ngay của Therevada. 

Trở lại vân đề, một hình tướng xuất hiện được nhờ tưởng thức, tưởng tri của chính mình nên gọi là HTTT là hợp lý, và X muốn giữ cho mình được xuất hiện thì X phải liên tục tưởng tượng về mình, chính nhờ sự tưởng liên tục này mà ý thức biến thành tưởng thức. Khi ý thức biến thành tưởng thức thì năm thức ngày xưa đã từng tiếp xúc với trần cảnh, đều nhờ tưởng tri này để có thể hành hoạt được, nhãn thức (mắt) ngày xưa thành tưởng nhãn, tỉ thức thành tỉ tưởng, và những kẻ còn tham luyến việc ăn uống, qua HTTT sẽ tụ tập ở những quán ăn để thưởng thức cái vị đồ ăn ngày xưa, sự tụ tập đông đảo ở những nơi này lâu vô lượng thời gian để hưởng thực phẩm nơi dương thế, mà không thỏa mãn đủ nên lâu dần cái cổ thành ra nhỏ xíu. (Cõi ngạ qủy, tức qủy đói, thành hình), những thức đã từng hành ác, không thoát ra khỏi sức vần vũ của các hành ác, tụ tập với nhau tự gậm nhấm, nghĩ tưởng về những điều ác của mình đã tạo ra, lực cộng hưởng tự nó nhân lên hành hạ thủ phạm (Cõi địa ngục là đây). Và các thức kia cũng vậy.

Tưởng thức được đôn lên làm ngã thức, thành thức chủ tể, vì sự hành hoạt thường xuyên của nó.

Ý thức của X, khi đã biến thành tưởng thức (tuởng tri) thì không thể nghĩ ngợi xa hơn ở thì tương lai, nhưng nó có thể trở về quá khứ của nó, và nếu nó được khuấy động lên để nó có thể câu thông với cõi thức dương.

Đây chính là tiền đề cho việc gọi hồn của các người lên đồng.

Và đây tất cả những bí ẩn của việc lên đồng, gọi hồn và hồn ma xuất hiện.

Chúng ta đã qua sự giải thích về sự luân hồi và những hình tuớng tưởng thức (HTTT) ở những trang trên, những HTTT này tồn tại đầy trong cõi thức âm, thông thường họ quanh quẩn chung quanh nơi họ chết, và như đã nói, họ, những HTTT này không còn thức chủ tể, tức ngã thức, mà chỉ còn tưởng thức làm ngã, vì ngã thức của họ đã đi luân hồi sang một phi tướng mới. Nên khi nhập vào cô đồng trông họ không có được sự linh hoạt, mà trông ngơ ngơ, ngác ngác, hỏi họ điều gì thì họ nhớ được gì thì trả lời, nhiều khi họ chỉ lập đi, lập lại quanh những điều mà họ nhớ mà thôi. Xin xem: “Gọi hồn cụ Đề Thám” có trên youtube, sẽ thấy rõ những sự kiện này.

 

Nhưng nếu bị hỏi những câu khó, thì họ liền thăng, có nhiều HTTT lạ nhập vô ai đó, khóc cười bất thuờng, thế nên câu: “Chiều như chiều vong” là ở nghĩa này. Những HTTT này vật vờ dầy đặc nơi cõi thức âm quanh ta, thế nên hạ thấp điện não, người ngồi đồng có thể câu thông thấy được những HTTT cả năm, bẩy trăm năm là điều thực tế. Nhưng sao những người đồng có thể ngay lức ra mộ lại có thể tiếp xúc được với những HTTT được ngay? Là vì não của họ đã ghi nhớ vùng não có thể câu thông với những HTTT, nên họ có thể câu thông với HTTT ngay và dễ dàng.

Người ngồi làm cô đồng, thường là nguời có căn cơ làm đồng, theo nghĩa đã từng quen thuộc, hay nếu kiếp trước họ đã từng ngồi đồng. Người ngồi đồng thường hay trùm kím mặt bằng một cái khăn vải lớn, thường là mầu đỏ, sau đó họ đảo phần lưng tới đầu theo vòng tròn, với mục đích là cho trí não tê liệt, mụ mị đi, điện não xuống thấp cùng với tần số rung động của HTTT, khi nào thức của cô đồng câu thông được với bất cứ HTTT nào là xem như vong đã nhập vào cô đồng, xin nhấn mạnh ở đây, không nhất thiết vong nhập đó là HTTT của thân nhân người đi gọi vong, vì lý do sau đây: HTTT ở dạng thức nên nó có thể thấy được những diễn biến chính trong thức của người đi gọi vong, nó sẽ thông tin những điều mà cô đồng cần biết để có thể lòe gia đình người đi gọi vong (hồn) là thân nhân của họ là đủ.

Như những diễn tiến buổi đi gọi hồn của gia đình BS Bùi Duy Tâm đã được đăng trên Việt Báo:

https://vietbao.com/p278364a278816/dua-me-di-sam-son-goi-hon-ap-vong

Tôi sẽ bằng hình vẽ giải thích ngọn ngành vấn đề gọi là gọi hồn này, mà thật ra nó chẳng có gì là khó hiểu, bí ẩn cả.

Vì bài này tôi có nhắc tới BS BDT, và cùng liên can tới vấn đề gọi hồn, áp vong mà BS BDT cũng đang quan tâm, nên tôi xin phép BS BDT cho tôi được dùng bài này diễn tả và phân tích sự việc đi gọi hồn của gia đình ông.

Theo như sự tường thuật, ông không cần ghi tên thông báo với cô đồng Phương là gia đình mình đang đợi ở ngoài, nhưng sau đó có người ra hỏi lớn:

“Bà Tỉnh đâu, người nhà ông Tỉnh đâu?” (cha tôi tên là Bùi Văn Tĩnh, nhưng vì nói giọng Thanh Hoá nên nghe gọi tên là Tỉnh). Phải gọi đến vài ba lần thì anh em tôi mới biết là gọi mình. Tôi chạy tới cánh cửa. Em Tuấn chạy ra hối hả gọi mẹ: “Mợ ơi, Cậu về gọi mợ đấy!”. Mẹ tôi hốt hoảng đứng bật dậy chạy theo em tôi, quên mất lập trường chống ma quỷ của mình”

Như hình minh họa ở bên dưới giải thích, cô đồng Phuơng đã câu thông được với một HTTT của một cái thức nào đó, nên thức của nó đã thông báo chuyện đợi ở ngoài của gia đình bà Tỉnh mẹ của BS BDT, cho cô đồng Phương (Bằng mũi tên đứt quãng mầu đỏ thứ nhất. Từ thức của HTTT qua thức của cô đồng Phương), thế là cô đồng Phương cho người nhà, hay nhân viên chạy ra gọi bà Tỉnh và gia đình vào.                                   

                          HÌNH TƯỚNG TƯỞNG THỨC                                            THỨC CỦA CÔ ĐỒNG                                                                                                                                

                                                                   THỨC CỦA NGƯỜI ĐI GỌI HỒN

Khi cả nhà BS BDT vào trong rồi thì màn kịch bắt đầu, HTTT một loại được coi như là jombee của cô đồng Phương sẽ vào vai soi, nhìn vào thức của các thành viên gia đình, tất cả những điều bí ẩn chứa trong thức (ký ức) của gia đình người đi gọi hồn đều bị HTTT biết rõ và thông báo cho cô đồng như một cú điện thoại rành mạch vậy.

Những sự kiện mà cô đồng Phương nói với gia đình nguời đi gọi hồn đều chính xác là thật, đã có xảy ra và đã được ghi lại trên ký ức của gia chủ đi gọi hồn, nên sẽ tạo ra sự tin tưởng đến tuyệt đối ở khả năng mình đã nói chuyện được với những người đã khuất.

Nhưng thật sự thì đó chỉ là những cái “vỏ” người vô hồn, mà chưa hẳn là thân nhân đã khuất của mình, vì bất cứ HTTT nào cũng có thể lấy được data trong thức của người đi gọi hồn như đã giải thích.  Sự việc gọi hồn này sẽ nẩy sinh vài câu hỏi xin nêu lên ở đây:

Thứ 1: Có cõi giới bên kia không? Tôi không có nghi ngờ điều này, nhưng khả năng những người đồng không thể vào được những cõi giới đó, mà chỉ liên hệ với những HTTT, vỏ người ở trong cõi thức âm đầy rẫy xung quanh ta mà thôi.

Thứ 2: Việc liên hệ với HTTT, tức đi gọi hồn theo như dân gian thưòng gọi có cần thiết hay không? Tôi nghĩ là không cần thiết, vì chúng chẳng cho ta được điều gì hay ho hoặc mới mẻ cả, tất cả những thông tin mà chúng cho ta chỉ là những sự kiện mà chúng ta đã trải qua, và nó đã nằm ở trong ký ức của chúng ta và HTTT này chỉ giản dị là lôi nó ra, nghĩa là nhắc lại, qua lệnh của cô đồng mà thôi. Chúng ta hãy để ý HTTT này không thể nói được gì về chuyện tương lai cả, mà chỉ quanh quẩn những chuyện đã xảy ra, nó cứ dồn dập nhắc những sự kiện của quá khứ ngưòi đi gọi hồn, nào là ông, bà, chú, bác, em, cháu, cứ rối cả lên, và tất cả đều là chuyện thật cả.

Còn câu chuyện cô đồng Phương còn cho BS BDT biết: “Cụ Ông sắp đưa cụ bà về rồi” thì cũng là dễ hiểu thôi, vì cụ Tỉnh đã 90 tuổi, nên cụ về với cụ ông bất cứ lúc nào là đưong nhiên, đâu cần sự bí hiểm cao siêu nào để biết điều đó? Trông cụ hồng hào, khỏe mạnh nên cụ sẽ đi bình an thôi.

Khi đã cảm thấy đủ, thì cô đồng sẽ chấm dứt màn kịch, bằng kết luận là các vong đã thăng hết rồi, xong chuyện. Gia chủ nếu cứ tin tưởng đó là những hồn người thân của mình, thì coi như mình đã bị cô đồng đó ảnh hưởng, sai sử, và lừa bịp mình rồi. Và cứ mỗi khi có gì khó khăn, có điều gì muốn biết thì lại chạy đến cô đồng xì xụp. Và lẽ tất nhiên, chẳng lẽ chúng ta nhờ cậy người mà chẳng có “lót tay” thì trông cũng không được. Nên vừa tốn kém cả thời gian lẫn tiền bạc.

Còn chuyện những HTTT hiện ra, mà chúng ta thường hay gọi là ma, thì cũng có thể giải thích được. Vì khi những sự kiện xảy ra, sự cố tác động quá sâu cho một con người và được ghi nhận quá đậm nét vào trong thức của họ, thành một cái tưởng quá mạnh, khiến thỉnh thoảng lại xuất hiện trở lại, như những hoạt cảnh được lưu lại trên máy computer cứ diễn đi diễn lại hoài hoài. HTTT vì sự quá xúc động, biến cố quá kinh hoàng nên sghi nhận vào tưởng của họ quá sâu nên họ cứ lập đi lập lại hành động mà họ đã thọ lãnh, thế thôi. Họ chẳng hại gì được ai và cũng chẳng giúp gì ai được cả. Cũng vậy, khi nào HTTT đó nhận ra là họ đã chết, thì chuyện hiện ra đó sẽ chấm dứt.

Kết luận:

Chuyện áp vong, gọi hồn chỉ là những chuyện vô giá trị, chuyện xài bạc giả, nhưng lại giúp cho cô đồng lãnh bạc thật. Không hẳn là ngưòi đồng bịp bợm hoàn toàn, nhưng họ bịp một phần, nhờ vào khả năng có thể câu thông được với những vỏ người, tức HTTT có dầy đặc nơi cõi thức âm xung quanh ta, mà những HTTT này lại có khả năng xăm soi những bí mật đã nằm trong thức của ta, vì chúng cùng một level với thức của ta. Chúng được xử dụng như một jombee trong tay cô đồng, để ngõ hầu cho cô đồng trục lợi về vật chất cùng với với sự kính sợ từ người đi gọi hồn. Hãy xem thái độ của những người đi gọi vong với cô đồng thì biết.

Đức Phật đã dậy, ngay cả đời sống đang diễn tiến thật sự xung quanh ta cũng chỉ là giả hữu, vì nó vô thường và tan hoại, vậy chúng ta đi tìm vào những cái vỏ vô hồn giả của giả hữu là HTTT thì được cái gì? Cái đưọc duy nhất là chỉ nhắc lại những thông tin mà ta đã kinh qua, ngoài ra người đi gọi hồn chẳng được gì hơn những điều đó cả, chúng HTTT này không thể biết được tương lai sắp sửa xảy ra cho ta, vậy ta liên hệ với chúng làm chi?

Phật Tử chân chính chỉ cần tin sâu nhân, quả với lối sống thiện lành là đủ, muốn tiến xa hơn hãy tìm hiểu thiền tông, tịnh độ tông, tiệm tông (gồm các phái của nguyên thủy tức Therevada) đã sẵn có trong truyền thống Phật Pháp của dân tộc.

Sau khi chấm dứt chiến tranh, thống nhất đất nước, trong dân gian bỗng nổi lên một phong trào tìm hiểu đạo mẫu, tức các hoạt động đồng bóng, rồi sau đó lại rộ lên phong trào áp vong tìm mộ. Chuyện áp vong tìm mộ cũng chỉ là sự tiếp xúc được với HTTT, của những người mà quá khứ, kiếp trước, của họ đã quen thuộc với vai trò bà đồng. Còn việc nhìn được qua vài thước đất để tìm hài cốt, thì cũng là một công năng của bà đồng đã tích lũy được những khả năng thiền định ghi dấu trong AlạiDa thức của họ ở một quá khứ nào đó, nay được kích khởi lên, khả năng này cũng chỉ là một phần nhỏ, rất nhỏ, của thiên nhãn thông.

Và những sinh hoạt của Mật tông Tây Tạng (TT) nữa. Ngoài những tương đồng nhỏ của Phật Giáo Tây Tạng với Phật Giáo Việt Nam, tôi có nhận xét về Phật Giáo TT như sau: Phật Giáo Tây Tạng quá chú trọng vào những cõi giới khác, khiến cho lối hành trì của họ trở nên lạc hậu, thâm u, mang nặng tính thần bí bởi liên hệ tới các vị thần, các cõi giới, mà con người không thể biết và chưa bao giờ gặp được cả. Những buổi lễ mật pháp thời luân chủ trì bởi ngài Dat Lai Lat Ma (DLLM), ngoài công phu phải thực hiện mạn đà la cả hàng tháng trời của các thành viên, người chủ trì còn phải thỉnh tới 722 vị thần tới chứng giám, thật là một buổi lễ phí phạm tài, vật, năng lực một cách khủng khiếp, nhưng cuối cùng là chẳng được gì!

Ngài DLLM trong buổi phỏng vấn có cho biết, có ngày ngài vào cõi chết tới 3 lần, nhưng câu hỏi là để làm gì? Khi ngay cuộc sống đây cũng chỉ là giả hữu? Chỉ những con người mà tâm của họ bất an, mất thăng bằng mới sợ cái chết hiển nhiên. Các thiền sư VN cho chuyện chết cũng chỉ như thay một chiếc áo, trong khi đó, ngài DLLM phải thực tập đi vào cõi chết? Ngài giảng về từ bi, nhưng trong quá khứ, hệ thống Lạt Ma của ngài lại là một hệ thống nông nô, bóc lột dân chúng và những nhà sư nghèo tội nghiệp một cách tàn bạo. Xin đọc 13 bài viết về Bộ mặt thật của Đạt Lai Lạt Ma trên blog sau đây, từ P1 tới P13, đính kèm:

http://3t333.blogspot.com/2014/03/

Ngài DLLM, ngài Liên Hoa Sanh đều cho biết mình đã đi vào cõi chết, nhưng chưa ai giải thích được việc gia tăng dân số trên địa cầu một cách hợp lý cả. Tất cả đều dựa vào tài liệu, sách vở một cách từ chương, khô khan mà thôi.  

Phật dậy, dù có tu thiền để vào các cõi giới cao hơn cõi người là các cõi Trời thì rốt cuộc cũng chỉ là đi con đường vòng sạn đạo. Cõi nên đến nhất là cõi Phật, cõi Đại Định Vô Sanh, tức cõi Niết Bàn Diệu Tâm, tức Vũ Trụ Đại Định, Vũ Trụ Thể Tâm, tiền Big Bang, cõi Bản Thể Vĩnh Cửu. Còn cõi người là cõi có sướng có khổ, nhưng lại giả hữu và tan hoại. Thay vì dồn năng lực để vào cõi Vô Sanh Vĩnh Cửu, chúng ta có khôn ngoan hay chăng khi để năng lực của mình vào việc tôn thờ những thế lực đầy giai cấp, âm u mà chẳng biết ngày nào ra khỏi?

Từ bao giờ những Phật Tử VIệt Nam đã xa rời những truyền thống Phật Pháp trí tuệ và đơn giản của mình, với những từ vừa thân quen vừa trang nghiêm như Phật, như chú tiểu, sa di, đại đức, thuợng tọa, thầy. Để chạy theo những từ như bụt, như sư ông, như những rinpoche, những pháp vương, lobsang?

Từ năm 2010 trở đi, giáo hội Phật Giáo Việt Nam bỗng dưng như muốn “thay đổi không khí” khi đem nguyên một chiếc phi cơ để mời những pháp vương Tây Tạng qua Việt Nam để giảng Phật Pháp vừa tốn kém lại vừa phải cung nghinh. Mà những bài giảng của họ cũng chỉ ở mức dưới tầm trung so với các sư, các thầy chân chính VN, chứ chẳng có gì là đặc biệt cả. Nhìn những cái lưng còm xuống cung nghinh những vị như đã được kể về trong 13 bài nói trên mà không khỏi buồn lòng.

Theo ngu ý của tôi, Phật Tử VN hãy tránh xa Mật tông Tây Tạng, tránh xa các rinpoche Tây Tạng, mà trở về với Thiền Tông, Tịnh Độ Tông và các Tiệm Tông (Therevada), đầy thân tình, trí tuệ của Việt Nam chúng ta. Mong thay!

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s