Category Archives: Việt Nam

Diện mạo mới của cổng Ngọ Môn ở Đại Nội Huế Huế sau khi được lột bỏ “bụi thời gian”

Sau khi các vết bẩn, rêu mốc được làm sạch bằng công nghệ hơi nước nóng của Đức, cổng Ngọ Môn của Đại Nội Huế đã lấy lại được màu sắc nguyên thủy gần như 186 năm trước, khiến đa số người dân và du khách thích thú.
https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/b058200a443e01104aab57e2a6fe6d80.jpg

Clip: Người dân và du khách nói gì về “tấm áo mới” của Cổng Ngọ Môn – Đại Nội Huế, được làm sạch bằng công nghệ hơi nước nóng. Thực hiện: Hà Nam

Những ngày này, đến tham quan Đại Nội Huế, nhiều người dân và du khách không khỏi ngỡ ngàng khi tận mắt chứng kiến di tích cổng Ngọ Môn Huế khoác lên mình một “chiếc áo mới”.

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/d17b11d22330359d2c817b771dd87b25.jpg

Cổng Ngọ Môn được xây dựng tại Kinh thành Huế vào năm 1833, dưới thời vua Minh Mạng thứ 14 với tường cơ sở kiểu pháo đài được làm bằng gạch và đá vôi. Trải qua 186 năm tồn tại, di tích này đang trong tình trạng tổn hại do các chất bẩn, ô nhiễm từ sự phát triển sinh học của tảo, rêu mốc, làm mất vẻ mỹ quan di tích.

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/b43836934796735bce5d3988294d07b6.jpg

Theo đó, các chuyên gia đến từ Đức đã sử dụng công nghệ Hơi nước nóng (steam cleaning) bằng cách sử dụng 1 đầu phun đặc biệt để tạo ra áp lực hơi nước 0.5-1 bar lên bề mặt đá vôi.

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/de08a2c5b3e16a7b8d53ade2627be173.jpg

Hệ thống gia nhiệt có thể tạo ra hơi nước với nhiệt độ tối đa khoảng 100°C, (nhiệt độ bình 155°C) để loại bỏ hoàn toàn các loại chất bẩn/ ô nhiễm sinh học cũng như tiêu diệt chất bẩn ở dưới bề mặt, cư trú sâu hơn bên trong các lỗ đá nhờ vào nhiệt độ cao của nước nóng.

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/d4c3a36d8285d7447ea5eb752ac9f1a1.jpg

Tính đến nay, đã có hơn 100 dự án trên toàn thế giới được làm sạch được làm sạch bằng công nghệ Hơi nước nóng. Trong đó tiêu biểu là dự án làm sạch tượng Chúa Cứu Thế tại Rio De Janeiro, Brazil, Núi Rushmore – Khu tưởng niệm quốc gia, Mỹ, Hàng cột trên Quảng trường St Peter-Thành phố Vatican, cầu Nihonbashi, Nhật Bản…

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/7e6141ce0047bae87c18edff83f2f171.jpg

Công trình Ngọ Môn như vừa được”vén màu thời gian” để trả lại màu sắc gần như ban đầu của di tích được xây dựng từ 186 năm trước này.

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/128ae508b4b53b2d4bc83765ebfa2753.jpg

Ông Võ Lê Nhật – Giám đốc Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế, cho biết bề mặt tường của cổng Ngọ Môn đã “trở nên sáng bóng khi được rửa sạch lớp rêu mốc bám nhiều năm. Phương pháp này giúp mở ra một hướng mới trong việc bảo tồn và gìn giữ các kiến trúc di sản triều Nguyễn được “lâu bền hơn”.

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/7ccac9c9100e8a48bcaf698c8d7f4d86.jpg

Sau khi được làm sạch bằng công nghệ nước nóng của Đức, cổng Ngọ Môn đã khoác lên mình 1 diện mạo mới. Bề mặt tường được làm sạch nhưng vẫn giữ được độ chắc chắn, sáng rõ và không bị bào mòn.

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/eba035d917e1500e6e861b92177e4e81.jpg
https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/0e21563cfb305a0a6cb57dda3a414c30.jpg
https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/0fd7d97fa6a28e4097abe0f4edeedcfe.jpg

Hoa văn phù điêu trang trí đã được làm sạch

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/d737933d50e318cc070c1b1e95584bef.jpg

Được biết, Dự án làm sạch Cổng Ngọ Môn do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và Karcher – nhà cung cấp hàng đầu thế giới về công nghệ làm sạch, phối hợp thực hiện trong vòng 15 ngày.

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/6158e908d758526667767e67df79800d.jpg

Nhiều du khách thích thú chụp ảnh tại cổng Ngọ Môn vừa được làm sạch.

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/298e28f8f77222b96ceef9f0ea76b452.jpg
https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/07e9e3e23b2b31a38a1aecb55112fd6c.jpg

Sự tương phản và khác biệt rõ ràng sau khi sử dụng công nghệ steam cleaning để làm sạch lớp rêu mốc với bức cùng góc phía trên.

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/54a8a93d5c8aa9823b27eb6bfbafed32.jpg

Cổng Ngọ Môn Huế rực rỡ về đêm khi được lột bỏ “bụi thời gian”

Hội Liên Hiệp Quốc Dân Việt Nam (Liên Việt)

Ngày 28/5/1946, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam gọi tắt là Liên Việt được thành lập để mở rộng khối đoàn kết toàn dân, bắt tay với các đảng phái chính trị và các nhân sĩ dân chủ và thân sĩ yêu nước. 

Trong hình ảnh có thể có: 17 người, mọi người đang cười, mọi người đang đứng
Ảnh: cụ Huỳnh Thúc Kháng hàng đầu đeo kính cạnh Bác Hồ.


Hội Liên Việt gồm mặt trận Việt Minh, các tố chức, các đảng phái và cá nhân yêu nước chưa tham gia mặt trận Việt Minh.

Đảng Xã hội Việt Nam và hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam cùng tham gia Hội Liên Việt.

Mục đích của hội là đoàn kết tất cả các lực lượng và đồng bào yêu nước Việt Nam không phân biệt đảng phái, giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, dân tộc để làm cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cường.


Hội trưởng là cụ Huỳnh Thúc Kháng, hội phó là đ/c Tôn Đức Thắng. Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu làm hội trưởng danh dự.

Người là Hồ Chí Minh

(VTC News) – Năm 1990, đúng 100 năm ngày sinh của Hồ Chí Minh, Đại hội đồng UNESCO đã vinh danh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới”.

Quê hương yêu dấu

Quê Bác nằm ở hạ lưu Sông Lam của xứ Nghệ, nơi hội tụ của các trung tâm văn hoá vùng Bắc Trung Bộ; nơi phát tích nhiều nền văn hoá cổ, một vùng văn hoá – dân tộc học đặc sắc. Cụ nghè Nguyễn Xuân Ôn, một trong những lãnh tụ xuất sắc của phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX từng ca ngợi quê hương mình: “Non nước châu Hoan đẹp tuyệt vời / Sinh ra trung nghĩa biết bao người”.

Bác Hồ của chúng ta sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước, ở một vùng quê giàu truyền thống văn hiến và cách mạng. Vùng quê ấy, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, thường xuyên đương đầu với muôn vàn thử thách, tàn phá do giặc giã, thiên tai, trong khổ đau vẫn gan góc, trong mất mát vẫn kiên cường, trong đói nghèo vẫn “đói sạch, rách thơm”; là “đất phên dậu”, “đất Cối Kê”, “thành đồng ao nóng của nước”.

Nguoi la Ho Chi Minh hinh anh 1
 
Nguoi la Ho Chi Minh hinh anh 2
 

Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông hung bạo từng tung hoành vó ngựa xâm lăng suốt cả một vùng đất rộng dài từ Á sang Âu, khi đất nước ở vào tình thế nước sôi lửa bỏng, ngàn cân treo sợi tóc, vua Trần Nhân Tông vẫn tin tưởng: “Cối Kê cựu sự quân tu ký, Hoan Diễn do tồn thập vạn binh” (tạm dịch: chuyện cũ Cối Kê ngươi nên nhớ, Hoan Diễn kia còn chục vạn binh). Nhìn trong lịch sử dân tộc, những tên tuổi lớn như Mai Hắc Đế, Hồ Quý Ly, Nguyễn Huệ – Quang Trung, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Nguyễn Trường Tộ…hoặc sinh ra hoặc khởi nghiệp và thành danh ở nơi này.

Ở thời hiện đại, cùng với Hồ Chí Minh, nhiều nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng ta như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Phan Đăng Lưu, Lê Hồng Sơn, Phạm Hồng Thái, Lý Tự Trọng, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Sĩ Sách,…cũng là những người con ưu tú của đất Hồng Lam.

Bác Hồ sinh ra trong một gia đình có truyền thống nho học nguồn gốc nông dân. Ông Nguyễn Sinh Sắc – thân phụ Bác, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được cụ giáo Hoàng Đường đưa về nuôi dưỡng, cho ăn học, rồi gả người con gái yêu đầu lòng. Khi Bác cất tiếng khóc chào đời, khói lửa của phong trào Cần Vương – bên kia sông Lam là cuộc dấy nghĩa của Phan Đình Phùng, Cao Thắng, ở ngay núi Chung trước nhà là của Vương Thúc Mậu…dần lắng xuống. Thân mẫu Bác thường ru con những câu ca da diết: “Con ơi nhớ lấy câu này/ Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm/ Làm người đói sạch rách thơm/ Công danh phủi nhẹ, nước non phải đền”.

Lớn lên chút nữa, những cuộc đàm đạo văn chương, thế sự của thân phụ Bác với các vị túc nho như Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Đặng Thái Thân đã nhen lên trong tâm khảm Bác và người chị, người anh lòng yêu nước nồng nàn, chí căm thù lũ giặc sâu sắc. Ông Nguyễn Sinh Sắc, dù đậu Phó bảng, dù được bổ làm quan vẫn trước sau xa xót: “Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ hựu nô lệ” (quan trường là nô lệ trong đám người nô lệ nên càng nô lệ hơn). Chị gái của Bác – bà Nguyễn Thị Thanh, anh trai Bác – ông Nguyễn Sinh Khiêm, đều được học hành chu đáo, tham gia các hoạt động yêu nước, đều bị chính quyền thực dân, phong kiến cầm tù, quản chế.

Nguoi la Ho Chi Minh hinh anh 3
 

Truyền thống vẻ vang của quê hương và gia đình đã ảnh hưởng sâu sắc đến tuổi ấu thơ của Bác, đến việc hình thành nhân cách, tư tưởng, đạo đức của Bác. Sau này, trên con đường bôn ba tìm đường cứu nước, được hoà mình trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Á, Âu, Phi, Mỹ, Australia; được tiếp xúc với chủ nghĩ Mác – Lênin và ánh sáng Cách mạng Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển truyền thống văn hoá, yêu nước và cách mạng của dân tộc, của quê hương lên tầm cao mới: chủ nghĩa yêu nước mang nội dung nhân bản sâu sắc; giải phóng dân tộc đi liền với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người; đề cao con người là nhân tố quyết định của lịch sử; cách mạng dân tộc, dân chủ phải phát triển lên cách mạng xã hội chủ nghĩa; sức mạnh dân tộc phải gắn liền với sức mạnh thời đại; đặc biệt coi trọng vai trò “là gốc”, “là người chủ” của nhân dân, sức mạnh to lớn đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó là những đóng góp hết sức quan trọng của Người đối với giá trị văn hoá Việt Nam và cả nhân loại.

Một con người của “nền văn hóa tương lai”

Năm 1987, Đại hội đồng UNESCO lần thứ 24 tại Paris, nước Pháp đã ra Nghị quyết 24C/18.65 về việc kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1990, đúng 100 năm Ngày sinh của Người, vinh danh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá thế giới” (1). Nhưng 64 năm trước, năm 1923, nhà thơ Xô viết Osip Mandelstam đã viết về Nguyễn Ái Quốc – tên Người lúc đó, trên tạp chí Ogoniok, số 39: “Từ Nguyễn Ái Quốc toả ra một nền văn hoá, không phải là văn hoá châu Âu mà có lẽ là nền văn hóa của tương lai”… “Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giản dị và lịch sự. Qua cử chỉ cao thượng, tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi thấy được ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên bể lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương” (2) .

Dẫu bôn ba bốn biển năm châu, dẫu xa quê khi còn rất trẻ, Người luôn yêu quý, luôn khắc khoải về đất nước, quê hương. Người nhớ nằm lòng nhiều làn điệu hát ví, hát giặm, hát phường vải của quê nhà. Người sử dụng rộng rãi, linh hoạt, tài tình các thể loại văn học truyền thống, các hình thức sinh hoạt văn hoá dân dã như tập Kiều, lẩy Kiều, vịnh Kiều, tập cổ, thơ lục bát, thơ tự vịnh, thơ cổ điển, thơ mừng tuổi, thơ chúc tết, chúc thọ. Người ưa lẩy Kiều và đã vận dụng nghệ thuật dân gian này đến độ sáng tạo, tinh tế. Người không nhận mình là một nhà thơ, nhà văn “Ngâm thơ ta vốn không ham”… Người làm thơ, viết văn, viết báo, chụp ảnh, ký hoạ có khi là để mưu sinh, nhưng cao hơn là để phong phú hóa, thanh bạch hóa cuộc sống thường nhật gian khổ, khó khăn của mình, là để phục vụ cách mạng.

Nguoi la Ho Chi Minh hinh anh 4
 
Nguoi la Ho Chi Minh hinh anh 5
 
Nguoi la Ho Chi Minh hinh anh 6
 

Trong thơ văn, Người hay dùng tục ngữ, ca dao, dân ca, lối nói ví von, so sánh sinh động, dễ hiểu của nhân dân lao động. Người yêu mến và say sưa nghiên cứu các tác phẩm văn chương cổ điển của Việt Nam, Trung Quốc, Pháp và các nước khác. Người nhắc nhở mình và mọi người “Nay ở trong thơ nên có thép, nhà thơ cũng phải biết xung phong”. Văn chương, thơ ca của Người giản dị, chân chất, nhân văn như tính mộc mạc, đằm thắm của người xứ Nghệ, lại có cái sâu sắc, thâm thuý, uyên bác của các nhà hiền triết phương Đông, phương Tây; cổ điển và hiện đại, xứ sở và dân tộc, bình dân và bác học… hoà quyện một cách nhuần nhuyễn, sống động, tài tình.

Nguoi la Ho Chi Minh hinh anh 7
 

Trên con đường hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt chân lên hầu khắp các châu lục, nhiều quốc gia, nhiều nền văn hoá, thông thuộc nhiều thứ tiếng nước ngoài. Vậy mà, một đêm ở Thái Lan xa xôi, Người thốt lên “Xa nhà chốc mấy mươi niên / Đêm qua nghe tiếng mẹ hiền ru con”. Người vẫn giữ cho mình giọng Nghệ nằng nặng, trầm ấm, chân chất, vang vọng của quê nhà. Sau hàng chục năm xa quê, ngày trở lại, Người xúc động nói: “Quê hương nghĩa trọng tình cao /Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình”.

Người không quên lối đi nhỏ vào nhà ngày xưa nơi có hàng râm bụt, cây bưởi, luống rau, luống lạc trước nhà, cây mít, hàng cau phía sau, chiếc võng tuổi thơ, chiếc rương gỗ nhỏ – của hồi môn ít ỏi của mẹ, khung cửi của bà, của mẹ, chiếc phản gỗ và mấy pho sách của cha, những câu chuyện kể của ông bà… Người nhớ và ghi sâu công đức người thầy khai tâm của mình, những kỷ niệm với người bạn câu cá, ông thợ rèn, bạn thả diều, chăn trâu, đánh trận giả…Người nhớ và nhắc giúp nghệ sỹ quê nhà hai câu cuối của một bài hát dân ca, về cách phát âm, cách luyến láy một số từ giọng Nghệ khi hát xướng. Trong bữa ăn thường nhật, Người ưa món tương, cà, nhút, vừng của quê nhà.

Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới

Năm 15 tuổi, Nguyễn Sinh Cung cùng cha, mẹ và anh Khiêm vào Huế; năm 18 tuổi (1908), Anh tham gia các cuộc biểu tình chống thuế của nông dân tại kinh đô Huế. Năm 1910, trong tên gọi Nguyễn Tất Thành, trên con đường mở mang tầm nhìn, khao khát con đường cứu nước, Bác của chúng ta dừng chân dạy học ở Trường Dục Thanh, thị xã Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, ngôi trường do các sĩ phu yêu nước ở đây lập ra nhằm hưởng ứng phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ do Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng khởi xướng.

Ngày 5/6/1911, tại bến cảng Sài Gòn, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành xuống tàu biển sang phương Tây, như sau này Người kể lại “Tôi muốn đi ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”. (3)

Nguoi la Ho Chi Minh hinh anh 8
 

Trước đó, Phan Bội Châu đi về phương Đông, nhưng một thực tế hết sức phũ phàng là nước Nhật “đồng chủng”, “đồng cừu” đang phản bội người da vàng, xâm lược Trung Quốc, Triều Tiên, ra lệnh trục xuất chính Phan và các du học sinh Việt Nam yêu nước. Cải cách của Khang, Lương ở Trung Quốc thất bại, cho thấy Trung Quốc không thể đi theo con đường Duy Tân của Nhật Bản. Cách mạng Tân Hợi (1911) của Tôn Văn tuy lật đổ được ngai vàng đế chế, nhưng đã không lật đổ được quyền chiếm hữu ruộng đất và ách bóc lột của địa chủ phong kiến, ách nô dịch của đế quốc tư bản nước ngoài. Nhiều trí thức Việt Nam đương thời cũng sang Pháp, có người chỉ lo học hành, kiếm sống, làm giàu; có người vừa học chữ, vừa tìm đường cứu nước, cứu dân.

Luật sư, Tiến sĩ Phan Văn Trường và Phó bảng Phan Châu Trinh tiêu biểu cho nhóm thứ hai. Tuy nhiên, sống và hoạt động ở Pháp nhiều năm, từng tiếp xúc với các lực lượng cánh tả Pháp, vậy mà các ông vẫn không tìm được con đường đúng đắn giải phóng dân tộc, không đến được với chủ nghĩa Mác – Lênin như Văn Ba – Nguyễn Ái Quốc. Theo báo cáo của Trung ương Đảng Xã hội Pháp thì năm 1913 đã có 7 người Việt Nam vào Đảng Xã hội Pháp, năm 1919 có 80 người Việt Nam tham gia Đảng này, nhưng đến năm 1920 chỉ còn 20 người, duy chỉ có Nguyễn Ái Quốc (vào Đảng Xã hội Pháp năm 1918) trở thành người cộng sản. (4)

Nguoi la Ho Chi Minh hinh anh 9
 

Trên con đường bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc được hòa mình trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, châu Á. Với sự thông minh, mẫn tiệp, nhạy cảm với cái mới, trăn trở, khát khao tìm con đường đúng đắn để cứu nước, cứu dân, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp xúc, gạn lọc, đón nhận những tư tưởng tiến bộ của văn hóa phương Tây: chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng, chủ nghĩa duy lý thế kỷ Ánh sáng, tư tưởng dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái của cách mạng Pháp, Anh, Mỹ…

Ở Pháp, Người cùng Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường gửi Yêu sách của nhân dân An Nam đến Hội nghị Versailles (1919); viết Bản án chế độ thực dân Pháp (1920); bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ Ba (tức Quốc tế Cộng sản), trở thành một trong những sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và đương nhiên, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên (1920); sáng lập báo Người cùng khổ (Le Paria, 1922), ngay bài viết cho số đầu tiên, Người tuyên bố sứ mệnh tờ báo là “giải phóng con người”.

Ở Pháp, Người cùng Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường gửi Yêu sách của nhân dân An Nam đến Hội nghị Versailles (1919); viết Bản án chế độ thực dân Pháp (1920); bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ Ba (tức Quốc tế Cộng sản), trở thành một trong những sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và đương nhiên, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên (1920); sáng lập báo Người cùng khổ (Le Paria, 1922), ngay bài viết cho số đầu tiên, Người tuyên bố sứ mệnh tờ báo là “giải phóng con người”.

Hơn 10 năm ở trời Tây, vừa vất vả lao động kiếm sống, vừa đau đáu tìm kiếm con đường cứu nước, cứu dân, Văn Ba – Nguyễn Ái Quốc càng nhận thức rõ: chủ nghĩa tư bản, bè lũ đế quốc, thực dân là những kẻ đã gây ra mọi áp bức, bóc lột, đau khổ cho công nhân, nông dân và các tầng lớp khác ở cả thuộc địa và ở ngay chính quốc.

Theo Người: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ Ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” (5).

Người khẳng định: “Muốn giải phóng dân tộc phải tự mình làm lấy”. Người tin tưởng ở con đường đi của mình, tin tưởng ở sức mạnh của nhân dân, của dân tộc.

Điều này, rất khác với quan điểm của Phan Bội Châu, của Phan Chu Trinh; vượt qua những giáo lý Khổng, Mạnh hẹp hòi, duy tâm; vượt qua sự hạn chế của chủ nghĩa yêu nước đã khá lỗi thời của các sĩ phu phong kiến và các nhà cách mạng có xu hướng dân chủ tư sản, tiểu tư sản đương thời. Từ chủ nghĩa yêu nước, Người đến với chủ nghĩa cộng sản khoa học, chủ nghĩa Mác – Lênin. Người bắt gặp, đón nhận Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I. Lênin, và sự kiện này không hề là ngẫu nhiên, may mắn. Đó là một tất yếu khách quan mang tính khoa học và cách mạng.

Chính Phan Châu Trinh, trong một bức thư đề ngày 18/2/1922 gửi từ Marseille cho Nguyễn Ái Quốc đang ở Paris, đã viết: “Thân tôi tựa như chim lồng, cá chậu… Cảnh tôi như hoa sắp tàn, hiềm vì quốc phá gia vong, mà hơi tàn cũng phải gào cho hả, may ra có tỉnh giấc hồn mê”. Cuối thư, Cụ ví Nguyễn Ái Quốc “như cây đương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hành, lý thuyết tinh thông… không bao lâu nữa cái chủ nghĩa anh tôn thờ (ý nói chủ nghĩa Mác – Lênin) sẽ thâm căn cố đế trong đám dân tình chí sỹ nước ta”. (6)

Nguoi la Ho Chi Minh hinh anh 10
 

Điều mà cụ thân sinh Nguyễn Sinh Sắc cùng các chí sỹ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và cả dân tộc mong mỏi, đã theo bước chân của Nguyễn Tất Thành -Văn Ba- Nguyễn Ái Quốc, qua thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Á, Âu, Phi, Mỹ, Australia; qua ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và cách mạng Tháng Mười Nga, đã lan tỏa, “sâu rễ bền gốc” ở Việt Nam. Để có chuyến trở về nước lịch sử của Nguyễn Ái Quốc ngày 28/1/1941.

Để có Ngày Quốc khánh 2/9/1945 với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại “Người có tầm nhìn cao rộng và sâu xa, xuyên qua lịch sử, bao quát không gian, thấy sáng tương lai, mở ra những bước ngoặt vĩ đại, đưa dân tộc Việt Nam từ cảnh nô lệ lầm than ra ánh sáng độc lập tự do, từ một đất nước ít ai biết đến trở thành người chiến sỹ tiêu biểu cho cả loài người tiến bộ yêu mến và khâm phục.

Đó là tầm nhìn mang ý nghĩa chiến lược, nhìn thấy con đường cứu nước là con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gặp gỡ và hòa nhập với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản, cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa quyện vào nhau trong không gian và thời gian, ở một nước và trên toàn thế giới”. (7)

Nguoi la Ho Chi Minh hinh anh 11
 

Từ Làng Sen, Nam Đàn, Nghệ An, Hồ Chí Minh đã hòa mình cùng cuộc đấu tranh vĩ đại của nhân dân, dân tộc mình; vươn ra biển lớn để từ một người yêu nước chân chính thành người cộng sản chân chính, một nhà văn hóa lớn của phương Đông và phương Tây.

Từ thế giới, Người lại trở về với nhân dân mình, dân tộc mình, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; làm nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; tạo những tiền đề quan trọng cho trận “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972 trên bầu trời Hà Nội, cho Đại thắng mùa xuân 1975 hội tụ ở Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng.

Người để lại cho muôn đời sau tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức Hồ Chí Minh, phong cách Hồ Chí Minh, con đường Hồ Chí Minh. Người là đóa sen đẹp nhất của dân tộc Việt Nam và là đóa sen đẹp, thanh cao, mẫu mực của nhân loại./.

1 Đại hội đồng UNESCO 24, họp từ 20/10-20/11/1987 ở Paris đã ra Nghị quyết tại Tiểu mục18.65, mục 18.6 .

2 Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, 1995, Tập 1, trang 477.

3 Theo cuốn sách “Vừa đi đường vừa kể chuyện”của tác giả T.Lan, bản in năm 1976 của Nhà xuất bản Sự thật.

4 Bác Hồ với quê hương Nghệ Tĩnh, NXB Nghệ tĩnh, 1990, trang 146.

5 Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập X, trang 126-128 (Bài “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin, đăng trên Tạp chí Các vấn đề phương Đông, Liên Xô, 1960, nhân kỷ niệm 90 năm Ngày sinh V.I. Lênin).

6 Bác Hồ với đất Quảng, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.

7 Lời Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại buổi gặp mặt với đại biểu cán bộ và nhân dân Nghệ Tĩnh ngày 19 tháng 5 năm 1985.

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Giá trị một văn kiện lịch sử

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Giá trị một văn kiện lịch sử
Mặc dù Người viết rằng: “để lại mấy lời” và “chỉ nói tóm tắt vài việc thôi” nhưng Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một văn kiện lịch sử vô giá.

Bác Hồ của chúng ta - đóa sen đẹp, thanh cao, mẫu mực của nhân loại

Bác Hồ của chúng ta – đóa sen đẹp, thanh cao, mẫu mực của nhân loại
Người là đóa sen đẹp nhất của dân tộc Việt Nam và là đóa sen đẹp, thanh cao, mẫu mực của nhân loại.PGS.TS NGUYỄN THẾ KỶ/VOV

Chiến Tranh Đông Dương Lần Thứ Nhất (1946-1954)

Lính Pháp trong chiến tranh Đông Dương - Indochine Viet nam War -

Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, hay Chiến tranh Đông Dương (1946-1954) kéo dài từ năm 1946 đến năm 1954 giữa Pháp và đồng minh cùng lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Việt Minh) , Pathet Lào và Campuchia.

Cuộc chiến này ở Việt Nam là giai đoạn chống Pháp kéo dài từ  19 tháng 12 năm 1946 tới 1 tháng 8 năm 1954 còn được gọi là Chiến tranh chống thực dân Pháp và can thiệp MỹKháng chiến chín năm9 năm kháng chiến trường kỳThời 9 nămHồi 9 năm. Các tài liệu nghiên cứu, sách báo ở nước ngoài phần lớn gọi là Chiến tranh Việt-Pháp hoặc Chiến tranh Đông Dương.

Năm 1858, Hải quân Pháp đổ bộ vào Cảng Đà Nẵng và sau đó xâm chiếm dần đến Sài Gòn. Trong suốt thời kỳ từ khi Pháp bắt đầu nổ súng xâm chiếm Việt Nam, đã có nhiều cuộc khởi nghĩa và phong trào chống Pháp do vua, quan, sỹ phu hoặc nông dân tổ chức, nhưng tất cả đều bị thất bại.

Năm 1940, Đế quốc Nhật Bản tấn công Đông Dương , đảo chính Pháp và chiếm chính quyền ngày 10 tháng 3 ở Việt Nam và nhanh chóng thỏa thuận được với chính quyền Vichy ở Pháp để Nhật toàn quyền cai trị Đông Dương. Theo chính sách Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á, Đế quốc Nhật Bản bảo trợ thành lập chính phủ Đế quốc Việt Nam dưới quyền Hoàng đế Bảo Đại, đứng đầu bởi Thủ tướng Trần Trọng Kim. Vua Bảo Đại tuyên bố thành lập Đế quốc Việt Nam ngày 11 tháng 3 năm 1945, tuyên bố chính phủ này có chủ quyền trên danh nghĩa ở ba kỳ, tiếp sau đó là Campuchia ngày 13 tháng 3 và Lào ngày 8 tháng 4. Trong tuyên bố của Bảo Đại, bãi bỏ các hiệp ước bảo hộ và mất độc lập với Pháp trước đây. Ngày 7 tháng 4 năm 1945, Bảo Đại ký đạo dụ số 5 chuẩn y thành phần nội các Trần Trọng Kim và ngày 12 tháng 5 giải thể Viện Dân biểu Trung Kỳ. Tháng 6 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam. Tuy nhiên, tình hình Việt Nam lúc này rơi vào một tình trạng hỗn loạn do khoảng trống về quyền lực chính trị quá lớn. Các đảng phái về tôn giáo, chính trị diễn ra khắp nơi. Uy tín và sức mạnh quân sự của chính quyền của chính phủ Trần Trọng Kim quá yếu nên không thể kiểm soát tình hình.

Lính Pháp tuần tra ở Miền nam năm 1952 trong Chiến tranh Đông Dương ở Việt Nam - Viet Nam War
Lính Pháp tuần tra ở Miền nam năm 1952 trong Chiến tranh Đông Dương ở Việt Nam – Viet Nam War

Việt Minh (viết tắt của Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội) do Hồ Chí Minh thành lập năm 1941 với vai trò một mặt trận thống nhất dân tộc để giành độc lập. Tổ chức này do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo, thu hút được sự tham gia và ủng hộ của nhiều người Việt Nam và ngày càng lớn mạnh. Tháng 12 năm 1944, Võ Nguyên Giáp đã thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đây là lực lượng quân sự của Việt Minh và là tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam sau này

Ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh, lực lượng Việt Minh đã tổ chức thành công cuộc Cách mạng tháng Tám đoạt chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim. Sau Cách mạng tháng Tám, Việt Minh thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên cơ sở cải tổ Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam được thành lập tại Đại hội Quốc dân ngày 16 và 17-8-1945 tại Tân Trào.

Tại Huế, Chính phủ Đế quốc Việt Nam đồng loạt từ chức và chuyển giao quyền lực cho phong trào Việt Minh. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam thống nhất và độc lập với tên gọi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Theo Hội nghị Potsdam, lực lượng Đồng Minh gồm Mỹ, Anh đã  nhường quân đội Tưởng Giới Thạch vào miền Bắc giải giáp quân đội Nhật và tại miền Nam, lực lượng Anh do Thiếu tướng Douglas D. Gracey chỉ huy đổ bộ vào Sài Gòn để thực hiện nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Ở miền Nam Việt Nam, chỉ 4 ngày sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, phái bộ quân sự Anh đã có mặt ở Sài Gòn, theo sau là liên quân Anh-Pháp. Quân Anh theo lệnh Đồng Minh vào giám sát quân Nhật đầu hàng nhưng đồng thời cũng tạo điều kiện cho quân Pháp vào Nam Bộ. Chính phủ lâm thời của Cộng hòa Pháp muốn khôi phục lãnh thổ Đông Dương với cơ chế tự trị. Ngày 19, Pháp tuyên bố sẽ lập chính quyền tại miền Nam.

Chiến tranh Đông Dương tại Việt Nam bùng nổ vào ngày 9 tháng 10, tướng Pháp Leclerc đến Sài Gòn, theo ông là lực lượng gồm 40.000 quân Pháp để chiếm giữ miền Nam Việt Nam và Campuchia. Từ cuối tháng 10, quân Pháp bắt đầu đẩy mạnh kế hoạch phá vây, mở rộng đánh chiếm ra vùng xung quanh Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ.

Lính Pháp đang chào cờ năm 1951 trong Chiến tranh Đông Dương ở Việt Nam - Viet Nam War
Lính Pháp đang chào cờ năm 1951 trong Chiến tranh Đông Dương ở Việt Nam – Viet Nam War

Đầu tháng 11 năm 1946, quân Pháp chiếm trụ sở hải quan tại cảng Hải Phòng. Chiến tranh Đông Dương lan ra đến miền Bắc Việt Nam. Các cơ quan của chính phủ Việt Nam bí mật chuyển dần về các nơi vùng rừng núi để lập căn cứ bí mật. Ngày 17 tháng 12, quân Pháp với xe tăng yểm trợ tấn công vào Hà Nội. Sáng ngày 20/12, lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được truyền đi khắp đất nước

Mùa hè năm 1947, lực lượng chủ lực của quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có khoảng 60.000 người, chưa kể tự vệ và du kích địa phương. Vũ khí còn thô sơ và thiếu, chủ yếu là do tự tạo và lấy được của Pháp. Ban đầu, chủ yếu là  lực lượng dân quân du kích vừa làm ruộng vừa chiến đấu trong lòng địch. Trang bị vũ khí thô sơ, chủ yếu là lấy được từ Pháp. Về sau được sự viện trợ của Nga và Trung Quốc, đã dần hình thành  những đơn vị chủ lực được huấn luyện bài bản, được trang bị mạnh, đầy đủ bao gồm cả súng máy, pháo dã chiến, pháo phòng không, …

Đầu năm 1950, Hoa Kỳ bắt đầu chính thức gửi viện trợ quân sự cho Pháp ở chiến tranh Đông Dương. Tháng 1 năm 1951 người Pháp nhận được 20 xe tăng M24, 40 khẩu pháo 105-mm và 250 quả bom thông thường và cả bom napalm cùng đạn dược và vũ khí tự động. Tới tháng 1/1953, Pháp đã nhận được 900 xe thiết giáp cùng với 15.000 xe vận tải các loại, gần 2.500 khẩu pháo, 24.000 vũ khí tự động, 75.000 vũ khí cá nhân và gần 9.000 máy radio. Ngoài ra, Không quân Pháp đã nhận được 160 máy bay F6F Hellcat và F8F Bearcat, 41 máy bay ném bom B-26 Invader, 28 máy bay vận tải C-47 cùng với 155 động cơ máy bay và 93.000 quả bom. Cho tới khi Pháp thất bại hoàn toàn thì phía Mỹ đã viện trợ trên 1 tỷ USD mỗi năm (tương đương khoảng 5,8 tỷ USD theo thời giá năm 2004) và chi trả 78% chi phí chiến tranh của Pháp ở Đông Dương

Về phía Pháp, càng về sau, họ càng vào thế sa lầy tại Chiến tranh Đông Dương do tuy họ đã dùng đến 40-45% ngân sách quân sự và 10% ngân sách quốc gia. Chiến sự bùng nổ khắp nơi khiến quân đội Pháp vốn đã mỏng lại phải căng ra trên cả nước để phòng ngự do đó thiếu sự tập trung để có thể hình thành nên những lực lượng mạnh, có thể chống lại những đơn vị chính quy ngày càng mạnh của Việt Minh. Với sự nổ ra của Chiến tranh Triều Tiên vào tháng 6 năm 1950, Mỹ thay đổi thái độ về cuộc xâm lược của Pháp tại Đông Dương, coi Triều Tiên và Việt Nam là hai chiến trường phụ thuộc lẫn nhau trong cuộc chiến của phương Tây chống lại chủ nghĩa cộng sản. Tổng thống Mỹ Harry S. Truman tuyên bố sẽ viện trợ quân sự trực tiếp cho các nỗ lực của quân Pháp tại Đông Dương

Lính Pháp hành quân ở chiến dịch Biên Giới năm 1950 trong Chiến tranh Đông Dương ở Việt Nam - Viet Nam War
Lính Pháp hành quân ở chiến dịch Biên Giới năm 1950 trong Chiến tranh Đông Dương ở Việt Nam – Viet Nam War

Chiến dịch Biên giới bắt đầu ngày 16 tháng 9 năm 1950, Dưới sự uy hiếp của quân Việt Minh và sự hoang mang của bộ chỉ huy Pháp, quân đội Pháo không đủ sức để tổ chức những cuộc phản công đủ mạnh để lấy lại những vùng đã mất. Đến ngày 22 tháng 10 năm 1950, quân Pháp phải rút bỏ hoàn toàn khỏi các cứ điểm còn lại trên đường 4 như Thất Khê, Na Sầm, Đồng Lập, Lạng Sơn. Toàn bộ vùng Đông Bắc tiếp giáp với Trung Quốc đã được mở toang, quân đội Nhân Dân Việt nam có thể nhận được những viện trợ quân sự từ Nga và Trung Quốc dễ dàng hơn.

Tháng 7 năm 1953, chỉ huy mới của Pháp, tướng Henri Navarre, đến Đông Dương. Được sự hứa hẹn về việc Mỹ tăng viện trợ quân sự, Navarre chuẩn bị cho một cuộc tổng phản công mà báo chí Pháp và Mỹ gọi là “Kế hoạch Navarre”

Tháng 11 năm 1953, Navarre mở cuộc hành quân Castor đánh chiếm Điện Biên Phủ – Khu vực mà ông cho rằng có vị trí chiến lược chặn giữa tuyến đường chính của Quân đội Nhân dân Việt Nam sang Lào. Ngày 13 tháng 3 năm 1954 nổ ra trận đánh lớn nhất trong chiến tranh Đông Dương là trận Điện Biên Phủ, Pháp đã để mất căn cứ và tổn thất 16.200 quân và gần như không còn đủ sức để phục hồi.

Hội nghị Genève khai mạc ngày 26 tháng 4 năm 1954 để bàn về vấn đề khôi phục hoà bình tại Triều Tiên và Đông Dương. Kết thúc chiến tranh Đông Dương. Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Geneva được ký kết chấm dứt cuộc chiến tranh Đông Dương.

(TTV) 66 năm – Quốc dân Đại hội Tân Trào

Đình Tân Trào thuộc xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang – địa danh có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với toàn thể dân tộc Việt Nam. Tại đây, ngày 16 và 17/8/1945, Quốc dân Đại hội đã họp với sự tham dự của hơn 60 đại biểu đến từ 3 miền Bắc – Trung – Nam và cả kiều bào ta ở nước ngoài, thông qua Lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền và 10 chính sách lớn của Việt Minh, cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Quốc dân Đại hội Tân Trào đã thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước, quyết định vận mệnh của cả dân tộc.

Đình Tân Trào, thôn Tân Lập, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, nơi diễn ra Quốc dân Đại hội (từ ngày 16 đến 17-8-1945), bầu ra Ủy ban Dân tộc giải phóng do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. – Ảnh: TQĐT

Quốc dân Đại hội Tân Trào, về bản chất chính là Quốc hội ngày nay. Đây là lần đầu tiên nước ta thực hiện dân chủ đối với việc cử ra người đứng đầu đất nước sau hơn 1000 năm trải qua chế độ phong kiến. Quốc dân Đại hội Tân Trào được ví như Hội nghị Diên Hồng cách mạng, tức là hỏi ý kiến của toàn dân về những vấn đề trọng đại của đất nước. Khi đưa ra chủ trương triệu tập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: Đó phải là một cơ cấu đại biểu cho sự chân thành, đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta để tạo nên sức mạnh dân tộc bên trong và tranh thủ ngoại viện của quốc tế. Quốc dân Đại hội Tân Trào thể hiện tư tưởng pháp quyền rất cơ bản của một nhà nước do dân làm chủ, tức là phát huy quyền dân chủ.


66 năm đã trôi qua, nhưng ý nghĩa và bài học của Quốc dân Đại hội Tân Trào vẫn còn nguyên giá trị, người dân quyết định vận mệnh của đất nước mình và quyết định người thay mặt cho mình để điều hành đất nước.


Quốc dân Đại hội Tân Trào là tiền đề để nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng tiến hành thắng lợi cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, bầu Đại biểu Quốc hội Khóa I. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt vĩ đại đưa dân tộc ta bước vào thời kỳ mới – Thời kỳ Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.


Quốc dân Đại hội Tân Trào vẫn mãi là hình ảnh tiêu biểu, là điểm nhấn quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám năm 1945./.

P.v

(TTV) Tân Trào – ATK, nơi cội nguồn cách mạng

Khu du lịch lịch sử, văn hóa và sinh thái Tân Trào hiện nay có 177 di tích. Các địa danh: Lán Nà Lừa, Cây đa Tân Trào, Đình Tân Trào, Đình Hồng Thái… nơi gắn liền với lịch sử cách mạng Việt Nam và cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ tiền khởi nghĩa và trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, là Thủ đô Khu giải phóng – Thủ đô Kháng chiến, là niềm tự hào của mỗi con dân đất Việt.

Lán Nà Nưa, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương nơi Bác Hồ đã ở và làm việc trong những năm tháng kháng chiến

Sơn Dương là mảnh đất giàu truyền thống văn hóa và lịch sử cách mạng. Tháng 5/1945, Bác Hồ từ Cao Bằng về Tuyên Quang để chỉ đạo phong trào cách mạng cả nước. Người đã chọn xã Tân Trào – huyện Sơn Dương làm Thủ đô Khu giải phóng, căn cứ địa cách mạng của cả nước.

Tại đây đã diễn ra những sự kiện lịch sử có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng 8 năm 1945 như: Hội nghị Cán bộ toàn quốc của Đảng, quyết định Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc, ra Quân lệnh số 1; Quốc dân Đại hội họp tại Đình Tân Trào, bầu ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng tức Chính phủ lâm thời do Bác Hồ làm Chủ tịch, quy định Quốc kỳ, Quốc ca.

Cũng trong thời gian này, vận mệnh của dân tộc, của đất nước ngàn cân treo sợi tóc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói câu nói bất hủ “Lúc này thời cơ thuận lợi đã đến, dù hi sinh đến đâu, dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng cương quyết giành cho được độc lập”. Chiều ngày 16/8/1945, Lễ xuất quân từ Tân Trào mở đầu cho cuộc Tổng khởi nghĩa, tiến sang Thái Nguyên, tiến về thủ đô Hà Nội. Đáp lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân xã Tân Trào – Sơn Dương đã cùng với đồng bào cả nước vùng lên làm cuộc Cách mạng Tháng 8 thành công. Ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Đình Tân Trào, thôn Tân Lập, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, nơi diễn ra Quốc dân Đại hội (từ ngày 16 đến 17-8-1945), bầu ra Ủy ban Dân tộc giải phóng do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. – Ảnh: TQĐT


Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ, khu căn cứ địa cách mạng mãi ghi dấu những năm tháng Bác Hồ đã ở và làm việc, những ân tình sâu nặng, son sắt của nhân dân các dân tộc Tân Trào – ATK Sơn Dương đối với Bác. Kỷ niệm 66 năm cách mạng Tháng 8 và Quốc khánh 2-9, nhân dân các dân tộc Tân Trào – ATK huyện Sơn Dương lại trào dâng nỗi nhớ khôn nguôi, niềm kính yêu vô hạn đối với Bác Hồ và nguyện đi theo con đường mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh.


Ông Viên Phúc Tần, 87 tuổi, thôn Cả, xã Tân Trào vẫn còn nhớ rất rõ những ký ức và tình cảm thiêng liêng đối với Bác Hồ. Trước Cách mạng Tháng Tám, Ông Tần là Thư ký của Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh xã Kim Trận (nay là xã Tân Trào). Ông là người đi vận động cán bộ, nhân dân trong xã vào rừng chặt nứa để đóng mảng, đón Bác Hồ qua sông Phó Đáy về Tân Trào để lãnh đạo cách mạng Việt Nam chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Trong những năm kháng chiến, Ông Viên Phúc Tần nhiều lần được nhìn thấy Bác và được gặp Bác. Hình ảnh của Bác luôn ở trong trí nhớ của ông, đó là ngoài những giờ làm việc, Bác Hồ thường đến các gia đình trong làng để hỏi thăm sức khoẻ, đời sống đồng bào, tặng quà cho người già và trẻ nhỏ…

Từ cụ già đến em nhỏ ai cũng hết sức kính trọng, yêu thương Bác như chính người ruột thịt của mình. Đồng bào gọi Bác là “ông Ké cách mạng, ông Ké Nùng, ông Ké Tày”. Những ngày Tháng 8 lịch sử năm 1945 khí thế cách mạng sục sôi, nhân dân các dân tộc xã Tân Trào – ATK Sơn Dương một lòng theo Bác, theo cách mạng.

Đường giao thông ở thôn Tân Lập, xã Tân Trào (Sơn Dương) ngày càng khang trang, sạch đẹp. – Ảnh: TQĐT


Xã Tân Trào có trên 1.000 hộ với hơn 4.000 khẩu ở 8 thôn bản, gồm 5 dân tộc anh em cùng chung sống. Với phương châm “phát triển kinh tế là trọng tâm”, những năm qua, Đảng ủy xã Tân Trào đã chỉ đạo và định hướng phát triển kinh tế đạt hiệu quả cao.

Việc đầu tiên xã xác định là phải tiến hành chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp với địa hình và cách thức canh tác của nhân dân, từ đó phát huy được hiệu quả từng vùng đất, nội lực của từng con người.

Cả xã có tới 350 hộ làm kinh tế theo mô hình VAC, nhiều hộ làm kinh tế giỏi đã trở thành triệu phú. Cấp ủy, chính quyền, đoàn thể xã Tân Trào đã đề ra nhiều biện pháp nhằm giúp đỡ hộ nghèo thoát nghèo như chung tay giúp hộ nghèo làm nhà ở, phát triển và đa dạng hóa các ngành nghề, tạo việc làm cho bà con.

Đến nay, toàn xã đã không còn nhà tạm, nhà dột nát. 66 năm qua diện mạo của vùng quê căn cứ địa cách mạng đang đổi thay từng ngày, cuộc sống mới no ấm, đủ đầy đã đến với từng hộ đồng bào dân tộc nơi đây. Khu du lịch lịch sử văn hóa và sinh thái Tân Trào cũng đã được trùng tu, tôn tạo nhiều hạng mục để đón khách trong nước và quốc tế đến với Tân Trào.

Những hình ảnh và các hiện vật trưng bày tại đây như thước phim tư liệu sống động về những ngày kháng chiến gian khổ mà Bác Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ ở và làm việc được trân trọng giữ gìn.


Đảng bộ xã Tân Trào vinh dự và tự hào được trưởng thành từ cái nôi của cách mạng, từ 21 đảng viên trong những ngày đầu thành lập Chi bộ Đảng, nay Đảng bộ đã có 215 đảng viên với 12 Chi bộ. Những năm qua, phát huy truyền thống quê hương cách mạng và thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cùng với triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng bộ và nhân dân xã Tân Trào đã xây dựng chương trình hành động cụ thể và sát với điều kiện thực tế của địa phương để phát triển”; phấn đấu đến năm 2015, tổng sản lượng lương thực đạt trên 2.182 tấn; thu nhập bình quân đạt 18 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo dưới 20% theo tiêu chuẩn nghèo giai đoạn 2010 – 2015; thu ngân sách hàng năm tăng 15%; phấn đấu trong nhiệm kỳ kết nạp trên 50 đảng viên mới.

Đảng bộ xã Tân Trào khoá 24 cũng đề ra giải pháp phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng, đặc biệt là khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng, nguồn lực để tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, kinh tế chuyển dịch mạnh theo cơ cấu “công nghiệp, dịch vụ, du lịch, nông nghiệp”.


Trải qua 66 năm, qua bao thăng trầm của lịch sử, những địa danh lịch sử tại khu du lịch lịch sử, văn hóa và sinh thái Tân Trào vẫn vẹn nguyên giá trị. Tân Trào – ATK Sơn Dương sẽ mãi là dòng chảy liên tục khơi dậy lòng tự hào dân tộc, niềm kính yêu vô hạn về Bác Hồ – lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam./.

P.v

Đồng chí Lê Đức Anh, nguyên Uỷ viên thường vụ Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam

TÓM TẮT TIỂU SỬ 

Trong hình ảnh có thể có: 1 người


– Họ và tên khai sinh: LÊ ĐỨC ANH
– Họ và tên thường gọi: Lê Đức Anh
– Bí danh: Sáu Nam
– Sinh ngày 01 tháng 02 năm 1920
– Quê quán: xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế
– Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không
– Ngày vào Đảng CSVN: 30/5/1938 , ngày chính thức: 05/10/1938
– Khen thưởng: + Huân chương Sao vàng
+Huân chương Hồ Chí Minh
+ Huân chương Quân công hạng nhất
+ Huân chương Chiến công hạng nhì
+ Huân chương Chiến thắng hạng nhất
Và nhiều Huân chương cao quý của nhà nước Liên Xô; Cu Ba; Cam phuchia; Lào
– Đại biểu Quốc hội khóa: VI, VII, VIII và IX
– Uỷ viên Trung ương Đảng khóa: IV, V, VI, VII và VIII
– Uỷ viên Bộ Chính trị khóa: V, VI, VII và VIII 
TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

– Từ năm 1937- 1944: Bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng, trong Mặt trận Dân chủ huyện Phú Vang và Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế
– Năm 1944: Tổ chức và phụ trách các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh.
– Từ 8/1945-10/1948: Tham gia Quân đội, giữ các chức vụ từ Trung đội trưởng đến Chính trị viên Tiểu đoàn và Trung đoàn.
– Từ 10/1948-1950: Tham mưu trưởng các Quân khu 7, Quân khu 8 và đặc khu Sài Gòn-Chợ Lớn.
– Từ 1951-1954: Tham mưu phó, quyền Tham mưu Trưởng Bộ Tư lệnh Nam Bộ.
– Từ 1955-1963: Cục phó Cục Tác chiến; Cục Trưởng Cục Quân lực thuộc Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam.
– Từ 8/1963-02/1964: Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
– Từ 02/1964-1974: Phó Tư lệnh, kiêm Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Miền Nam; Tư lệnh Quân khu 9 (năm 1969).
– Từ 1974-1975: Phó Tư lệnh Quân giải phóng Miền Nam, (tháng 6/1974 được thăng quân hàm vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng); Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, kiêm Tư Lệh cách quân hướng Tây Nam đánh vào Sài Gòn.
– Từ 1976-1980: Tư lệnh Quân khu 9; Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7, kiêm chỉ huy trưởng Cơ quan tiền phương của Bộ Quốc phòng ở mặt trận Tây Nam; được thăng quân hàm Thượng tướng năm 1980.
– Từ 1981-1986: Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Camphuchia; được Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa V bầu vào Bộ Chính trị (năm 1982); được thăng quân hàm Đại tướng năm 1984; được giao giữ chức Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam năm 1986.
Từ 02/1987-8/1991: là Ủy viên Bộ Chính Trị BCH TW ĐCS Việt Nam (khóa VI: 1986-1991), Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước CHXHCN Việt Nam; là Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị BCH TW ĐCS Việt Nam (khóa VII1991-1997), Thường trực Bộ Chính trị.
– Từ 1992-9/1997: là Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị BCH TW ĐCS Việt Nam; là Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam.
– Từ 12/1997-04/2001: là Ủy viên Ban cố vấn BCH TW ĐCS Việt Nam.
– từ 04/2001: Nghỉ hưu.

Đại thắng mùa xuân năm 1975: Báo chí quốc tế bày tỏ sự nể phục đối với Việt Nam

Có thể nói, sự kiện quân Giải phóng toàn thắng vào mùa xuân năm 1975 đã tốn không ít giấy mực của dư luận thế giới mà phần lớn họ đều dành cho Việt Nam những lời khâm phục, kính nể. Đó không chỉ là sự khẳng định chiến thắng chính nghĩa của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam mà còn khẳng định sức mạnh to lớn của nhân dân Việt Nam chống lại đế quốc mạnh nhất lúc bấy giờ. 

Xe tăng quân Giải phóng tiến vào Dinh độc lập

Báo chí Nhật – “khâm phục, kính nể”

Mặc dù chiến tranh Việt Nam đã đi qua hơn 4 thập kỉ nhưng những “dư chấn” mà quân Giải phóng miền Nam nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung vẫn khiến cho báo chí Nhật Bản bày tỏ sự khâm phục, kính nể. Cụ thể, tờ Asahi Shimbun số ra ngày 1/5/1975 đã có bài xã luận mang tính thời sự: “Chiến tranh ở Việt Nam đã kết thúc với thắng lợi của lực lượng Giải phóng, điều có có thể khẳng định, thời mà các nước lớn dùng sức mạnh để bóp nghẹt chủ nghĩa dân tộc đã chấm dứt”. 

Ba mươi năm sau, tờ Nikkei, ấn phẩm chuyên đề kinh tế lớn nhất Nhật Bản trong số ra ngày 284 đã đăng lại hình ảnh chiếc xe tăng đầu tiên của Quân Giải phóng tiến vào Dinh độc lập kèm theo bình luận: “Việt Nam sau 30 năm chiến tranh” trong đó nhấn mạnh “Cuộc chiến tranh đã để lại dấu ấn sâu đậm và đầy ấn tượng trong tâm thức người Mỹ, tạo hiệu ứng dây chuyền khác trong toàn khu vực Đông Dương”. 

Báo chí Lào – “anh dũng, kiên cường”

Ngày 29/4/2010, tờ Pasason, tiếng nói của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã có bài viết với tựa đề “Truyền thống đấu tranh anh dũng của nhân dân Việt Nam”, ca ngợi sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và tinh thần chiến đấu ngoan cường và anh dũng của nhân dân Việt Nam qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân cũ và mới, tạo ra chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu và Đại thắng mùa xuân năm 1975. Theo bài viết, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng đã trở thành giây phút lịch sử của cuộc đấu tranh anh dũng của quân đội và nhân dân Việt Nam. Chiến thắng mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và thống nhất.

Báo chí Mỹ – “lịch sử của thế giới này”, “các đồng chí”

Biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam ở Mỹ

Phải nói rằng, cuộc chiến tranh Việt Nam đã tốn nhiều tâm trí, sức lực, thời gian và tiền của của người Mỹ. Đặc biệt, những năm cuối của cuộc chiến tranh này, dư luận và báo chí Mỹ đã có rất nhiều bài viết về cuộc chiến “hao người tốn của” này. 

Ngày 30/4/1975, hãng UPI viết: “Quân đội phía chiến thắng đã cưỡi xe tăng vào Dinh Tổng thống với nét mặt phấn khởi như vào chỗ không người, thậm chí còn xưng hô “các đồng chí” với những người đang đứng hai bên đường cũng như với các nhà báo. Họ thật sự không để ý sự có mặt của các nhà báo đang tác nghiệp, đang ghi lại những khoảnh khắc hiếm hoi của lịch sử, sự đầu hàng lịch sử của chính quyền Sài Gòn trước những người cộng sản. 3 lá cờ trắng được kéo lên sở chỉ huy cảnh sát, một lúc sau khi ông Minh nói trên đài. Nhiều cờ trắng cũng treo lên ở ngoại ô phía bắc Sài Gòn. Dân chúng đi lại bình thường trên các đường phố”.

Với tựa đề “Sài Gòn sụp đổ”, tờ New York Times ngày 1-5-1975 chạy tít lớn suốt 8 cột trang nhất kèm theo hàng loạt tin, ảnh về sự sụp đổ của chính quyền ngụy và chiến thắng của các lực lượng cách mạng. Theo bài viết, ngày 30-4-1975 là ngày “lịch sử của thế giới”.

Cũng trong số ra ngày 1-5-1975, hãng tin AP đăng một bài viết có đoạn “Xe tăng, xe bọc thép và xe tải ngụy trang của Quân Giải phóng tiến nhanh vào Dinh Tổng thống. Cũng trong thời gian này Tướng trung lập, Dương Văn Minh đã lên đài phát thanh và truyền hình công bố lệnh đầu hàng”.

Và đánh dấu kỷ niệm 30 năm Việt Nam thống nhất, tờ Washington Time ra đặc san về Việt Nam, trong đó nêu bật những nỗ lực của nước ta trên đường đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc san đem đến cho độc giả những thông tin chân thực và sinh động về đất nước, con người và sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam.

Báo chí Anh – “giây phút bước ngoặt”

Hãng tin Reuters danh tiếng của Anh cũng đã có nhiều bài viết lớn và liên tục cập nhật về cuộc chiến tranh Việt Nam vào giờ phút bước ngoặt đó. Một nhà báo hãng tin này có mặt tại Sài Gòn vào 30/4/1975 viết: “Là phóng viên có mặt tại Phủ Tổng thống, tôi chứng kiến chiếc xe tăng đi đầu của quân Giải phóng húc đổ cột bằng thép vững chắc và cán cờ ngụy rơi xuống đất, rồi vượt qua. 

Gần 10 xe tăng khác nhanh chóng tiến vào theo, Bộ đội Chính phủ Cách mạng tỏa ra khắp khu vực Phủ Tổng thống. Lính gác Nam Việt Nam lập tức giơ tay xin hàng và tập hợp thành hàng ngũ chờ lệnh mới. Cờ Chính phủ Cách mạng lâm thời  tung bay trong không khí chiến thắng ở lan can tầng hai ngay cả khi lá cờ ba sọc vẫn còn bay trên nóc nhà”. 

Báo chí Trung Quốc – “thắng lợi mãi mãi”

Cũng trong năm 2005, nhân kỷ niệm 30 năm chiến thắng lịch sử của dân tộc Việt Nam, tờ People Daily – cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc số ra ngày 30/4 đã có bài bình luận dài về “Thắng lợi mãi mãi ghi vào sử sách” của chúng ta. Trong đó, tờ báo nhấn mạnh ngày 30/4 là ngày lễ lớn của nhân dân Việt Nam và cũng là ngày đáng được những người yêu chuộng hòa bình, chính nghĩa trên toàn thế giới kỷ niệm.

Trong khi đó, tờ Tân Hoa Xã số ra ngày 30/4 dành gần hết trang quốc tế cho chủ đề về chiến thắng 30/4 và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam. Giật tít: “30 năm thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, hình ảnh người cựu chiến binh Việt Nam”, báo này đăng hai bức ảnh chụp hai cựu chiến binh Việt Nam ngực đầy huân chương, được nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trân trọng tặng hoa. 

Báo chí Pháp – “chấn động địa cầu”

Biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam – có thể thấy rõ họ giơ cao hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh và lá cờ Giải phóng

Một ngày sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 1/5/1975, hãng tin AFP của Pháp viết: “Trong năm 1975, sự kiện nổi bật nhất châu Á là sự kiện 30/4 của Việt Nam, “dư chấn” rúng động địa cầu”. Theo hãng tin này, không còn nghi ngờ gì nữa, sự kiện trên sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến khu vực và thế giới trong tương lai gần. Năm 2010, nhân kỷ niệm 35 năm sự kiện 30/4, AFP cùng hãng tin AP của Mỹ và nhiều hãng tin khác tham gia một cuộc triển lãm ảnh mang tên “Việt Nam, 35 năm sau”.

Theo AFP, đây là những khoảnh khắc trung thực của chiến tranh, hồi chuông cảnh tỉnh nhân loại hãy làm hết sức mình để không xảy ra một cuộc chiến tương tự, cho dù là bên thắng cuộc.

Ông Alain Rusco, nhà sử học người Pháp, kiêm chuyên gia chuyên nghiên cứu về lịch sử Đông Dương, cho rằng, sự kiện 30-4 “gây tiếng vang lớn trên trường quốc tế  về một dân tộc không chịu khuất phục trước quân thù”.

Sự kiện 30-4-1975 có ý nghĩa trọng đại không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn cả với cộng đồng thế giới. Ông cũng có bài viết cho biết, để có được chiến thắng này hàng triệu người dân Việt Nam đã ngã xuống trong trong nhiều thập kỷ đầy cam go, quyết liệt. Gần như gia đình người Việt Nam nào cũng có đóng góp và mất mát, cho cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại này.

Một số nhận định khác

Ngày 3/5/1975, báo Nhân dân lao động của Myanmar có đoạn: “Với việc giải phóng Sài Gòn, cuộc chiến tranh cuối cùng ở Đông Dương đã chấm dứt… Thất bại của Mỹ là một bằng chứng cho thấy rằng thời đại chính sách dựa vào sức mạnh đã qua rồi”. 

Ngày 4/5/1975, báo Phẩm giá – cơ quan ngôn luận của Đảng Dân chủ Guinea khẳng định: “Thắng lợi này của nhân dân Việt Nam là một đóng góp vô giá, một tấm gương lịch sử đối với cách mạng thế giới mà các thế hệ ngày nay và mai sau mãi mãi khâm phục, chiêm ngưỡng và cần phải học tập”. 

Báo Tin tức Ai Cập số ra ngày 7/5/1975 bình luận: “Không có một ai trên trái đất này, dù chính kiến hay màu da của họ như thế nào đi nữa, lại không kính trọng và tự hào về dân tộc Việt Nam, dân tộc đã giương cao ngọn cờ chiến thắng trên phần đất cuối cùng của Tổ quốc họ vào đêm 30/4… Đoàn kết nhất trí là một bài học lớn đối với chúng ta và nó được rút ra từ cuộc chiến đấu lâu dài của nhân dân Việt Nam”. 

Henry Kissinger

Henry Kissinger, cựu Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ: “Hà Nội chỉ chiến đấu với một lẽ duy nhất, đó là lòng yêu nước của họ. Và một nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản Việt Nam, chiến thắng vào năm 1975, chính là mối đe dọa chiến lược to lớn đối với Trung Quốc còn hơn đối với Mỹ”.

“Chính quyền Việt Nam Cộng hoà sụp đổ chỉ sau 55 ngày kể từ khi quân giải phóng bắt đầu tấn công. Điều này cũng chứng minh cho căn bệnh mà chính quyền này đã bị nhiễm phải ngay từ khi thành lập: sự manh mún về chính trị; thiếu các nhà lãnh đạo có tầm nhìn xa trông rộng và có năng lực; một tầng lớp trên mệt mỏi và tham nhũng không có khả năng điều chỉnh cho thích nghi đã tạo nên một cơ sở quốc gia yếu kém đến mức nguy hiểm…” – George C. Herring.

“Chiến thắng của họ (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam) là chiến thắng của dân tộc Việt Nam – người Bắc cũng như người Nam. Khác xa với một cuộc nội chiến, cuộc đấu tranh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là một sự khẳng định nguyên tắc thống nhất dân tộc mà chính quyền Sài Gòn đã tuyên bố ủng hộ rồi phản bội”Frances Fitzgerald.

Đối với Neil Sheehan (người Mỹ), ông đã nói: “Sau những năm dài tìm cách khuất phục những dân tộc nghèo khổ bằng sự tàn bạo của sức mạnh kỹ thuật của mình, nước Mỹ, một nước giàu mạnh nhất trên quả đất này, cuối cùng có thể bị những người cộng sản Việt Nam đuổi ra khỏi bán đảo Đông Dương. Nếu đúng như vậy, thì thắng lợi của người Việt Nam sẽ là một thí dụ vô song về sự toàn thắng của trí tuệ con người đối với máy móc”.

Tinh thần Đại thắng mùa xuân năm 1975 bất diệt!

Người dân chào mừng quân Giải phóng

Bài viết sử dụng nhiều tư liệu từ các nguồn
CAND Đà Nẵng, VOV.vn,…

Trung Tướng Đồng Sĩ Nguyên

Đồng Sĩ Nguyên (sinh ngày 1 tháng 3, 1923 làng Trung Thôn, xã Quảng Trung, phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng BìnhTrung KỳLiên bang Đông Dương – Mất ngày 4 tháng 4 năm 2019 ), còn được viết là Đồng Sỹ Nguyên, tên thật Nguyễn Hữu Vũ, là một cựu tướng lĩnh và chính trị gia của Việt Nam. Ông là vị Tư lệnh của Binh đoàn Trường Sơn trong thời gian lâu nhất (1967–1975) và là một trong hai vị tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam được phong quân hàm vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng

Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên. Ảnh: Hoàng Thuỳ. 

. Ông cũng từng giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, kiêm Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải (Việt Nam); Đặc phái viên Chính phủ, Đặc trách Chương trình 327 về bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, Cố vấn Đặc biệt của Thủ tướng Chính phủ, tham gia Ban Chỉ đạo Nhà nước về quốc lộ Hồ Chí Minh (Quốc lộ Trường Sơn).

Xuất thân và bước đầu tham gia cách mạng

Ông tên thật là Nguyễn Hữu Vũ, sinh ngày 1 tháng 3 năm 1923, tại làng Trung Thôn, xã Quảng Trung, phủ Quảng TrạchQuảng Bình, xuất thân trong một gia đình trung lưu. Song thân ông là ông Nguyễn Hữu Khoán và bà Đặng Thị Cấp, đều là những hậu duệ của thủ lĩnh Phong trào Cần Vương. Ông là con thứ 5 trong gia đình. Cha ông mất sớm khi ông mới 10 tuổi.

Thuở nhỏ, ông được cha dạy chữ Hán và theo học chữ Quốc ngữ bậc tiểu học tại Thọ Linh (nay thuộc xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch. Chịu ảnh hưởng của gia đình, ông sớm đã có tinh thần chống thực dân Pháp. Năm 12 tuổi, ông bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng dưới sự hướng dẫn của ông Nguyễn Văn Huyên (bí danh là Tế), một cán bộ của Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1938, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, lấy bí danh là Nguyễn Văn Đồng.[2]

Năm 1940, ông được cử làm Bí thư chi bộ Trung Thôn (mật danh là chi bộ Bình). Cùng năm này, ông theo học bậc trung học tại trường Saint Marie ở thị xã Đồng Hới. Một năm sau, ông được phân công làm Bí thư chi bộ tại trường. Những hoạt động của ông sớm bị chính quyền thực dân theo dõi. Vì vậy, khi đang học năm thứ 3 bậc Thành chung, ông bị thực dân Pháp truy nã và phải chuyển vào bí mật tại Lào và Thái Lan, hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước để gây dựng cơ sở.

Năm 1944, ông bí mật trở về Việt Nam hoạt động, phụ trách Phủ ủy Quảng Trạch, làm chủ nhiệm báo Hồng Lạc và xây dựng chiến khu Trung Thuần, huấn luyện quân sự, tham gia Cách mạng tháng 8. Sau Cách mạng tháng 8, ông được bầu làm Chủ nhiệm Việt Minh, kiêm chỉ huy trưởng bộ đội Quảng Bình. Năm 1946, ông trúng cử đại biểu Quốc hội khóa I

Tham gia quân đội

Chiến tranh Đông Dương nổ ra, ông được phân công làm chính trị viên kiêm tỉnh đội trưởng Quảng Bình. Trong thời gian 1947-1948, ông chỉ huy nhiều trận tấn công quân Pháp, vì vậy, để tránh liên lụy đến gia đình, ông dùng tên mới là Đồng Sĩ Nguyên, cái tên về sau gắn bó với ông trong cuộc đời còn lại.

Năm 1950, ông được rút về Việt Bắc học lớp trung cao quân sự, sau đó được điều về Tổng cục Chính trị làm phái viên, biệt phái tham gia Bộ tư lệnh cánh phối hợp Trung Hạ Lào trong chiến dịch Đông Xuân 1953 – 1954.

Sau năm 1954, ông được điều về Bộ Tổng tham mưu, phụ trách Cục Động viên dân quân. Năm 1959, ông được phong quân hàm đại tá. Năm 1961, ông được cử sang Trung Quốc học trường Cao cấp Quân sự Bắc Kinh. Năm 1964, ông về nước và được đề bạt giữ chức vụ Tổng tham mưu phó một thời gian ngắn, sau đó được điều về làm Chính ủy Quân khu 4 năm 1965, sau đó là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Trung – Hạ Lào.

Cuối năm 1965, ông bị thương, phải về Hà Nội điều trị. Đầu năm 1966, ông được cử giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, kiêm Chủ nhiệm Hậu cần tiền phương, dưới quyền ông Đinh Đức Thiện, Chủ nhiệm Tổng cục.

Đầu năm 1967, ông được điều làm Tư lệnh Đoàn 559, thay Đại tá Hoàng Văn Thái. Ông giữ chức vụ này đến năm 1976. Năm 1974, ông được phong vượt cấp từ đại tá lên trung tướng.

Năm 1976, ông được cử giữ chức Thứ trưởng Quốc phòng, phụ trách Tổng cục Xây dựng kinh tế, rồi Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải. Năm 1979, ông được điều trở lại quân đội, giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Thủ đô.

Ông là Ủy viên Trung ương Đảng khóa IV.

Chuyển sang ngạch dân sự

Từ năm 1982, ông làm Bộ trưởng Giao thông Vận tải, được bầu làm Ủy viên Dự khuyết Bộ Chính trị khóa V, Ủy viên Chính thức Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI (1986-1991), Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

Sau khi thôi chức Bộ trưởng, ông được giao nhiệm vụ Đặc phái viên Chính phủ, Đặc trách Chương trình 327 về bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, rồi là Cố vấn Đặc biệt của Thủ tướng Chính phủ, tham gia Ban Chỉ đạo Nhà nước về quốc lộ Hồ Chí Minh (Quốc lộ Trường Sơn).

Gắn bó với đường Trường Sơn

Cùng với các tướng Đinh Đức ThiệnPhan Trọng Tuệ, Đồng Sĩ Nguyên là một trong những người có vai trò quan trọng trong việc xây dựng Đường mòn Hồ Chí Minh trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, đưa con đường vận tải chiến lược này thành một trong những mấu chốt thành bại trong chiến tranh.

Trong thời gian ông làm Tư lệnh Đoàn 559, tuyến giao thông chiến lược Trường Sơn từ một con đường mòn nhỏ, trở thành một tuyến giao thông vận tải lớn với cả hệ thống đường được giới truyền thông mệnh danh là “trận đồ bát quái xuyên rừng rậm”. Tầm quan trọng của con đường chiến này thể hiện rõ nhất với quân số lúc cao điểm hơn 12 vạn binh sĩ, trong đó có hơn 1 vạn là lực lượng Thanh niên xung phong, phiên chế thành 8 sư đoàn và một sư đoàn cao xạ tên lửa phối thuộc. Hệ thống đường chiến lược này khi ông vào tiếp nhận đã có 5 tiểu đoàn xe với 750 xe, chia thành 4 binh trạm; đến năm 1975 đã phát triển thành 2 sư đoàn vận tải với 10.000 xe. Đường Trường Sơn không còn những con đường đơn lẻ, mà phát triển thành một hệ thống đường vận tải phức tạp với hơn 16.700 km đường bộ, trong đó có hơn 800 km đường kín, 1.500 km đường rải đá, 200 km đường nhựa. Bên cạnh đó còn có 1.500 km đường ống dẫn xăng dầu, 1.350 km đường dây cáp thông tin, 3.800 km đường giao liên, 500 km đường sông.

Hệ thống đường Trường Sơn không đơn thuần là tuyến đường giao thông, mà thực sự là chiến trường khốc liệt giữa nỗ lực của chính phủ miền Bắc chi viện cho quân Giải phóng miền Nam và lực lượng quân Mỹ và đồng minh. Quân đội Mỹ và đồng minh đã tìm mọi cách từ thô sơ đến hiện đại nhất để nhằm mục đích cắt đứt con đường vận tải chiến lược này. Các khí tài từ những khí tài điện tử lập thành “Hàng rào điện tử MacNamara“, cây nhiệt đới, pháo đài bay B-52vũ khí thời tiếthóa học… đến các cuộc hành quân càn quét lớn đến biệt kích phá hoại đều được quân đội Mỹ sử dụng. Kết quả là phía Quân đội Nhân dân Việt Nam có gần 2 vạn người chết ngay trên tuyến đường và 3 vạn người thương tật vĩnh viễn. Nhưng tuyến đường vẫn hoạt động.

Vào thời bình, nhu cầu của một con đường Trường Sơn mới, trục xương sống của Việt Nam được đặt ra. Và trong quá trình xây dựng Đường Hồ Chí Minh hay Đường Trường Sơn, Đồng Sĩ Nguyên được Thủ tướng Võ Văn Kiệt xem là người thích hợp nhất để giao nhiệm vụ đặc phái viên của Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo xây dựng tuyến đường này.

Qua đời

Do lâm bệnh và tuổi cao sức yếu, Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên từ trần vào hồi 11 giờ 42 phút ngày 4 tháng 4 năm 2019 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.[

Tặng thưởng

Huân chương Sao vàng – 2007
Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng.

Gia đình

Cha ông là cụ ông Nguyễn Hữu Khoán, năm sinh không rõ, mất năm 1933, là cháu nội của Nguyễn Trọng Đạm, một chỉ huy Cần vương bị Pháp xử bắn ở Cửa Gianh (Quảng Trạch, Quảng Bình).

Mẹ ông là cụ bà Đặng Thị Cấp, sinh ngày 12 tháng 5 năm 1882, mất ngày 22 tháng 4 năm 1982, thọ chẵn 100 tuổi. Chồng mất sớm, bà nuôi dạy 7 người con (5 trai 2 gái) nên người. Cả năm người con trai đều tham gia cách mạng. Ngoài người con trai thứ 5 là Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, người con thứ 6 là Thiếu tướng Nguyễn Hữu Anh, nguyên Phó viện trưởng, Bí thư Đảng ủy học viện hậu cần, Cục trưởng Cục đối ngoại Bộ Quốc phòng.

Ngoài ra, một người cháu nội là Nguyễn Hữu Cường (con trai của người con thứ 3 – Nguyễn Hữu Lượng) cũng là một Trung tướng, Tư lệnh Quân khu 4, Đại biểu quốc hội khoá XI.

Ông Đồng Sĩ Nguyên lập gia đình với bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, và có với nhau bốn con trai và hai con gái.