Category Archives: Phản động

Nhờ công an mà sách Chính trị bình dân của Đoan Trang đắt như tôm tươi?

Trong bối cảnh phong trào dân chủ èo uột, rệu rã, tưởng như không còn chút sinh khí nào, ngay đến hoạt động tưởng niệm Chiến tranh Biên giới “vô hại” không thể tổ chức nổi, phải quay sang chửi bới mấy ông lão bà lão trong CLB khiêu vũ Hồ Gươm đã “vô tình” khiêu vũ vào đúng cái ngày họ dự định “tưởng niệm” là “phá hỏng tưởng niệm”, là “nhảy múa trên xác chết”… đế lấp liếm đi sự tan rã của mình, thì việc Công an ốp bà Đoan Trang lên làm việc về cuốn sách Chính trị bình dân cùng việc cả cái làng zân chủ hoang mang bà này chắc chắn đã/sắp/sẽ bị bắt, đột ngột trở thành “điểm sáng” làm vơi bớt đi không khí não nuột ấy. Continue reading Nhờ công an mà sách Chính trị bình dân của Đoan Trang đắt như tôm tươi?

Advertisements

Vì sao Đoan Trang và đồng bọn xin tị nạn cho Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và Trần Thị Nga?

Kỳ 2: Đoan Trang đang vận động thay đổi hướng đấu tranh của bản thân và đồng bọn?

Loa Phường

Trong phần trước đã đề cập, để đưa ra 3 lý do “thuyết phục “ Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và Trần Thị Nga đi tị nạn, Trang đã chỉ đưa ra ba lý do thể hiện rõ tính ngụy biện. Sự ngụy biện này càng trơ tráo, khi nó phản bội chính những dòng mà Trang viết trước đây. 

Chỉ 5 tháng trước, vào ngày 10 tháng 9 năm 2017, Trang từng viết trên blog của mình những dòng sau (2):

“Được biết, cả luật sư Nguyễn Văn Đài và blogger Ba Sàm (Nguyễn Hữu Vinh) đều đã từ chối việc tị nạn chính trị ở phương Tây để tiếp tục ngồi lại nhà tù nhỏ, mặc cho an ninh ra sức dụ dỗ.

Các anh đã ở lại để góp phần vào cuộc chiến đấu vì tự do cho cả nhà tù lớn, theo cách của các anh – cách tuyệt vời của những người tù chính trị.

Trước các anh, một người tù đang thụ án 16 năm là anh Trần Huỳnh Duy Thức cũng đã nhiều lần từ chối lời dụ dỗ đi tị nạn của an ninh để ở lại Việt Nam.

Vậy là ý đồ của an ninh thất bại. Dù giỏi nhì thế giới (chắc phải sau quan thầy Bắc Kinh chứ làm sao mà giỏi nhất được), dù đã rất kiên cường đàn áp, quyết tâm “làm cỏ” Hội Anh em Dân chủ và vô hiệu hóa hoàn toàn trang web Ba Sàm, nhưng an ninh ta vẫn không thu được thắng lợi tuyệt đối khi đương đầu với những người tù như Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Hữu Vinh… Mà đối với bản chất hiếu chiến, hiếu thắng của các đồng chí an ninh, thì không thu được thắng lợi tuyệt đối trước “bọn dân chủ” tức là kém vẻ vang rồi, coi như là thất bại rồi.

Mục tiêu bỏ tù người bất đồng chính kiến, suy cho cùng, cũng chỉ để khủng bố nhân dân, để ai nấy đều bụng bảo dạ và bảo nhau: “Thôi, chúng nó mạnh lắm, mình chẳng làm được gì đâu, chống đối rồi lại đi tù mọt gông”. Và cũng để dằn mặt giới đấu tranh nữa.

Tuy nhiên, mục tiêu đó đã đổ vỡ, khi mà “bọn trong tù” thì cứng đầu, “bọn còn ở ngoài” thì nhơn nhơn, xem như trò trẻ con, như trải nghiệm cho vui”. (hết trích)

Rõ ràng Đoan Trang thể hiện việc ca ngợi những người không chấp nhận phương án “xuất khẩu dân chủ” ra hải ngoại, xem đó là thất bại của lực lượng an ninh và chính quyền khi muốn “trục xuất những công dân đặc biệt” này tới “xứ sở là khuôn mẫu tự do, dân chủ” của họ.

Thậm chí cực đoan hơn, trong bài viết “Nhà báo Đoan Trang sẽ nói gì khi gặp Obama”, Đoan Trang yêu cầu chấm dứt ngay việc đem các “tù nhân lương tâm” ra mặc cả lấy “dân chủ, nhân quyền” bằng cách xuất ngoại, xin trích:

 “Ông biết đấy, nhiều người Việt Nam muốn chính phủ Việt Nam cải thiện nhân quyền và đặt nặng vào việc phải trả tự do tất cả các tù nhân lương tâm.
Nhưng cá nhân tôi không nghĩ vậy. Chính phủ Việt Nam có xu hướng “trục xuất”, hoặc “xuất khẩu” các tù nhân sang Mỹ để nhận được một số lợi ích kinh tế hay chính trị, bằng cách đó họ bỏ qua những nhu cầu cho một cuộc cải cách pháp lý và thể chế toàn diện. Và tôi muốn sự việc này phải ngừng lại. Tôi nghĩ rằng lúc này là thời điểm tốt để chính phủ Việt Nam phải chấm dứt việc trao đổi công dân của mình cho các giao dịch thương mại với Mỹ, thay vào đó, họ phải thực hiện một cuộc cải cách pháp lý và thể chế toàn diện cho tự do và nhân quyền.”

Như vậy, quan điểm của Phạm Đoan Trang về việc đồng ý đi tị nạn để khỏi phải ở tù đã thay đổi rất đột ngột. Thêm nữa, cần nhớ rằng hồi Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và Trần Thị Nga còn tại ngoại, Trang thường kèn cựa với Quỳnh (như trọng vụ Hiến chương 2015), và khinh Nga là dân oan cực đoan, dốt nát. Vậy vì sao lần này, Trang lại viết thư thuyết phục Quỳnh và Nga đi tị nạn, bằng ba lý do rất sến như đã nêu?

Mời xem tiếp kỳ 3 “Suy đoán đằng sau cuộc vận động cho các tù nhân xuất ngoại”

Bản chất của lực lượng chống Cộng trong dòng Chúa Cứu thế Việt Nam Kỳ 1

Loa Phường

Nguyễn Ngọc Nam Phong – một trong những linh mục cực đoan của Dòng Chúa cứu thế Thái Hà

Trên truyền thông, một số linh mục chống Cộng của tu viện Thái Hà nói riêng và Dòng Chúa Cứu thế Việt Nam nói chung thường làm như thể họ là những hiệp sĩ thánh chiến, chuyên bảo vệ “công lý và hòa bình”. Trong khi đó, ngày càng có nhiều blog lại cáo buộc rằng số linh mục này là những phần tử phản động chuyên lợi dụng đức tin tôn giáo để chống phá nhà nước. Vậy đâu là sự thật? Để có cái nhìn toàn cảnh về vấn đề phức tạp này,chúng ta cần nhìn nhận lại lịch sử, nguyên nhân và cách thức chống cộng của một số linh mục Dòng Chúa cứu thế để có đánh giá toàn cảnh và có cách ứng xử phù hợp với họ. Mời các bạn đón đọc phóng sự dài 7 phần của chúng tôi.

Kỳ 1: Những nét chính trong lịch sử Dòng Chúa Cứu thế ở Việt Nam

  1. “Tất cả vì người nghèo”

Hồi thế kỷ 18, khi đi tĩnh tâm ở vùng núi Scala, Italy, tu sĩ Alphonsus Liguori đã gặp những nông dân, mục đồng miền núi sống rất nghèo khổ, nhưng lại rất sùng đạo. Vì vậy, ngày 9 tháng 11 năm 1732, tại vương quốc Napoli, ông cùng một nhóm linh mục nhiệt thành lập một dòng tu mới, ban đầu đặt tên là “Dòng Chúa Cứu chuộc”, sau đổi thành “Dòng Chúa Cứu thế” (DCCT). Dòng này đặt mục đích truyền đạo cho những người nghèo khổ, cô thân. Họ chọn câu “Tất cả vì người nghèo” làm phương châm hành động.

Từ đó đến nay, DCCT tập trung truyền đạo cho các tầng lớp ở dưới đáy xã hội, như người nghèo, người ở tù, người bị bỏ rơi, người bị bệnh phong, người nhiễm AIDS… Để việc truyền đạo hiệu quả hơn, DCCT không chỉ dựa vào các tổ chức tu viện đơn thuần, mà còn lập ra nhiều hội đoàn từ thiện và các dạng tổ chức chính trị – xã hội khác. Ba mũi nhọn phát triển hiện tại của họ là ba vựa người nghèo của thế giới: Đông Nam Á, châu Phi và châu Mỹ Latin. Hiện nay, họ có khoảng 6500 tu sĩ ở 77 nước.

Dòng Chúa Cứu thế ở Việt Nam cũng được thành lập theo phương châm và khuynh hướng đó.

Năm 1923, theo yêu cầu của Giám mục Henry Lecroart, Khâm sai Tòa thánh tại Việt Nam, Chủ tịch Thánh bộ Truyền giáo Vatican là Hồng y Van Rossum (vốn thuộc DCCT) đã cho thành lập Dòng Chúa Cứu thế tại Việt Nam. Tỉnh dòng thánh Anna Beaupre (Canada) được giao thực hiện nhiệm vụ thành lập đó. Ngày 30 tháng 11 năm 1925, hai linh mục và một thầy đồng trợ của DCCT ở Canada được gửi đến Đông Dương. Dòng này dần phát triển và lan rộng từ ba trung tâm ban đầu, là ba “đền Đức Mẹ” ở ấp Thái Hà (Hà Nội), ở Huế, và ở Kỳ Đồng (Sài Gòn). Đến năm 1964, DCCT Việt Nam mới trở thành một tỉnh dòng độc lập.

Năm 2016, DCCT được giao cai quản 14 giáo xứ của giáo phận Kon Tum ở Tây Nguyên, Việt Nam. Đây có thể là kết quả của một trong hai, hoặc cả hai lý do chính. Thứ nhất, do thực hiện phương châm chung của DCCT trên toàn thế giới, DCCT Việt Nam đã ưu tiên truyền đạo cho các sắc tộc thiểu số, bao gồm những người Thượng ở vùng Tây Nguyên, trong một thời gian khá dài. Thứ hai, dư luận bắt đầu đặt nghi vấn về việc DCCT đã bị một số chức sắc cực đoan hướng lái, đã hướng đến Tây Nguyên để khai thác kho mâu thuẫn từ đầu thập niên 2000 đến nay, khiến Tây Nguyên đã liên tục là một trong những nơi chứa đựng nhiều mâu thuẫn và bất ổn chính trị nhất trong cả nước. Trong số các biến cố chính trị phát sinh từ Tây Nguyên, phải kể đến các cuộc bạo loạn của hàng vạn người Thượng theo đạo Tin Lành trong năm 2001, 2004, và phong trào phản đối dự án khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên.

  1. Đặt trọng tâm vào truyền thông

Một điểm đặc trưng quan trọng, hiện diện trong suốt lịch sử của dòng Chúa Cứu thế Việt Nam, là việc dòng này luôn đặt trọng tâm vào truyền thông, dùng truyền thông để hỗ trợ truyền đạo và xây dựng tầm ảnh hưởng chính trị. Trong lễ ra mắt chi nhánh Houston của Truyền thông Chúa Cứu thế vào năm 2012, phần phát biểu của linh mục Lê Ngọc Thanh, linh mục đặc trách về truyền thông của DCCT TP.HCM, có đoạn (3):

“Từ năm 1935, tức là mới sau 10 năm sau khi thành lập, thì DCCT Việt Nam đã dấn thân vào truyền thông rồi và truyền thông trở thành một cái ‘máu’ của DCCT vì nó là cơ hội giúp cho dân Chúa được nhiều nhất.”

Vào thời điểm hiện tại (đầu năm 2018), “truyền thông Chúa Cứu thế” vẫn đang được xem là một trong những đơn vị truyền thông mạnh, được đào tạo chuyên nghiệp, có cơ sở vật chất dồi dào và hoạt động bền bỉ nhất trong các phong trào chính trị đối lập ở Việt Nam. Hằng năm, “truyền thông Chúa Cứu thế” cũng mở các lớp dạy truyền thông, để đào tạo cho nhiều nhóm đối lập cả trong lẫn ngoài đạo Công giáo.

Đế chế truyền thông của DCCT Việt Nam ra đời vào ngày 1 tháng 7 năm 1935, khi dòng này xuất bản một tờ nguyệt san bằng chữ quốc ngữ mang tên “Đức Bà hằng cứu giúp” ở Hà Nội (1). Số báo đầu tiên in 2000 bản, khổ nhỏ, 24 trang, giá bán 1 đồng 1 năm. Đến năm 1940, mỗi số báo được in 5000 bản. Con số này cho thấy đây là một tờ báo lớn và có ảnh hưởng vào thời đó, vì khi đó số người Việt Nam biết chữ không nhiều.

Trong số bốn tôn chỉ được những người sáng lập vạch ra cho tờ báo, tôn chỉ đầu tiên là “rao giảng lời Chúa cho người nghèo khổ bằng ngôn ngữ bình dân”. Đây cũng là tôn chỉ quan trọng nhất, và giúp phân biệt “truyền thông Chúa Cứu thế” với những lực lượng truyền thông Công giáo khác.

Vì khi tờ báo thành lập vào năm 1935, DCCT chưa có linh mục người Việt nào, nên các linh mục người Canada phải phụ trách toàn bộ mảng truyền thông. Linh mục Joseph Laplante là chủ bút kiêm chủ nhiệm đầu tiên, phụ trách cả việc tập hợp bài viết, kiểm duyệt, biên tập, dàn trang lẫn phát hành. Ông Đông Bích, một cây bút của tờ Trung Hòa Nhật báo, phụ trách dịch các bài viết bằng tiếng Pháp của Laplante và các linh mục người Canada khác ra tiếng Việt.

Năm 1944, khi Nhật chiếm đóng Việt Nam, tờ báo bị đình bản sau khi ra số 105. Năm 1949, tờ báo được tái bản, in khổ lớn (khổ A4), dưới tên mới là “Đức Mẹ hằng cứu giúp”. Vào thời điểm này, chủ bút của tờ báo là linh mục Vũ Ngọc Bích. Báo được in từ 1000 đến 2000 bản vào những ngày mới tái bản, rồi lên đến con số 50.000 bản vào cuối thập niên 1950.

Vào năm 1954, khi Việt Nam bị chia đôi do hiệp định Geneva, có khoảng 1 triệu người miền Bắc di cư vào Nam, trong đó có 800.000 người Công giáo. Mọi dòng tu ở miền Bắc đều di tản, chỉ trừ một số đại diện của DCCT ở Thái Hà (Hà Nội). Số ở lại bao gồm hai linh mục người Canada, linh mục Vũ Ngọc Bích, và hai tu sĩ người Việt. Trong số này, hai linh mục người Canada lần lượt bị trục xuất vào các năm 1958 và 1959, cùng những linh mục ngoại quốc cuối cùng ở miền Bắc Việt Nam. Hai tu sĩ người Việt đều bị bắt đi tù vào đầu thập niên 1960, trong đó có một người chết trong tù.

Do biến cố năm 1954, tòa soạn của tờ “Đức Mẹ hằng cứu giúp” được chuyển từ Thái Hà, Hà Nội vào Kỳ Đồng, Sài Gòn. Ngoài các nhà văn Công giáo, ban biên tập mới của tờ báo cũng bao gồm nhiều nhà văn quân đội. Trong thập niên 1960 và 1970, tủ sách Tuổi Hoa và chương trình “Mỗi quân nhân, một Thánh kinh” là hai đều sản phẩm truyền thông của DCCT Kỳ Đồng được đông đảo giới trẻ và quân nhân miền Nam Việt Nam biết đến (3).

Năm 1963, linh mục Chân Tín, một người có quan điểm chính trị trung lập, được bổ nhiệm làm giám đốc tờ “Đức Mẹ hằng cứu giúp”. Vì quan điểm trung lập của ông Tín không được ưa thích bởi những người Công giáo ở miền Nam Việt Nam, nhất là những người di cư từ miền Bắc vào, ông làm cả tờ báo bị độc giả phản đối. Vì vậy, ông phải bàn giao lại tờ báo cho một linh mục khác.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ban truyền thông của DCCT Việt Nam ngừng hoạt động. Đến năm 1998, khi Internet bắt đầu phổ biến ở Việt Nam, truyền thông Chúa Cứu thế mới bắt đầu hoạt động trở lại, nhưng ban đầu chỉ giới hạn dưới hình thức email (3). Đến năm 2005, dưới sự thúc đẩy của linh mục Phạm Trung Thành, DCCT Việt Nam mới mở trang chuacuuthe.com. Trang này trở thành nơi đưa tin chính khi DCCT ở Thái Hà đụng độ với chính quyền trong hai vụ tranh chấp đất đai vào năm 2008 và 2011, và trở thành một trang truyền thông quan trọng trong phong trào chính trị đối lập ở Việt Nam kể từ đó.

Ngoài trang web vừa kể, hiện truyền thông Chúa Cứu thế còn có nhiều trang khác, như Tin Mừng Cho Người Nghèo, ducme.tv và Radio An Phong.

Ngoài những nội dung liên quan đến việc truyền đạo và đòi đất đai của dòng, các hoạt động truyền thông của DCCT Việt Nam từ năm 2005 đến nay thường khai thác mâu thuẫn giữa chính quyền với các gương mặt đối lập ở Việt Nam, các cựu quân nhân Việt Nam Cộng hòa và các nhóm nông dân bất mãn. Truyền thông Chúa Cứu thế thường mô tả các đối tượng vừa kể như những nhóm người cùng khổ, bị chính quyền áp bức và tước đoạt. Song song với việc bênh vực và ca ngợi các đối tượng này trên mặt báo, DCCT Việt Nam cũng thường xuyên tổ chức các hoạt động tiếp xúc, giao lưu với họ, và cung cấp nhiều lợi ích vật chất cho họ dưới danh nghĩa hoạt động thiện nguyện. Chẳng hạn, từ sau biến cố vào năm 2008 ở nhà thờ Thái Hà đến nay, DCCT ở Hà Nội và TP.HCM đã thường xuyên cung cấp nơi ở cho các nhân vật đối lập đang trốn tránh chính quyền, và cung cấp địa điểm để họ tổ chức những buổi hội thảo bất hợp pháp. Từ khi ra đời vào năm 2013, Văn phòng Công lý & Hòa Bình của DCCT Kỳ Đồng đã thường xuyên “cố vấn pháp lý” miễn phí cho các đoàn nông dân khiếu kiện tập thể, và hỗ trợ truyền thông cho các cuộc biểu tình của họ. Ngày 28 tháng 4 năm 2014, văn phòng này tổ chức một sự kiện mang tên “Ngày tri ân thương phế binh Việt Nam Cộng hòa”, trong đó họ hỗ trợ 1 triệu đồng/người cho tổng cộng 435 cựu binh (4). Phương châm “tất cả vì người nghèo” của DCCT đã phát huy tác dụng trong môi trường Việt Nam: từ năm 2011 đến nay, dòng này đã cải một lượng lớn các gương mặt đối lập Việt Nam sang đạo Công giáo.

  1. Nhận định: Một dòng tu dân túy có thù với chính quyền

Vì sao ngay từ khi được thành lập vào năm 1932, DCCT đã dùng khẩu hiệu “Tất cả vì người nghèo”, và đã tập trung truyền đạo cho những người nghèo, người bị bỏ rơi, hay những tầng lớp ở dưới đáy xã hội? Khi một tổ chức tôn giáo đưa ra khẩu hiệu và theo đuổi khuynh hướng kể trên, người ta thường đưa ra một trong ba lối giải thích. Một: môi trường giáo dục của tổ chức này khiến họ thật lòng yêu thương người nghèo hơn các tổ chức tôn giáo khác. Hai: họ tin rằng đời sống khổ hạnh, nghèo đói giúp các tu sĩ dễ tiến bộ hơn về mặt tâm linh. Ba:họ tin rằng so với các tầng lớp khác trong xã hội, người nghèo dễ gia nhập tôn giáo hơn, nên truyền đạo cho họ sẽ dễ hơn.

Xem xét các đặc điểm của DCCT trên thế giới và ở Việt Nam, chúng ta thấy lối giải thích thứ ba có vẻ hợp lý nhất. Thứ nhất, vì trước thập niên 1975, truyền thông Chúa Cứu thế yêu quý những đồng đạo no đủ ở miền Nam hơn những người Cộng sản nghèo đói ở miền Bắc, rõ ràng việc yêu thương người nghèo của DCCT không tách rời việc truyền đạo, và DCCT không yêu thương người nghèo ngoài Công giáo một cách thật tâm. Thứ hai, vì DCCT không phải là một dòng tu khổ hạnh, có thể thấy họ không thật sự tin rằng những người sống trong cảnh khổ hạnh, bần hàn sẽ dễ tiến bộ về mặt tâm linh hơn những người khác. Thứ ba, có nhiều bằng chứng cho thấy ngay từ khi tu sĩ Alphonsus Liguori thành lập DCCT, ông đã chủ động nhắm đến người nghèo vì tin rằng họ dễ gia nhập tôn giáo hơn các tầng lớp trên. Chính DCCT cũng thừa nhận việc này, khi kể rằng Alphonsus đã lập dòng sau khi gặp những nông dân, mục đồng miền núi sống nghèo khổ nhưng sùng đạo. Thêm vào đó, cần lưu ý rằng DCCT được thành lập vào thế kỷ 18, khi cuộc cách mạng nghệ thuật thời Phục hưng và cách mạng khoa học – kỹ thuật kế sau đó đã khiến cả châu Âu xét lại quyền lực của giáo hội, và các cuộc cách mạng dân chủ sắp xảy đến, đưa quyền lực thế tục lên ngôi. Vào thời điểm đó, rõ ràng những người dân nghèo, ít học, ít được tiếp cận thông tin ở miền núi sẽ sùng đạo hơn những người dân thành thị thường xuyên tiếp cận với nghệ thuật, khoa học và tin tức.

Ngoài ra, nếu DCCT thật sự quan tâm đến người nghèo, thì họ đã dồn tiền cho các hoạt động thiện nguyện hướng đến người nghèo nói chung, thay vì chỉ hướng đến những nhóm dân nghèo có chung lợi ích chính trị với họ. Nếu DCCT muốn đạt được tiến bộ tâm linh bằng phương thức khổ hạnh, họ đã thường xuyên tịnh khẩu như nhiều dòng tu khổ hạnh trong Công giáo, thay vì xây dựng một đế chế truyền thông. Việc DCCT Việt Nam đặt trọng tâm vào truyền thông và kết hợp truyền thông với từ thiện để lôi kéo các nhóm dân nghèo bất mãn cải đạo sang Công giáo, cho thấy tính dân túy của dòng này. Khẩu hiệu “Tất cả vì người nghèo” của họ thực ra không phục vụ người nghèo, mà phục vụ việc truyền giáo.

Thêm vào đó, qua lịch sử của DCCT ở Thái Hà trong giai đoạn 1954 – 1975, qua việc hoạt động của cả báo “Đức Mẹ hằng cứu giúp” lẫn Văn phòng Công lý & Hòa bình đều gắn chặt với giới quân nhân Việt Nam Cộng hòa và việc linh mục Chân Tín bị buộc phải rời ghế giám đốc tòa soạn của tờ “Đức Mẹ hằng cứu giúp” vì quan điểm chính trị trung lập của ông, có thể thấy DCCT bị thao túng, đẩy vào thế đối lập, hận thù dai dẳng với chính quyền Việt Nam và truyền thông Chúa Cứu thế bị hận thù định hướng. 

Tính dân túy và khuynh hướng thù hận này ảnh hưởng đáng kể đến lợi ích của các nhóm dân nghèo mà DCCT Việt Nam tiếp cận. Sau khi được DCCT giúp đỡ, các gương mặt chính trị đối lập và các nhóm dân nghèo bất mãn thường không có đời sống khá hơn. Thay vào đó, họ ngày càng bị cuốn sâu vào các xung đột với chính quyền, bị cắt kế sinh nhai và tự cô lập mình với phần còn lại của xã hội. Chẳng hạn, các nhóm nông dân khiếu kiện tập thể được DCCT cố vấn về mặt pháp lý thường thua kiện và trở thành các nhóm biểu tình dai dẳng, thay vì đòi lại được đất để trở về canh tác. Những gương mặt đối lập được DCCT cải đạo sang Công giáo thường trở nên cực đoan, ít cởi mở, chậm tiến hơn, và tự cô lập mình trong cộng đồng Công giáo và cộng đồng chống Cộng.

Loa Phường (còn tiếp)

Chú thích:

(1)http://www.academia.edu/32390110/Nguy%E1%BB%87t_san_%C4%90%E1%BB%A9c_M%E1%BA%B9_H%E1%BA%B1ng_C%E1%BB%A9u_gi%C3%BAp

(2) http://diemtinvn.blogspot.com/2011/11/lich-su-nha-dong-chua-cuu-va-giao-xu.html

(3) https://chuacuuthemedia.wordpress.com/2012/01/13/khai-tr%C6%B0%C6%A1ng-truy%E1%BB%81n-thong-dong-chua-c%E1%BB%A9u-th%E1%BA%BF-vi%E1%BB%87t-nam-t%E1%BA%A1i-houston-tx/

(4) http://vietnamvanquan.blogspot.com/2014/04/uc-ket-ngay-tri-thuong-phe-binh-viet.html

Ai đang muốn “tiêu diệt” Đoan Trang và cuốn “Chính trị Bình dân”?

Mới đây, sau khi được cơ quan công an mời lên trụ sở để trao đổi về nội dung cuốn sách “Chính trị Bình dân”, tác giả Phạm Đoan Trang đã tung ra một bản tuyên bố viết tay, đề ngày 26 tháng 2 năm 2018 (1). Trong bản tuyên bố, Trang lớn tiếng khẳng định rằng bà “khinh ghét những kẻ đã và đang muốn tiêu diệt” bà và cuốn “Chính trị Bình dân”. Ngay khi bản tuyên bố xuất hiện, phong trào chống Cộng đã phát động một chiến dịch truyền thông đình đám để ca ngợi Đoan Trang và cuốn “Chính trị Bình dân”.

Sau khi theo dõi làn sóng dư luận này, tôi có cảm giác cả Phạm Đoan Trang lẫn những người đang tạo sóng truyền thông để ca ngợi bà đều giả dối.

Sự giả dối của Đoan Trang nằm ở chỗ bà đã bịa ra những mối đe dọa không có thật để ăn vạ dư luận. Nhắc lại, trong bản tuyên bố, Đoan Trang khẳng định rằng đang có kẻ muốn “tiêu diệt” bà và cuốn “Chính trị Bình dân”. Nhưng chính quyền có thể “tiêu diệt” Trang và cuốn sách bằng cách nào?

Trang không giải thích, và cũng không đưa ra bất cứ bằng chứng nào cho việc đó. Trong thực tế, chính quyền chỉ có một động thái duy nhất: mời Trang lên trụ sở để trao đổi về nội dung cuốn sách, rồi để bà ra về. Chỉ kẻ hoang tưởng mới cho rằng mình có thể bị “tiêu diệt” bằng một cuộc trao đổi ở công sở.

Nếu bình tĩnh suy nghĩ, chúng ta sẽ thấy cuốn “Chính trị Bình dân” không thể bị bất cứ chính quyền nào tiêu diệt. Chính quyền không thể đình bản, thu hồi để tiêu hủy hay ngăn độc giả tiếp cận cuốn sách này, vì nó được phát hành trên Amazon thay vì in bởi các nhà xuất bản trong nước. Nếu cuốn sách thật sự có chất lượng, độc giả Việt Nam trong và ngoài nước sẽ sẵn sàng bỏ tiền ra để mua bản mềm. Chẳng ai có thể “tiêu diệt” cuốn sách này ngoài chính tác giả Phạm Đoan Trang, người khiến nó có chất lượng thấp.

Sau Phạm Đoan Trang, chính những người mở chiến dịch truyền thông để ca tụng bà cũng đang giả dối. Trên mạng ảo, họ đều tuyên bố rằng họ sẽ đồng hành cùng bà Trang trong lúc hiểm nguy. Bằng cách đó, họ tạo ra một ảo tưởng rằng mình là người tốt, can đảm, không bỏ rơi đồng đội, và toàn bộ phong trào chống Cộng là một khối người đoàn kết, đồng lòng. Tuy nhiên, chỉ cần làm một phép thử, bà Trang sẽ nhận ra họ nói dối.

Cuối bản tuyên bố viết tay, Phạm Đoan Trang khẳng định rằng bà coi “nhà nước Cộng sản ở Việt Nam hiện nay” là một “nhà nước độc tài”, và bà đang đấu tranh để “xóa bỏ” nhà nước đó. Tôi nghĩ để kiểm tra đồng đội, bà Trang nên viết một lời kêu gọi “xóa bỏ” nhà nước hiện hành ở Việt Nam. Sau đó, bà kêu gọi những người đã và đang “đồng hành” với bà – như Nguyễn Đình Hà, Lưu Văn Minh, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Hồ Nhật Thành, Trịnh Kim Tiến, Phạm Lê Vương Các… – cùng ký tên dưới lời kêu gọi này, và đi biểu tình đòi “xóa bỏ” nhà nước với bà. Nếu họ sẵn sàng làm vậy, bất chấp điều 79 trong Bộ Luật Hình sự của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thì họ quả là những người can đảm, không bỏ rơi đồng đội, và phong trào chống Cộng quả là một khối đoàn kết. Còn nếu bà tự biết họ sẽ không ký vì sợ, thì cả bà lẫn họ hãy tỉnh mộng đi. Thực ra những người đồng đội đó không hề đồng hành với bà, và bà cũng không hề dẫn đầu bất cứ phong trào hay hội nhóm nào. Cả bà lẫn những người nói trên chỉ đang lợi dụng nhau cho những toan tính vị kỷ.

Khi Phạm Đoan Trang tung ra bản viết tay trên, bà đã công khai vi phạm điều 79 Bộ luật Hình sự. Nhưng bà Trang không làm việc này một cách dại dột, nông nổi hoặc thiếu suy tính. Thay vào đó, bà đã chủ động lên kế hoạch để biến mình thành vị thánh tử đạo của phong trào chống Cộng Việt Nam. Kế hoạch của Trang gồm ba bước:

_ Trong bước một, bà tự làm hồ sơ để trao giải Homi Homini cho chính mình (2). Giải thưởng này có hai tác dụng. Thứ nhất, nó khiêu khích chính quyền, khiến chính quyền chú ý đến bà hơn. Thứ hai, khi châu Âu đã trao một giải thưởng nhân quyền quốc tế cho bà, họ sẽ có trách nhiệm giải cứu bà khi bà bị bắt. Nói cách khác, bà Trang đã bẫy châu Âu vào thế phải giúp bà đi tị nạn.

_ Trong bước hai, Đoan Trang mở một chiến dịch truyền thông để vận động cho Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và Trần Thị Nga được đi tị nạn chính trị ở nước ngoài. Bằng chiến dịch này, Trang thuyết phục cư dân mạng rằng khi một “nhà đấu tranh” xin đi tị nạn để thoát bản án tù, họ không phải đang bỏ cuộc và không phải là kẻ hèn nhát. Nhưng chủ đích của Trang không phải là biện hộ cho Quỳnh, Nga hoặc các “nhà đấu tranh” khác, mà là biện hộ cho chính mình trong tương lai (3).

_ Trong bước ba, Đoan Trang công khai vi phạm điều 79 Bộ Luật Hình sự, khiến chính quyền không có lựa chọn nào khác ngoài khởi tố bà để thực hiện đúng quy định của luật pháp. Vụ bắt giữ này sẽ biến Trang thành một vị thánh tử đạo của phong trào chống Cộng. Nhờ đó, Trang bán được sách, được đi nước ngoài tị nạn, và có đủ danh tiếng, thành tựu để hiện diện trong mắt quốc tế như một Aung San Suu Kyi của Việt Nam. Trang mong rằng trong tương lai, khi tình hình trong nước và quốc tế chuyển biến theo hướng có lợi, quốc tế sẽ rước Trang về Việt Nam rồi đưa Trang lên ngôi. Còn nếu Trang không diễn vai thánh tử đạo, thì hoạt động của bà sẽ tiếp tục xuống dốc. Cuốn “Chính trị Bình dân” tiếp tục không bán được vì chất lượng quá kém, nhóm Green Trees tiếp tục sống thực vật bằng những hoạt động văn nghệ vô bổ, Trang tiếp tục sa lầy trong nơi trú ẩn mà Dòng Chúa Cứu thế cho bà, và quốc tế tiếp tục cắt tiền tài trợ cho phong trào chống Cộng Việt Nam, do thấy phong trào không có hoạt động hay sự kiện nào đáng chú ý.

Trong khi Trang sẵn sàng sắm vai thánh tử đạo, thì phong trào chống Cộng cũng đang cần một vụ tử đạo mới. Nếu không có những vụ việc ồn ào nhưng vô bổ, như sóng truyền thông mà Đoan Trang đang tạo, thì do ảnh hưởng từ đợt triệt phá năm ngoái, phong trào sẽ tiếp tục chìm xuống do các “nhà đấu tranh” đồng loạt ngậm miệng vì sợ và lượng tiền tài trợ tiếp tục giảm đi. Khi đó, người trong phong trào sẽ lộ mặt hèn, và chuyển sang đấu đá nhau để giành những đồng tiền tài trợ cuối cùng. Còn nếu Đoan Trang sắm vai tử đạo, phong trào sẽ lại được diễn với nhau một màn “can đảm”, “đoàn kết” giả vờ, và những nguy cơ trên sẽ tạm thời không còn nữa.

Tóm lại, Đoan Trang và phong trào chống Cộng đang diễn kịch “tử đạo” để chấm dứt tình trạng sống dở chết dở, sống không bằng chết lúc này của họ. Giống như Chí Phèo, giờ họ không biết làm gì để có miếng ăn và khỏi bị lãng quên, ngoài khích người ta đánh mình và ăn vạ quốc tế. Rốt cuộc chẳng ai muốn “tiêu diệt” Phạm Đoan Trang và cuốn sách chất lượng thấp của bà Trang, ngoài chính bà và các “đồng đội”.

Võ Khánh Linh

Chú thích:

(1) https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/28167289_10156438462063322_5294701406039001752_n.jpg?oh=b4e108d3e9904491c08a84ffb764120f&oe=5B4BFBB3

(2) http://vokhanhlinh98.blogspot.com/2018/02/pham-oan-trang-tu-trao-giai-homi-homini.html

(3) http://www.loaphuong.org/2018/02/vi-sao-oan-trang-va-ong-bon-xin-ti-nan.html