Category Archives: Việt Nam

35 năm cuộc chiến đấu bảo vệ Vị Xuyên (Hà Giang): Nằm lại núi đồi Vị Xuyên

Ngày 12.7 hằng năm cũng được coi là ngày “giỗ trận” chung cho những người đã nằm lại núi đồi Vị Xuyên.12.7.1984 mở đầu chiến dịch mang mật danh “MB-84” nhằm phản kích lấy lại các điểm cao bị quân Trung Quốc đánh chiếm trên mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang). Ngày 12.7 hằng năm cũng được coi là ngày “giỗ trận” chung cho những người đã nằm lại núi đồi Vị Xuyên.

35 năm cuộc chiến đấu bảo vệ Vị Xuyên (Hà Giang): Nằm lại núi đồi Vị Xuyên1
Vận chuyển vũ khí đạn dược lên biên giới Vị Xuyên ẢNH: TƯ LIỆU

Súng nổ ngày mùng 3 tết

Sau thời gian vừa huấn luyện vừa làm kinh tế, tháng 11.1977, anh Trịnh Thành Tuyên ở H.Yên Sơn (Tuyên Quang) cùng Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 122, Bộ Chỉ huy quân sự (BCHQS) tỉnh Hà Tuyên (nay là BCHQS Hà Giang) lên xã Thanh Thủy, H.Vị Xuyên (Hà Giang) làm đường. Đầu 1978, đơn vị chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, chốt dọc biên giới Xín Chải, Thanh Đức.

“Đêm mùng 3 Tết âm lịch 1979, tổ tuần biên của Đại đội 9 chạm trán một trung đội lính Trung Quốc trên đồi Cây Xanh, điểm cao 1427. Ta hy sinh một chiến sĩ”, anh Tuyên nói và hồi tưởng: “Sáng 17.2.1979, Trung Quốc đồng loạt tấn công trên tuyến biên giới phía bắc nước ta. Ở Hà Tuyên (nay là Hà Giang), chúng tràn sang lấn chiếm vào hướng chốt giữ của Tiểu đoàn 3 và gọi pháo binh yểm trợ, chiếm các điểm cao 1800a, 1785, 1800b, 1688…”.5 ngày sau, Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 122) chiếm lại các chốt dọc biên giới Vị Xuyên khiến phía Trung Quốc điên cuồng tìm mọi cách tái chiếm.

Buổi sáng 11.3.1979, anh Tuyên đi cùng chỉ huy kiểm tra các chốt, cũng chính là lúc phía Trung Quốc mở đợt tấn công quy mô lớn chiếm các điểm cao do đơn vị phụ trách.

Giữ suối Thanh Thủy

35 năm cuộc chiến đấu bảo vệ Vị Xuyên (Hà Giang): Nằm lại núi đồi Vị Xuyên1
Bộ đội ta chốt giữ trên khu vực Bốn Hầm, 1987ẢNH: THUẬN HÓA

Thiếu tướng Hoàng Văn Toái, nguyên Phó tư lệnh – Tham mưu trưởng Quân khu 2, nguyên Chỉ huy trưởng BCHQS tỉnh Hà Giang, nhớ lại thời điểm là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 14, Sư đoàn 313 của Quân khu 2: Tháng 3.1984, quân tình nguyện VN cùng lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia mở cuộc truy quét lớn quân Khmer Đỏ.

Ở biên giới phía bắc, Trung Quốc ráo riết chuẩn bị lấn chiếm lãnh thổ VN. Trên tuyến biên giới Hà Tuyên, địch tập trung nhiều sư đoàn áp sát Vị Xuyên, Yên Minh. Từ ngày 2 – 27.4.1984, phía Trung Quốc bắn hơn 11.000 viên đạn pháo sang Hà Tuyên.

Sáng 28.4.1984 trên hướng Vị Xuyên, chúng bắn gần 12.000 viên đạn pháo chi viện cho bộ binh tiến công các điểm phòng ngự của ta ở phía bắc suối Thanh Thủy.

Do tương quan lực lượng quá lớn, cuối ngày 30.4.1984, Trung Quốc đã đẩy bộ đội ta khỏi các điểm cao 1545, 1509, 772, 685, 226, 233 và bình độ 300 – 400.

Phía ta, Trung đoàn 122 (thuộc Sư đoàn 313) bị tổn thất nặng, phải lui về phòng ngự ở các vị trí thấp hơn.

35 năm cuộc chiến đấu bảo vệ Vị Xuyên (Hà Giang): Nằm lại núi đồi Vị Xuyên - ảnh 3

TIN LIÊN QUAN

Day dứt vì hàng ngàn liệt sĩ vẫn nằm lại trên các đỉnh núi Vị Xuyên

Chiều 30.4.1984, Trung đoàn trưởng Hoàng Văn Toái nhận lệnh: “Lập tức chiếm lĩnh trận địa phòng ngự, không để địch lấn chiếm sang phía nam suối Thanh Thủy”. Rạng sáng 1.5.1984, Trung đoàn 14 bám nắm các vị trí bắc suối Thanh Thủy; điểm nào đối phương chưa chiếm thì dâng đội hình lên chốt giữ (đồi Cô Ích, đồi Đá Pháp, đồn biên phòng cũ, lô cốt Gốc Gạo)…

Thời điểm này, lính Trung Quốc đã chiếm giữ đỉnh A5, khiến đội hình 2 bên nằm xen kẽ nhau. Bộ đội phải bố trí phòng ngự vòng tròn khép kín, tăng cường cải tạo hang hốc thành trận địa vững chắc, không để đối phương đánh chiếm.

Giành giữ 233

Cuối tháng 5.1984, Bộ Tư lệnh Quân khu 2 quyết định tập trung xây dựng lại trận địa phòng ngự; củng cố các đơn vị, từng bước đánh lấy lại các điểm tựa đã mất. Thiếu tướng Hoàng Đan, phái viên của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân VN, lên tận Vị Xuyên trực tiếp chỉ đạo rút kinh nghiệm cách đánh.

Chiều 2.6.1984, Ban Chỉ huy Trung đoàn 14 (Sư đoàn 313) quyết tâm chiếm lại điểm cao chiến lược 233.

Rạng sáng 12.6.1984, pháo binh ta bắn trùm lên các điểm cao 233, 226 yểm trợ cho bộ binh vận động đánh chiếm mục tiêu.

Tuy nhiên, khi bộ đội vừa rời khỏi vị trí xuất phát tiến công thì bị hỏa lực địch bắn trùm vào đội hình, gây tổn thất lớn. Mãi đến chiều tối, ở hướng chủ yếu mới chiếm được 2 công sự bê tông cách đỉnh 233 khoảng 50 m.

Ở hướng thứ yếu nhiều vật cản, không đủ bộc phá để mở cửa, đội hình ùn lại bị thương vong nhiều… “Lệnh của trên là chuyển vào thế trận phòng ngự. Toàn Trung đoàn 14 của tôi dàn ra phòng ngự, hoạt động tác chiến chủ yếu là giữ vững các mục tiêu đã chiếm kết hợp tập kích hỏa lực, bắn tỉa. Công tác đảm bảo cho bộ đội vô cùng khó khăn, việc tiếp tế cơm, nước lên chốt phải đi vào mờ sáng và chiều tối”, thiếu tướng Toái nhớ lại và trầm giọng: “Đúng 1 tháng sau (11.7.1984), chúng tôi mới bàn giao trận địa cho Trung đoàn 174 (Sư đoàn 316, Quân khu 2) để chuẩn bị tiến công vào hôm sau”.

Hôm sau là 12.7.1984 – ngày mở đầu chiến dịch mang mật danh “MB-84” với mục đích phản kích để lấy lại các điểm cao bị quân Trung Quốc đánh chiếm.

Ngày 12.7.1984 cũng in dấu trong tâm trí mọi cán bộ chiến sĩ mặt trận Vị Xuyên và bây giờ, ngày 12.7 hằng năm được coi là ngày “giỗ trận” chung cho những người đã nằm lại núi đồi Vị Xuyên. (còn tiếp)

Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang viếng các anh hùng liệt sĩ tại Vị Xuyên

Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang viếng các anh hùng liệt sĩ tại Vị Xuyên

Chiều 11.7, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng đoàn đại biểu lãnh đạo tỉnh Hà Giang, Giáo hội Phật giáo VN, Hội Cựu chiến binh VN, T.Ư Hội Chữ thập đỏ VN đã đến dâng hương, dâng vòng hoa, viếng các anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (ảnh).

Tối cùng ngày, tại Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Vị Xuyên, T.Ư Giáo hội Phật giáo VN cùng tỉnh Hà Giang tổ chức đại lễ cầu siêu anh linh anh hùng liệt sĩ, cầu quốc thái dân an.Nghĩa trang Vị Xuyên hiện có 1.797 ngôi mộ liệt sĩ và một mộ liệt sĩ tập thể cùng 330 mộ liệt sĩ chưa xác định được thông tin.

Trong số đó, có hơn 1.500 liệt sĩ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía bắc của Tổ quốc (1979 – 1989). Tới nay, sau gần 40 năm, vẫn còn hàng ngàn liệt sĩ hy sinh tại mặt trận Vị Xuyên chưa được quy tập.
Tin, ảnh: Lê Hiệp – Lưu Gia

Theo thiếu tướng Nguyễn Đức Huy, Trưởng ban liên lạc cựu chiến binh toàn quốc mặt trận Vị Xuyên – Hà Tuyên, các sư đoàn trực tiếp chiến đấu là: 312, 313, 314, 356, 316, 325, 31, 3; các trung đoàn thuộc Quân khu 1, Quân khu Thủ đô, Đặc khu Quảng Ninh, các binh chủng của Bộ và Quân khu 2 (pháo binh, công binh, thông tin, hóa học, phòng không, đặc công) và các trung đoàn, tiểu đoàn, dân quân tự vệ tỉnh Hà Tuyên, Trung đoàn 754 Sơn La…

Hơn 4.000 cán bộ, chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh, phần lớn trên dưới 20 tuổi và hàng ngàn người bị thương. Đến nay còn hơn 2.000 liệt sĩ chưa tìm được hài cốt.

Tóm tắt diễn biến chiến sự mặt trận Vị Xuyên – Hà Tuyên

– Từ 2.4 – 28.4.1984: Địch tập trung pháo binh bắn phá khu vực Vị Xuyên, từ điểm cao 1545 đến điểm cao 1030.

– Từ 28.4 – 30.4.1984: Địch bắn pháo để chi viện cho bộ binh tấn công đánh chiếm các điểm cao 226, 233, bình độ 300 – 400, 1509, 772, 685. Trong 2 ngày địch đã chiếm được 226, 233, 772, 1509, bình độ 300 – 400, E1, 685 và lấn vào lãnh thổ VN khoảng 2 km.

-Ngày 15.5.1984: Địch mở đợt tiến công phía đông sông Lô và sau đó đã chiếm được các điểm cao 1030, Si Cà Lá, 1250, đài 2, M13 (như vậy, từ 28.4 đến 16.5.1984, địch chiếm 18 điểm, triển khai phòng ngự chốt giữ 29 điểm trên lãnh thổ VN. Trong đó có khu 1509, 772, Si Cà Lá 1030, 1250 Núi Bạc).

– Ngày 12.7.1984: Ta nổ súng tiến công giành lại các chốt bị chiếm đóng. Tuy đã chiến đấu rất quyết liệt nhưng đợt tiến công của ta đã không thành công.

– Bộ Tư lệnh mặt trận mở đợt tấn công vây lấn từ 18.11.1984 đến 18.1.1985. Dù chưa khôi phục hoàn toàn khu vực A5, 300 – 400, 685 nhưng ta đã giành được một số chốt, hình thành thế phòng ngự xen kẽ, bám sát địch

.- Trong 2 năm 1985 – 1986: Địch tiếp tục mở nhiều đợt tiến công lấn chiếm trận địa của ta. Chiến sự diễn ra khá quyết liệt, có những nơi như ở Bốn Hầm, ta và địch giành giật nhau tới 38 lần, điểm cao 685 tới 41 lần, đồi Cô Ích tới 45 lần.

– Từ năm 1987 trở đi: Chiến sự ở mặt trận Vị Xuyên dần lắng xuống. Từ năm 1989, địch giảm bắn pháo và rút khỏi một số điểm phía bắc suối Thanh Thủy.

– Ngày 13.3.1989: Địch rút khỏi 20 điểm chiếm đóng và đến tháng 9.1989, địch rút khỏi 9 điểm còn lại.

(Theo đại tá Bùi Thuận Hóa, nguyên Trưởng phòng, Cục Dân vận, Tổng cục Chính trị)

Advertisements

Báo nước ngoài ấn tượng với đội phá bom mìn toàn nữ ở Quảng Trị

Gần 44 năm sau khi chiến tranh kết thúc, những người phụ nữ địa phương vẫn bất chấp hiểm nguy giúp tìm lại sự bình yên cho xóm làng.

 Trong bộ đồng phục vải kaki cùng giày bốt chuyên dụng, Nguyễn Thị Thủy cột cao tóc đuôi gà dưới nón tai bèo. Cô cẩn thận bước trên bãi đất trống cằn cỗi với những dụng cụ gồm máy dò kim loại, chiếc xô và xẻng đơn giản.

Cô gái 29 tuổi cẩn thận đưa máy dò rà soát mặt đất, tiến từng centimet. Im lặng đồng nghĩa với an toàn. Một khi máy phát âm thanh cảnh báo kim loại, đội của Thủy lập tức bắt tay vào việc. 

Thủy là trưởng nhóm nữ rà phá bom mìn đầu tiên, được thành lập vào năm 2008, thuộc dự án RENEW của tỉnh Quảng Trị.

Bao nuoc ngoai an tuong voi doi pha bom min toan nu o Quang Tri hinh anh 1
 Nhóm của Lê Thị Hoa và Nguyễn Thị Thủy trong một buổi đi dọn mìn. (Ảnh: SCMP).

 Phụ nữ tham gia rà bom mìn ngày một nhiều

RENEW là chương trình hợp tác giữa tỉnh Quảng Trị với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài. Dự án có sứ mệnh phục hồi môi trường và khắc phục hậu quả chiến tranh với trọng tâm giải quyết bom mìn chưa nổ. Theo mô tả trên cổng thông tin của RENEW, đối tác chính của tổ chức hiện là chương trình Viện trợ Nhân dân Na Uy (NPA), một trong những tổ chức quốc tế nổi tiếng nhất thế giới hiện nay trong lĩnh vực giải trừ quân bị nhân đạo.

Tổ chức được thành lập vào năm 2001 và đã nhận được tài trợ từ hơn 17 tổ chức quốc tế. Ngoài NPA, dự án phục hồi môi trường và khắc phục hậu quả chiến tranh tại tỉnh Quảng Trị còn được hỗ trợ bởi Bộ Ngoại giao Mỹ, cơ quan Viện trợ Ireland và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF).

Theo South China Morning Post, ngày càng nhiều phụ nữ tham gia giải quyết bom mìn chưa nổtại địa phương. Từng được xem là công việc quá nguy hiểm đối với nữ giới, giờ dự án RENEW có hơn 60 nhân sự nữ tham gia hoạt động này. Riêng trong ba tháng đầu năm 2019, nhóm đã nhận thêm 12 nhân sự nữ.

Nhóm Cố vấn Bom mìn (MAG), tổ chức có trụ sở chính tại Anh và bắt đầu hỗ trợ Việt Nam từ năm 1999 với sứ mệnh tương tự, cũng ghi nhận số nhân sự nữ tăng gấp đôi trong 2 năm qua. Tổng số thành viên nữ của dự án tại địa phương đã lên đến 167 người.

Thủy tham gia RENEW vào năm 2013 sau khi biết được những mối hiểm họa nghiêm trọng của bom mìn chưa nổ còn sót lại sau chiến tranh. Cô sinh ra và lớn lên tại huyện Gio Linh, một trong những địa phương còn nhiều bom mìn chưa nổ đến mức trồng trọt cũng là công việc vô cùng nguy hiểm.

“Tôi từng nhìn thấy rất nhiều bom mìn chưa nổ khi còn nhỏ. Một người hàng xóm của gia đình đã bị thương nặng trong một vụ nổ vì các thiết bị này. Tôi muốn giúp cho tỉnh nhà trở nên an toàn hơn”, Thủy chia sẻ.

Cô gái 29 tuổi được chồng hết sức ủng hộ. Tuy nhiên, cha mẹ cô từng lo lắng và phản đối khi nghe tin con nhận một công việc phải thường trực đối mặt với tử thần. 

Năm 2015, Thủy được thăng chức làm trưởng đội rà phá bom mìn đầu tiên của tỉnh Quảng Trị với 100% thành viên là nữ giới. Cũng trong năm đó, cô nhận được tin vui rằng mình mang thai. Thủy bất chấp nguy hiểm và tiếp tục làm việc, cô chỉ nghỉ hơn một tháng trước khi sinh. Con trai của vợ chồng Thủy nay đã hơn 3 tuổi.

Bao nuoc ngoai an tuong voi doi pha bom min toan nu o Quang Tri hinh anh 2
Bộ dụng cụ rà mìn của Đức có giá gần 4.000 USD. (Ảnh: SCMP). 

Mong muốn một Quảng Trị không còn tiếng bom

Là một trong hai nữ trưởng nhóm trong đội ngũ RENEW, Thủy trở thành động lực truyền cảm hứng cho nhiều phụ nữ địa phương chung tay góp sức cho dự án. Nữ công nhân đồn điền cao su Lê Thị Hoa là một trong số đó.

Hoa cũng hiểu rõ nỗi đau khổ mà bom mìn còn sót lại sau chiến tranh gây ra khi từ nhỏ chứng kiến nhiều gia đình hàng xóm mất đi người thân vì những di sản của chiến tranh. Cô không khỏi trăn trở vì sao quê hương đã đi qua cuộc chiến từ rất lâu nhưng người dân quê cô vẫn đổ máu vì nó.

Những kiến thức và chương trình huấn luyện về an toàn khi tác nghiệp của dự án RENEW giúp gia đình Hoa yên tâm phần nào về công việc của cô. Trong hai tháng đầu làm việc, Hoa đã giải quyết được ít nhất 7 thiết bị nổ còn sót lại sau chiến tranh.

Ngoài chương trình rà soát, dự án RENEW và MAG còn chủ động tuyên truyền giáo dục người dân về mối hiểm họa của bom mìn còn sót lại sau chiến tranh, quy trình giải quyết và những khuyến nghị khi phát hiện mìn. Những nỗ lực tuyên truyền này đặc biệt tập trung đến trẻ nhỏ.

Bao nuoc ngoai an tuong voi doi pha bom min toan nu o Quang Tri hinh anh 3
Nhóm giải quyết bom mìn với toàn bộ thành viên là nữ giới đầu tiên của tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: SCMP). 

Theo Trung tâm Hành động Bom mìn Quảng Trị, cơ quan phụ trách về các dự án phi chính phủ liên quan đến bom mìn tại địa phương, đã có hàng nghìn trẻ em thương vong vì những thiết bị nổ còn sót lại sau chiến tranh. Kể từ khi cuộc chiến kết thúc vào năm 1975, đã có ít nhất 990 trường hợp trẻ từ 1-15 tuổi tử vong trong các vụ nổ. Số trẻ bị thương vì bom mìn là hơn 1.600 em.

Chương trình tuyên truyền về rủi ro bom mìn của RENEW chủ yếu nhắm đến trẻ em. Trong khi đó, đối tượng hướng đến của tổ chức phi chính phủ MAG là người trưởng thành. Hai dự án giúp kiến thức bảo vệ bản thân khi phát hiện bom mìn đến với hơn 400.000 người lớn và trẻ em tại Quảng Trị, gần 2/3 dân số của tỉnh.

44 năm sau khi cuộc chiến kết thúc, việc giải quyết hoàn toàn số bom mìn còn sót lại tại Quảng Trị vẫn được xem là gần như bất khả thi. Tuy nhiên, ông Ngô Xuân Hiền, quản lý truyền thông và phát triển của RENEW, vẫn tự tin có thể giúp cho người dân Quảng Trị có được tương lai an toàn hơn.

“Chúng tôi quyết tâm đạt được mục tiêu đến năm 2025 sẽ giúp Quảng Trị trở thành tỉnh đầu tiên của Việt Nam được tuyên bố không còn chịu tác động của bom mìn chiến tranh”, ông khẳng định.

Mỹ chính thức khởi động dự án tẩy độc dioxin lớn nhất ở sân bay Biên Hòa

Mỹ chính thức khởi động dự án tẩy độc dioxin lớn nhất ở sân bay Biên Hòa
Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID) và Quân chủng Phòng không – Không quân Việt Nam, hôm 20/4, chính thức khởi động dự án xử lý dioxin tại Sân bay Biên Hòa.

Quảng Trị: Phát hiện quả bom 340 kg dưới ruộng lúa

Quảng Trị: Phát hiện quả bom 340 kg dưới ruộng lúaCác chuyên gia của Dự án Renew Quảng Trị đã tiến hành hủy nổ an toàn quả bom nặng 340 kg được người dân rà phế liệu phát hiện ở độ sâu 5 m dưới một ruộng lúa trên địa bàn.


Nguồn: Zing News

Chân trần chinh phục Trường Sơn

Trong vòng 4 năm với 1.089 ngày làm việc, Nguyễn Viết Sinh – người lính trẻ Đoàn 559 Trường Sơn – đã mang ngót 55 tấn hàng trên lưng đi qua quãng đường tổng chiều dài 41.025 km, hơn một vòng trái đất!

Dịp 2-9 vừa qua, nhân các hoạt động kỷ niệm Quốc khánh ở tỉnh Nghệ An, tôi đã gặp đại tá Nguyễn Viết Sinh (SN 1941). Tiếp xúc người mà mình từng nghe danh và ngưỡng mộ, tôi không khỏi ngỡ ngàng tự hỏi với thân hình gầy yếu như thế, làm sao ông có thể làm được những điều phi thường, lập nên một kỷ lục khó tin.

Chân trần, chí thép

Giữa tháng 9-2018, tôi quyết định tìm đến xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An thăm đại tá Nguyễn Viết Sinh. Trong căn nhà nhỏ của mình, kiện tướng gùi hàng trên đỉnh Trường Sơn những năm kháng chiến chống Mỹ ác liệt ngày nào giờ tóc đã bạc trắng nhưng vẫn nhanh nhẹn, minh mẫn.

Rót cốc nước chè mời khách, ông Sinh cho biết: “Trước đây, tôi ở TP Vinh. Mấy năm nay, vợ chồng tôi về quê ở gần anh em, bà con cho vui”. Nghe tôi gợi lại chuyện cùng đồng đội vận chuyển hàng, chiến đấu ở Trường Sơn năm xưa, ông trở nên phấn chấn hẳn. Ký ức một thời trai trẻ tham gia chiến đấu cách nay gần 60 năm ùa về với ông…

Ông Sinh cho biết năm 1961, khi vừa tròn 20 tuổi, ông hăm hở lên đường nhập ngũ. Từ Nghệ An, ông bí mật di chuyển vào huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, tham gia Tiểu đoàn 301 – Đoàn 559 nhận nhiệm vụ tải hàng vào chiến trường miền Nam.

“Sau khi vào đơn vị, công việc đầu tiên của tôi là làm quen với công việc gùi hàng. Ban đầu, tôi chỉ gùi được khoảng 10-20 kg gạo. Sau này quen dần, đến năm 1965, tôi có thể gùi 60-70 kg gạo hoặc vũ khí, đi bộ 30-40 km đường rừng” – ông Sinh nhớ lại.

Theo ông Sinh, trong giai đoạn 1960-1965, việc vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí chi viện cho miền Nam chỉ bằng sức người, cụ thể là gùi trên lưng. Những năm tháng gian khổ và ác liệt đó, ông Sinh cùng đơn vị đóng chốt tại các huyện miền núi Quảng Bình và nước bạn Lào. Ngày ngày, họ đi bộ xuyên rừng, miệt mài vận chuyển hàng cho tiền tuyến.

Chỉ với đôi dép cao su và chiếc gùi trên lưng, anh tân binh Đoàn 559 Trường Sơn đã làm được những việc khó tin. Theo thống kê, năm 1962, chiến sĩ Nguyễn Viết Sinh đã gùi 13.553 kg hàng trên đoạn đường 10.196 km; năm 1963 gùi 9.365 kg hàng và khiêng 23 cáng thương; năm 1964 mang vác 11.445 kg, thồ 8.230 kg, khiêng 62 thương binh trên đoạn đường 10.982 km…

“Thời điểm nhập ngũ, tôi chỉ nặng gần 50 kg. Trong những năm cùng đơn vị gùi hàng xuyên rừng, leo dốc vượt dãy Trường Sơn, mỗi ngày đi 30-40 km nhưng tôi không hề ốm đau, chưa một ngày nghỉ việc. Chiến tranh, bệnh sốt rét, ăn uống kham khổ – nhiều hôm chỉ có măng với rau rừng trừ bữa… nhưng lạ một điều là tôi chẳng hề ốm đau. Lúc đó, tinh thần phục vụ tiền tuyến át hết bệnh tật” – người lính già tự hào.

Năm 1966, trong một đợt bị máy bay Mỹ dội bom, đơn vị ông Sinh có 4 người hy sinh, 9 người bị thương. Ông may mắn sống sót nhưng cũng bị bom bi xuyên nách vào phổi, phải phẫu thuật. Sau khi điều trị lành vết thương, ông lại tiếp tục cùng anh em đơn vị ngày đêm vận chuyển hàng cho tiền tuyến.

Nhận xét về đại tá Nguyễn Viết Sinh, trong cuốn “Chân trần chí thép” viết về đường mòn Hồ Chí Minh, được xuất bản vào tháng 4-2010, trung tá thủy quân lục chiến người Mỹ James G.Zumwalt nêu rõ: “Nguyễn Viết Sinh có lẽ là nhân vật minh họa rõ nhất quyết tâm của người tải hàng với mỗi lần gùi được 45-50 kg. Trong vòng 4 năm với 1.089 ngày làm việc, anh đã mang được hơn 55 tấn hàng trên lưng và đi qua quãng đường có tổng chiều dài 41.025 km – tương đương một vòng trái đất theo đường xích đạo và mang theo một lượng hàng bằng với trọng lượng cơ thể”.

Chân trần chinh phục Trường Sơn - Ảnh 1.

Đại tá Nguyễn Viết Sinh với những kỷ vật một thời

Lỡ cơ hội gặp Bác

Với những chiến công suốt nhiều năm tham gia gùi hàng chi viện cho chiến trường miền Nam, ngày 1-1-1967, ông Nguyễn Viết Sinh đã vinh dự trở thành một trong 3 người lính Trường Sơn đầu tiên được Bác Hồ phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang và được ra Hà Nội báo cáo điển hình.

“Nghe tin được ra Hà Nội, tôi mừng lắm, nhiều đêm trằn trọc không ngủ được, cứ mong sớm được gặp Bác” – ông Sinh hồi tưởng. Theo ông, thời điểm đó, ông đang chiến đấu ở Lào, ôtô chỉ ưu tiên cho việc vận tải súng đạn, lương thực, thực phẩm. Vì vậy, để về nước và ra Hà Nội, ông phải đi bộ xuyên rừng suốt nhiều ngày.

“Do ở sâu trong nước bạn Lào nên tôi đi bộ suốt 10 ngày mới về tới Quảng Bình. Gặp Binh trạm 14 ở khu vực Cổng Trời, tôi vào nghỉ thì tối hôm đó bất ngờ nghe đài phát thanh đưa tin hội nghị tuyên dương anh hùng. Biết là không còn có cơ hội gặp Bác nên tôi lại đi bộ trở về đơn vị” – ông Sinh tiếc nuối.

Chiến tranh kết thúc, ông Sinh tiếp tục công tác trong quân đội và giữ những chức vụ quan trọng như: Phó Chính ủy Trung đoàn 15, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 185 ở Lào. Đến đầu những năm 1990, ông về hưu.

“Tháng 8-1974, khi đang ở Lào, tôi được cử ra Hà Nội học. Mười mấy năm tham gia kháng chiến chống Mỹ, điều đáng tiếc nhất với tôi là không được phục vụ chiến dịch giải phóng miền Nam vào năm 1975” – ông Sinh tâm sự khi được hỏi về cuộc đời binh nghiệp của mình, điều gì khiến ông cảm thấy tiếc nuối nhất.

Khi chúng tôi đang trò chuyện thì vợ đại tá Nguyễn Viết Sinh, bà Đinh Thị Vân, xuất hiện. Ông Sinh cho biết vợ ông là người cùng quê Nam Đàn. Hai người bén duyên nhau sau một lần ông về thăm nhà vào năm 1964.

“Năm 1965, nhận được thư của người yêu nói về nguyện vọng gia nhập lực lượng thanh niên xung phong, tôi đã động viên cô ấy tham gia. Yêu nhau nhưng chúng tôi rất ít có cơ hội gặp nhau vì cô ấy công tác ở các tuyến đường Nghệ An, còn tôi thì lại ở Lào. Chiến tranh, xa nhau, không biết chết lúc nào nhưng chúng tôi luôn tin vào tình yêu, tin vào ngày đất nước thống nhất để được ở bên nhau” – ông Sinh thổ lộ.

Đến năm 1969, ông Sinh và bà Vân tổ chức đám cưới, rồi có với nhau 3 người con. Hiện đại tá Nguyễn Viết Sinh ở cùng vợ và con trai trong một căn nhà nhỏ tại xã Xuân Hòa. Ông sống bình dị, hòa đồng với xóm làng. Ngoài công việc gia đình, ông thường đứng ra kêu gọi, tổ chức cho đồng đội đi thăm lại chiến trường xưa, tri ân những người đã ngã xuống. 

nhan vat box

Kỷ lục Việt Nam của Anh hùng Nguyễn Viết Sinh do Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam xác nhận

Kỷ lục Việt Nam

Ngày 21-4-2012, đại diện Ban Tổ chức chương trình “Nghĩa tình Trường Sơn” phối hợp với Hội Cựu chiến binh tỉnh Nghệ An đã tổ chức lễ trao bằng kỷ lục Việt Nam cho Anh hùng Nguyễn Viết Sinh là “Chiến sĩ giao liên Trường Sơn gùi thồ hàng và dẫn quân với đoạn đường dài nhất”.

Nói về đại tá Nguyễn Viết Sinh, ông Bùi Danh Sơn, Phó Chủ tịch UBND xã Xuân Hòa, tự hào: “Ông là tấm gương sáng được mọi người trong xã kính mến, nể phục. Ông sống giản dị, hòa đồng, gần gũi với mọi người”.Bài và ảnh: ĐỨC NGỌC

NPH2019_226: Hiệp định Paris 1973

Toàn thể diễn bến và hệ quả trươc và sau Hiệp định Paris
Vui lòng bấm “Đăng Ký” (màu đỏ góc phải bên dưới) để nhận thông báo video mới nhất của kênh
https://youtube.com/thacmac52
https://facebook.com/bac.ha.9655
Email: bacha52@gmail.com
ĐT: (+00) 1-714-469-3202
VN 0327941647

Hiệp định Paris 1973

Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt NamNgày kí27 tháng 1 năm 1973Nơi kíParisPhápNgày đưa vào hiệu lực28 tháng 1 năm 1973Ngày hết hiệu lựcHoàn thành bằng Tổng tuyển
cử ngày 25 tháng 4 năm 1976Bên tham gia Hoa Kỳ
 Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
 Việt Nam Cộng hoà
 Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt NamNgôn ngữAnhViệt Hiệp định Paris 1973 và các văn bản có
liên quan at Wikisource

Mục từ “Hiệp định Paris” dẫn đến bài này. Xin đọc về các nghĩa khác tại bài Hiệp định Paris (định hướng).

Hiệp định Paris về Việt Nam hoặc hiệp định Paris 1973 (ở miền Nam còn gọi là Hiệp định Ba Lê) là hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam do 4 bên tham chiến: Hoa KỳViệt Nam Dân chủ Cộng hòaCộng hòa miền Nam Việt Namvà Việt Nam Cộng hòa ký kết tại Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973.

Về mặt công khai thì đàm phán có 4 bên và nội dung chính thức của bản Hiệp định cơ bản dựa trên Tuyên bố 10 điểm ngày 08-05-1969 của phái đoàn Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, nhưng việc đàm phán để đạt được nội dung hiệp định lại chủ yếu được quyết định bởi các phiên họp kín giữa 2 đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ.

Trong quá trình đám phán, Hoa Kỳ gần như phớt lờ ý kiến của đoàn Việt Nam Cộng hòa và tự sắp đặt mọi chuyện trong các cuộc họp kín với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong khi phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam lại luôn có sự phân công, phối hợp nhịp nhàng, ăn ý, liên tục thảo luận với nhau trước khi đưa ra quyết sách. Do vậy, sau khi điều khoản Hiệp định được thống nhất giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòaCộng hòa Miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ thì đoàn Việt Nam Cộng hòa lại từ chối ký vì có những điều khoản bất lợi cho họ. Nhưng Việt Nam Cộng hòa chỉ phản đối được vài ngày, bởi sau đó Hoa Kỳ đã đe dọa và buộc đoàn này phải ký Hiệp định.

Lê Đức Thọ và Henry Kissinger, hai nhân vật chủ yếu trong cuộc đàm phán, đã được trao giải Nobel Hòa Bình năm 1973, nhưng Lê Đức Thọ đã từ chối không nhận giải này với lý do hòa bình vẫn chưa lập lại tại Việt Nam. Còn ông Kissinger yêu cầu đại sứ Mỹ tại Na Uy thay mặt mình nhận giải. Ông Lê Đức Thọ cũng cho rằng việc nhận giải sẽ là một sự đánh đồng giữa kẻ xâm lược-kẻ gây chiến (Hoa Kỳ) với người bị xâm lược-bên tự tay giành lại hòa bình cho chính mình (nhân dân Việt Nam) và sẽ chỉ nhận giải khi giải đó chỉ được trao cho mình ông do giải Nobel hòa bình phải được trao cho đại diện của bên kiến tạo hòa bình (nhân dân Việt Nam).

Quá trình đàm phán

Bài chi tiết: Hội nghị Paris, mặt trận ngoại giao năm 1968-1972

Việc đàm phán giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề xướng nhằm đạt được một nền hòa bình, thống nhất ở Việt Nam. Sau sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968 các bên đã ngồi vào thương lượng cho tương lai chiến tranh Việt Nam. Việc thương lượng đã diễn ra rất phức tạp. Vì một mặt, các bên chưa thật sự thấy cần nhượng bộ và mặt khác, Liên Xô và Trung Quốc muốn tham gia vào đàm phán – đặc biệt là Trung Quốc. Nước này không muốn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tự đàm phán mà muốn tham gia vào quá trình đó, như Hiệp định Genève năm 1954. Nhưng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã từ chối dù bị áp lực bởi hai đồng minh, việc đàm phán do họ tự quyết định và tiến hành.

Sau nhiều lần thỏa thuận, địa điểm tổ chức hội đàm được chọn là thành phố Paris, thủ đô nước Cộng hòa Pháp. Thời gian đàm phán kéo dài từ tháng 5 năm 1968 đến tháng 1 năm 1973. Các bên tham gia ban đầu chỉ có Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ; sau mở ra thành hội nghị bốn bên, có thêm Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt NamChính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng đã đưa ra các giải pháp hòa bình, trong đó đề nghị 10 điểm ngày 8-5-1969 mà sau này đã trở thành xương sống cho bản Hiệp định năm 1973.

Trong quá trình đàm phán, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam không muốn công nhận Việt Nam cộng hòa, trong khi Việt Nam cộng hòa không muốn công nhận Mặt trận và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam khiến hội nghị bế tắc một thời gian dài. Bên cạnh đó, Hội nghị cũng bế tắc do sự thiếu thiện chí trong đàm phán của Hoa Kỳ.

Trong quá trình đàm phán, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và bản dự thảo tháng 10/1972 không hề đả động tới tình trạng Quân đội Nhân dân Việt Nam ở miền Nam mà luôn đòi hỏi Hoa Kỳ phải rút quân. Trong khi đó, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa luôn đưa ra yêu sách Quân đội Nhân dân Việt Nam phải rút khỏi miền Nam cùng lúc với Quân đội Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam.

Giai đoạn 1968-1972

Khi một bên đang thắng thế trên chiến trường thì đàm phán thường bế tắc và điều đó đúng với Hội nghị Paris suốt thời kỳ từ 1968 đến 1972. Các bên dùng hội nghị như diễn đàn đấu tranh chính trị. Trong giai đoạn này, các phiên đàm phán thường rơi vào bế tắc do tình trạng giằng co trên chiến trường và do phía Hoa Kỳ không chịu đi vào đàm phán thực chất đối với việc rút quân Mỹ. Giai đoạn này cũng xảy ra các cuộc tiếp xúc bí mật của 2 cố vấn đặc biệt: Lê Đức Thọ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Tiến sĩ Henry Kissinger, cố vấn của Tổng thống Hoa Kỳ – Richard Nixon, là đi vào thảo luận thực chất, nhưng cũng không đi được đến thoả hiệp do lập trường các bên quá khác biệt và cục diện chiến trường chưa nghiêng hẳn về bên nào.

Một số mốc thời gian đáng chú ý trong giai đoạn này:

  • Ngày 31 tháng 3 năm 1968, Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 2 và cử người đàm phán với đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Paris. Ngày 3 tháng 4 năm 1968, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố: Sẵn sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện của Mỹ.
  • Ngày 03 tháng 4 năm 1968, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố: Sẵn sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện của Mỹ nhằm xác định với Mỹ việc Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để có thể bắt đầu cuộc nói chuyện.
  • Ngày 13 tháng 5 năm 1968, Hội nghị Paris giữa 2 bên khai mạc. Do lập trường cương quyết của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Mỹ buộc phải ngồi nói chuyện chính thức với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và từ tháng 6 năm 1969 là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.
  • Ngày 18 tháng 1 năm 1969, phiên họp đầu tiên của Hội nghị Paris về Việt Nam khai mạc tại phòng họp của trung tâm Hội nghị quốc tế ở Paris.
  • Ngày 25 tháng 1 năm 1969, khai mạc phiên họp toàn thể lần thứ nhất của Hội nghị bốn bên về Việt Nam ở Pari.
  • Ngày 08 tháng 5 năm 1969, phái đoàn Cộng hòa miền Nam Việt Nam tạo ra đột phá khi đưa ra “giải pháp hòa bình 10 điểm” trong đó nêu rõ Mỹ phải rút quân, thành lập chính phủ liên hiệp tại miền Nam
  • Ngày 04 tháng 8 năm 1969, tiến sĩ Henry Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia của Nhà trắng bí mật gặp Bộ trưởng Xuân Thủy lần đầu ở Pari.
  • Ngày 25 tháng 8 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời thư của Tổng thống Mỹ Nixon, nêu rõ: Muốn có hoà bình, Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam và của dân tộc Việt Nam. Đó là con đường để Mỹ rút khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự.
  • Ngày 21 tháng 1 năm 1970Hoa Kỳ tiến hành oanh tạc miền Bắc
  • Ngày 26 tháng 1 năm 1970, phái đoàn Cộng hòa miền Nam Việt Nam chấp nhận ngừng bắn với điều kiện Mỹ phải rút quân, thành lập chính phủ liên hiệp tại miền Nam để Tổng tuyển cử thống nhất với miền Bắc
  • Ngày 21 tháng 2 năm 1970, cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy gặp Kissinger. Từ đó bắt đầu cuộc gặp riêng giữa cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Kissinger.

Giai đoạn 1972-1973

Bài chi tiết: Hội nghị Paris, mặt trận ngoại giao năm 1972

Đến giữa năm 1972, khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có chủ trương chuyển hướng sang chiến lược hòa bình. Áp lực quốc tế và trong nước đối với Hoa Kỳ về việc ký kết thỏa thuận hòa bình ngày càng tăng, đặc biệt áp lực tăng tới đỉnh điểm khi Chiến dịch Lam Sơn 719 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa thất bại và được coi là minh chứng cho việc Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Hoa Kỳ đã sụp đổ, thì đàm phán mới đi vào thực chất thoả hiệp.

  • Lập trường ban đầu của Hoa Kỳ: quân đội Hoa Kỳ cùng các đồng minh nước ngoài rút khỏi Việt Nam phải đồng thời với việc Quân đội Nhân dân Việt Nam rút khỏi Nam Việt Nam. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có quyền tồn tại trong giải pháp hoà bình. Không có Tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam.
  • Lập trường ban đầu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: các lực lượng quân đội Hoa Kỳ phải rút khỏi Việt Nam. Thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời gồm 3 lực lượng chính trị: Chính quyền Sài Gòn, Chỉnh phủ Cách mạng Cộng hòa miền Nam Việt Nam và lực lượng trung lập để tiến hành Tổng tuyển cử thống nhất với miền Bắc. Việc đòi hỏi Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân đội Hoa Kỳ cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam là một sự đánh đồng không thể chấp nhận được.

Cuối năm 1972, đã quá mệt mỏi vì chiến tranh kéo dài với những thất bại liên tiếp và số lượng thương vong ngày một tăng trong khi không thể khuất phục Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trên chiến trường và bị dư luận trong nước và quốc tế đòi hỏi giải quyết vấn đề hoà bình ở Việt Nam trong thời gian nhiệm kỳ tổng thống của mình như đã hứa, chính phủ Hoa Kỳ của Tổng thống Richard Nixon đã nhượng bộ trong vấn đề cốt lõi này. Về phía mình, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng nhượng bộ về vấn đề tiếp tục tồn tại của chính quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nhằm thành lập chính phủ liên hiệp.

Dự thảo khung của thoả hiệp đạt được là: “Quân đội Mỹ và các đồng minh nước ngoài phải rút khỏi Việt Nam chính quyền của Tổng thống Thiệu được quyền tồn tại trong một giải pháp hoà bình, trao trả tù binh không điều kiện trong vòng 60 ngày.

Các mốc thời gian

  • Ngày 25 tháng 1 năm 1972, Tổng thống Mỹ Nixon đơn phương công bố nội dung các cuộc gặp riêng về đề nghị Tám điểm đưa ra ngày 16 tháng 8 năm 1971.
  • Ngày 31 tháng 1 năm 1972, tại Paris, đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà công bố giải pháp Chín điểm, đồng thời vạch rõ việc Nhà trắng đã vi phạm thoả thuận hai bên không công bố nội dung các cuộc gặp riêng theo đề nghị của chính Kissinger. Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng đã phân phát cho tất cả các tờ báo những công hàm trao đổi giữa hai bên về cuộc họp ngày 20 tháng 10 năm 1971.
  • Ngày 24 tháng 3 năm 1972, Tổng thống Nixon tuyên bố hoãn vô thời hạn các phiên họp công khai Hội nghị Paris về Việt Nam. Tiếp đó, ngày 8 tháng 5 năm 1972, chưa đầy một tuần sau phiên gặp riêng giữa Lê Đức Thọ, Xuân Thủy và Kissinger, Nixon tuyên bố tiến hành một bước leo thang mới mở rộng quy mô đánh phá miền Bắc kể cả bằng lực lượng không quân chiến lược, thả mìn cảng Hải Phòng cùng các cửa sông, lạch, trên vùng biển phong toả miền Bắc Việt Nam.
  • Ngày 13 tháng 7 năm 1972, Mỹ chấp nhận họp lại Hội nghị toàn thể bốn bên tại Paris.
  • Ngày 11 tháng 9 năm 1972, lần đầu tiên kể từ khi Kissinger bắt đầu hội đàm bí mật với Hà Nội vào tháng 8 năm 1969, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã gợi ý rằng họ có thể sẽ chấp nhận một cuộc ngừng bắn tại Nam Việt Nam mà không cần loại bỏ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Một sự thỏa hiệp bắt đầu có vẻ khai thông.
  • Ngày 12 tháng 10Kissinger và Lê Đức Thọ đi đến một bản nháp hiệp định gồm 9 điểm. Nội dung đó chưa đầy đủ nhưng nó đã tạo được một bước đột phá lớn. Dự thảo đã tách các vấn đề thuần túy quân sự khỏi các vấn đề chính trị. Nó cho phép một cuộc ngừng bắn tại chỗ, sự rút quân đội Mỹ và đồng minh nước ngoài về nước, sự trao trả tù binh Mỹ trong vòng 60 ngày, và thiết lập một quy trình mơ hồ mà qua đó người Việt Nam sau đó sẽ tự quyết định tương lai của mình. Theo nghĩa rộng, sự thỏa hiệp này cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tồn tại như một chính phủ có liên quan đến giải pháp hoà bình, cho lực lượng cộng sản Việt Nam một vị thế chính thức tại miền Nam Việt Nam, đồng thời khẳng định lập trường nguyên tắc của Hà Nội rằng Việt Nam là một quốc gia chỉ đang tạm thời bị chia cắt. Bản dự thảo này đã đáp ứng được yêu cầu của Hoa Kỳ là ra đi trong danh dự và đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
  • Ngày 13 đến 16 tháng 10Tổng thống Richard Nixon sau khi nghiên cứu đã chấp thuận nội dung dự thảo, rồi điều Kissinger đến Sài Gòn để thuyết phục Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.[10]
  • Ngày 18 đến 23 tháng 10, Kissinger đến Sài Gòn gặp Nguyễn Văn Thiệu. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu không tỏ thái độ mà chỉ yêu cầu làm rõ và so sánh giữa hai bản tiếng Việt và tiếng Anh. Kissinger tưởng rằng Thiệu sẽ chấp thuận, ông thông báo với Nixon như vậy. Theo tinh thần đó, ngày 21 tháng 10, Nixon gửi thông điệp cho Hà Nội khẳng định rằng dù một số vấn đề cần làm rõ, “nội dung hiệp định đã có thể được coi là hoàn chỉnh” và việc ký kết ngày 31 tháng 10 có thể khả thi. Kissinger sẽ tới Hà Nội ngày 24 để tổng kết phiên đàm phán cuối cùng dài 2 ngày, và một tuần sau sẽ ký kết chính thức tại Paris.
  • Ngày 23 tháng 10, tại cuộc gặp thứ năm và là cuộc gặp cuối cùng tại Sài Gòn, cuối cùng Tổng thống Thiệu đã tuyên bố chính thức các đánh giá của mình: ông phản đối kịch liệt bản dự thảo 9 điểm coi đây là hiệp định hy sinh quyền lợi của Việt Nam Cộng hoà, đòi các lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam, thiết lập vùng phi quân sự làm biên giới với miền Bắc. Ông còn coi giải pháp hội đồng hiệp thương là một hình thức chính phủ liên bang trá hình. Tổng thống Thiệu lên đài phát thanh tuyên bố bác bỏ nguyên tắc một nước Việt Nam thống nhất: “Bắc Việt Nam là Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam là Nam Việt Nam, mọi người phải chấp nhận thực tế là tồn tại hai nước Việt Nam, không bên nào được xâm lược bên nào”. Nixon gửi thông điệp cho Hà Nội nói rằng do các khó khăn ở Sài Gòn, việc ký kết vào ngày 31 là không thể được và đề nghị một vòng đàm phán mới. Chuyến bay của Kissinger tới Hà Nội bị hủy bỏ.
  • Ngày 25 tháng 10, báo động bởi việc Nixon rút lui khỏi ký kết và bởi phản đối của Thiệu, Hà Nội công bố tóm tắt nội dung bản dự thảo và cảnh báo về các hậu quả nghiêm trọng nếu Mỹ không ký kết vào ngày 31 tháng 10. Mục đích là để ép Mỹ giữ vững giao ước ban đầu bất kể đến Thiệu. Khi tin này đến Washington D.C. vào sáng 26 tháng 10, Kissinger lên truyền hình tuyên bố “hòa bình trong tầm tay”, với mục đích đảm bảo với Hà Nội và cảnh báo Sài Gòn về mong muốn nghiêm túc của Washington về một sự dàn xếp. Chỉ 6 tiếng sau, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi điện đồng ý với một vòng đàm phán mới tại Paris.
  • Ngày 2 tháng 11, Nixon tuyên bố trên truyền hình rằng bản dự thảo còn có những phần “mập mờ” “cần làm rõ trước khi ký kết bản hiệp định cuối cùng”. Ông quyết định sẽ thỏa mãn mọi ngờ vực của Thiệu về vấn đề chủ quyền, và chỉ thị Kissinger tìm kiếm một nhượng bộ về khía cạnh khu phi quân sự, và nếu đạt được điều đó thì họ sẽ ép Thiệu ký. Nếu Thiệu vẫn tiếp tục từ chối thì Mỹ sẽ ký kết hiệp ước hòa bình riêng với Hà Nội.
  • Ngày 20 đến 25 tháng 11Kissinger cuối cùng cũng quay lại Paris. Hai bên đi đến được đồng thuận về ngôn ngữ khẳng định rằng khu vực phi quân sự là đường phân chia chính trị khu vực.
  • Ngày 29 tháng 11, Nguyễn Phú Đức, đặc phái viên của Thiệu, bay đến Washington D.C. báo với Nixon rằng nhượng bộ của Hà Nội là không đủ. Nixon loại bỏ hầu hết các yêu cầu của Đức trong đó có cả việc rút Quân đội Nhân dân Việt Nam ra khỏi miền Nam. Nhưng Nixon vẫn chưa yên tâm về vấn đề khu phi quân sự và yêu cầu Kissinger đưa vấn đề này ra bàn lại tại Paris.
  • Ngày 3 tháng 12, dự đoán về một thất bại trong đàm phán và Mỹ ném bom trở lại, Hà Nội bắt đầu sơ tán trẻ em ở thủ đô về nông thôn.
  • Ngày 4 đến 13 tháng 12, đàm phán tiếp tục tại Paris suôn sẻ cho đến khi phía Mỹ một lần nữa lật lại vấn đề cốt lõi: quy chế của lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và nêu vấn đề khu phi quân sự. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phản ứng bùng nổ bằng cách thu hồi các nhượng bộ từ các buổi họp trước đó và đưa ra đòi hỏi mới, trong đó có việc lật lại vấn đề cơ bản về trao trả tù binh Mỹ. Tháng 10, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đồng ý trao trả tù binh Mỹ vô điều kiện trong vòng 60 ngày. Nay họ muốn gắn việc trao trả tù binh với việc thả hàng ngàn tù chính trị tại Nam Việt Nam – một vấn đề mà họ đã từng đồng ý dành nó cho các thương thảo cụ thể sau này giữa các bên Việt Nam. Nixon triệu hồi Kissinger về Mỹ và ngừng đàm phán.
  • Ngày 14 tháng 12, Nixon gửi một tối hậu thư cho Hà Nội: trong 72 giờ đồng hồ để quay lại ký theo phương án Hoa Kỳ đề nghị, nếu không sẽ ném bom lại Bắc Việt Nam.
  • Ngày 18 tháng 12, Hoa Kỳ bắt đầu cho máy bay B–52 ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng và các mục tiêu khác. Đợt ném diễn ra trong 12 ngày (18 tháng 12 đến 30 tháng 12), đó là Chiến dịch Linebacker II. Không khuất phục được Hà Nội, bị thiệt hại nặng nề cho lực lượng không quân với ít nhất 30 chiếc máy bay ném bom chiến lược B-52 và 5 chiếc F-111 bị bắn hạ (Việt Nam cho tới nay vẫn tự hào rằng chỉ có họ mới bắn rơi B-52 Mỹ) và nhất là bị dư luận quốc tế và trong nước phản đối mạnh mẽ, chính phủ Hoa Kỳ buộc phải chấm dứt ném bom quay lại đàm phán và đồng ý ký kết Hiệp định Paris theo phương án đã ký tắt hồi tháng 10 với một vài sửa đổi nhỏ có tính kỹ thuật.
  • Ngày 22 tháng 12, Hoa Kỳ gửi công hàm yêu cầu họp lại. Ngày 26/12, Việt Nam yêu cầu Mỹ trở lại tình hình trước ngày 18/12 mới họp. Hoa Kỳ chấp nhận.
  • Ngày 8/1/1973, nối lại đàm phán lúc 11 giờ trưa tại ngôi nhà ở Gif-sur-Yvette. Lê Đức Thọ nổ phát súng đầu: “Chính các ông đã làm cho danh dự nước Mỹ bị hoen ố”. Kissinger không bào chữa hăng hái như những lần trước, chỉ thanh minh. Hai ngày sau, 10/1/1973, Kissinger thử lần chót việc đòi đối phương rút quân khỏi miền Nam nhưng thất bại. Ngày 13/1/1973, hoàn thành hiệp định trong cuộc gặp riêng lần cuối cùng.
  • Chính phủ Việt Nam Cộng hòa không tán thành hiệp định vì những nhượng bộ của Hoa Kỳ đẩy họ vào thế nguy hiểm. Nixon rất tức giận khi Nguyễn Văn Thiệu cản chân ông. Theo hồ sơ mới giải mật gần đây của phía Mỹ thì Nixon có nói: Nếu Thiệu không ký hiệp định thì sẽ “lấy đầu” ông ta (tức Thiệu). Nixon đã nói với Kissinger như sau: “Ông sẽ hiểu thế nào là sự tàn bạo nếu tên khốn kiếp đó (ce salaud) không chịu chấp nhận, ông hãy tin lời tôi”. Ngày 16 tháng 1 năm 1973, Đại tướng Haig trao cho Nguyễn Văn Thiệu bức thư của Nixon, mà Kissinger gọi là “bốc lửa”. Trong thư này đoạn quan trọng nhất là: “Vì vậy chúng tôi đã quyết định dứt khoát sẽ ký tắt Hiệp định ngày 23 tháng 1 năm 1973 tại Paris. Nếu cần thiết, chúng tôi sẽ làm như thế một mình. Trong trường hợp đó, tôi phải giải thích công khai rằng Chính phủ của ông cản trở hoà bình. Kết quả là sự chấm dứt không tránh khỏi và lập tức của viện trợ kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ – và một sự sắp xếp lại Chính quyền của ông cũng chẳng thay đổi được tình hình”. Trước sức ép của Mỹ, Việt Nam Cộng hòa cuối cùng phải chấp nhận ký kết hiệp định.
  • Hiệp định Paris được ký kết vào ngày 27 tháng 1 năm 1973 như một thắng lợi quan trọng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ngày 29 tháng 3 năm 1973, quân nhân Mỹ cuối cùng rời Việt Nam, chấm dứt mọi can thiệp quân sự trực tiếp của Hoa Kỳ đối với vấn đề Việt Nam, Hoa Kỳ sẽ chỉ còn duy trì viện trợ và cố vấn quân sự. Từ thời điểm này, tuy vẫn nhận viện trợ quân sự và kinh tế từ Hoa Kỳ nhưng Quân lực Việt Nam Cộng hòa phải đơn phương trực tiếp chiến đấu với Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Đầu năm 1974, Quân lực Việt Nam Cộng hòa tiếp tục có những đợt tấn công nhằm vào lực lượng đối phương tại các khu vực trọng điểm như tại Quân khu 5Kon TumPleiku, xung quanh Sài Gòn,… Tuy nhiên, từ giữa năm 1974, cường độ tấn công của Quân lực Việt Nam Cộng hòa giảm dần và tương quan lực lượng thực sự nghiêng về Quân giải phóng miền Nam Việt Nam từ cuối năm 1974, thậm chí là thay đổi với tốc độ chóng mặt vì tinh thần của Quân lực Việt Nam Cộng hòa xuống chưa từng thấy khi mất nguồn viện trợ từ Hoa Kỳ cũng như các chiến dịch trước đó không đạt được yêu cầu đề ra. Về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòavà Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, sau Thông cáo Thượng hải 1972 giữa Hoa Kỳ và Cộng hòa Nhân dân Trung HoaCộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng giảm đáng kể lượng viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Có những lúc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ chối nhận viện trợ nếu khoản viện trợ đó đi kèm những điều kiện mà họ không chấp nhận. Khi Trung Quốc đề nghị viện trợ 500 chiếc xe vào Trường Sơn với điều kiện lái xe là người Trung Quốc, Tổng Bí thư Lê Duẩn không đồng ý nhận bất cứ một chiếc xe nào vì tin rằng Trung Quốc lồng ghép vào đó những toan tính riêng của họ (Trung Quốc từng mượn đường vào đánh Chiêm Thành thời nhà Trần, rồi từng lấy cớ vào giúp Lê Chiêu Thống để kéo quân vào Hà Nội). Có người trong Bộ Chính trị đề nghị “sao không nhận một vài chiếc cho người ta vui?”, nhưng ông trả lời: “Chừng nào tôi còn ngồi đây, thì tôi không cho một kẻ nào nghĩ trong đầu rằng có thể cướp được đất nước Việt Nam này”. Bên cạnh đó, Liên Xô cũng chủ trương không viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam những vũ khí hiện đại hơn như xe tăng T-62, tên lửa phòng không S-125 Neva/Pechora, tiêm kích MiG-23song song với việc giảm số lượng viện trợ đối với những loại vũ khí Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đang sở hữu xuống chỉ còn một nửa, thậm chí một phần ba. Theo thống kê của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong 2 năm 1973-1974, tổng cộng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhận được 114.532 tấn viện trợ quân sự, trị giá 339.355.353 rúp (~330 triệu USD), chỉ bằng 19% so với 2 năm 1971-1972. Trên thực tế, quân số và vũ khí Việt Nam Cộng hòa (920.000 người) vẫn vượt trội hơn hẳn so với Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (219.000 người). Tổng viện trợ của Mỹ dành cho Việt Nam Cộng hòa trong năm tài khóa 1974 là hơn 657 triệu USD, con số này gần gấp đôi tổng viện trợ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhận được từ Liên Xô trong cả hai năm 1973-1974
Nội dung chính của hiệp định và lập trường các bên

Bản Hiệp định này không hề có định nghĩa về hai bên ở miền nam, hai chính quyền ở miền nam, định nghĩa hai lực lượng quân đội của miền Nam, cũng không định nghĩa về ba lực lượng chính trị ở miền nam, và với thừa nhận miền nam Việt Nam là một miền của một nước Việt Nam thống nhất, cùng với không đưa ra xác định Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ có chủ quyền ở miền bắc hay không, không nhắc đến tên lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam (khác bản thoả thuận trong tháng 10-1972 giữa đoàn đàm phán Việt Nam dân chủ cộng hòa và đoàn đàm phán Hoa Kỳ) được xem là một thoái bộ của Mỹ và có lợi cho phía đối phương.

Nội dung hiệp định được chia thành chín chương, nói về các chủ đề về cơ bản giống như trong bản dự thảo 9 điểm mà Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã thống nhất với nhau vào tháng 10 năm 1972 với xương sống là tuyên bố 10 điểm của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam trước đó. Đó là:

Phía Hoa Kỳ ký kết Hiệp Định Paris

  1. Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như được công nhận bởi hiệp định Geneva.
    Điều khoản này có nghĩa Hoa Kỳ công nhận chính thức các điều khoản Hiệp định Geneva về sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, theo đó, Việt Nam là một quốc gia thống nhất, miền Bắc và miền Nam không phải hai quốc gia riêng biệt mà chỉ là hai vùng tập kết quân sự khác nhau. Tuy nhiên, do chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được bầu lên bởi cuộc Tổng tuyển cử Toàn quốc vào ngày 06/01/1946 bất chấp sự chống phá của Thực dân Pháp, quân đội Tưởng Giới Thạch, đảng Việt Quốc và Việt Cách (tuy nhiên, sau đó Việt Minh vẫn nhượng bộ khi để cho 2 đảng Việt Quốc và Việt Cách tham gia chính phủ liên hiệp mà không qua bầu cử để đảm bảo đoàn kết dân tộc) nên nhiều ý kiến cho chính phủ Việt Nam Dân chủ có tính chính danh và hợp pháp cao hơn chính phủ Quốc gia Việt Nam – thành lập năm 1949 – vốn lên cầm quyền không qua bất kỳ 1 cuộc bầu cử nào trước năm 1946. Việc đồng ý Tổng tuyển cử năm 1956 là 1 bước nhượng bộ rất lớn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do với cuộc bầu cử năm 1946, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức trở thành người đại diện và bảo vệ hợp pháp duy nhất của nhân dân Việt Nam, có quyền tấn công các lực lượng vũ trang và hành chính được thành lập không tuân theo các quy định trong Hiến pháp năm 1946 trên toàn lãnh thổ 2 miền, bao gồm cả chính phủ Quốc gia Việt Nam và quân đội Việt Nam Cộng hòa – lực lượng vũ trang thực hiện kế thừa đối với lực lượng xâm lược của Thực dân Pháp. Việc đại diện của Pháp ký vào Bản Tuyên bố cuối cùng với Điều 7 quy định việc tiến hành Tổng tuyển cử vào tháng 7/1956 đã khiến cho chính phủ Quốc gia Việt Nam – bên kế thừa các nghĩa vụ của Pháp ở Việt Nam – phải có nghĩa vụ tiến hành Tổng tuyển cử năm 1956 dù muốn hay không.
  2. Ngừng bắn trên toàn Việt Nam sẽ bắt đầu từ 27 tháng 1 năm 1973. Và ở miền Nam tất cả các đơn vị quân sự Mỹ và đồng minh, hai bên miền Nam Việt Nam ở nguyên vị trí (không áp dụng với Quân đội nhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Hoa Kỳ sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Hoa Kỳ chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng mọi lực lượng trên bộ, trên không, trên biển, chấm dứt việc thả mìn tại vùng biển, các cảng và sông ngòi và sẽ tháo gỡ, làm mất hiệu lực vĩnh viễn, phá huỷ tất cả những mìn ở vùng biển, các cảng và sông ngòi miền Bắc Việt Nam. Uỷ ban quân sự liên hợp giữa hai lực lượng quân sự hai bên miền Nam (tức của Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam) sẽ quy định vùng của hai lực lượng quân sự do mỗi bên kiểm soát, và những thể thức trú quân. Trong vòng 60 ngày, sẽ có cuộc rút lui hoàn toàn của quân đội Mỹ và đồng minh cùng các nhân viên quân sự Mỹ, kể cả cố vấn quân sự tất cả các tổ chức bán quân sự và lực lượng cảnh sát của các nước nói trên ra khỏi miền nam Việt Nam, huỷ bỏ tất cả các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và các nước đó ở nam Việt Nam. Các lực lượng chính quy thuộc mọi quân chủng và binh chủng và các lực lượng không chính quy của các bên ở miền Nam Việt Nam (Mỹ và đồng minh, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Việt Nam cộng hòa) phải ngừng mọi hành động tấn công nhau. Ngăn cấm mọi hoạt động vũ lực trên bộ, trên không và trên biển, mọi hành động đối địch, khủng bố và trả thù của cả hai bên. Từ khi thực hiện ngừng bắn cho đến ngày thành lập chính phủ thông qua tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế, hai bên miền Nam Việt Nam (Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Việt Nam cộng hòa) không được nhận đưa vào miền Nam Việt Nam quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên quân sự kỹ thuật, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh (không có tính ràng buộc với Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Trong thời gian này, hai bên miền Nam (Việt Nam cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam), được phép từng thời gian thay thế vũ khí, đạn dược, dụng cụ chiến tranh đã bị phá huỷ, hư hỏng, hao mòn hoặc dùng hết từ sau khi ngừng bắn, trên cơ sở một đổi một, cùng đặc điểm và tính năng, có sự kiểm soát của Ban liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam và của Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát. Vấn đề nhận viện trợ quân sự sau này cho miền Nam Việt Nam sẽ thuộc thẩm quyền của chính phủ được thành lập sau tổng tuyển cử ở miền Nam. Hoa Kỳ sẽ không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam
    Đây là vấn đề quan trọng số một là thực chất của hiệp định. Nó quy định Hoa Kỳ và đồng minh phải rút hết quân khỏi nam Việt Nam chấm dứt mọi can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam kể cả cung cấp khí tài và cố vấn quân sự, nhưng không được tăng thêm theo ràng buộc với riêng hai bên miền nam và không bị giới hạn di chuyển. Đây là nhượng bộ lớn nhất mà qua 4 năm đấu tranh trên chiến trường và bàn hội nghị cuối cùng Hoa Kỳ đã thoả hiệp. Đây là điều khoản mà Việt Nam Cộng hoà lúc đầu cương quyết bác bỏ vì thấy trước là mối hiểm hoạ nhất định nổ ra sau khi Hoa Kỳ rút hết quân. Trong chương này có điều khoản cho phép về thay thế binh bị khi bị phá huỷ, hư hỏng, theo nguyên tắc một-đổi-một áp dụng với Quân giải phóng của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và quân đội Việt Nam Cộng hòa đến khi có chính phủ mới, nhưng không được phép đưa thêm từ bên ngoài vào. Điều này không cho Quân đội Việt Nam Cộng hòa nhận tiếp tế vũ khí của Mỹ và đồng minh cho nhưng lại cho phép Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam nhận tiếp tế của Quân đội Nhân dân Việt Nam, vì Hiệp định cấm vận chuyển vũ khí từ ngoài vào trong lãnh thổ Việt Nam nhưng lại không cấm vận chuyển vũ khí bên trong lãnh thổ Việt Nam. Theo một số quan điểm đây là nhượng bộ của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhưng thực ra điều khoản này trên thực tế theo một số quan niệm sẽ nhanh chóng bị vô hiệu hoá vì không có một lực lượng nào có thể kiểm chứng trang bị của Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam trên chiến trường và trên đường tiếp tế.Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình ký hiệp định
  3. Việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên (Mỹ và đồng minh, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Việt Nam cộng hòa) bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành không chậm hơn ngày hoàn thành việc rút quân trong vòng 60 ngày. Vấn đề trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Việt Nam cộng hòa) bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam (Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Việt Nam cộng hòa) giải quyết trên cơ sở những nguyên tắc của Điều 21(b) của Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 20/7/1954. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm điều đó trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, nhằm chấm dứt thù hằn, giảm bớt đau khổ và đoàn tụ các gia đình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ gắng hết sức mình để giải quyết vấn đề này trong vòng chín mươi ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực..
    Điều khoản trao trả tù binh không điều kiện trong vòng 60 ngày có tầm quan trọng rất lớn và cực kỳ nhạy cảm đối với chính phủ của Tổng thống Nixon. Uy tín chính quyền Nixon trong con mắt người dân Mỹ phụ thuộc lớn vào việc có nhanh chóng đưa được các tù binh Mỹ về nước như đã hứa khi bầu cử tổng thống hay không và điều rất quan trọng nữa là điều này tạo ra được ấn tượng tâm lý “ra đi trong danh dự”. Việc giải phóng tù binh không điều kiện, còn tù nhân dân sự sẽ được giải quyết sau, phản ánh nguyên tắc của phía Hoa Kỳ là tách các vấn đề thuần tuý quân sự ra khỏi các vấn đề rất phức tạp về chính trị. Chính vì vấn đề tù binh Mỹ quá quan trọng với chính quyền của Tổng thống Nixon nên đây cũng là một lý do giải thích cho phản ứng rất dữ dội của Nixon bằng Chiến dịch Linebacker II khi phía Bắc Việt Nam đặt lại vấn đề phóng thích tù binh phải gắn liền với vấn đề tù chính trị. Đây cũng là một trong những lý do để sau này nhiều nhà sử học cho rằng cuộc không kích cuối năm 1972 đã đạt được mục đích nhất định.
  4. Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cam kết tôn trọng những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam. Nhân dân miền Nam Việt Nam sẽ quyết định tương lai chính trị của mình qua “tổng tuyển cử tự do và dân chủ dưới sự giám sát quốc tế” (Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ báo cáo với hai bên miền Nam Việt Nam những vấn đề về việc kiểm soát và giám sát cho đến khi Hội nghị quốc tế có những sắp xếp dứt khoát, và chấm dứt hoạt động của mình theo yêu cầu của chính phủ được thành lập sau Tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam). Các nước ngoài sẽ không được áp đặt bất cứ xu hướng chính trị hoăc cá nhân nào đối với nhân dân miền Nam Việt Nam. Hai bên miền Nam Việt Nam (Việt Nam cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam) cam kết tôn trọng ngừng bắn và giữ vững hòa bình ở miền Nam Việt Nam, giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng và tránh mọi xung đột bằng vũ lực. Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia, bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín nguỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau (được hiểu gồm chính phủ Việt Nam cộng hòa, lực lượng thứ ba, chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam). Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ký một hiệp định về các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam trong vòng chín mươi ngày. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc có nhiệm vụ đôn đốc hai bên miền Nam Việt Nam thi hành Hiệp định này, thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ. Các cơ quan quyền lực mà cuộc tổng tuyển cử đó sẽ bầu ra sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam thông qua hiệp thương mà thỏa thuận. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc cũng sẽ quy định thủ tục và thể thức tuyển cử địa phương theo như hai bên miền Nam Việt Nam thỏa thuận. Vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam (được hiểu là Quân giải phóng Miền Nam, Quân lực Việt Nam cộng hòa) sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam (Việt Nam cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam) giải quyết trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không có sự can thiệp của nước ngoài, “phù hợp với tình hình sau chiến tranh”. Hai bên miền Nam Việt Nam (Việt Nam cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam) sẽ thảo luận về việc giảm số quân của họ và phục viên số quân đã giảm càng sớm càng tốt. Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập. Miền Nam Việt Nam sẵn sàng thiết lập quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và nhận viện trợ kinh tế, kỹ thuật của bất cứ nước nào không kèm theo điều kiện chính trị..
    Điều khoản này phản ánh thực tế ở miền Nam có hai chính quyền có quân đội và vùng kiểm soát khác nhau. Phía Mỹ yêu cầu phải có điều khoản nói về việc thành lập Hội đồng hòa giải hòa hợp dân tộc, bảo đảm nhân dân miền Nam được hưởng các quyền tự do dân sự và chính trị, có quyền quyết định tương lai chính trị của mình thông qua bầu cử tự do dân chủ, tuy nhiên không đặt giới hạn thời gian, là để ngăn ngừa về mặt pháp lý sự tấn công bằng vũ lực của các bên (Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hoà). Điều này có nghĩa phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà công nhận trên nguyên tắc sự tồn tại của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam cùng với chính sách ngoại giao độc lập của nó nhưng bị ràng buộc bởi hiệp định, cho đến khi một chính phủ mới được thành lập trên tinh thần của bản hiệp định, cả cơ chế lẫn đường lối. Cuộc Tổng tuyển này đã diễn ra năm 1976. Do chính quyền Việt Nam Cộng hòa thực hiện Chiến dịch Lý Thường Kiệt 1975 trước khi phía đối phương tiến hành Chiến dịch Mùa Xuân 1975 nên Chiến dịch Mùa Xuân 1975 mang tính phản kích, thực hiện trả đũa theo đúng Hiệp định Paris.
  5. Sự tái thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thỏa thuận giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam, không bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào và không có sự can thiệp của nước ngoài. Thời gian thống nhất sẽ do miền Bắc và miền Nam Việt Nam thỏa thuận. Trong khi chờ đợi thống nhất, ranh giới và khu phi quân sự tại vĩ tuyến 17 chỉ là tạm thời và không được tính là biên giới quốc gia theo như quy định tại Hiệp định Genève. Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ sớm bắt đầu thương lượng nhằm lập lại quan hệ bình thường về nhiều mặt bao gồm có vấn đề thể thức đi lại dân sự qua giới tuyến quân sự tạm thời. Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ không tham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc khối quân sự nào và không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự trên đất mình
    Chương này khẳng định ranh giới và khu phi quân sự tại vĩ tuyến 17 chỉ là tạm thời theo như quy định tại Hiệp định Genève. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chính quyền mới ở miền Nam sau này tiến hành đàm phán, thương lượng và thỏa thuận để đi đến thống nhất Việt Nam. Cơ chế, phương thức đi đến thống nhất là do chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính quyền mới ở miền Nam Việt Nam quyết định miễn là việc thống nhất được thực hiện thông qua biện pháp chính trị. Sau này Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam (kế thừa Việt Nam Cộng hòavà Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam tiến hành thống nhất qua cuộc Tổng tuyển cử năm 1976.
  6. Để bảo đảm và giám sát việc thực hiện hiệp định, một ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế và Ban liên hợp quân sự bốn bên (gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hoa Kỳ, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hoà), Ban liên hợp quân sự hai bên (Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hoà) sẽ được thành lập. Ban liên hợp quân sự bốn bên phối hợp hành động của các bên trong việc thực hiện về việc ngừng bắn, việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam quân đội của Hoa Kỳ và quân đội đồng minh, việc hủy bỏ các căn cứ quân sự của họ…và chấm dứt hoạt động trong thời gian sáu mươi ngày, sau khi Hoa Kỳ và đồng minh rút quân. Ban liên hợp quân sự hai bên có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của hai bên miền Nam Việt Nam về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam (Quân giải phóng Miền Nam, quân lực Việt Nam cộng hòa) sau khi Ban liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình, về việc ngừng bắn giữa hai bên miền Nam Việt Nam, việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam từ khi thực hiện ngừng bắn cho đến ngày thành lập chính phủ mới,…Các bên thỏa thuận về việc triệu tập một Hội nghị quốc tế trong vòng ba mươi ngày kể từ khi ký Hiệp định này để ghi nhận các Hiệp định đã ký kết.
    Cơ chế giám sát này không áp dụng cho điều khoản Hoa Kỳ sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Hoa Kỳ chống lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thực tế là đã có hoạt động của các bên và ủy ban quốc tế nhưng sau hai bên đều tố cáo vi phạm hiệp định.
  7. Các bên tham gia Hội nghị phải triệt để tôn trọng Hiệp định Geneva năm 1954 về Campuchia và Hiệp định Geneva năm 1962 về Lào đã công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân hai nước về độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ các nước đó. Các bên phải tôn trọng nền trung lập của hai nước. Các bên tham gia Hội nghị cam kết không dùng lãnh thổ của hai nước để xâm phạm chủ quyền và an ninh của nhau và của các nước khác. Các nước ngoài sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự ở hai nước, rút hết và không đưa trở lại vào hai nước đó quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh.
    Đây là trói buộc của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đối với các căn cứ và tuyến vận chuyển của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trên đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào và Campuchia, tuy nhiên Mỹ cũng phải rút toàn bộ sự hỗ trợ cho hai chính quyền Mỹ ủng hộ bên Lào và Campuchia. Quy định này không có tính ràng buộc đối với các chính quyền tồn tại ở Lào và Campuchia do họ không tham dự mà chỉ ràng buộc với bốn bên ký kết. Đây là một nhượng bộ của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhưng trên thực tế thì phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa không có cách gì để bắt buộc đối phương thi hành điều khoản này một phần vì ngay tại Lào và Campuchia cũng đang có chiến tranh và không có một chính quyền thống nhất và lập trường thống nhất. Trên thực tế từ cuối năm 1972 chính quyền Pol Pot đã yêu cầu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam phải rút quân và họ đã rút quân khỏi nước này trong năm 1973, và hướng di chuyển quân trên đường Trường Sơn đông. Bên cạnh đó, việc Vương quốc Lào vi phạm lệnh ngừng bắn trong Hiệp ước Viêng-chăn cũng khiến cho Pathet Lào nhận được sự trợ giúp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
  8. Hoa Kỳ sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công việc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và trên toàn Đông Dương, để hàn gắn các thiệt hại do chiến tranh.
    Đây không phải là điều khoản bắt buộc mà mang tính chất khuyến nghị. Điều khoản tái thiết sau chiến tranh, với số tiền lên đến 3,25 tỉ USD được Tổng thống Nixon hứa hẹn trong một bức thư riêng. Kissinger còn trao một bản dự thảo công hàm của Mỹ về xây dựng lại miền Bắc Việt Nam và 1 tháng 2 năm 1973 trao bản chính thức: Viện trợ cho không mỗi năm 650 triệu đôla; viện trợ với điều kiện nhân nhượng: 1 đến 1,5 tỷ đôla Mỹ. Viện trợ không hoàn lại sẽ dùng hình thức công hàm; viện trợ khác dùng bản ghi (note). Khoản viện trợ sau này không được thi hành với lý do Hoa Kỳ đưa ra là vì vấn đề xung đột ở Campuchia và tìm kiếm hài cốt binh sĩ Mỹ mất tích. Tới năm 1978, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam không đòi hỏi điều kiện này nữa để bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, nhưng tới thập niên 1990 Hoa kỳ mới đưa ra xem xét.
  9. Tất cả các bên đồng ý thi hành hiệp định. Và hiệp định được sự bảo trợ của quốc tế thông qua việc các quốc gia ký nghị định thư quốc tế về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam.
    Điều khoản cuối của hiệp định và cũng không có điều khoản cưỡng chế: hiệp định không đưa ra được biện pháp và lực lượng cưỡng chế nếu một bên vi phạm hiệp định.

Như vậy, về mặt quân sự, buộc Mỹ và đồng minh phải rút khỏi miền nam Việt Nam, ngừng tấn công miền Bắc, không có điều khoản về di chuyển đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam, và hai bên miền Nam không thể nhận thêm quân từ nước ngoài (nhưng không ràng buộc với việc Cộng hòa miền Nam Việt Nam nhận hỗ trợ từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), còn Quân giải phóng Miền Nam và quân lực Việt Nam cộng hòa phải rút về quân số và giữ nguyên vị trí, phía Mỹ không được phép viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa cho đến khi tổng tuyển cử được tổ chức. Ban liên hợp quân sự hai bên miền nam có thẩm quyền bảo đảm sự phối hợp hành động của hai bên về việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam, nhưng Ban liên hợp quân sự bốn bên không có thẩm quyền này. Hiệp định cũng quy định bầu cử tự do ở miền nam theo thỏa thuận hai bên miền Nam và sau đó chính quyền mới sẽ hiệp thương với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thống nhất đất nước.

Sau này, có chuyện rằng trong một chuyến đến thăm Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội vào năm 1973, sau khi được nghe người hướng dẫn dịch sang tiếng Anh bài thơ chữ Hán Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt với những câu thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”, Kissinger đã nhận xét: “Đây chính là Điều 1 của Hiệp định Paris”.

Vi phạm Hiệp định

Sau khi lực lượng quân sự Hoa Kỳ rút hết vào cuối tháng 3 năm 1973, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Giải phóng miền Nam và phía Việt Nam Cộng hòa tố cáo nhau vi phạm Hiệp định, tuy nhiên hai bên không có hoạt động quân sự lớn nào trong năm 1973. Việt Nam Cộng hòa đã ráo riết thực hiện Chiến dịch Tràn ngập lãnh thổ từ đêm 24/01/1973 và hàng loạt kế hoạch quân sự trong toàn bộ năm 1973, đầu năm 1974. Đế đáp trả, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Giải phóng miền Nam chuẩn bị cho việc đánh dứt điểm chính quyền Việt Nam Cộng hòa nhưng quá trình chuẩn bị được bắt đầu từ cuối năm 1973 (sau Chiến dịch Tràn ngập lãnh thổ được thực thi). Bên cạnh đó, Việt Nam Cộng hòa cũng đã thực hiện Chiến dịch Lý Thường Kiệt từ năm 1973 để từng bước một loại bỏ các lực lượng của Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam nhưng bất thành.

Chiến dịch Tràn ngập lãnh thổ thậm chí được Việt Nam cộng hòa lên kế hoạch từ năm 1972 để đề phòng khả năng Hiệp định không có lợi cho Việt Nam Cộng hòa. Các Kế hoạch như Hùng Vương, Lý Thường Kiệt (1973-1974) và kế hoạch toàn diện lâu dài (1973-1978) đã được Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đưa ra nhằm nhanh chóng bình định miền Nam Việt Nam, nâng cao khả năng tác chiến của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Tới ngày 18-02-1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu triệu tập phiên họp các tướng lĩnh tại Dinh Độc lập để soát xét việc thực thi Kế hoạch quân sự Lý Thường Kiệt 1975. Theo đó, Quân khu II được nhận định là hướng trọng điểm trong đợt tấn công xuân-hè, trước khi Chiến dịch Tây Nguyên xảy ra.

Về nguyên tắc thì các bên ký kết phải thừa nhận miền Nam Việt Nam tạm thời có hai chính quyền (tuy nhiên không có định nghĩa về hai chính quyền đó), nhưng sẽ nhanh chóng được thay thế bằng một chính quyền mới. Số quân Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trên chiến trường lúc đó, số quân của họ trên đường mòn Hồ Chí Minh, số vũ khí họ mang vào và mang ra là những dữ liệu không thể kiểm chứng được nhưng theo số liệu cung cấp của Hoa Kỳ là 219.000 người (thấp hơn của Quân lực Việt Nam Cộng hòa với 920.000 người). Lượng viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xã hội Chủ nghĩa khác viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn có thể kiểm soát tại các cửa khẩu trên bộ, cảng hàng không và cảng biển (Trong hiệp định không cấm nước ngoài viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà chỉ cấm cung cấp vũ khí cho các bên ở miền Nam Việt Nam). Tương tự, vũ khí Mỹ vào Việt Nam qua các cảng và cầu hàng không cũng dễ dàng được quản lý. Tuy vậy việc Hoa Kỳ tiếp tục cung cấp vũ khí và 23.000 cố vấn quân sự cho Việt Nam Cộng hòa là một sự vi phạm các điều khoản liên quan tới việc cấm Hoa Kỳ can dự vào miền Nam Việt Nam trong Hiệp định Paris và khiến cho phía Việt Nam Cộng hòa có thêm động lực để tiến hành các hoạt động quân sự chống lại Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Bên cạnh đó, điều khoản về ngăn cấm các bên lập căn cứ quân sự trên đất Lào trung lập là nhượng bộ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhưng phía Vương quốc Lào lại vi phạm lệnh ngừng bắn trong Hiệp ước Viêng Chăn, tạo điều kiện để Pathet Lào tương trợ lẫn nhau với Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tại Campuchia, điều tương tự cũng xảy ra khi quân đội của Lon Nol tấn công quân đội của Pol Pot, tuy nhiên, Pol Pot đã không nhận được sự hỗ trợ từ phía Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Việt Nam Cộng hòa

Chính trị

Phía Việt Nam Cộng hòa đã sử dụng bộ máy tuyên truyền của mình để bóp méo diễn biến Hội nghị Paris. Trong câu đầu của Hiệp định “Các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam” được họ giải thích là “chỉ có hai phe tham dự hòa hội Ba Lê (Paris). Một phe là Việt Nam cộng hòa và đồng minh Hoa Kỳ và phe kia là Cộng sản”. Trên thực tế, đây là Hội nghị 04 bên bao gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hòaHoa KỳViệt Nam Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ở Điều 2, câu “việc chấm dứt hoàn toàn chiến sự nói trong điều này là vững chắc và không thời hạn” bị chỉnh sửa như sau: “Bản tiếng Anh dùng chữ “durable and without limit of the time” trong khi đó bản văn tiếng Việt lại dịch là “vững chắc và không thời hạn”“Durable” không có nghĩa là vững chắc, mà chỉ có tính chất lâu dài. Lợi dụng điểm c, điều 3 không quy định cụ thể về lực lượng vũ trang của các bên, chính quyền Sài Gòn đặt “cảnh sát quốc gia” và “nhân dân tự vệ” nằm ngoài phạm vi của hiệp định. Tuy nhiên sau đó, hai lực lượng này trở thành nhân tố chủ yếu hỗ trợ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa tiến hành cuộc chiến tranh “giành dân, lấn đất” với Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Nhằm tránh thực hiện Điều 6 của hiệp định “hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và các nước khác”, quân đội Hoa Kỳ đã tiến hành bàn giao toàn bộ căn cứ, phương tiện chiến tranh cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa trước khi hiệp định được ký kết.

Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã ra “công điện mang tay” mật – thượng khẩn số 5458/TTM/P345 ra lệnh cho các đơn vị cấm “phổ biến các tin tức chiến sự trên báo chí, đài phát thanh hay vô tuyến truyền hình”, trong đó nêu rõ: “Từ nay cấm không được nói rõ số lượng phi xuất, hải xuất, pháo binh yểm trợ… mà phải thay đổi hình thức giải thích đó là các hoạt động có tính cách phản ứng tự vệ”. Điều 4 của Nghị định thư về ngừng bắn ở miền Nam Việt Nam và về các ban liên hợp quân sự, mặc dù Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam nhiều lần đề nghị nhưng chính quyền Sài Gòn vẫn cự tuyệt. Ngày 19/02/1973, Trần Thiện Khiêm, Thủ tướng chính quyền Sài Gòn, ban hành Công văn số 437/PThT/BĐPT/KH “Tuyệt đối không có việc tự động bắt tay giữa các chỉ huy trưởng đơn vị các cấp của ta (Quân lực Việt Nam Cộng hòa) với địch (Quân giải phóng) để chia khu vực và để cho địch tự do di chuyển” .

Tại Hội nghị giữa hai bên miền Nam Việt Nam ở Sài Gòn, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng luôn tìm cách né tránh giải quyết các vấn đề theo đúng tinh thần Hiệp định Paris. Mặc dù thừa nhận Điều 10 của Hiệp định “đặt ra một tiên quyết là phải ngừng bắn trước đã rồi mới thảo luận được vấn đề hòa bình. Chỉ sau ngừng bắn thực sự, hai bên mới có thể thương lượng với nhau về các giải pháp cho các vấn đề tranh chấp” nhưng tại Hội nghị của hai bên miền Nam, khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đưa ra Đề nghị 6 điểm, trong đó đầu tiên là tôn trọng ngừng bắn rồi mới giải quyết các vấn đề khác thì phía chính quyền Nguyễn Văn Thiệu lại đưa ra Đề nghị 5 điểm, trong đó đưa vấn đề tổng tuyển cử lên trước.

Chính Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố:

“Quốc tế bây giờ nói ông Thiệu không thi hành Hiệp định Ba Lê… A lê quốc tế dẹp, chuyện này không phải của mấy người. Tôi biết tôi phải làm cái gì, Hiệp định Ba Lê này mấy ông có đọc chưa, mấy ông thuộc bằng tôi không, mấy ông xen cái lỗ mũi vô trong chuyện của tôi… Ôi đồ ba cái thứ là hội quốc tế này, quốc tế kia đánh điện, tôi xé tôi vứt vào giỏ rác, kể cả Liên Hợp Quốc cũng chẳng làm cái trò trống gì cho nên hình… Đừng nói giải pháp chính trị, giải pháp chính trị rồi đưa tới Cộng sản…Cái hòa bình number one đó là chết, là ở yên trong lòng đất, là cái hòa bình số 1; cái hòa bình thứ 2 là hòa bình dưới chế độ Cộng sản… Hễ nó (quân giải phóng) giỏi nó thắng mình chịu. Mình thắng nó phải chịu. Không có cái chánh phủ liên hiệp tiên quyết… Đi lại chính phủ liên hiệp tiên quyết bây giờ như mấy cha mà đi cổ vũ đó, nói chính phủ liên hiệp, chính phủ liên hiệp thì là trở lại những chuyện mà mình (VNCH) đã đấu tranh mấy năm trời để tránh nó ở trong cái bản hiệp định”…”Sẽ không có tổng tuyển cử, sẽ không có chính phủ liên hiệp, sẽ không có phân chia vùng kiểm soát, sẽ không có lực lượng thứ ba và không có một Chính phủ Cách mạng lâm thời nào

Bên cạnh đó, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu một mặt luôn tuyên truyền khẩu hiệu rằng “Cộng sản Bắc Việt xâm lược miền Nam”, mặt khác lại luôn tuyên bố họ sẽ chủ động tấn công: “Đánh cái thằng Cộng sản phải đánh với thằng Cộng sản cho hữu hiệu, hữu hiệu hơn thằng Cộng sản vì hỏa lực chúng ta (VNCH) hơn thằng Cộng sản”[..“Chúng ta (VNCH) phải có những hành động ngay từ đầu, phải ngăn ngừa cái hành động chuẩn bị tổng phản công của Cộng sản một cách thích đáng”.

Quân sự

Mặc dù trong các ngày 22-1, 17-2, 3-3-1973, chính quyền Việt Nam Cộng hòa có ban hành các công điện, huấn thị về thực thi lệnh ngừng bắn nhưng chỉ trong đêm 27 rạng sáng 28.1, quân đội Sài Gòn đã thực hiện 15 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên, 19 cuộc hành quân cấp tiểu khu và chi khu (theo bản tổng hợp tình hình của Bộ tổng tham mưu sáng 28.1). Trong số này có các cuộc hành quân quan trọng: Đại Bàng (tại vùng Quảng Trị – Thừa Thiên), Lam Sơn (Thừa Thiên), Quang Trung (Quảng Nam), Quyết Thắng 27A (Quảng Tín – Quảng Ngãi), Dakto 15 (Kon Tum)… Tổng kết hoạt động tháng 1, quân đội Sài Gòn đã thực hiện 694 cuộc hành quân cấp tiểu đoàn trở lên, tăng 34% so với tháng 12/1972. Hoạt động của Hải quân và Không quân Việt Nam Cộng hòa được tăng cường mạnh mẽ khi số lượng chuyến hải xuất tăng 9% so với tháng 12/1972. Cường độ hoạt động của không quân tăng 100%. Ngay trong tháng 1-1973, Không lực Việt Nam Cộng hòa đã thành lập thêm 1 phi đội mới với việc tuyển dụng 691 sĩ quan, 2426 Hạ sĩ quan, 1960 lính và nhận thêm 31 phi cơ của Hoa Kỳ. Năng lực tác chiến của lực lượng trọng pháo tăng 100%, của lực lượng tăng-thiết giáp tăng 85%

Để thực hiện Chiến dịch Tràn ngập lãnh thổ, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu giao Bộ Quốc phòng Việt Nam Cộng hòa gấp rút “gọi nhập ngũ hạng tuổi thuộc thành phần học sinh”, Bộ Nội vụ gấp rút nhắc nhở, đôn đốc treo cờ tại những nơi khó gỡ.

Phiếu nghiên cứu của lực lượng an ninh diện địa của Bộ Quốc phòng Việt Nam Cộng hòa ghi rõ:

“Những cuộc hành quân (hành quân sau khi Hiệp định được ký) dù rằng được biện minh chỉ là những cuộc hành quân tự vệ, nhưng vẫn không khỏi mang một tính cách quân sự quá lộ liễu không hợp tình và hợp lý với dư luận quốc tế…Ta vận dụng hình thức chính quy chiến, trận địa chiến… quân số của ta được duy trì ở mức 1.100.000 người”

Chiến dịch Tràn ngập lãnh thổ được lên kế hoạch từ năm 1972, trong đó phải gây tổn thất tối đa cho phía Quân Giải phóng, lực lượng Cảnh sát Quốc gia Việt Nam Cộng hòa đóng vai trò then chốt trong việc tìm kiếm mục tiêu để Quân lực Việt Nam Cộng hòa tấn công. Ngay trong đêm ký Hiệp định, phía Việt Nam Cộng hòa đã tổ chức 74 cuộc hành quân, trong đó 44 ở Quân khu 1, 10 ở Quân khu 2 và 20 ở Quân khu 3

Đặc biệt, lúc 07h58′ ngày 28/01/1973, 2 phút trước khi Hiệp định Paris có hiệu lực, Quân lực Việt Nam Cộng hòa sử dụng lực lượng biệt kích và xe tăng tấn công căn cứ Cửa Việt của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam Đây là cuộc tấn công “Tràn ngập lãnh thổ” lớn nhất của Việt Nam Cộng hòa, diễn ra ở phía bắc tỉnh Quảng Trị, nhằm đánh chiếm một vị trí quan trọng là cảng Cửa Việt. Ngày 21/1/1973, tướng Abrams, tướng Heige và tướng Ngô Quang Trưởng ra lệnh tiến hành Chiến dịch Tangocyti (tên gọi trận tấn công Cửa Việt của QLVNCH do các cố vấn Hoa Kỳ đặt). Đêm 25/1/1973, các tiểu đoàn 9 (lữ đoàn đặc nhiệm), 3 (lữ đoàn 258), lữ 147 và hơn 140 xe tăng nổ súng tấn công. Không lực Hoa Kỳ điều động 80 phi vụ B-52, pháo binh từ hạm đội 7 và 4 tiểu đoàn pháo ở thị xã Quảng Trị bắn hơn 60.000 viên đạn pháo yểm hộ cho quân Việt Nam Cộng hòa. 23 giờ ngày 27/1/1973, lữ đoàn đặc nhiệm đã tiếp cận cảng Cửa Việt. Đến 1 giờ ngày 28/1/1973, Bộ tư lệnh B5 quân Giải phóng biết tin và điều trung đoàn 101 và 5 xe tăng đánh vào sườn Lữ đoàn đặc nhiệm, bắn cháy 8 xe tăng đối phương nhưng không ngăn được đối phương tiến về cảng Cửa Việt. Rạng sáng ngày 28/1/1973, Bộ tư lệnh B5 tiếp tục điều 5 tiểu đoàn chi viện cho các lực lượng giữ Cửa Việt, đến trưa thì điều tiếp Trung đoàn 24 (sư đoàn 304) và 1 đại đội xe tăng (thuộc trung đoàn 203) tấn công phía sau cánh quân của đối phương. Rạng sáng 31/1/1973, quân Giải phóng tổ chức tổng công kích đồng loạt, ba cụm quân Việt Nam Cộng hòa ở cảng bị diệt, hai cụm quân còn lại chạy về Mỹ Thủy. Cuộc hành quân Tangocyti của Mỹ – Việt Nam Cộng hòa đã thất bại.

Ngày 12/10/1973, tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã đề nghị Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu yêu cầu Hoa Kỳ hỗ trợ về không quân trong các cuộc hành quân thuộc Chiến dịch Tràn ngập lãnh thổ.

Trong năm 1973, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng đã đưa ra Kế hoạch Quốc phòng 4 năm (1974-1978), trong đó nêu rõ Tiêu diệt hạ tầng cơ sở của địch (Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam) ở nông thôn, lực lượng lục quân có 14.000 người/sư đoàn gồm biệt động quân, nhảy dù, thủy quân lục chiến,

Đầu năm 1974, Quân lực Việt Nam Cộng hòa tiếp tục có những đợt tấn công nhằm vào lực lượng đối phương tại các khu vực trọng điểm như tại Quân khu 5Kon TumPleiku, xung quanh Sài Gòn,…

Hoa Kỳ

Để tiếp tục giữ thế cân bằng chiến lược với Liên Xô, Mỹ vẫn tiếp tục can dự vào nội bộ miền Nam Việt Nam dưới nhiều hình thức khác nhau. Mỹ thực hiện 03 giải pháp gồm:
1. Tiếp tục viện trợ quân sự, kinh tế và cố vấn cho Việt Nam Cộng hòa thực hiện kế hoạch 05 năm xây dựng và củng cố Quân lực Việt Nam Cộng hòa nhằm thực hiện bình định, phá thế “da báo”, mở rộng vùng kiểm soát, trọng điểm là vùng Đồng bằng Sông Cửu Long;
2. Rút quân nhưng để lại vũ khí, khí tài và nhiều nhân viên quân sự trá hình;
3. Lôi kéo các quốc gia tại Châu Á chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam, gây sức ép buộc Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xã hội chủ nghĩa khác giảm viện trợ

Nền tảng để Mỹ tiếp tục can dự vào miền Nam Việt Nam bao gồm 4 trụ cột:

  1. Lực lượng Quân lực Việt Nam Cộng hòa còn mạnh và vẫn được tiếp tục củng cố. Trên thực tế, quân số và vũ khí Việt Nam Cộng hòa (920.000 người) vẫn vượt trội hơn hẳn so với Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (219.000 người).
  2. Sức mạnh răn đe của Mỹ ở Đông Á và Đông Nam Á vẫn còn khi Hạm đội 7, Hải quân Hoa Kỳ và các căn cứ tại Thái Lan, Hàn Quốc, Philippines vẫn còn 56 tàu chiến và 1.020 máy bay chiến đấu các loại.
  3. Mỹ vẫn tiếp tục rót viện trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam Cộng hòa. Tổng viện trợ của Mỹ dành cho Việt Nam Cộng hòa trong năm tài khóa 1974 là hơn 657 triệu USD, con số này gần gấp đôi tổng viện trợ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhận được từ Liên Xô trong cả hai năm 1973-1974.
  4. Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xã hội chủ nghĩa khác bắt đầu giảm, thậm chí ngừng viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tiêu biểu, sau Thông cáo Thượng hải 1972 giữa Hoa Kỳ và Cộng hòa Nhân dân Trung HoaCộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng giảm đáng kể lượng viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòaLiên Xô cũng chủ trương không viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam những vũ khí hiện đại hơn như xe tăng T-62, tên lửa phòng không S-125 Neva/Pechora, tiêm kích MiG-23 song song với việc giảm số lượng viện trợ đối với những loại vũ khí Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đang sở hữu xuống chỉ còn một nửa, thậm chí một phần ba. Theo thống kê của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong 2 năm 1973-1974, tổng cộng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhận được 114.532 tấn viện trợ quân sự, trị giá 339.355.353 rúp (~330 triệu USD), chỉ bằng 19% so với 2 năm 1971-1972.

Mục đích của Mỹ tại Việt Nam là từng bước làm Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam suy yếu từ đó xóa bỏ thực trạng 02 chính quyền, 02 quân đội, 03 lực lượng chính trị tại miền Nam Việt Nam và biến miền Nam Việt Nam thực sự trở thành 01 quốc gia tách biệt hoàn toàn với miền Bắc Việt Nam như thực trạng trên bán đảo Triều Tiên. Mỹ sử dụng lực lượng quân sự tại các căn cứ tại Châu Á để răn đe Quân Giải phóng cũng như lấy việc giảm quân số tại đây để tiến hành mặc cả, ép Liên Xô và Trung Quốc giảm viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quân số của Mỹ tại Thái Lan ở mức 35.000 người, có 2 tướng, chủ yếu là không quân sẵn sàng can thiệp vào chiến trường Việt Nam bất cứ lúc nào

Tới đầu năm 1973, số lượng viện trợ của Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa vẫn rất cao bao gồm 700 máy bay, 500 đại bác, 400 xe tăng và xe bọc thép, 2 triệu tấn vật chất phục vụ chiến tranh. Trong năm 1974, chính quyền Ford vẫn đề nghị Quốc hội Hoa Kỳ cung cấp 6 tỷ 200 triệu USD để viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa. Từ sau khi Hiệp định được ký tới tháng 4/1974, Mỹ đã viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa 27 triệu viên đạn cỡ 7,62x51mm, 112.000 tên lửa và rốc-két các loại (chủ yếu là không đối đất và chống tăng) và 80.000 quả bom các loại.

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam

Do phía Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ liên tục có các hành động vũ trang nhằm lấn đất, chiếm dân, đặc biệt là các Chiến dịch Tràn ngập lãnh thổ, từ chối ngừng bắn của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên bố họ buộc phải có những hành động vũ trang mang tính phản kháng nhằm buộc chính quyền Sài Gòn thực thi nghiêm chỉnh Hiệp định. Trong tuyên bố ngày 25-02-1973 của Cộng hòa miền Nam Việt Nam, trong giai đoạn 28-01 đến 24-2, phía Việt Nam Cộng hòa đã vi phạm Hiệp định khi tiến hành hơn 12.000 cuộc tấn công quân sự vào vùng giải phóng, gây ra hơn 67.000 vụ nổ súng.

Ngày 16-4-1973, Bộ Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi Công hàm tới Bộ Ngoại giao các nước ký Định ước Pari về Việt Nam và Tổng Thư ký Liên hợp quốc Cuốc-va-hem nêu ba vấn đề cấp bách là: ngừng bắn, thực hiện các quyền tự do dân chủ và thả tù chính trị ở miền Nam. Đây là những vấn đề Mỹ và Việt Nam Cộng hòa liên tục vi phạm. Tháng 10-1973, Hội nghị 21 Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt nam họp đợt hai, tiếp tục khẳng định con đường bạo lực cách mạng; chủ trương đẩy mạnh cuộc đấu tranh trên ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao; tận dụng các diễn đàn đấu tranh ngoại giao buộc đối phương phải thi hành Hiệp định Pari; đồng thời chủ động chuẩn bị sẵn sàng cho trường hợp phải tiến hành chiến tranh cách mạng trên khắp chiến trường miền Nam để giành thắng lợi hoàn toàn. Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chủ trương:

“Nắm vững pháp lý của Hiệp định Pari về Việt Nam, giương cao ngọn cờ hoà bình và lập trường chính nghĩa của ta, kiên quyết và kịp thời vạch trần trước dư luận trong nước và dư luận thế giới mọi âm mưu và hành động của địch vi phạm Hiệp định. Ra sức tranh thủ lực lượng Việt kiều ở nước ngoài tán thành và ủng hộ giải pháp của ta; tranh thủ dư luận quốc tế đồng tình, ủng hộ ta, lên án và gây sức ép đối với Mỹ và chính quyền Sài Gòn, ngăn chặn những âm mưu và hành động ngang ngược của chúng”

Ngày 15-10-1973, Bộ Chỉ huy các lực lượng vũ trang Giải phóng miền Nam ra lệnh:

Kiên quyết giáng trả các hành động chiến tranh của chính quyền Sài Gòn, bất cứ ở đâu bằng các hình thức và lực lượng thích hợp.

Tháng 1-1974, Bộ Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công bố cuốn Sách Trắng “Một năm thi hành Hiệp định Pari”, tố cáo Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam Cộng hoà phá hoại có hệ thống Hiệp định, nêu cao thiện chí và quyết tâm của nhân dân Việt Nam, làm rõ trước dư luận thế giới tình hình thực tế ở Việt Nam sau Hiệp định Pari do chính sách can thiệp của Hoa Kỳ và âm mưu kéo dài chiến tranh của chính quyền Việt Nam Cộng hoà.

Trưởng phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Nguyễn Văn Hiếu, đã gay gắt lên án chính quyền Nguyễn Văn Thiệu:

“Các ông (chính quyền Nguyễn Văn Thiệu) tìm cách phá hoại cái ngừng bắn đó (ngừng bắn theo Hiệp định) mà rõ ràng ý đồ của phía các ông mà theo chúng tôi biết được ở tại chiến trường là tìm cách xóa bỏ những cái vùng của chúng tôi mà người ta thường gọi là những cái da báo ở trong vùng các ông, các ông tìm cách lấn chiếm những cái vùng đó rồi ngay cả những cái vùng giải phóng lớn của chúng tôi các ông cũng tìm cách lấn chiếm mà có những cái cuộc hành quân như thế là sư đoàn, hàng sư đoàn. Cái chuyện này là không thể chối cãi được. Thế thì chúng tôi cho rằng về phía các ông thì rõ ràng là chưa muốn tái lập hòa bình, chưa muốn chấm dứt chiến sự. Cho nên do đó mà chúng tôi thấy rằng bây giờ phải làm thế nào để tái lập hòa bình và chúng tôi đã đề những cái biện pháp hết sức là cụ thể mà tiến tới tái lập được cái hòa bình đó”

Ngày 23-04-174, Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố:

Mỹ vẫn dính líu và can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam, đã ào ạt trái phép đưa vũ khí và dụng cụ chiến tranh vào miền Nam Việt Nam, để lại và tăng thêm nhân viên quân sự đội lốt dân sự, tăng cường viện trợ cho chính quyền Sài Gòn, ra sức dùng chính quyền Sài Gòn làm công cụ áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, chia cắt Việt Nam lâu dài. Với vũ khí dollar và cố vấn quân sự Mỹ, chính quyền Sài Gòn tiếp tục tiến hành chiến tranh, liên tiếp mở rộng các cuộc hành quân lấn chiếm, mém bom phá vùng giải phóng, đẩy mạnh hoạt động cảnh sát, bình định, tăng cường kềm kẹp khủng bố, ráo riết đôn dân bắt linh, vơ vét lúa lạo và tài sản khác của đồng bào. Đó là nguyên nhân gây nên mọi khổ đau tai họa cho đồng bào miền Nam ngày nay.Thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Paris về Việt Nam đã nhiều lần đưa ra tại Liên hiệp quân sự và Hội nghị hiệp thương giữa 2 bên Miền Nam Việt Nam những đề nghị hợp tình hợp lý nhằm giải quyết đúng đắn các vấn đề nội bộ cua miền Nam Việt Nam thực hiện quyền tự quyết thực sự của nhân dân miền Nam Việt Nam, nhưng phía chính quyền Sài Gòn đã không chịu thương lượng nghiêm chỉnh, đã dùng bàn đàm phán để hòng che đậy càc hành động chiến tranh và mưu đồ xóa bỏ thực tế ở miền Nam Việt Nam có 2 chính quyền, 2 quân đội, 2 vùng kiểm soát và 3 lực lượng chính trị.Một năm qua, phát huy thắng lợi vĩ đại, trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, đồng bào miền Nam ta đã giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập dân chủ và hòa hợp dân tộc kiên quyết đấu tranh và làm thất bại một bước quan trọng âm mưu và hành động của Mỹ và chính quyền Sài Gòn vi phạm Hiệp định, phá hoại hòa bình. Vùng giải phóng cơ bản được giữ vững; lực lượng Võ trang nhân dân giải phóng, và chính quyền cách mạng không ngừng được củng cố, Cuộc đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, kể cả của lực lượng chính trị thứ 3 trong vùng chính quyền Sài Gòn kiểm soát đòi hòa bình thi hành Hiệp định Paris về Việt Nam, đòi dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa hợp dân tộc không ngừng phát triển. Trái với ý đồ đen tối và thái độ xảo quyệt của Mỹ và chính quyền Sài Gòn vẫn ngoan cố vi phạm Hiệp định, phá hoại hòa bình, tình hình ở miền Nam Việt Nam ngày càng rất nghiêm trọng. 18 năm chiến tranh tàn khốc của Mỹ đã gây ra biết bao đau thương tang tóc và hận thù cho đồng bào ta. Một năm qua những tội ác mới của Mỹ và chính quyền Sài Gòn càng làm cho nỗi đau khổ đó thêm chồng chất, cho nên lúc này hơn lúc nào hết đồng bào miền Nam ta rất thiết tha với hòa bình và hòa hợp dân tộc và kiên quyết đấu tranh đòi thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Paris về Việt Nam. Để đáp ứng nguyện vọng bức thiết ấy của các tầng lớp nhân dân ta, theo đúng tinh thần và lời văn của Hiệp định Paris về Việt Nam và Thông cáo chung ngày 13-6-1973 trên cơ sở đề nghị 6 điểm ngày 25-4-1973, được nói rõ thêm ngày 28-6-1973, long trọng tuyên bố về việc thực hiện hòa bình, hòa hợp dân tộc ở miền Nam Việt Nam.”

Tác động đối với các bên tham gia và kết quả

Phái đoàn quân sự Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham gia cuộc họp đầu tiên của Ủy ban liên hiệp quân sự 4 bên tại Trại Davis – Tân Sơn Nhất ngày 2 tháng 2 năm 1973

Theo Đại sứ Dương Văn Quảng, giám đốc Học viện Ngoại giao, việc ký Hiệp định Paris chứng tỏ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam đi đến thắng lợi từng bước và theo một cách đầy chiến lược. Đây là tiền đề để đi đến chiến thắng cuối cùng. Bên cạnh đó, đây cũng là một chiến thắng của ngoại giao nhân Việt Nam khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã huy động được sự ủng hộ của dư luận quốc tế. Tuy nhiên, việc Hoa Kỳ-Trung Quốc thông qua Thông cáo Thượng Hải 1972 đã gây ra nhiều cản trở đối với tiến trình hòa bình, thống nhất của Việt Nam.

Đối với Việt Nam Cộng hòa thì hiệp định này là một tai ương lớn đối với họ mặc dù họ tham gia ký kết và đặt sự tồn tại của Việt Nam Cộng hòa trước một nguy hiểm trong một tương lai gần. Hiệp định này đã buộc Hoa Kỳ phải rút toàn bộ lực lượng quân sự của mình khỏi Việt Nam và Đông Dương. Diều này đã khiến Việt Nam Cộng hòa mất đi chỗ dựa chính và lún sâu vào khủng hoảng nhanh hơn. Để trấn an Việt Nam Cộng hòa, Tổng thống Nixon đã hứa với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là trong trường hợp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phát động chiến tranh tiêu diệt Việt Nam Cộng hòa thì Hoa Kỳ sẽ phản ứng bằng cách thích hợp để bảo đảm an ninh cho Việt Nam Cộng hòa. Lời hứa này sẽ không có giá trị thực tế vì sau đó Quốc hội Hoa Kỳ đã ra nghị quyết không cho phép đưa lực lượng vũ trang trở lại Đông Dương mà không được phép của Quốc hội và quy định khuôn khổ viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa. Với các áp đặt như vậy thì dù không có sự kiện Watergate, dù Tổng thống Nixon có tại vị thì cũng không thể giữ lời hứa một cách hữu hiệu được.

Đối với người Mỹ họ thực sự muốn đóng lại cuộc chiến, quên nó đi và mở sang một trang sử mới. Bên cạnh đó, cam kết bí mật của Tổng thống Richard Nixon rằng sức mạnh không quân Mỹ sẽ trở lại cuộc chiến nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa quân trở lại miền Nam, cam kết mà Quốc hội Mỹ không hề hay biết và rất có thể sẽ phản đối nếu xảy ra. Đối với quân đội Hoa Kỳ, đây là cách họ ra khỏi cuộc chiến này một cách chính đáng.

Điều khoản uỷ ban kiểm soát và giám sát quốc tế cũng chỉ là hình thức vì quyền lực của uỷ ban này chỉ có cơ chế giám sát, khuyến nghị, báo cáo kết quả các cuộc điều tra là chủ yếu.

Nói chung hiệp định này chỉ được thi hành nghiêm chỉnh ở những điều khoản rút quân Mỹ (cùng các đồng minh khác) và trao trả tù binh Mỹ, thống nhất Việt Nam thông qua phương thức chính trị. Hoa Kỳ thực sự muốn rút quân đội khỏi cuộc chiến và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng tạo điều kiện cho việc đó.

Để hoàn thành nốt các điều khoản trong Hiệp định Paris liên quan đến Tổng tuyển cử, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam tiến hành cuộc Tổng tuyển cử năm 1976 để thống nhất thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Nhận xét

  • Nhà sử học cánh tả Gabriel Kolko, tác giả cuốn “Anatomy of a War: Vietnam, the US and the Modern Historical Experience” nhận định:
Những người Cộng sản đã kiệt lực, tụt xa về số lượng và trang thiết bị so với lực lượng của ông Thiệu, vốn được nhận dòng cung ứng khổng lồ các thiết bị quân sự từ Hoa Kỳ mà rất nhiều trong số đó họ không thể duy trì hoặc vận hành. Những vũ khí mới này không chỉ vi phạm Hiệp định Paris mà chúng còn khuyến khích ông Thiệu có hành động liều lĩnh về quân sự mà cuối cùng đã khiến ông ta thua trận. Thật vậy, thực tế này đã khiến một số người trong quân đội Mỹ kết luận rằng cung cấp thêm vũ khí cho chế độ Sài Gòn là một sự lãng phí tiền bạc (mà nó được chứng minh)…Một đợt vũ khí, và khoảng 23.000 cố vấn Mỹ và nước ngoài tới dạy cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cách sử dụng và duy trì những vũ khí đó đã khiến ông Thiệu thêm tự tin, và ngày càng tự tin hơn nhờ cam kết bí mật của Nixon rằng không lực Mỹ có thể trở lại tham gia cuộc chiến nếu phía VNDCCH đưa quân trở lại vào miền Nam… Ông Thiệu dùng thời gian ngưng nghỉ mà Hiệp định Paris đem lại để cố gắng củng cố quyền lực của mình và khiến các đồng minh của ông trở nên xa lánh: nhiều người đã trở thành trung lập. Ông Thiệu, trong khi đó, sử dụng nguồn cung ứng dồi dào về vũ khí mà Mỹ đã gửi cho ông, đặc biệt là pháo, và đến năm 1974, các cuộc pháo kích được tiếp tục với quy mô tổng lực (nhưng mà không có sự tham gia của lực lượng Mỹ), với việc Quân Lực VNCH bắn một lượng lớn hơn nhiều so với phía những người Cộng sản… ông tưởng rằng sức mạnh vượt trội về vũ khí sẽ cho phép ông hoàn toàn giành chiến thắng. Ông đã rất sai lầm, và kết cục là phải sống lưu vong khi quân đội của ông tan rã vào mùa xuân năm 1975.
  • Nguyễn Tiến Hưng, Bộ trưởng Kinh tế Việt Nam Cộng hoà nhận xét về sự cưỡng ép của Mỹ để buộc Việt Nam Cộng hoà phải ký hiệp định:
Về sau này tôi mới biết là vào thời điểm đó thì, trong màn bí mật, ông Kissinger đã sắp xếp gần xong mọi chuyện rồi. Vì sắp xếp như vậy không bao giờ ông ta hỏi ý kiến của Việt Nam Cộng hoà một cách thực lòng về những điểm quan trọng. Kissinger nhất định làm một mình, và làm ở Paris. Cho đến thời điểm cuối cùng trước khi Việt Nam Cộng hoà sụp đổ, ngày 26 tháng 4/1975, Kissinger còn đánh điện cho Đại sứ Martin nói là “Bất cứ điều đình nào cũng phải là giữa Hoa Kỳ và phía Bắc Việt Nam chứ không phải giữa Sài Gòn và Hà Nội’’. Ông còn thêm rằng “bất cứ cuộc thảo luận nào cũng phải được diễn ra tại Paris’’
  • Tác giả cuốn “A Bitter Peace: Washington, Hanoi, and the Making of the Paris Agreement”, Pierre Asselin, phó giáo sư lịch sử ở Đại học Hawaii Pacific cho rằng:
Hà Nội chiến thắng cuộc chiến Việt Nam, đó là điều chắc chắn, tuy nhiên họ cũng không thắng dựa trên các điều khoản của mình, là thắng một cách vô điều kiện. Việc vi phạm Hiệp định Paris, điều mà phía Mỹ ít nhất đã cố gắng tôn trọng ở mức độ không đưa quân trở lại miền Nam, đã phá vỡ hình ảnh nạn nhân của chiến tranh chỉ muốn độc lập và hòa bình mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã dựng lên hơn một thập kỷ qua. Điều đó, cùng với những tình huống khác, đã làm giảm sự đáng tin của Hà Nội trong mắt thế giới, và một phần nào đó giải thích tại sao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam lại bị quốc tế bỏ rơi hồi năm 1980. Hiệp định Paris không phải là một “thắng lợi vĩ đại” của Hà Nội; nó là một sự hòa bình cay đắng và cần thiết để tạo những điều kiện dẫn đến chiến thắng nhanh chóng nhưng đầy rắc rối năm 1975.
  • Bà Hélene Luc, Chủ tịch danh dự Hội hữu nghị Pháp – Việt, đánh giá về những giá trị của Hiệp định Paris đối với Việt Nam:
Chiến thắng đó là nhờ lòng dũng cảm của nhân dân Việt Nam, cùng sự thống nhất, đoàn kết quốc tế và nhất là sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước. Thành phố Choisy-le-Roi có vinh hạnh đón đoàn Việt Nam, nhiệm vụ của chúng tôi là làm cho thế giới thấy rằng xung quanh phái đoàn Việt Nam là tình thương yêu, tình đoàn kết quốc tế, Việt Nam không cô đơn. Là những người yêu chuộng hòa bình từ mọi nơi trên thế giới, chúng tôi rút ra những bài học kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, rằng các dân tộc bị áp bức và chiếm đóng có quyền kháng cự và đấu tranh vì tự do và quyền quyết định vận mệnh của mình không có bất kỳ sự can thiệp nào của nước ngoài. Bảo vệ chính các giá trị và nguyên tắc mà chúng tôi từng bảo vệ trong thời gian chiến tranh Việt Nam, chúng tôi tuyên bố đoàn kết với các dân tộc đang đấu tranh cho một thế giới hòa bình và một xã hội công bằng.Từ Việt Nam, quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi bày tỏ niềm tin tưởng rằng tấm gương Việt Nam sẽ cổ vũ các dân tộc trên thế giới đến thắng lợi cuối cùng.
  • Trong Lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định:

{{cquote|…Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao nước ta ở thế kỷ 20; đánh dấu thắng lợi lịch sử của nhân dân ta sau hơn 19 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao chống Mỹ xâm lược.

Cuộc chiến đấu trường kỳ, gian khổ của quân, dân ta trên chiến trường và cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris đều nhằm mục tiêu là buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Biết bao đồng bào, đồng chí và chiến sĩ, những người con ưu tú của Tổ quốc đã hy sinh xương máu vì mục tiêu thiêng liêng ấy. Ký kết Hiệp định Paris, Mỹ đã phải công nhận nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, phải chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam; nhân dân ta đã thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút” mà Bác Hồ kính yêu đã chỉ ra trước lúc Người đi xa. Hiệp định đã mở ra một cục diện mới với thế mạnh áp đảo của ta trên chiến trường, tạo tiền đề vững chắc cho quân và dân ta tiến lên “đánh cho ngụy nhào” với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Hiệp định Paris cũng là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, những người đã đồng hành ủng hộ, giúp đỡ nhân dân ta trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ, dõi theo từng diễn biến trên chiến trường cũng như trên bàn đàm phán tại Paris. Hiệp định Paris là sự minh chứng hùng hồn cho chân lý “đại nghĩa thắng hung tàn, chí nhân thay cường bạo”, củng cố niềm tin của nhân dân yêu chuộng hòa bình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa. Vì vậy, Hiệp định Paris đã đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do, vì hòa bình và công lý. Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam cũng mở ra một giai đoạn mới ở khu vực Đông Nam Á, giai đoạn các nước Đông Nam Á hòa bình, ổn định, khép lại quá khứ thù địch, xích lại gần nhau để sum họp trong cộng đồng ASEAN ngày nay…

Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Thắng lợi đó, trước hết bắt nguồn từ thắng lợi của cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng với những nỗ lực phi thường, quyết tâm chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do, thống nhất đất nước của quân và dân ta trên các chiến trường, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán, phải xuống thang và cuối cùng phải ký Hiệp định Paris. Thắng lợi này mang đậm dấu ấn và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh; có sự đóng góp từ những nỗ lực hết mình của các cán bộ, chiến sĩ trên mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước mà trực tiếp là cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, cuộc đấu trí thể hiện bản lĩnh kiên cường, thông minh, sáng tạo của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam với một nền ngoại giao nhà nghề, sừng sỏ. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Paris đã phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận chính trị, quân sự; phát huy thắng lợi trên các chiến trường, giữ vững thế chủ động trong đàm phán, liên tục tiến công.

  • Phó chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Ngoại trưởng Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình nhấn mạnh:
Chúng tôi đã thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, trong đấu tranh luôn luôn giữ vững lập trường, nguyên tắc, trong từng bước đi cụ thể, biết mềm dẻo và linh hoạt – tất cả là nhằm thực hiện mục tiêu cuối cùng: Mỹ phải rút đi hoàn toàn, quân ta vẫn ở tại chỗ, các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam phải được đảm bảo, Việt Nam là của người Việt Nam. Ở đây, cuộc chiến đấu không dùng súng đạn nhưng bằng đấu trí, đấu lý và cả ý chí, cũng vô cùng khó khăn và gian khổ. Các cuộc họp đàm phán bí mật là những trận chiến đấu hết sức quyết liệt. Động lực chính giúp chúng tôi kiên trì đấu tranh và hoạt động tích cực, đó là vì lợi ích tối cao của dân tộc, là niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Đối với đàm phán Hiệp định Paris, vấn đề Mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam thì Mỹ phải chấm dứt xâm lược là nguyên tắc bất biến. Theo đó, Mỹ phải rút quân ra khỏi Việt Nam không điều kiện, để đảm bảo cho độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Dĩ bất biến tức là chúng ta luôn giữ nguyên lập trường đó. Còn “ứng vạn biến” là phải tuỳ thuộc tình hình. Lúc đầu chúng ta nêu ra là phải giải quyết vấn đề quân sự, đồng thời giải quyết vấn đề về chính trị. Nhưng tới một lúc nào đó chúng ta thấy rằng, vị thế của chúng ta trên chiến trường thuận lợi, thì chúng ta có thể đi thêm nhiều bước khác. Đó chính là ứng vạn biến.
  • Ông Trịnh Ngọc Thái, thành viên đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Paris, cho biết:
Cuộc đàm phán Paris về Việt Nam đã trở thành trung tâm chú ý của dư luận thế giới vì cuộc đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là tâm điểm của những mâu thuẫn cơ bản của thời đại lúc bấy giờ. Việc ký kết Hiệp định là sự tháo nút cho cuộc chiến tranh ác liệt và lâu dài nhất trên thế giới sau chiến tranh thế giới lần thứ hai…Đàm phán Paris được đánh giá là cuộc đấu trí căng thẳng giữa 2 nền ngoại giao. Đó là nền ngoại giao trên thế mạnh của Mỹ và nền ngoại giao nhân văn của Việt Nam.[68]

Các nhân vật đại diện chính thức cho các bên ký kết

Các nhân vật chủ chốt tham gia đàm phán
Nguồn tham khảo

Tiếng Anh:

Tiếng Việt:

  • Toàn văn Hiệp định Paris 1973 [1] Nguồn: Bộ Ngoại giao Việt Nam.
  • Sách: Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn gồm 2 tập, Tập 1: Đánh và đàm; Tập 2: Ký kết và thực thi, Nhà xuất bản Sự thật

Diện mạo mới của cổng Ngọ Môn ở Đại Nội Huế Huế sau khi được lột bỏ “bụi thời gian”

Sau khi các vết bẩn, rêu mốc được làm sạch bằng công nghệ hơi nước nóng của Đức, cổng Ngọ Môn của Đại Nội Huế đã lấy lại được màu sắc nguyên thủy gần như 186 năm trước, khiến đa số người dân và du khách thích thú.
https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/b058200a443e01104aab57e2a6fe6d80.jpg

Clip: Người dân và du khách nói gì về “tấm áo mới” của Cổng Ngọ Môn – Đại Nội Huế, được làm sạch bằng công nghệ hơi nước nóng. Thực hiện: Hà Nam

Những ngày này, đến tham quan Đại Nội Huế, nhiều người dân và du khách không khỏi ngỡ ngàng khi tận mắt chứng kiến di tích cổng Ngọ Môn Huế khoác lên mình một “chiếc áo mới”.

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/d17b11d22330359d2c817b771dd87b25.jpg

Cổng Ngọ Môn được xây dựng tại Kinh thành Huế vào năm 1833, dưới thời vua Minh Mạng thứ 14 với tường cơ sở kiểu pháo đài được làm bằng gạch và đá vôi. Trải qua 186 năm tồn tại, di tích này đang trong tình trạng tổn hại do các chất bẩn, ô nhiễm từ sự phát triển sinh học của tảo, rêu mốc, làm mất vẻ mỹ quan di tích.

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/b43836934796735bce5d3988294d07b6.jpg

Theo đó, các chuyên gia đến từ Đức đã sử dụng công nghệ Hơi nước nóng (steam cleaning) bằng cách sử dụng 1 đầu phun đặc biệt để tạo ra áp lực hơi nước 0.5-1 bar lên bề mặt đá vôi.

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/de08a2c5b3e16a7b8d53ade2627be173.jpg

Hệ thống gia nhiệt có thể tạo ra hơi nước với nhiệt độ tối đa khoảng 100°C, (nhiệt độ bình 155°C) để loại bỏ hoàn toàn các loại chất bẩn/ ô nhiễm sinh học cũng như tiêu diệt chất bẩn ở dưới bề mặt, cư trú sâu hơn bên trong các lỗ đá nhờ vào nhiệt độ cao của nước nóng.

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/d4c3a36d8285d7447ea5eb752ac9f1a1.jpg

Tính đến nay, đã có hơn 100 dự án trên toàn thế giới được làm sạch được làm sạch bằng công nghệ Hơi nước nóng. Trong đó tiêu biểu là dự án làm sạch tượng Chúa Cứu Thế tại Rio De Janeiro, Brazil, Núi Rushmore – Khu tưởng niệm quốc gia, Mỹ, Hàng cột trên Quảng trường St Peter-Thành phố Vatican, cầu Nihonbashi, Nhật Bản…

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/7e6141ce0047bae87c18edff83f2f171.jpg

Công trình Ngọ Môn như vừa được”vén màu thời gian” để trả lại màu sắc gần như ban đầu của di tích được xây dựng từ 186 năm trước này.

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/128ae508b4b53b2d4bc83765ebfa2753.jpg

Ông Võ Lê Nhật – Giám đốc Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế, cho biết bề mặt tường của cổng Ngọ Môn đã “trở nên sáng bóng khi được rửa sạch lớp rêu mốc bám nhiều năm. Phương pháp này giúp mở ra một hướng mới trong việc bảo tồn và gìn giữ các kiến trúc di sản triều Nguyễn được “lâu bền hơn”.

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/7ccac9c9100e8a48bcaf698c8d7f4d86.jpg

Sau khi được làm sạch bằng công nghệ nước nóng của Đức, cổng Ngọ Môn đã khoác lên mình 1 diện mạo mới. Bề mặt tường được làm sạch nhưng vẫn giữ được độ chắc chắn, sáng rõ và không bị bào mòn.

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/eba035d917e1500e6e861b92177e4e81.jpg
https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/0e21563cfb305a0a6cb57dda3a414c30.jpg
https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/0fd7d97fa6a28e4097abe0f4edeedcfe.jpg

Hoa văn phù điêu trang trí đã được làm sạch

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/d737933d50e318cc070c1b1e95584bef.jpg

Được biết, Dự án làm sạch Cổng Ngọ Môn do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và Karcher – nhà cung cấp hàng đầu thế giới về công nghệ làm sạch, phối hợp thực hiện trong vòng 15 ngày.

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/6158e908d758526667767e67df79800d.jpg

Nhiều du khách thích thú chụp ảnh tại cổng Ngọ Môn vừa được làm sạch.

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/298e28f8f77222b96ceef9f0ea76b452.jpg
https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/07e9e3e23b2b31a38a1aecb55112fd6c.jpg

Sự tương phản và khác biệt rõ ràng sau khi sử dụng công nghệ steam cleaning để làm sạch lớp rêu mốc với bức cùng góc phía trên.

https://media.tinmoi24.vn/2019/4/27/7/54a8a93d5c8aa9823b27eb6bfbafed32.jpg

Cổng Ngọ Môn Huế rực rỡ về đêm khi được lột bỏ “bụi thời gian”

Hội Liên Hiệp Quốc Dân Việt Nam (Liên Việt)

Ngày 28/5/1946, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam gọi tắt là Liên Việt được thành lập để mở rộng khối đoàn kết toàn dân, bắt tay với các đảng phái chính trị và các nhân sĩ dân chủ và thân sĩ yêu nước. 

Trong hình ảnh có thể có: 17 người, mọi người đang cười, mọi người đang đứng
Ảnh: cụ Huỳnh Thúc Kháng hàng đầu đeo kính cạnh Bác Hồ.


Hội Liên Việt gồm mặt trận Việt Minh, các tố chức, các đảng phái và cá nhân yêu nước chưa tham gia mặt trận Việt Minh.

Đảng Xã hội Việt Nam và hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam cùng tham gia Hội Liên Việt.

Mục đích của hội là đoàn kết tất cả các lực lượng và đồng bào yêu nước Việt Nam không phân biệt đảng phái, giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, dân tộc để làm cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cường.


Hội trưởng là cụ Huỳnh Thúc Kháng, hội phó là đ/c Tôn Đức Thắng. Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu làm hội trưởng danh dự.

Người là Hồ Chí Minh

(VTC News) – Năm 1990, đúng 100 năm ngày sinh của Hồ Chí Minh, Đại hội đồng UNESCO đã vinh danh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới”.

Quê hương yêu dấu

Quê Bác nằm ở hạ lưu Sông Lam của xứ Nghệ, nơi hội tụ của các trung tâm văn hoá vùng Bắc Trung Bộ; nơi phát tích nhiều nền văn hoá cổ, một vùng văn hoá – dân tộc học đặc sắc. Cụ nghè Nguyễn Xuân Ôn, một trong những lãnh tụ xuất sắc của phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX từng ca ngợi quê hương mình: “Non nước châu Hoan đẹp tuyệt vời / Sinh ra trung nghĩa biết bao người”.

Bác Hồ của chúng ta sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước, ở một vùng quê giàu truyền thống văn hiến và cách mạng. Vùng quê ấy, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, thường xuyên đương đầu với muôn vàn thử thách, tàn phá do giặc giã, thiên tai, trong khổ đau vẫn gan góc, trong mất mát vẫn kiên cường, trong đói nghèo vẫn “đói sạch, rách thơm”; là “đất phên dậu”, “đất Cối Kê”, “thành đồng ao nóng của nước”.

Nguoi la Ho Chi Minh hinh anh 1
 
Nguoi la Ho Chi Minh hinh anh 2
 

Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông hung bạo từng tung hoành vó ngựa xâm lăng suốt cả một vùng đất rộng dài từ Á sang Âu, khi đất nước ở vào tình thế nước sôi lửa bỏng, ngàn cân treo sợi tóc, vua Trần Nhân Tông vẫn tin tưởng: “Cối Kê cựu sự quân tu ký, Hoan Diễn do tồn thập vạn binh” (tạm dịch: chuyện cũ Cối Kê ngươi nên nhớ, Hoan Diễn kia còn chục vạn binh). Nhìn trong lịch sử dân tộc, những tên tuổi lớn như Mai Hắc Đế, Hồ Quý Ly, Nguyễn Huệ – Quang Trung, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Nguyễn Trường Tộ…hoặc sinh ra hoặc khởi nghiệp và thành danh ở nơi này.

Ở thời hiện đại, cùng với Hồ Chí Minh, nhiều nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng ta như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Phan Đăng Lưu, Lê Hồng Sơn, Phạm Hồng Thái, Lý Tự Trọng, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Sĩ Sách,…cũng là những người con ưu tú của đất Hồng Lam.

Bác Hồ sinh ra trong một gia đình có truyền thống nho học nguồn gốc nông dân. Ông Nguyễn Sinh Sắc – thân phụ Bác, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được cụ giáo Hoàng Đường đưa về nuôi dưỡng, cho ăn học, rồi gả người con gái yêu đầu lòng. Khi Bác cất tiếng khóc chào đời, khói lửa của phong trào Cần Vương – bên kia sông Lam là cuộc dấy nghĩa của Phan Đình Phùng, Cao Thắng, ở ngay núi Chung trước nhà là của Vương Thúc Mậu…dần lắng xuống. Thân mẫu Bác thường ru con những câu ca da diết: “Con ơi nhớ lấy câu này/ Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm/ Làm người đói sạch rách thơm/ Công danh phủi nhẹ, nước non phải đền”.

Lớn lên chút nữa, những cuộc đàm đạo văn chương, thế sự của thân phụ Bác với các vị túc nho như Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Đặng Thái Thân đã nhen lên trong tâm khảm Bác và người chị, người anh lòng yêu nước nồng nàn, chí căm thù lũ giặc sâu sắc. Ông Nguyễn Sinh Sắc, dù đậu Phó bảng, dù được bổ làm quan vẫn trước sau xa xót: “Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ hựu nô lệ” (quan trường là nô lệ trong đám người nô lệ nên càng nô lệ hơn). Chị gái của Bác – bà Nguyễn Thị Thanh, anh trai Bác – ông Nguyễn Sinh Khiêm, đều được học hành chu đáo, tham gia các hoạt động yêu nước, đều bị chính quyền thực dân, phong kiến cầm tù, quản chế.

Nguoi la Ho Chi Minh hinh anh 3
 

Truyền thống vẻ vang của quê hương và gia đình đã ảnh hưởng sâu sắc đến tuổi ấu thơ của Bác, đến việc hình thành nhân cách, tư tưởng, đạo đức của Bác. Sau này, trên con đường bôn ba tìm đường cứu nước, được hoà mình trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Á, Âu, Phi, Mỹ, Australia; được tiếp xúc với chủ nghĩ Mác – Lênin và ánh sáng Cách mạng Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển truyền thống văn hoá, yêu nước và cách mạng của dân tộc, của quê hương lên tầm cao mới: chủ nghĩa yêu nước mang nội dung nhân bản sâu sắc; giải phóng dân tộc đi liền với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người; đề cao con người là nhân tố quyết định của lịch sử; cách mạng dân tộc, dân chủ phải phát triển lên cách mạng xã hội chủ nghĩa; sức mạnh dân tộc phải gắn liền với sức mạnh thời đại; đặc biệt coi trọng vai trò “là gốc”, “là người chủ” của nhân dân, sức mạnh to lớn đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó là những đóng góp hết sức quan trọng của Người đối với giá trị văn hoá Việt Nam và cả nhân loại.

Một con người của “nền văn hóa tương lai”

Năm 1987, Đại hội đồng UNESCO lần thứ 24 tại Paris, nước Pháp đã ra Nghị quyết 24C/18.65 về việc kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1990, đúng 100 năm Ngày sinh của Người, vinh danh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá thế giới” (1). Nhưng 64 năm trước, năm 1923, nhà thơ Xô viết Osip Mandelstam đã viết về Nguyễn Ái Quốc – tên Người lúc đó, trên tạp chí Ogoniok, số 39: “Từ Nguyễn Ái Quốc toả ra một nền văn hoá, không phải là văn hoá châu Âu mà có lẽ là nền văn hóa của tương lai”… “Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giản dị và lịch sự. Qua cử chỉ cao thượng, tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi thấy được ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên bể lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương” (2) .

Dẫu bôn ba bốn biển năm châu, dẫu xa quê khi còn rất trẻ, Người luôn yêu quý, luôn khắc khoải về đất nước, quê hương. Người nhớ nằm lòng nhiều làn điệu hát ví, hát giặm, hát phường vải của quê nhà. Người sử dụng rộng rãi, linh hoạt, tài tình các thể loại văn học truyền thống, các hình thức sinh hoạt văn hoá dân dã như tập Kiều, lẩy Kiều, vịnh Kiều, tập cổ, thơ lục bát, thơ tự vịnh, thơ cổ điển, thơ mừng tuổi, thơ chúc tết, chúc thọ. Người ưa lẩy Kiều và đã vận dụng nghệ thuật dân gian này đến độ sáng tạo, tinh tế. Người không nhận mình là một nhà thơ, nhà văn “Ngâm thơ ta vốn không ham”… Người làm thơ, viết văn, viết báo, chụp ảnh, ký hoạ có khi là để mưu sinh, nhưng cao hơn là để phong phú hóa, thanh bạch hóa cuộc sống thường nhật gian khổ, khó khăn của mình, là để phục vụ cách mạng.

Nguoi la Ho Chi Minh hinh anh 4
 
Nguoi la Ho Chi Minh hinh anh 5
 
Nguoi la Ho Chi Minh hinh anh 6
 

Trong thơ văn, Người hay dùng tục ngữ, ca dao, dân ca, lối nói ví von, so sánh sinh động, dễ hiểu của nhân dân lao động. Người yêu mến và say sưa nghiên cứu các tác phẩm văn chương cổ điển của Việt Nam, Trung Quốc, Pháp và các nước khác. Người nhắc nhở mình và mọi người “Nay ở trong thơ nên có thép, nhà thơ cũng phải biết xung phong”. Văn chương, thơ ca của Người giản dị, chân chất, nhân văn như tính mộc mạc, đằm thắm của người xứ Nghệ, lại có cái sâu sắc, thâm thuý, uyên bác của các nhà hiền triết phương Đông, phương Tây; cổ điển và hiện đại, xứ sở và dân tộc, bình dân và bác học… hoà quyện một cách nhuần nhuyễn, sống động, tài tình.

Nguoi la Ho Chi Minh hinh anh 7
 

Trên con đường hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt chân lên hầu khắp các châu lục, nhiều quốc gia, nhiều nền văn hoá, thông thuộc nhiều thứ tiếng nước ngoài. Vậy mà, một đêm ở Thái Lan xa xôi, Người thốt lên “Xa nhà chốc mấy mươi niên / Đêm qua nghe tiếng mẹ hiền ru con”. Người vẫn giữ cho mình giọng Nghệ nằng nặng, trầm ấm, chân chất, vang vọng của quê nhà. Sau hàng chục năm xa quê, ngày trở lại, Người xúc động nói: “Quê hương nghĩa trọng tình cao /Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình”.

Người không quên lối đi nhỏ vào nhà ngày xưa nơi có hàng râm bụt, cây bưởi, luống rau, luống lạc trước nhà, cây mít, hàng cau phía sau, chiếc võng tuổi thơ, chiếc rương gỗ nhỏ – của hồi môn ít ỏi của mẹ, khung cửi của bà, của mẹ, chiếc phản gỗ và mấy pho sách của cha, những câu chuyện kể của ông bà… Người nhớ và ghi sâu công đức người thầy khai tâm của mình, những kỷ niệm với người bạn câu cá, ông thợ rèn, bạn thả diều, chăn trâu, đánh trận giả…Người nhớ và nhắc giúp nghệ sỹ quê nhà hai câu cuối của một bài hát dân ca, về cách phát âm, cách luyến láy một số từ giọng Nghệ khi hát xướng. Trong bữa ăn thường nhật, Người ưa món tương, cà, nhút, vừng của quê nhà.

Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới

Năm 15 tuổi, Nguyễn Sinh Cung cùng cha, mẹ và anh Khiêm vào Huế; năm 18 tuổi (1908), Anh tham gia các cuộc biểu tình chống thuế của nông dân tại kinh đô Huế. Năm 1910, trong tên gọi Nguyễn Tất Thành, trên con đường mở mang tầm nhìn, khao khát con đường cứu nước, Bác của chúng ta dừng chân dạy học ở Trường Dục Thanh, thị xã Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, ngôi trường do các sĩ phu yêu nước ở đây lập ra nhằm hưởng ứng phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ do Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng khởi xướng.

Ngày 5/6/1911, tại bến cảng Sài Gòn, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành xuống tàu biển sang phương Tây, như sau này Người kể lại “Tôi muốn đi ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”. (3)

Nguoi la Ho Chi Minh hinh anh 8
 

Trước đó, Phan Bội Châu đi về phương Đông, nhưng một thực tế hết sức phũ phàng là nước Nhật “đồng chủng”, “đồng cừu” đang phản bội người da vàng, xâm lược Trung Quốc, Triều Tiên, ra lệnh trục xuất chính Phan và các du học sinh Việt Nam yêu nước. Cải cách của Khang, Lương ở Trung Quốc thất bại, cho thấy Trung Quốc không thể đi theo con đường Duy Tân của Nhật Bản. Cách mạng Tân Hợi (1911) của Tôn Văn tuy lật đổ được ngai vàng đế chế, nhưng đã không lật đổ được quyền chiếm hữu ruộng đất và ách bóc lột của địa chủ phong kiến, ách nô dịch của đế quốc tư bản nước ngoài. Nhiều trí thức Việt Nam đương thời cũng sang Pháp, có người chỉ lo học hành, kiếm sống, làm giàu; có người vừa học chữ, vừa tìm đường cứu nước, cứu dân.

Luật sư, Tiến sĩ Phan Văn Trường và Phó bảng Phan Châu Trinh tiêu biểu cho nhóm thứ hai. Tuy nhiên, sống và hoạt động ở Pháp nhiều năm, từng tiếp xúc với các lực lượng cánh tả Pháp, vậy mà các ông vẫn không tìm được con đường đúng đắn giải phóng dân tộc, không đến được với chủ nghĩa Mác – Lênin như Văn Ba – Nguyễn Ái Quốc. Theo báo cáo của Trung ương Đảng Xã hội Pháp thì năm 1913 đã có 7 người Việt Nam vào Đảng Xã hội Pháp, năm 1919 có 80 người Việt Nam tham gia Đảng này, nhưng đến năm 1920 chỉ còn 20 người, duy chỉ có Nguyễn Ái Quốc (vào Đảng Xã hội Pháp năm 1918) trở thành người cộng sản. (4)

Nguoi la Ho Chi Minh hinh anh 9
 

Trên con đường bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc được hòa mình trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, châu Á. Với sự thông minh, mẫn tiệp, nhạy cảm với cái mới, trăn trở, khát khao tìm con đường đúng đắn để cứu nước, cứu dân, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp xúc, gạn lọc, đón nhận những tư tưởng tiến bộ của văn hóa phương Tây: chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng, chủ nghĩa duy lý thế kỷ Ánh sáng, tư tưởng dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái của cách mạng Pháp, Anh, Mỹ…

Ở Pháp, Người cùng Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường gửi Yêu sách của nhân dân An Nam đến Hội nghị Versailles (1919); viết Bản án chế độ thực dân Pháp (1920); bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ Ba (tức Quốc tế Cộng sản), trở thành một trong những sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và đương nhiên, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên (1920); sáng lập báo Người cùng khổ (Le Paria, 1922), ngay bài viết cho số đầu tiên, Người tuyên bố sứ mệnh tờ báo là “giải phóng con người”.

Ở Pháp, Người cùng Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường gửi Yêu sách của nhân dân An Nam đến Hội nghị Versailles (1919); viết Bản án chế độ thực dân Pháp (1920); bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ Ba (tức Quốc tế Cộng sản), trở thành một trong những sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và đương nhiên, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên (1920); sáng lập báo Người cùng khổ (Le Paria, 1922), ngay bài viết cho số đầu tiên, Người tuyên bố sứ mệnh tờ báo là “giải phóng con người”.

Hơn 10 năm ở trời Tây, vừa vất vả lao động kiếm sống, vừa đau đáu tìm kiếm con đường cứu nước, cứu dân, Văn Ba – Nguyễn Ái Quốc càng nhận thức rõ: chủ nghĩa tư bản, bè lũ đế quốc, thực dân là những kẻ đã gây ra mọi áp bức, bóc lột, đau khổ cho công nhân, nông dân và các tầng lớp khác ở cả thuộc địa và ở ngay chính quốc.

Theo Người: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ Ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” (5).

Người khẳng định: “Muốn giải phóng dân tộc phải tự mình làm lấy”. Người tin tưởng ở con đường đi của mình, tin tưởng ở sức mạnh của nhân dân, của dân tộc.

Điều này, rất khác với quan điểm của Phan Bội Châu, của Phan Chu Trinh; vượt qua những giáo lý Khổng, Mạnh hẹp hòi, duy tâm; vượt qua sự hạn chế của chủ nghĩa yêu nước đã khá lỗi thời của các sĩ phu phong kiến và các nhà cách mạng có xu hướng dân chủ tư sản, tiểu tư sản đương thời. Từ chủ nghĩa yêu nước, Người đến với chủ nghĩa cộng sản khoa học, chủ nghĩa Mác – Lênin. Người bắt gặp, đón nhận Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I. Lênin, và sự kiện này không hề là ngẫu nhiên, may mắn. Đó là một tất yếu khách quan mang tính khoa học và cách mạng.

Chính Phan Châu Trinh, trong một bức thư đề ngày 18/2/1922 gửi từ Marseille cho Nguyễn Ái Quốc đang ở Paris, đã viết: “Thân tôi tựa như chim lồng, cá chậu… Cảnh tôi như hoa sắp tàn, hiềm vì quốc phá gia vong, mà hơi tàn cũng phải gào cho hả, may ra có tỉnh giấc hồn mê”. Cuối thư, Cụ ví Nguyễn Ái Quốc “như cây đương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hành, lý thuyết tinh thông… không bao lâu nữa cái chủ nghĩa anh tôn thờ (ý nói chủ nghĩa Mác – Lênin) sẽ thâm căn cố đế trong đám dân tình chí sỹ nước ta”. (6)

Nguoi la Ho Chi Minh hinh anh 10
 

Điều mà cụ thân sinh Nguyễn Sinh Sắc cùng các chí sỹ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và cả dân tộc mong mỏi, đã theo bước chân của Nguyễn Tất Thành -Văn Ba- Nguyễn Ái Quốc, qua thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Á, Âu, Phi, Mỹ, Australia; qua ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và cách mạng Tháng Mười Nga, đã lan tỏa, “sâu rễ bền gốc” ở Việt Nam. Để có chuyến trở về nước lịch sử của Nguyễn Ái Quốc ngày 28/1/1941.

Để có Ngày Quốc khánh 2/9/1945 với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại “Người có tầm nhìn cao rộng và sâu xa, xuyên qua lịch sử, bao quát không gian, thấy sáng tương lai, mở ra những bước ngoặt vĩ đại, đưa dân tộc Việt Nam từ cảnh nô lệ lầm than ra ánh sáng độc lập tự do, từ một đất nước ít ai biết đến trở thành người chiến sỹ tiêu biểu cho cả loài người tiến bộ yêu mến và khâm phục.

Đó là tầm nhìn mang ý nghĩa chiến lược, nhìn thấy con đường cứu nước là con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gặp gỡ và hòa nhập với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản, cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa quyện vào nhau trong không gian và thời gian, ở một nước và trên toàn thế giới”. (7)

Nguoi la Ho Chi Minh hinh anh 11
 

Từ Làng Sen, Nam Đàn, Nghệ An, Hồ Chí Minh đã hòa mình cùng cuộc đấu tranh vĩ đại của nhân dân, dân tộc mình; vươn ra biển lớn để từ một người yêu nước chân chính thành người cộng sản chân chính, một nhà văn hóa lớn của phương Đông và phương Tây.

Từ thế giới, Người lại trở về với nhân dân mình, dân tộc mình, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; làm nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; tạo những tiền đề quan trọng cho trận “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972 trên bầu trời Hà Nội, cho Đại thắng mùa xuân 1975 hội tụ ở Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng.

Người để lại cho muôn đời sau tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức Hồ Chí Minh, phong cách Hồ Chí Minh, con đường Hồ Chí Minh. Người là đóa sen đẹp nhất của dân tộc Việt Nam và là đóa sen đẹp, thanh cao, mẫu mực của nhân loại./.

1 Đại hội đồng UNESCO 24, họp từ 20/10-20/11/1987 ở Paris đã ra Nghị quyết tại Tiểu mục18.65, mục 18.6 .

2 Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, 1995, Tập 1, trang 477.

3 Theo cuốn sách “Vừa đi đường vừa kể chuyện”của tác giả T.Lan, bản in năm 1976 của Nhà xuất bản Sự thật.

4 Bác Hồ với quê hương Nghệ Tĩnh, NXB Nghệ tĩnh, 1990, trang 146.

5 Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập X, trang 126-128 (Bài “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin, đăng trên Tạp chí Các vấn đề phương Đông, Liên Xô, 1960, nhân kỷ niệm 90 năm Ngày sinh V.I. Lênin).

6 Bác Hồ với đất Quảng, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.

7 Lời Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại buổi gặp mặt với đại biểu cán bộ và nhân dân Nghệ Tĩnh ngày 19 tháng 5 năm 1985.

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Giá trị một văn kiện lịch sử

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Giá trị một văn kiện lịch sử
Mặc dù Người viết rằng: “để lại mấy lời” và “chỉ nói tóm tắt vài việc thôi” nhưng Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một văn kiện lịch sử vô giá.

Bác Hồ của chúng ta - đóa sen đẹp, thanh cao, mẫu mực của nhân loại

Bác Hồ của chúng ta – đóa sen đẹp, thanh cao, mẫu mực của nhân loại
Người là đóa sen đẹp nhất của dân tộc Việt Nam và là đóa sen đẹp, thanh cao, mẫu mực của nhân loại.PGS.TS NGUYỄN THẾ KỶ/VOV

Chiến Tranh Đông Dương Lần Thứ Nhất (1946-1954)

Lính Pháp trong chiến tranh Đông Dương - Indochine Viet nam War -

Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, hay Chiến tranh Đông Dương (1946-1954) kéo dài từ năm 1946 đến năm 1954 giữa Pháp và đồng minh cùng lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Việt Minh) , Pathet Lào và Campuchia.

Cuộc chiến này ở Việt Nam là giai đoạn chống Pháp kéo dài từ  19 tháng 12 năm 1946 tới 1 tháng 8 năm 1954 còn được gọi là Chiến tranh chống thực dân Pháp và can thiệp MỹKháng chiến chín năm9 năm kháng chiến trường kỳThời 9 nămHồi 9 năm. Các tài liệu nghiên cứu, sách báo ở nước ngoài phần lớn gọi là Chiến tranh Việt-Pháp hoặc Chiến tranh Đông Dương.

Năm 1858, Hải quân Pháp đổ bộ vào Cảng Đà Nẵng và sau đó xâm chiếm dần đến Sài Gòn. Trong suốt thời kỳ từ khi Pháp bắt đầu nổ súng xâm chiếm Việt Nam, đã có nhiều cuộc khởi nghĩa và phong trào chống Pháp do vua, quan, sỹ phu hoặc nông dân tổ chức, nhưng tất cả đều bị thất bại.

Năm 1940, Đế quốc Nhật Bản tấn công Đông Dương , đảo chính Pháp và chiếm chính quyền ngày 10 tháng 3 ở Việt Nam và nhanh chóng thỏa thuận được với chính quyền Vichy ở Pháp để Nhật toàn quyền cai trị Đông Dương. Theo chính sách Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á, Đế quốc Nhật Bản bảo trợ thành lập chính phủ Đế quốc Việt Nam dưới quyền Hoàng đế Bảo Đại, đứng đầu bởi Thủ tướng Trần Trọng Kim. Vua Bảo Đại tuyên bố thành lập Đế quốc Việt Nam ngày 11 tháng 3 năm 1945, tuyên bố chính phủ này có chủ quyền trên danh nghĩa ở ba kỳ, tiếp sau đó là Campuchia ngày 13 tháng 3 và Lào ngày 8 tháng 4. Trong tuyên bố của Bảo Đại, bãi bỏ các hiệp ước bảo hộ và mất độc lập với Pháp trước đây. Ngày 7 tháng 4 năm 1945, Bảo Đại ký đạo dụ số 5 chuẩn y thành phần nội các Trần Trọng Kim và ngày 12 tháng 5 giải thể Viện Dân biểu Trung Kỳ. Tháng 6 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam. Tuy nhiên, tình hình Việt Nam lúc này rơi vào một tình trạng hỗn loạn do khoảng trống về quyền lực chính trị quá lớn. Các đảng phái về tôn giáo, chính trị diễn ra khắp nơi. Uy tín và sức mạnh quân sự của chính quyền của chính phủ Trần Trọng Kim quá yếu nên không thể kiểm soát tình hình.

Lính Pháp tuần tra ở Miền nam năm 1952 trong Chiến tranh Đông Dương ở Việt Nam - Viet Nam War
Lính Pháp tuần tra ở Miền nam năm 1952 trong Chiến tranh Đông Dương ở Việt Nam – Viet Nam War

Việt Minh (viết tắt của Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội) do Hồ Chí Minh thành lập năm 1941 với vai trò một mặt trận thống nhất dân tộc để giành độc lập. Tổ chức này do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo, thu hút được sự tham gia và ủng hộ của nhiều người Việt Nam và ngày càng lớn mạnh. Tháng 12 năm 1944, Võ Nguyên Giáp đã thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đây là lực lượng quân sự của Việt Minh và là tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam sau này

Ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh, lực lượng Việt Minh đã tổ chức thành công cuộc Cách mạng tháng Tám đoạt chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim. Sau Cách mạng tháng Tám, Việt Minh thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên cơ sở cải tổ Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam được thành lập tại Đại hội Quốc dân ngày 16 và 17-8-1945 tại Tân Trào.

Tại Huế, Chính phủ Đế quốc Việt Nam đồng loạt từ chức và chuyển giao quyền lực cho phong trào Việt Minh. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam thống nhất và độc lập với tên gọi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Theo Hội nghị Potsdam, lực lượng Đồng Minh gồm Mỹ, Anh đã  nhường quân đội Tưởng Giới Thạch vào miền Bắc giải giáp quân đội Nhật và tại miền Nam, lực lượng Anh do Thiếu tướng Douglas D. Gracey chỉ huy đổ bộ vào Sài Gòn để thực hiện nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Ở miền Nam Việt Nam, chỉ 4 ngày sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, phái bộ quân sự Anh đã có mặt ở Sài Gòn, theo sau là liên quân Anh-Pháp. Quân Anh theo lệnh Đồng Minh vào giám sát quân Nhật đầu hàng nhưng đồng thời cũng tạo điều kiện cho quân Pháp vào Nam Bộ. Chính phủ lâm thời của Cộng hòa Pháp muốn khôi phục lãnh thổ Đông Dương với cơ chế tự trị. Ngày 19, Pháp tuyên bố sẽ lập chính quyền tại miền Nam.

Chiến tranh Đông Dương tại Việt Nam bùng nổ vào ngày 9 tháng 10, tướng Pháp Leclerc đến Sài Gòn, theo ông là lực lượng gồm 40.000 quân Pháp để chiếm giữ miền Nam Việt Nam và Campuchia. Từ cuối tháng 10, quân Pháp bắt đầu đẩy mạnh kế hoạch phá vây, mở rộng đánh chiếm ra vùng xung quanh Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ.

Lính Pháp đang chào cờ năm 1951 trong Chiến tranh Đông Dương ở Việt Nam - Viet Nam War
Lính Pháp đang chào cờ năm 1951 trong Chiến tranh Đông Dương ở Việt Nam – Viet Nam War

Đầu tháng 11 năm 1946, quân Pháp chiếm trụ sở hải quan tại cảng Hải Phòng. Chiến tranh Đông Dương lan ra đến miền Bắc Việt Nam. Các cơ quan của chính phủ Việt Nam bí mật chuyển dần về các nơi vùng rừng núi để lập căn cứ bí mật. Ngày 17 tháng 12, quân Pháp với xe tăng yểm trợ tấn công vào Hà Nội. Sáng ngày 20/12, lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được truyền đi khắp đất nước

Mùa hè năm 1947, lực lượng chủ lực của quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có khoảng 60.000 người, chưa kể tự vệ và du kích địa phương. Vũ khí còn thô sơ và thiếu, chủ yếu là do tự tạo và lấy được của Pháp. Ban đầu, chủ yếu là  lực lượng dân quân du kích vừa làm ruộng vừa chiến đấu trong lòng địch. Trang bị vũ khí thô sơ, chủ yếu là lấy được từ Pháp. Về sau được sự viện trợ của Nga và Trung Quốc, đã dần hình thành  những đơn vị chủ lực được huấn luyện bài bản, được trang bị mạnh, đầy đủ bao gồm cả súng máy, pháo dã chiến, pháo phòng không, …

Đầu năm 1950, Hoa Kỳ bắt đầu chính thức gửi viện trợ quân sự cho Pháp ở chiến tranh Đông Dương. Tháng 1 năm 1951 người Pháp nhận được 20 xe tăng M24, 40 khẩu pháo 105-mm và 250 quả bom thông thường và cả bom napalm cùng đạn dược và vũ khí tự động. Tới tháng 1/1953, Pháp đã nhận được 900 xe thiết giáp cùng với 15.000 xe vận tải các loại, gần 2.500 khẩu pháo, 24.000 vũ khí tự động, 75.000 vũ khí cá nhân và gần 9.000 máy radio. Ngoài ra, Không quân Pháp đã nhận được 160 máy bay F6F Hellcat và F8F Bearcat, 41 máy bay ném bom B-26 Invader, 28 máy bay vận tải C-47 cùng với 155 động cơ máy bay và 93.000 quả bom. Cho tới khi Pháp thất bại hoàn toàn thì phía Mỹ đã viện trợ trên 1 tỷ USD mỗi năm (tương đương khoảng 5,8 tỷ USD theo thời giá năm 2004) và chi trả 78% chi phí chiến tranh của Pháp ở Đông Dương

Về phía Pháp, càng về sau, họ càng vào thế sa lầy tại Chiến tranh Đông Dương do tuy họ đã dùng đến 40-45% ngân sách quân sự và 10% ngân sách quốc gia. Chiến sự bùng nổ khắp nơi khiến quân đội Pháp vốn đã mỏng lại phải căng ra trên cả nước để phòng ngự do đó thiếu sự tập trung để có thể hình thành nên những lực lượng mạnh, có thể chống lại những đơn vị chính quy ngày càng mạnh của Việt Minh. Với sự nổ ra của Chiến tranh Triều Tiên vào tháng 6 năm 1950, Mỹ thay đổi thái độ về cuộc xâm lược của Pháp tại Đông Dương, coi Triều Tiên và Việt Nam là hai chiến trường phụ thuộc lẫn nhau trong cuộc chiến của phương Tây chống lại chủ nghĩa cộng sản. Tổng thống Mỹ Harry S. Truman tuyên bố sẽ viện trợ quân sự trực tiếp cho các nỗ lực của quân Pháp tại Đông Dương

Lính Pháp hành quân ở chiến dịch Biên Giới năm 1950 trong Chiến tranh Đông Dương ở Việt Nam - Viet Nam War
Lính Pháp hành quân ở chiến dịch Biên Giới năm 1950 trong Chiến tranh Đông Dương ở Việt Nam – Viet Nam War

Chiến dịch Biên giới bắt đầu ngày 16 tháng 9 năm 1950, Dưới sự uy hiếp của quân Việt Minh và sự hoang mang của bộ chỉ huy Pháp, quân đội Pháo không đủ sức để tổ chức những cuộc phản công đủ mạnh để lấy lại những vùng đã mất. Đến ngày 22 tháng 10 năm 1950, quân Pháp phải rút bỏ hoàn toàn khỏi các cứ điểm còn lại trên đường 4 như Thất Khê, Na Sầm, Đồng Lập, Lạng Sơn. Toàn bộ vùng Đông Bắc tiếp giáp với Trung Quốc đã được mở toang, quân đội Nhân Dân Việt nam có thể nhận được những viện trợ quân sự từ Nga và Trung Quốc dễ dàng hơn.

Tháng 7 năm 1953, chỉ huy mới của Pháp, tướng Henri Navarre, đến Đông Dương. Được sự hứa hẹn về việc Mỹ tăng viện trợ quân sự, Navarre chuẩn bị cho một cuộc tổng phản công mà báo chí Pháp và Mỹ gọi là “Kế hoạch Navarre”

Tháng 11 năm 1953, Navarre mở cuộc hành quân Castor đánh chiếm Điện Biên Phủ – Khu vực mà ông cho rằng có vị trí chiến lược chặn giữa tuyến đường chính của Quân đội Nhân dân Việt Nam sang Lào. Ngày 13 tháng 3 năm 1954 nổ ra trận đánh lớn nhất trong chiến tranh Đông Dương là trận Điện Biên Phủ, Pháp đã để mất căn cứ và tổn thất 16.200 quân và gần như không còn đủ sức để phục hồi.

Hội nghị Genève khai mạc ngày 26 tháng 4 năm 1954 để bàn về vấn đề khôi phục hoà bình tại Triều Tiên và Đông Dương. Kết thúc chiến tranh Đông Dương. Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Geneva được ký kết chấm dứt cuộc chiến tranh Đông Dương.

(TTV) 66 năm – Quốc dân Đại hội Tân Trào

Đình Tân Trào thuộc xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang – địa danh có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với toàn thể dân tộc Việt Nam. Tại đây, ngày 16 và 17/8/1945, Quốc dân Đại hội đã họp với sự tham dự của hơn 60 đại biểu đến từ 3 miền Bắc – Trung – Nam và cả kiều bào ta ở nước ngoài, thông qua Lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền và 10 chính sách lớn của Việt Minh, cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Quốc dân Đại hội Tân Trào đã thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước, quyết định vận mệnh của cả dân tộc.

Đình Tân Trào, thôn Tân Lập, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, nơi diễn ra Quốc dân Đại hội (từ ngày 16 đến 17-8-1945), bầu ra Ủy ban Dân tộc giải phóng do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. – Ảnh: TQĐT

Quốc dân Đại hội Tân Trào, về bản chất chính là Quốc hội ngày nay. Đây là lần đầu tiên nước ta thực hiện dân chủ đối với việc cử ra người đứng đầu đất nước sau hơn 1000 năm trải qua chế độ phong kiến. Quốc dân Đại hội Tân Trào được ví như Hội nghị Diên Hồng cách mạng, tức là hỏi ý kiến của toàn dân về những vấn đề trọng đại của đất nước. Khi đưa ra chủ trương triệu tập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: Đó phải là một cơ cấu đại biểu cho sự chân thành, đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta để tạo nên sức mạnh dân tộc bên trong và tranh thủ ngoại viện của quốc tế. Quốc dân Đại hội Tân Trào thể hiện tư tưởng pháp quyền rất cơ bản của một nhà nước do dân làm chủ, tức là phát huy quyền dân chủ.


66 năm đã trôi qua, nhưng ý nghĩa và bài học của Quốc dân Đại hội Tân Trào vẫn còn nguyên giá trị, người dân quyết định vận mệnh của đất nước mình và quyết định người thay mặt cho mình để điều hành đất nước.


Quốc dân Đại hội Tân Trào là tiền đề để nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng tiến hành thắng lợi cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, bầu Đại biểu Quốc hội Khóa I. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt vĩ đại đưa dân tộc ta bước vào thời kỳ mới – Thời kỳ Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.


Quốc dân Đại hội Tân Trào vẫn mãi là hình ảnh tiêu biểu, là điểm nhấn quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám năm 1945./.

P.v