Category Archives: Chiến tranh Việt Trung 1979

Sự dã man của quân bành trướng và chuyện những người nông dân Cao Bằng cầm súng diệt giặc

VTC –Lính Trung Quốc tràn vào Cao Bằng và đốt hết, giết hết. Những xác người cháy đen, những tiếng khóc la ai oán…

Rạng sáng 17/2/1979, Trung Quốc bất ngờ đưa quân tràn qua biên giới, đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới lãnh thổ Việt Nam từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh) với chiều dài 1.200 km.

Ở hướng Cao Bằng, hai quân đoàn tăng cường của Trung Quốc hình thành hai cánh quân lớn từ phía tây bắc theo đường Thông Nông đánh xuống và từ phía đông bắc qua Thạch An, Quảng Hòa đánh lên nhằm hợp điểm ở thị xã Cao Bằng.

Cao Bằng bị tàn phá trong chiến tranh biên giới 1979. Ảnh tư liệu

Ngày không quên

Trong ký ức của ông Nông Hợp Đoàn (Bản Dong, xã Lê Lại Thạch An, Cao Bằng), tháng 2 của 40 năm về trước, là những ngày tháng không thể nào quên. Dù lúc đó ông chỉ mới 16 tuổi.

Ở bản Dong, đi bộ tầm 8km là đến cửa khẩu Đức Long. Phía bên kia là huyện Long Châu (Quảng Đông, Trung Quốc). Trước năm 1979, dân hai bên cửa khẩu vẫn qua lại buôn bán, trò chuyện vui vẻ, thậm chí còn sang giúp nhau làm vườn, làm cỗ.

Ông Đoàn bảo, đến năm 1978, tình hình có vẻ căng thẳng khi Trung Quốc thường xuyên gây sự, rải truyền đơn nói xấu Việt Nam. Lúc đó, dân Thạch An nhiều người sợ không dám qua bên kia nữa, nhưng dân Trung Quốc thì vẫn tiếp tục qua buôn bán, và vẫn được đồng bảo biên giới đối xử tử tế.

Cuộc sống vốn cứ tưởng mãi yên bình, có ai nghĩ rằng, chỉ ít lâu sau đó, lính Tàu lại tràn sang và gây ra những vụ thảm sát đẫm máu.

Ông Đoàn: “Không ai nghĩ Trung Quốc sẽ đánh mình”

Tảng sáng 17/2/1979, đang ngon giấc sau một ngày phụ bố mẹ ra đồng mệt nhọc, thì ông Đoàn choàng tỉnh khi nghe thấy những tiếng nổ liên hồi, ùng oàng như sấm, nhìn ra phía biên giới thấy sáng rực một góc trời. Dân bản Dong xôn xao bàn tán, bảo rằng đó là xung đột biên giới, chỉ bắn pháo dọa nhau.

Khi một quả đạn pháo bay đến nổ tung ngay quả núi trước mặt, ông thấy bóng một người quen ở cửa khẩu tất tả chạy về với cánh tay đầy máu, hô lớn: “Tàu tràn quan biên giới, tan nát hết, sắp đến đây rồi”.

Tiếp đó, con đường qua cửa khẩu Đức Long vốn trước chỉ là đường xe ngựa, nay bỗng xuất hiện từng đoàn xe tăng như đàn kiến lấp ló tràn xuống, mọi người mới hoảng sợ, không ai kịp mang theo bất cứ cái gì, chạy trốn vào trong rừng thẳm.

Sự man rợ của quân xâm lược Trung Quốc

Ông Lý Văn Dư (bản Bung, xã Danh Sỹ, Thạch An, Cao Bằng) khi nhắc đến thời điểm ấy lại thở dài: “Chúng đến nhanh và quá tàn bạo, không ai kịp trở tay”.

9h sáng, xe tăng Trung Quốc đã kéo đến Đông Khê. Dân Thạch An bao năm nay có ai biết đến cái xe tăng, cứ tưởng là xe của Liên Xô. Lúc cái xe tăng đầu tiên mắc kẹt ở cầu cạn đầu thị trấn, cả đoàn dồn ứ lại, dân còn ra vẫy xem. Khi nhìn thấy có chữ Bát Nhất bằng chữ Tàu, cũng là lúc chúng hướng nòng bắn thẳng đám đông, cả ngôi nhà chỗ lò gạch nổ tung, dân chúng mới nháo nhào chạy trốn.

Ông Lý Văn Dư

Trước đó, ở trường trung học thị trấn Đông Khê, dân quân thông báo, chỉ lúc nào nghe thấy tiếng kẻng ở bưu điện, thì mới được sơ tán. Nhưng kẻng chưa vang lang, mà pháo giặc đã dội ầm ầm, nhà cửa tan nát, một viên đạn pháo rơi trúng bưu điện, giết chết bác lao công ở đó, không ai biết. Chỉ đến khi xe tăng tràn vào thị trấn, theo sau là hàng đoàn lính Trung Quốc ùa đến thi nhau xả súng, rồi xe tăng hướng nòng bắn thẳng vào trường, học sinh mới tán loạn như ong vỡ tổ.

Ông Dư lúc đó cũng chứng kiến khung cảnh ấy. Ông bảo, điều căm phẫn nhất là chúng bắn cả học sinh. Các em nhỏ chạy tan tác qua cả những nòng súng trong xe tăng. Thế mà trong đám lính Trung Quốc có kẻ chụp được cảnh đấy, về lại rêu rao rằng đó là nhân dân Cao Bằng chào đón quân xâm lược.

Trong ngày 17/2/1979, cả Đông Khê tan hoang bởi lính Tàu đốt phá hết không còn một cái gì.

Với ông Nguyễn Văn Dịch, năm nay đã 80 tuổi (xã Hưng Đạo, TP. Cao Bằng), thì ký ức ngày 17/2 là cảnh lính Tàu tràn vào Cao Bằng và đốt hết, giết hết, sạch sẽ từng ngôi nhà. Chúng ốp mìn nổ tung từng cột điện, rồi sục sạo khắp nơi. Những xác người cháy đen, những tiếng khóc la ai oán vang lên khắp nơi.

Cho đến ngày 9/3, trước khi rút quân về nước, chúng còn thảm sát dã man cả nhóm công nhân trại lợn Đức Chính, toàn là phụ nữ, cùng với trẻ em, gồm 43 người.

Ông Nguyễn Văn Dịch: “Chúng nó ác lắm, dã man lắm”.

Bà Ngọc Thị Thuộc ở Trùng Khánh, Cao Bằng, sau hành trình sơ tán thì quay về tìm mẹ già. Nhưng tìm gọi suốt hồi lâu chỉ nghe thấy tiếng chó sủa và tiếng lợn hộc. Thì ra chó và lợn đang giành nhau ăn thịt người mẹ khốn khổ của bà Thuộc. Cụ bị lính Trung Quốc chặt ra làm 4 khúc, đầu văng một nơi, thân rời 2 khúc nằm sau vườn, chân bị quẳng ra ngoài cổng cạnh đường trâu bò đi. Cạnh xác cụ, dân quân tìm thấy một thanh mã tấu còn vết máu đen sẫm…

Khi những người nông dân đứng lên bảo vệ quê hương

Những đống tro tàn, những xác người cháy đen, tiếng khóc mẹ, khóc cha, khóc người thân là ký ức không thể phai mờ trong tâm trí ông Lý Văn Dư. Ông Dư đau xót: “Ngày đó tim tôi đầy hận thù, tôi không nghĩ đến việc sống chết nữa, chỉ muốn giết hết chúng nó”.

Lúc đó, trong tay không có tấc sắt, lại đang trốn trong hang đá, ông Dư chỉ biết đêm đêm mò ra ngoài bản, lúc thì kiếm gạo mang về nấu cháo, lúc thì nhặt nhạnh những viên đạn rơi vãi. Đến hôm kiếm được 29 viên CKC, lại nhận được tin quân Trung Quốc tiến vào bản Bung càn quét, ông sang gặp xã đội trưởng mượn khẩu CKC rồi cứ thế chạy thẳng ra dốc núi, không ai kịp ngăn cản…

Ngọn đồi nơi ông Dư phục kích năm xưa.

Ông Dư gặp một trung đoàn lính Tàu. Ông núp vào bụi cây đếm được 225 tên giặc. Chờ tốp cuối cùng đi qua, xuống đến thung lũng, ông Dư mới bóp cò. Mấy phát đầu tiên đã hạ gục 3 tên. Đám lính hoảng loạn chạy tìm chỗ nấp, rồi bắn tứ tung. Ông Dư núp trên đồi nên rõ từng vị trí, cứ nằm im rồi thỉnh thoảng lại bắn 1 viên, cả đội hình hoảng loạn không biết súng từ đâu bắn tới.

Trời đã tối, những tên sống sót tháo chạy. Nghe dân quân du kích sau đó báo lại, họ đếm được 13 chiếc cáng.

Cũng trong đêm hôm đó, mọi người thu được rất nhiều súng đạn, rồi dàn trận địa, núp sẵn trên núi. Quả nhiên hôm sau, lính Tàu quay lại trả thù. Không thu được gì lại bỏ mạng thêm vô số, chúng quay đầu tháo chạy.

Bên xã Lê Lai, khi mới tiến vào, quân Trung Quốc đã đốt phá các bản, cháy mấy ngày đêm, căm hận không sao kể xiết.

Ông Nông Kim Việt ở bản Dong, ngay ngày đầu tiên đã vác súng ra đồi chè phía sau bản phục kích địch. Rồi liên tiếp những hôm sau đó, mỗi ngày một địa điểm, lúc thì ông Việt đi 1 mình, lúc thì cùng với những thanh niên trong bản, lính Tàu không biết thế nào mà lần. Tính ra, suốt 1 tháng cho đến lúc chúng rút về nước, ông Việt đã chiến đấu hơn 10 trận, bắn hạ 50 tên lính Trung Quốc, trở thành một huyền thoại sống miền biên giới Cao Bằng.

Quân Trung Quốc rút, những người còn sống sót trở về. Ông Dư, ông Việt, ông Đoàn, ông Dịch cùng người dân lại bắt tay xây dựng cuộc sống mới. Cuộc sống nơi phên dậu Tổ quốc đã yên bình 40 năm, nhưng đối với họ, ký ức về tháng 2/1979 sẽ mãi không thể nào quên.V

Lê Hồng

Cuộc chiến phi nghĩa của Trung Quốc năm 1979

Ngày 17/2/1979, Trung Quốc nã pháo và đưa hơn nửa triệu quân tràn sang 6 tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam, bắt đầu cuộc chiến tranh phi nghĩa bị quốc tế lên án gay gắt.

Ga Hàng Cỏ tháng 2/1979, những đoàn tàu chật cứng bộ đội từ các tỉnh phía Nam tấp nập đỗ, rồi lại hối hả chạy về hướng bắc. Bùi Ngọc Thắng năm đó 19 tuổi, có mặt trong đoàn quân lên Lạng Sơn. Trước đó ông đang đóng quân ở Bỉm Sơn (Thanh Hóa) thì nghe tin Trung Quốc đánh biên giới.

Trên sân ga, người dân vây quanh những binh sĩ vừa từ biên giới về để hỏi han tình hình chiến sự. “Trên đấy đánh nhau to”, một thương binh vừa nói vừa huơ huơ cánh tay mô tả với mọi người.

Ông Thắng nhớ mãi một bác gái bưng thúng đồ đứng gần đoàn tàu, mắt cứ dõi theo từng tốp lính. Tàu chuyển bánh, cả đơn vị thò đầu ra cửa sổ hét “Mẹ ơi chúng con lên biên giới đây”. Người phụ nữ buông rơi thúng đồ trên tay, đứng khóc.

Cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc 1979 diễn ra như thế nào Ngày 17/2/1979, 600.000 quân Trung Quốc tràn qua biên giới, tàn phá các tỉnh lỵ phía Bắc. Trước sức ép bị quân chủ lực Việt Nam phản kích, đối phương nhanh chóng rút lui.

Trên đường hành quân lên Lạng Sơn, thấy những chuyến xe chở thương binh băng bó ngược đường về Hà Nội, ông và các đồng đội còn trêu đùa rồi gọi với theo “Các ông đánh đấm kiểu gì mà chưa đánh đã băng bó thế kia!”.

Câu đùa ấy phát ra từ những thanh niên mười chín đôi mươi ngang tàng và vô tư, chưa một lần nhìn thấy quân thù.

Tàu chạy qua Bắc Ninh, ông Thắng nhớ hình ảnh lực lượng bộ đội hùng hậu chốt giữ tại phòng tuyến Đáp Cầu trên sông Như Nguyệt. Mãi sau này ông mới biết lực lượng đó được chuẩn bị cho trường hợp quân Trung Quốc phá cửa ngõ Lạng Sơn và tiến xuống thủ đô.

Thắng nhìn lại đơn vị của mình. Hồi huấn luyện tân binh ở Bỉm Sơn, có những đứa “tút” về nhà chỉ vì mải chơi, nghịch ngợm. Nhưng hôm nay tất cả đều đã ngồi đây, trên chuyến tàu ngược lên biên giới. Từ lúc nghe đến việc đánh trả đối phương, quân số đơn vị không thiếu một ai.

“Thắng! Mày lắp đạn vào súng chưa?”, chỉ huy của chàng lính trẻ hỏi khi tàu sắp dừng ở ga Đồng Mỏ (cách thị xã Lạng Sơn gần 40 km). “Em chưa”, ông Thắng hồn nhiên đáp. “Bây giờ chưa lắp thì bao giờ mới lắp nữa!”, vị chỉ huy phải thét lên để át những tiếng đạn nổ đì đùng từ hướng thị xã.

Đêm 16 rạng sáng 17/2/1979, tiếng đại bác từ bên kia biên giới đồng loạt nổ vang rền, đạn pháo trùm lên các chốt biên phòng và các thị xã dọc tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam. “Trung Quốc đánh rồi” – tiếng kẻng báo động liên hồi trong các đơn vị vũ trang.

Người già, trẻ nhỏ bật dậy giữa đêm, không kịp gói ghém tư trang, cứ ngược đường giặc đánh mà chạy.

600.000 quân Trung Quốc tràn qua biên giới Việt Nam suốt một dải từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh) trong tháng 2/1979.

Lúc đó một binh nhất như ông Thắng vẫn mơ hồ về chính trị quốc tế. Khi còn nhỏ, ông chỉ biết Trung Quốc là bạn của Việt Nam. Bố của ông còn được cử sang Trung Quốc học trường quân sự sau khi tham gia kháng chiến chống Pháp.

Sau này khi đơn vị tiến vào thị xã Lạng Sơn, chứng kiến cảnh hoang tàn mà quân Trung Quốc để lại, ông mới hiểu rõ sự nhẫn tâm của người láng giềng bên kia biên giới.

Giai đoạn 1959-1969, hai cường quốc Xã hội Chủ nghĩa lúc bấy giờ là Liên Xô và Trung Quốc bắt đầu nảy sinh chia rẽ và chuyển sang đối đầu gay gắt.

Trong khi đó, mối quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ ấm dần lên. Tháng 2/1972, Tổng thống Mỹ Nixon tới thăm Bắc Kinh, chỉ vài tháng trước khi Mỹ đưa máy bay ném bom oanh tạc miền Bắc Việt Nam.

Sự rạn nứt quan hệ của 2 đồng minh lớn đã đặt quốc gia nhỏ bé Việt Nam vào tình thế khó khăn. Sau năm 1975, quan hệ giữa Việt Nam và Liên Xô tiếp tục phát triển, trong khi phía Trung Quốc tăng cường khiêu khích vũ trang và liên tục xâm lấn đất đai Việt Nam – từ khoảng trên 200 vụ trong năm 1975 lên gấp chục lần chỉ sau 3 năm.

Tại biên giới Tây Nam Việt Nam, lực lượng Pol Pot (Nhà nước Campuchia dân chủ) liên lục xâm lấn biên giới, tàn sát người dân Việt Nam. Tháng 12/1978, Việt Nam tiến hành phản kích quân Pol Pot vào sâu biên giới Campuchia, giải phóng nước bạn vào ngày 7/1/1979.

Nhiều quốc gia ghi nhận việc Việt Nam đã giúp người dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng, tuy nhiên Pol Pot là lực lượng được Trung Quốc hậu thuẫn, do đó sự kiện 7/1/1979 đã đẩy căng thẳng trong quan hệ Việt – Trung lên đỉnh điểm.

Trong chuyến thăm Đông Nam Á tháng 12/1978, lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố: “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học“. Hôm sau báo chí chính thức của Trung Quốc cắt ngắn thành “Phải dạy cho Việt Nam bài học“.

Trung Quốc chuẩn bị cho cuộc chiến tranh trên biên giới phía Bắc Việt Nam, một trong các mục tiêu rõ ràng là cứu chế độ Pol Pot, giữ Campuchia ở trong quỹ đạo của mình.

Theo các sử gia quốc tế, một lý do quan trọng khác là Trung Quốc muốn trừng phạt Việt Nam vì Hiệp ước Hữu nghị, hợp tác ký kết với Liên Xô vào tháng 11/1978.

Tiến sĩ Maria Strasakova, chuyên gia lịch sử của Đại học Metropolitan Prague (Cộng hòa Czech), nhận định với Zing.vn rằng Liên Xô được Trung Quốc cùng với Mỹ coi là đối trọng lúc bấy giờ. Và hiệp ước giữa Việt Nam và Liên Xô lúc đó làm Bắc Kinh rất phật ý. Trung Quốc cũng quan ngại rằng Liên Xô sẽ từ đó đẩy sâu tầm ảnh hưởng của mình tại Đông Nam Á.

“Trong bối cảnh Chiến tranh lạnh còn đang diễn ra, hành động của Bắc Kinh nhận được sự đồng thuận ngầm từ các nước phương Tây, trong đó có Mỹ”, bà Strasakova nói.

Ngoài ra, Bắc Kinh còn âm mưu phá hoại tiềm lực quốc phòng và kinh tế của Việt Nam. Ý đồ của họ là tiêu diệt một bộ phận lực lượng vũ trang Việt Nam, nhất là khối bộ đội chủ lực, phá hoại cơ sở kinh tế, tàn sát gây tâm lý khủng khiếp trong nhân dân, hạ uy thế quân sự, chính trị của Việt Nam sau chiến thắng 30/4/1975.

Dải đất biên giới Việt – Trung suốt một thời gian dài chứng kiến mối quan hệ hợp tác, hữu nghị của 2 đảng, 2 nhà nước bỗng trở nên căng thẳng trong năm 1978. Trung Quốc rút chuyên gia, cắt viện trợ, trắng trợn vu cáo Việt Nam ngược đãi, khủng bố Hoa kiều, “quấy rối biên cương”.

Ông Mai Khánh Thát, nguyên Đồn trưởng đồn biên phòng Pha Long (Lào Cai) vẫn nhớ như in không khí căng thẳng ở biên giới trước khi đối phương tấn công.

“Trước khi xảy ra chiến sự, lực lượng vũ trang Trung Quốc tổ chức mật phục đón lõng, khám xét người dân đi lại dọc tuyến biên giới. Họ cũng thực hiện các cuộc tấn công nhỏ lẻ thăm dò thái độ của Việt Nam”, ông Thát nói.

Ngoài ra, Trung Quốc thường xuyên chức cho dân binh vượt biên sang Việt Nam đốt nhà, trộm trâu bò, đốt nương ngô rồi vu là người Việt Nam ăn trộm trâu bò của Trung Quốc.

Ông Thát đại diện đồn biên phòng Pha Long cùng người dân biên giới sang đồn biên phòng Lao Kha – Trung Quốc phản đối, yêu cầu đồn Trưởng đồn Lao Kha ký kết biên bản ghi nhớ không được xâm phạm biên giới Việt Nam. Tuy nhiên, sau khi ký kết biên bản ghi nhớ, mọi việc đâu lại vào đấy.

Cuối 1978, Trung Quốc tăng cường làm đường, xây dựng căn cứ và tập trung quân đội sát biên giới. Bất chấp nỗ lực giải quyết căng thẳng bằng con đường hòa bình của Việt Nam, Đặng Tiểu Bình vẫn quyết tâm thực hiện cuộc chiến tranh “trừng phạt Việt Nam” với luận điệu “phản kích tự vệ”.

Từ tháng 8/1978, phía Trung Quốc điều động lực lượng ra biên giới gồm 9 quân đoàn và 5 sư đoàn độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn bộ binh) cùng 550 xe tăng, xe bọc thép, 2.558 pháo (trong đó có 1.092 pháo xe kéo), 676 máy bay. Trên hướng biển, hàng chục tàu chiến thuộc Hạm đội Nam Hải yểm trợ.

Trước diễn biến căng thẳng, lực lượng vũ trang Quân khu 1, Quân khu 2 và người dân các tỉnh biên giới nhanh chóng chuyển địa bàn vốn là hậu phương trước đây thành tiền tuyến của cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Tháng 2 của 40 năm về trước, sương giá bao phủ đỉnh Mẫu Sơn, từng đoàn bộ đội hành quân lên biên giới trong mưa phùn gió bấc. Ngược đường họ đi là cảnh dân thường bồng bế nhau chạy giặc.

Ông Khổng Minh Quý, chiến sĩ sư đoàn 345, chốt chặn trên cao điểm phía sau thị xã Lào Cai nhớ lại: “Đêm 16, rạng sáng 17/2 nghe thấy tiếng pháo, biết Trung Quốc bắt đầu tấn công. Đến trưa 17/2 đã thấy đồng bào gồng gánh chạy từ thị xã Lao Cai về”.

Với người cựu binh đã ngoài 60, ánh mắt của những người dân chạy giặc là thứ ám ảnh ông suốt cuộc đời. “Nhìn vào những ánh mắt ấy, chỉ muốn chạy ngược đoàn người, lao ngay về phía giặc, nhưng lúc đó không ai được bỏ chốt”, ông Quý nói.

Ngày 22/2/1979, Trung Quốc chiếm thị xã Lào Cai, Cao Bằng, Pháo đài Đồng Đăng (Lạng Sơn) và uy hiếp thị xã Lạng Sơn.

Trải qua hơn 10 ngày chiến đấu, lực lượng vũ trang Quân khu 1, Quân khu 2 và người dân 6 tỉnh biên giới đã đánh trả quyết liệt các đợt tiến công của quân Trung Quốc. Nhiều mũi tiến công của đối phương bị bẻ gãy. Phía Việt Nam tiêu diệt nhiều sinh lực, làm chậm ý đồ đánh nhanh, chiếm nhanh của Trung Quốc.

Tuy nhiên, do có ưu thế quân đông và nhiều vũ khí trang bị nên quân Trung Quốc đã tiến sâu vào nội địa Việt Nam trên một số hướng như Cao Bằng (từ 40 đến 50 km), Lạng Sơn, Lào Cai (từ 10 đến 15 km).

Trong 6 tỉnh biên giới phía Bắc, quy mô chiến sự lớn nhất ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng và Lào Cai. Mỗi tỉnh phải chống đỡ cùng lúc 2 đến 3 quân đoàn chủ lực của Trung Quốc chỉ với lực lượng biên phòng, bộ đội địa phương, các đội tự vệ nhà máy, xí nghiệp và một số sư đoàn của Quân khu 1, Quân khu 2 đứng chân tại địa phương.

Trung Quốc lựa chọn thời điểm tấn công khi phần lớn quân chủ lực của Việt Nam đang dồn sức tại chiến trường Campuchia. Lực lượng của Việt Nam trong những ngày đầu chủ yếu là Công an Vũ trang (nay là bộ đội biên phòng), dân quân tự vệ tại các cơ quan xí nghiệp và bộ đội địa phương. Trong khi Trung Quốc có những đơn vị chủ lực cấp quân đoàn với xe tăng, pháo hạng nặng.

Tại nghĩa trang liệt sĩ TP Lạng Sơn bây giờ vẫn còn hàng dài những ngôi mộ dân quân tự vệ nằm cạnh nhau. Nhiều ngôi mộ cùng ghi ngày mất là 17/2/1979 với tên đơn vị là “Thị đội thị xã Lạng Sơn”.

Đến ngày 5/3/1979, quân Trung Quốc đã chiếm được hầu hết thị xã trung tâm dọc tuyến biên giới như Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai… Trước tình thế nguy cấp, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ra lệnh Tổng động viên toàn quân, toàn dân kháng chiến.

Kể từ giờ phút đó, mọi công dân trong lứa tuổi do luật định đều gia nhập lực lượng vũ trang theo kế hoạch của Hội đồng Chính phủ. Cả nước huy động mọi nhân lực, vật lực, tài lực cần thiết để đảm bảo nhu cầu của cuộc kháng chiến.

Nửa sau cuộc chiến, các đơn vị chủ lực của Việt Nam từ phía Nam được điều động lên biên giới để phản kích.

Chiều 5/3/1979, sau nửa ngày chiếm đóng thị xã Lạng Sơn, Trung Quốc tuyên bố rút quân trên toàn tuyến biên giới. Đối phương tuyên bố rút quân vì đã “đạt mục tiêu đề ra”.

Trên thực tế, các đơn vị chủ lực của Việt Nam đã áp sát, chuẩn bị phản kích trên toàn tuyến biên giới. Trung Quốc buộc phải rút quân để tránh đòn giáng trả của lực lượng vũ trang Việt Nam.

Sau 1 tháng chiến đấu, Việt Nam đã gây tổn thất cho 9 quân đoàn chủ lực của Trung Quốc, loại khỏi vòng chiến đấu 62.500 quân, tiêu diệt hoặc đánh thiệt hại 3 trung đoàn, 18 tiểu đoàn, phá hủy 550 xe quân sự, trong đó 280 xe tăng và xe bọc thép, phá hủy 115 khẩu pháo và cối hạng nặng.

Về phía Việt Nam, hệ thống các chốt biên phòng dọc tuyến biên giới phía Bắc bị tàn phá nặng nề, cơ sở hạ tầng tại những nơi quân Trung Quốc chiếm đóng đều bị phá hoại. Đối phương không chỉ giết hại vô số dân thường mà còn cướp bóc, đập phá nhà cửa làng mạc.

Dù tuyên bố rút quân, nhưng trên thực tế, phía Trung Quốc vẫn chiếm đóng trái phép một số điểm cao thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, có nơi sâu từ 200 đến 500 mét, thường xuyên gây xung đột vũ trang.

Những địa danh đẫm máu như Pháo đài Đồng Đăng (Lạng Sơn), Đồn biên phòng Pha Long (Lào Cai), Đồn biên phòng Pò Hèn (Quảng Ninh), Đồn biên phòng Ma Lù Thàng (Lai Châu), thôn Tổng Chúp (Cao Bằng)… in sâu dấu vết và ký ức về cuộc chiến.

Trong hoàn cảnh biên giới phía Bắc bị đe dọa, Việt Nam vẫn giữ lực lượng để truy quét tàn quân Pol Pot và giúp Campuchia ổn định. Mưu đồ giải cứu đồng minh Khme Đỏ của Trung Quốc bị phá sản hoàn toàn.

Ngoài ra, uy tín quốc tế của Trung Quốc còn chịu tổn hại nặng nề, TS Strasakova nhận định. Cuộc chiến đã để lộ những điểm yếu của quân đội Trung Quốc – nhất là trong về khâu hậu cần và thiết bị.

“Trên trường quốc tế, đặc biệt là trong mắt của các nước ASEAN, hình ảnh của Trung Quốc bị xấu đi rất nhiều, một số nước như Indonesia và Malaysia bắt đầu thiếu tin tưởng Bắc Kinh”, bà Strasakova nói.

Biên giới Hà Giang một ngày tháng 7/1984. Trong hang Làng Lò, một hang núi nằm cách ngã 3 Thanh Thủy (huyện Vị Xuyên, Hà Giang) chưa đầy 2 cây số, từng đoàn thương binh từ các cao điểm 468, 685, 1100, Cô Ích, Bốn Hầm liên tục được chuyển về.

Đại tá Phan Lạc Hợi, khi đó giữ chức Tiểu đoàn phó tại mặt trận Vị Xuyên, vẫn nhớ như in những âm thanh, hình ảnh trong cái hang được trưng dụng làm bệnh viện dã chiến ấy.

“Tiếng thương binh la hét khắp nơi, thân thể họ bầm dập. Không đủ thuốc tê và dụng cụ, cũng chẳng có kíp mổ đầy đủ, bác sĩ y tá chia ra mỗi người lo một ca. Họ cầm những chiếc cưa sắt và bắt đầu loại đi những phần cơ thể đã dập nát vì bom đạn trong tiếng rên la của các thương binh”, ông Hợi nói.

Có một dòng suối chảy xuyên qua hang, bên kia bờ suối là bãi đất nhỏ nơi xác bộ đội nằm chất lên nhau sau những nỗ lực cứu chữa không thành. Với ông Hợi, đó như một phần ký ức đau đớn nhất về chiến tranh biên giới.

Thời điểm đó đã hơn 5 năm kể từ cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, nhiều tỉnh biên giới đã im tiếng súng, nhưng giao tranh vẫn ác liệt trên mặt trận Vị Xuyên.

Giữa năm 1984, Trung Quốc lại ồ ạt đưa 500.000 quân qua biên giới tỉnh Hà Giang để chiếm đóng các cao điểm của Việt Nam như 1509, 226, 233, 685, 772, 1030, 1250… Mặt trận Vị Xuyên – Hà Giang trở thành vùng chiến sự ác liệt và dai dẳng nhất trong cuộc chiến chống xâm lấn biên giới.

Đỉnh 1509 (cách gọi đỉnh núi theo chiều cao tính từ mặt nước biển) là cao điểm quan trọng nằm trên địa phận huyện Vị Xuyên, giáp biên giới Trung Quốc. Trung đoàn 122 Sư đoàn 313 vẫn có mặt tại cao điểm này cho đến ngày 30/4/1984 thì bị quân Trung Quốc dùng số đông chiếm giữ, bộ đội Việt Nam phải lùi xuống các bình độ 1300, 1200 rồi 1100 để tiếp tục chiến đấu.

Khác với chiến sự tháng 2/1979 với mục tiêu “dạy cho Việt Nam một bài học”, cuộc chiến 1984 – 1989 cho thấy rõ mục tiêu xâm lấn lãnh thổ của đối phương. Ý đồ của Trung Quốc là đánh chiếm đến tận bờ bắc suối Thanh Thủy (một con suối thuộc huyện Vị Xuyên, cách biên giới 2 km) hòng vẽ lại bản đồ lãnh thổ, coi suối Thanh Thủy như biên giới tự nhiên.

Tại huyện biên giới Vị Xuyên, hai bên giành giật nhau từng điểm cao. Trong hồi ức của cựu chiến binh Hợi, ngày đẫm máu nhất là 12/7/1984. Trong trận xung phong tổng lực nhằm giành lại cao điểm 772, khoảng 1.000 bộ đội Việt Nam đã hy sinh, riêng sư đoàn 356 mất hơn 500 người. Ngày 12/7 sau này được sư đoàn 356 chọn làm ngày giỗ trận.

Sau nhiều nỗ lực đẩy quân đội Việt Nam khỏi bờ bắc suối Thanh Thủy không thành, đến năm 1989, Trung Quốc buộc phải rút quân khỏi các cao điểm ở Vị Xuyên. Kết quả đó được đánh đổi bằng 4.000 bộ đội Việt Nam hy sinh, hàng nghìn người bị thương, nhiều liệt sĩ chưa tìm được hài cốt. Phía Trung Quốc cũng chịu thiệt hại không nhỏ.

Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Việt Nam bắt đầu từ năm 1979 nhưng diễn ra dai dẳng và ác liệt đến tận năm 1989 (10 năm sau).

Không riêng ở Hà Giang, tình hình dọc tuyến biên giới phía Bắc đều căng thẳng trong suốt những năm 1980. Trung Quốc duy trì những vụ pháo kích, đột kích lẻ tẻ ở vùng rừng núi biên giới. Tình hình chỉ hạ nhiệt khi 2 nước hoàn tất phân giới cắm mốc biên giới trên bộ vào năm 2009.

Ngọc Tân – Bình An
Đồ họa: Phượng Nguyễn

CUỘC CHIẾN TRANH CHỐNG TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC ĐÃ RẤT ĐẪM MÁU, SUÝT CÒN ĐẪM MÁU HƠN!


Kỷ niệm 10 năm cuộc chiến vệ quốc 1979, tôi được cử lên Lạng Sơn 1 tháng. Ở đó tôi nghe được những câu chuyện mà báo chí chưa bao giờ viết. Xin kể lại để chúng ta biết và suy ngẫm.

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và mọi người đang đứng

(Ông Lê Duẩn chụp ảnh kỷ niệm với Ban chỉ huy Mặt trận Lạng Sơn – ảnh trên mạng Internet)


Tháng 12/1988, tôi được báo là chuẩn bị đi công tác Lạng Sơn. Trước ngày lên đường, lại được báo là cần gặp ông Đinh Nho Liêm – Ủy viên trung ương Đảng, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao.
Tôi đến nhà ông ấy ở số 3 Cao Bá Quát (Ba Đình, Hà Nội). Nhìn thấy tôi, ông Đinh Nho Liêm thất vọng (hay ít ra cũng không hài lòng) nhưng rồi ông vẫn mời tôi vào nhà. Khi đã ngồi xuống ghế, ông Đinh Nho Liêm hỏi tôi: “Cậu làm việc ở Tạp chí Cộng sản được bao lâu rồi?”/ “Dạ, 6 năm ạ.”/ “Học ở đâu ra?”/ “Ở Liên Xô về ạ”/ “Quê ở đâu?”/ “ Quỳnh Lưu, Nghệ An ạ”…


Sau khi “hỏi ngắn, đáp gọn” như vậy, ông Đinh Nho Liêm có vẻ vui tươi hơn một chút nhưng lại hỏi rất nghiêm trang: “Cậu biết rõ nhiệm vụ đi Lạng Sơn của mình lần này rồi chứ?”/ “Dạ, việc của nhà báo thì chỉ viết thôi chứ còn làm gì nữa ạ?!”/ “Đúng là viết nhưng không phải viết bình thường, mà cậu chắp bút cho Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn La Thăng (1922 -2014) một để bài kỷ niệm 10 năm chiến tranh biên giới với Trung Quốc để đăng vào số tháng 2/1989 của Tạp chí Cộng sản. Tinh thần là kỷ niệm 10 năm cuộc chiến đẫm máu nhưng không phải gây thù hận, mà là bắt tay giảng hòa. Chắc cậu hiểu rõ ý nghĩa của việc này rồi…”.


Sau đó, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Đinh Nho Liêm nói về sự cần thiết phải bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc; sự lắt léo, khó khăn, phức tạp của việc này. Tôi ngồi nghe chăm chú nhưng chưa hình dung được mình sẽ viết ra sao, mặc dù việc chắp bút (viết cho người khác đứng tên) tôi cũng đã làm khá nhiều.


Đoàn công tác của Tạp chí Cộng sản do Vụ trưởng Vụ Quốc tế Nguyễn Trọng Thụ dẫn đầu được Tỉnh ủy Lạng Sơn tiếp đón rất trọng thị. Bí thư La Thăng tin tưởng là sắp tới, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ có bước chuyển biến tích cực. Sau 5 ngày, đoàn trở về Hà Nội, riêng tôi ở lại. Nhiệm vụ của tôi là trong một tháng phải viết xong bài báo dài cỡ 3 – 4 ngàn chữ để kỷ niệm 10 năm cuộc chiến với Trung Quốc trên biên giới phía Bắc với tinh thần hòa giải.


Để nắm được tình hình cuộc chiến 10 năm về trước, tôi được tiếp cận với mọi tài liệu mật, được lên các đồn biên phòng, được hỏi Bí thư La Thăng. Tuy nhiên, người luôn luôn trò chuyện với tôi, cung cấp nhiều thông tin và nhiều nhận định có giá trị là ông Trần Rỹ – Trưởng Ban Tuyên huấn (ngày đó chưa gọi là Tuyên giáo) Tỉnh ủy Lạng Sơn. Ông Trần Rỹ người Hà Tây, trong chiến tranh biên giới 10 năm về trước, ông mang quân hàm đại tá và giữ chức Phó Tư lệnh mặt trận Lạng Sơn.


Sau khi bài báo đã được hình thành, chỉ chờ Ban thường vụ Tỉnh ủy có ý kiến, Bí thư chỉnh sửa nữa là xong; ông Trần Rỹ nói với tôi: “Tớ kể chuyện này cho cậu, nghe để biết thôi chứ không phải để viết báo đâu nhé!”. Tôi hứa với ông là sẽ không viết báo về chuyện này trong thời gian sắp tới. Nếu chúng ta có luật giải mật, chuyện ông Rỹ kể chắc cũng được giải mật rồi. Hơn nữa, đây không phải là viết báo, mà chỉ viết trên facebook – “nhà” của tôi.


Theo ông Trần Rỹ, khi chiến tranh xẩy ra, trên mặt trận Lạng Sơn, phía ta có khoảng 50.000 quân, kể cả bộ đội địa phương. Trung Quốc dồn vào hướng Lạng Sơn tới 180.000 quân. Vì vậy, dù chiến đấu rất dũng cảm nhưng quân ta vẫn phải vừa đánh, vừa rút lui và chịu tổn thất khá nặng. Trước tình thế khó khăn, ngày 24/2/1979, Quân khu I quyết định thành lập Mặt Trận Lạng Sơn do Thiếu tướng Hoàng Đan làm Tư lệnh. Ông từ Hà Nội lên nhận nhiệm vụ và ra chiến trường khảo sát ngay. Không may, chiếc xe bọc thép ông đi bị trúng đạn, nổ tung. Tất cả những người trong xe đều hi sinh, riêng ông Hoàng Đan không hề hấn gì. Tuy nhiên, ông biết rằng quân ta sẽ không thể giữ được thị xã Lạng Sơn. Đồng Bành (cách thị xã Lạng Sơn khoảng 18 km) được chọn làm “Đại bản doanh” của quân ta để củng cố lực lượng và chờ cơ hội phản công.


Đúng như nhận định của Thiếu tướng Hoàng Đan, ngày 3/3/1979, quân Trung Quốc chiếm được Lạng Sơn. Ngay trong đêm hôm đó, Tổng Bí thư Lê Duẩn có mặt ở Đồng Bành, ông tỏ ra rất tức giận vì mất Lạng Sơn, đến nỗi ông văng tục: “Các cậu đánh đấm như con c.., mất mẹ nó Lạng Sơn!”. Ông họp với Bộ Tư lệnh Mặt trận Lạng Sơn và đưa ra một quyết định ghê gớm: Phải san phẳng thành phố Bằng Tường để trả đũa việc Trung Quốc chiếm thị xã Lạng Sơn.


Lúc này, với sự trợ giúp về vận tải của Liên Xô, quân chính quy của chúng ta đã có mặt ở Bắc Giang với nhiều vũ khí, khí tài hiện đại. Thực hiện chỉ đạo của Tổng bí thư Lê Duẩn, dưới sự chỉ huy của Tướng Hoàng Đan, chỉ trong một thời gian ngắn (chủ yếu là đêm ngày 4/3/1979), ta đã đưa vào vị trí chiến đấu hàng chục dàn hỏa tiễn “Cachiusa”. Đây là loại vũ khí nhiều nòng có thể bắn hàng loạt đạn tới thành phố Bằng Tường của Trung Quốc; chỉ còn chờ lệnh khai hỏa là thành phố này bị xóa sổ. Tướng Hoàng Đan là người chủ trương “đánh cho Trung Quốc hiểu rằng, họ sẽ phải trả giá không chịu đựng nổi” nên chuyện ta phản công mạnh mẽ là điều không tránh khỏi. (Nghe đến đây, tôi dựng tóc gáy vì năm 1976, tôi qua lại thành phố Bằng Tường 3 lần và biết đây là thành phố xinh đẹp, đông dân, có đường sắt hữu nghị Hà Nội – Bắc Kinh chạy qua. Nếu ta trang bằng thành phố này, Trung Quốc sẽ không ngồi im. Và thế là cuộc chiến tranh càng đẫm máu thêm).


Nhưng sáng ngày 5/3/1979, Trung Quốc bất ngờ tuyên bố rút quân. Nhận được tin này, Bộ Tư lệnh Mặt trận Lạng Sơn hội ý và thảo luận là có phản công và “san phẳng” thành phố Bằng Tường nữa hay không? Tất cả nhất trí là phải hỏi ý kiến Tổng bí thư Lê Duẩn vì chính ông ra lệnh san phẳng Bằng Tường để trả đũa việc Trung Quốc chiếm và tàn phá thị xã Lạng Sơn. Dù là người chủ trương “san phẳng” Bằng Tường nhưng khi Trung Quốc tuyên bố rút quân, ông Lê Duẩn cũng nguôi giận và cho rằng, không cần phải đổ máu thêm nữa. Tướng Hoàng Đan tuy tiếc công đã đưa được vũ khí, khí tài vào vị trí chiến đấu rồi nhưng vẫn đồng tình với chủ trương không phản công, không truy kích khi Trung Quốc rút quân.


Nếu Trung Quốc không tuyên bố rút quân vào ngày 5/3/1979 thì trên mặt trận Lạng Sơn chắc chắn hai bên sẽ còn mất nhiều sinh mạng hơn nữa, thù hận sẽ còn sâu sắc hơn nữa. Nay, kỷ niệm 40 năm cuộc chiến đẫm máu với người láng giềng Trung Quốc, tôi kể lại chuyện được nghe để thấy chúng ta không hề sợ Trung Quốc, dù họ đông, họ mạnh hơn.



40 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc: Không thể quên!

T40 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc (17.2.1979 – 17.2.2019): Trên từng tấc đất, vạt rừng Tổ quốc, những người lính, người dân Việt đã kiên cường đánh trả quân xâm lược.

Bia trấn ải được dựng tháng 5.2013 ở cổng Đồn biên phòng Pha Long (Mường Khương, Lào Cai), nơi cách đây 40 năm diễn ra chiến sự ác liệt chống quân Trung Quốc xâm lược – Ảnh: Mai Thanh Hải

Sáng sớm 17.2.1979, Trung Quốc đưa hơn 600.000 quân cùng hàng ngàn xe tăng, xe cơ giới ồ ạt tràn qua biên giới, tấn công 6 tỉnh phía bắc nước ta, tàn sát dân lành vô tội. Trên từng tấc đất, vạt rừng Tổ quốc, những người lính, người dân Việt đã kiên cường đánh trả quân xâm lược. Rất nhiều người đã ngã xuống, dựng nên trang sử hào hùng của dân tộc mà mỗi chúng ta mãi mãi không thể quên, không được phép lãng quên.

Thiếu tướng Đinh Văn Tuy (thứ 3 từ trái sang), Phó chính ủy Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang kiểm tra công tác sẵn sàng chiến đấu tại Hoàng Liên Sơn cuối năm 1978 – Ảnh: Tư liệu BĐBP

Trong căn nhà nhỏ nằm nép bên chợ Phố Ràng (TT.Phố Ràng, H.Bảo Yên, Lào Cai), cựu chiến binh Phan Doãn Năm (61 tuổi, quê H.Vũ Thư, Thái Bình) ngồi nhớ rành mạch những tháng ngày trực tiếp chống quân xâm lược, dù đã 40 năm trôi qua.

Đánh đến viên đạn cuối cùng

Tháng 7.1977, ông Năm nhập ngũ vào Công an nhân dân vũ trang (CANDVT, nay là Bộ đội biên phòng (BĐBP) tỉnh Hoàng Liên Sơn, nay tách ra thành 2 tỉnh Lào Cai, Yên Bái). Đầu tháng 1.1978, khi tình hình biên giới có dấu hiệu căng thẳng, ông được đưa về trường hạ sĩ quan cảnh sát bảo vệ (nay là trường trung cấp cảnh sát vũ trang) học võ thuật. Tháng 8.1978, hạ sĩ Phan Doãn Năm được rút về CANDVT Hoàng Liên Sơn làm tiểu đội trưởng huấn luyện chiến sĩ mới nhập ngũ. Cuối năm 1978, cả đại đội tân binh được chuyển phiên hiệu thành Đại đội 3 cơ động của CANDVT tỉnh, cấp tốc hành quân lên Mường Khương xây dựng trận địa, sẵn sàng chiến đấu.

“Tháng 12.1978, chúng tôi lên tới thôn Sả Chải của xã Pha Long. Việc đầu tiên là nhận điểm chốt, đào hầm hào công sự và ngăn chặn lính Trung Quốc xâm nhập biên giới”, ông Năm nhớ lại.

Đêm gần Tết Kỷ Mùi 1979, tổ công tác 4 người do ông làm tổ trưởng tuần tra đến ngã ba sông Xanh (đầu nguồn sông Chảy, giáp giới 2 huyện Mường Khương và Si Ma Cai thuộc tỉnh Lào Cai, VN và bên kia là Trung Quốc) thì gặp tốp thám báo Trung Quốc gồm 8 tên. Lính Trung Quốc ỷ đông định bắt sống bộ đội ta nhưng bị đánh trả quyết liệt và ông Năm dùng võ thuật giải cứu đồng đội, đẩy địch về bên kia biên giới.

“Chúng tôi có mang đầy đủ súng đạn nhưng hồi ấy lệnh của trên là không được nổ súng trước”, ông Năm kể.

Ông Phan Doãn Năm: “… hồi ấy lệnh của trên là không được nổ súng trước…” – Ảnh: Mai Thanh Hải

Rạng sáng 17.2.1979 là thứ bảy, 21 tháng giêng nên vẫn còn không khí tết. Lúc 2 giờ sáng, đang kiểm tra gác thì Tiểu đội trưởng Phan Doãn Năm nghe tiếng súng nổ bên kia biên giới. Lập tức, ông báo động đơn vị sẵn sàng chiến đấu và dẫn 1 tổ cơ động lên trận địa trên chốt, vừa lúc pháo binh từ bên kia biên giới bắn trùm lên toàn xã Pha Long. Sau khoảng nửa tiếng pháo dội cấp tập, ông Năm ra vị trí quan sát thì thấy xung quanh lô nhô toàn lính Trung Quốc. Thì ra chúng đã bao vây đơn vị từ lúc nào.

“Lúc ấy không đợi lệnh trên, tôi ra lệnh nổ súng đánh trả. Đánh nhau đến 9 giờ sáng thì chúng rút. Chúng tôi không thể liên lạc với trung, đại đội nên bảo nhau củng cố hầm hào công sự, tiếp tục chiến đấu. Từ tối 17 đến sáng 18.2, lính Trung Quốc ào ạt tấn công chúng tôi theo hiệu lệnh tù và nhưng không chiếm được chốt Sả Chải. Rạng sáng 19.2.1979, tiểu đội phải rút khỏi chốt vì sau 2 ngày đêm chiến đấu đã cạn kiệt đạn dược, đồ ăn nước uống”, ông Năm rành mạch.

Ông Lê Lừng, nguyên chiến sĩ Đại đội 3 CANDVT Hoàng Liên Sơn, kể lại: “Anh em có đường rút bởi anh Năm liều mình tiếp cận vị trí tập trung quân của địch, bắn liên tiếp 4 quả đạn B40 khiến chúng thương vong nặng, kêu khóc hoảng sợ giãn ra”.

Ông Phan Doãn Năm kể chuyện thăm lại chiến trường xưa Pha Long – Ảnh: Mai Thanh Hải

Đêm 19.2.1979, Tiểu đội trưởng Phan Doãn Năm mới gặp được thượng úy Đại đội trưởng Vàng Seo Sáy và được biết “Các đơn vị trong đại đội bị mất liên lạc với nhau ngay từ rạng sáng 17.2 vì địch bao vây tấn công. Nhiều cán bộ trung đội đã hy sinh”. Nhận lệnh phối hợp cùng đồn Pha Long và chốt 177 của bộ đội địa phương cầm cự bảo vệ đồn bằng mọi cách, nhưng đến rạng sáng 23.2 Tiểu đội trưởng Phan Doãn Năm và chiến sĩ Nguyễn Văn Hiền cũng phải rút khỏi Pha Long bởi bộ đội bị thương vong, bị lạc và mỗi người chỉ còn nửa băng đạn AK.

Nhóm của ông Năm mất gần 2 ngày ở khu vực Pha Long, Tả Gia Khâu, Tả Ngải Chồ và bị phục kích ngay bản Lũng Pâu của xã Tung Chung Phố. Lính Trung Quốc bắn như đổ đạn khiến ông bị gãy chân, nằm sau vách đá bắn tỉa cản đường cho đồng đội rút. Mãi đến khuya, khi lính Trung Quốc bỏ ý định bắt sống, ông mới bò lết gần 2 ngày đêm về TT.Mường Khương, trên lưng là khẩu AK hết đạn và ngực đeo quả lựu đạn “để giật nổ tự sát và diệt địch, nếu bị chúng bao vây bắt sống”.

Từ TT.Mường Khương, ông Năm được 2 nữ nhân viên thương nghiệp thay nhau cõng về xã Cao Sơn (H.Mường Khương), men theo bờ sông Chảy tới trạm phẫu thuật tiền phương ở đầu cầu Bảo Nhai. Hành trình của ông và 2 cô gái kéo dài 4 – 5 ngày đêm.

Cờ Tổ quốc trên rừng hoa mận Pha Long – Ảnh: Mai Thanh Hải

Xin được trở lại mặt trận

Từ 3 giờ 30 ngày 17.2.1979, Trung Quốc sử dụng pháo binh bắn phá một số mục tiêu trong lãnh thổ nước ta, sau đó huy động hơn 600.000 quân cùng hàng ngàn xe tăng, xe cơ giới tiến công sang lãnh thổ VN. Hướng tiến công chủ yếu là Lạng Sơn và Cao Bằng; hướng quan trọng là Lào Cai (Hoàng Liên Sơn); hướng phối hợp là Phong Thổ (Lai Châu) và hướng nghi binh, thu hút lực lượng ta là Quảng Ninh và Hà Tuyên.

Từ trước đó, năm 1975, phía Trung Quốc gây ra 234 vụ lấn chiếm lãnh thổ, khiêu khích vũ trang. Đến năm 1978, con số này tăng lên 2.175 vụ, gần gấp 10 lần…

“Ngày tôi chiến đấu ở Mường Khương, mẹ và em tôi bị lính Trung Quốc giết hại. Cúng 100 ngày cho mẹ và em xong, bố tôi cũng nằm xuống”, người cựu binh lặng lại.

Thời điểm tháng 2.1979, gia đình ông Năm ở KP.5, khu Duyên Hải, TX.Lào Cai (nay là P.Duyên Hải, TP.Lào Cai). Ông là con thứ 4 trong gia đình, trên có 3 anh chị và sau ông là em gái Phan Thị Sáu đang học lớp 10. Rạng sáng 17.2.1979, Trung Quốc bất ngờ nã pháo và bắc cầu phao cho lính tràn sang tấn công TX.Lào Cai. Gia đình ông Năm cũng như hàng nghìn gia đình trong thị xã phải tứ tán chạy giặc. Anh trai Phan Nhật Quang đưa vợ vừa sinh con và bố Phan Doãn Năng đang ốm về phía sau. Chị gái Phan Thị Tư lạc đường, mãi mới tìm về Yên Bái với chị Phan Thị Lịch. Riêng mẹ Đoàn Thị Dần (lúc đó 54 tuổi) cùng cô út Phan Thị Sáu kẹt lại thị xã, lính Trung Quốc tràn vào bắn chết cả 2 mẹ con ngay ngã ba Công Ty, trên đường từ thị xã lên H.Bát Xát.

Đầu tháng 3.1979, khi đang nằm điều trị tại bệnh viện 6 tiền phương (lúc ấy đóng tạm ở xã Tây Cốc, H.Đoan Hùng, Phú Thọ), ông Năm bất ngờ thấy anh Quang và chị Tư đạp xe đến tìm và òa khóc: “Tìm thấy em rồi, nhưng vẫn không thấy mẹ và út đâu”. Ông nằng nặc xin ra viện, chống nạng về quê nội Thái Bình tìm mẹ nhưng không thấy, đành về lại đơn vị điều trị. Được mấy ngày thì nghe tin hàng xóm tìm thấy xác của mẹ và em nằm dưới tấm liếp ven đường, chỉ cách nhau vài mét. Không biết chính xác ngày mất, gia đình ông Năm lấy ngày 22.2 làm ngày giỗ cho 2 người thân.

Ngày cúng 100 ngày là 24.5.1979, vừa làm xong lễ thì bố Phan Doãn Năng không chịu nổi mất mát, ra đi theo vợ con. “Cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc cướp đi nửa gia đình tôi. Hồi ấy, tôi xin được đi chiến đấu tiếp nhưng cấp trên không đồng ý vì là thương binh và cuối tháng 12.1980 cho tôi xuất ngũ”, ông Năm ứa nước mắt và cho biết gần 40 năm nay, sáng 17.2 nào ông cũng dậy sớm thắp 3 bát hương không có ảnh thờ…

Sau khi xuất ngũ, thượng sĩ Phan Doãn Năm chuyển ngành sang Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hoàng Liên Sơn. Khi tách tỉnh, ông chuyển công tác lên Viện Kiểm sát nhân dân H.Bảo Yên (Lào Cai) và năm 2011 nghỉ hưu với chức danh kiểm sát viên sơ cấp 4. Là thương binh 3/4 nên việc di chuyển đi lại rất khó khăn, mãi đến tháng 7.2016 ông mới có điều kiện quay trở lại chiến trường xưa Pha Long (Mường Khương, Lào Cai) trong dịp cầu siêu cho đồng đội đã hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới tháng 2.1979. Ông bảo: “Tôi được sống, vẫn còn may mắn hơn những anh em đã hy sinh. Gia đình tôi tìm được thi hài người thân, còn may mắn hơn hàng nghìn gia đình mất mát trong thị xã. Đã có quá nhiều hy sinh, mất mát trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược, bảo vệ biên giới phía bắc của Tổ quốc nên tôi và đồng đội luôn tự dặn mình không thể quên, không được phép lãng quên”. (còn tiếp)

Mai Thanh Hải

Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979: Khi đại quân chính quy xung trận

Cuộc chuyển quân thần tốc bằng cả đường biển, đường bộ, đường sắt và đường không bắt đầu từ 6- 11/3 những đơn vị đầu tiên của quân đoàn gồm Sư đoàn bộ binh 304, Lữ đoàn pháo binh 164, Lữ đoàn phòng không 673, tiểu đoàn trinh sát… đã về tới Hà Nội.

Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979: Khi đại quân chính quy xung trận - 1

Ngày 18-2, Quân khu 3 cho Sư đoàn bộ binh 327 (gồm Trung đoàn bộ binh 42, 75, 540 và Trung đoàn pháo binh 120) từ Quảng Ninh lên tăng cường cho Quân khu 1. Tiếp đó ngày 19-2, Quân khu 4 gấp rút tổ chức cho Sư đoàn bộ binh 337 (gồm Trung đoàn bộ binh 4, 52, 92 và Trung đoàn pháo binh 108) hành quân bằng cả tàu hỏa và xe vận tải từ Nghệ An ra. 

Ngày 25-2 các đơn vị này đều được bổ sung cho điểm nóng nhất lúc này là mặt trận Lạng Sơn và sau đó nằm trong đội hình Quân đoàn 5 – Binh đoàn Chi Lăng.

Trước tình hình chiến sự ngày càng trở nên quyết liệt ở khu vực thị xã Lạng Sơn, Bộ Quốc phòng đã quyết định sử dụng đến các đơn vị cơ động chiến lược. Ngày 3-3 Quân đoàn 1 – Binh đoàn Quyết Thắng nhận lệnh cho Sư đoàn bộ binh 320B (sau này đổi thành 390 – đoàn Đồng Bằng, gồm Trung đoàn bộ binh 27, 48, 64 và Trung đoàn pháo binh 54) được tăng cường Trung đoàn bộ binh 209 (đoàn Sông Lô) thuộc Sư đoàn bộ binh 312 (đoàn Chiến Thắng) và tiểu đoàn pháo tầm xa 130mm của Lữ đoàn pháo binh 45 (đoàn Tất Thắng) cấp tốc hành quân lên Lạng Sơn. 

Tối 4/3, các đơn vị này đã triển khai sẵn sàng trên tuyến chiến đấu Chi Lăng-Đồng Mỏ-Hữu Kiên. Trước đó một tuần, ngày 27-2, Quân đoàn 2 – Binh đoàn Hương Giang đang làm nhiệm vụ truy quét Khmer Đỏ tại Kampot, Kampong Som (Campuchia) cũng được lệnh cơ động gấp toàn bộ lực lượng về nước. 

Cuộc chuyển quân thần tốc bằng cả đường biển, đường bộ, đường sắt và đường không bắt đầu từ 6-3, đến 11-3 những đơn vị đầu tiên của quân đoàn gồm Sư đoàn bộ binh 304 (đoàn Vinh Quang), Lữ đoàn pháo binh 164 (đoàn Bến Hải), Lữ đoàn phòng không 673, tiểu đoàn trinh sát… đã về tới Hà Nội. 

Theo dự kiến ban đầu, hai sư đoàn 320B và 304 sẽ phối hợp phản công trên hướng Bản Chắt (Đình Lập). Sau khi chiến dịch phản công được ngừng lại, một bộ phận của Sư đoàn 304 đã kịp thời chuyển lên tham gia đánh địch tại Trà Lĩnh (Cao Bằng).

Khi chiến tranh biên giới bắt đầu, Bộ Quốc phòng cũng quyết định điều một phần lực lượng Sư đoàn không quân 372 (đoàn Hải Vân) ra Bắc làm nhiệm vụ. Từ 18-2 đến 3-3-1979, các phi đội thuộc Trung đoàn không quân 917 (đoàn Đồng Tháp), 935 (đoàn Đồng Nai) và 937 (đoàn Hậu Giang) gồm 10 trực thăng UH-1, 3 máy bay trinh sát U-17, 10 máy bay cường kích A-37, 10 máy bay tiêm kích bom F-5 lần lượt được triển khai ở căn cứ Hòa Lạc, Kép, Bạch Mai và Nội Bài, cùng với các phi đội tiêm kích MiG-17, MiG-21 của Sư đoàn không quân 371 (đoàn Thăng Long) đặt trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao độ. 

Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979: Khi đại quân chính quy xung trận - 2

Ở phía Nam, trực thăng và máy bay vận tải của Trung đoàn không quân 916 (đoàn Ba Vì), 918 và Đoàn bay 919 Tổng cục Hàng không dân dụng phối hợp với không quân Liên Xô khẩn trương tập kết và vận chuyển Quân đoàn 2 ra Bắc. 

Ngoài ra Đoàn bay 919 còn sử dụng máy bay vận tải IL-14 (có MiG-21 yểm hộ) bay nhiều chuyến thả dù tiếp tế cho lực lượng vũ trang ta ở khu vực xã Canh Tân-Minh Khai, Thạch An (Cao Bằng).

Lạng Sơn được Quân khu 1 tăng cường Trung đoàn 197 Bắc Thái cho hướng thị xã và Trung đoàn 196 Hà Bắc cho hướng Đình Lập. Sau đó Bộ Quốc phòng còn tiếp tục bổ sung thêm Trung đoàn pháo phản lực 204, Trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn 98 Sư đoàn công binh 473, Lữ đoàn công binh 229 (đoàn Sông Đà), đơn vị súng phun lửa của Trung đoàn phòng hóa 86…

Hướng Cao Bằng được tăng cường Trung đoàn 183 Hải Hưng, Tiểu đoàn đặc công 45, tiểu đoàn pháo tầm xa 122mm của Lữ đoàn pháo binh 675, tiểu đoàn tên lửa chống tăng B72, Trung đoàn 38 Sư đoàn công binh 473, Tiểu đoàn 126, 127 bộ đội địa phương Bắc Thái cùng một số tiểu đoàn tự vệ của nhà máy gang thép Thái Nguyên, công ty xây lắp luyện kim… Ngoài ra Quân khu 1 cho thành lập thêm Sư đoàn bộ binh 311 trên cơ sở Trung đoàn 38 Sư đoàn 473.

Hướng Hoàng Liên Sơn cũng được tăng cường một số đơn vị, trong đó có tiểu đoàn pháo tầm xa của Lữ đoàn pháo binh 368… Tính chung, tổng cộng 2 sư đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn đặc công, 2 tiểu đoàn pháo tầm xa và 25 tiểu đoàn dự nhiệm cùng nhiều đơn vị binh chủng và dân quân tự vệ các địa phương của Quân khu 1, 2, 3, 4 và Thủ đô Hà Nội đã được điều động lên biên giới tham gia chiến đấu hoặc sẵn sàng chiến đấu.

Liên Xô – quốc gia đồng minh lớn nhất lúc đó của Việt Nam đã thực thi nhiều biện pháp tương trợ. Bên cạnh việc cung cấp thông tin tình báo và trinh sát kỹ thuật, Liên Xô lập ra một cầu hàng không lớn góp phần cơ động các đơn vị Việt Nam tại mặt trận Campuchia ra miền Bắc. Moscow còn viện trợ khẩn cấp một khối lượng lớn vũ khí và trang thiết bị bảo đảm qua đường biển, trong đó có 400 xe tăng và thiết giáp, 500 khẩu pháo cối và cao xạ, 50 tổ hợp pháo phản lực BM-21, 400 tổ hợp tên lửa vác vai, 800 súng chống tăng và 20 máy bay chiến đấu. 

Ngoài ra, nhiều đơn vị chính quy ở biên giới Xô-Trung được lệnh báo động và tiến hành tập trận quy mô lớn để tạo áp lực, Hạm đội Thái Bình Dương cũng cho một biên đội tàu chiến đấu xuống tuần tiễu khu vực Biển Đông…

Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979: Khi đại quân chính quy xung trận - 3

Xe tăng Trung Quốc bị tiêu diệt ở mặt trận Cao Bằng

Ngày 5-3, Chủ tịch Tôn Đức Thắng công bố Lệnh tổng động viên toàn quốc “để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của bọn bành trướng và bá quyền Trung Quốc”. 

Cũng trong ngày hôm đó, nhà cầm quyền Bắc Kinh tuyên bố “hoàn thành mục tiêu” và rút quân, tuy nhiên trên thực tế quân Trung Quốc vẫn tiếp tục chiếm đóng, đánh phá nhiều khu vực khiến cho giao tranh còn kéo dài cho đến 18-3-1979 và tiếp tục diễn ra dai dẳng sau đó. 

Theo công bố chính thức của Việt Nam, trong tuần đầu tiên của chiến tranh, lực lượng vũ trang 6 tỉnh biên giới đã loại khỏi vòng chiến 16.000 quân Trung Quốc, con số này tiếp tục tăng lên 27.000 vào ngày 28-2 và 45.000 vào ngày 5-3- ngày Bắc Kinh bắt đầu rút quân. 

Tính đến ngày 18-3 khi chiến tranh tạm thời chấm dứt, các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, công an vũ trang, cảnh sát, dân quân tự vệ của Việt Nam đã tiêu diệt 62.500 tên địch (trong đó bắt sống 260 tù binh), đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn và 18 tiểu đoàn, bắn cháy 280 xe tăng, thiết giáp và 270 xe quân sự, phá hủy 115 khẩu pháo, cối và dàn hỏa tiễn.

Phía Trung Quốc chính thức thừa nhận có 20.000-30.000 quân bị thương vong trong cuộc chiến, 2/3 là của các đơn vị trên hướng Quảng Châu, trong đó 4.000 thương vong xảy ra chỉ trong hai ngày đầu tiên. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu của phương Tây đánh giá con số thiệt hại thực của Trung Quốc cao hơn nhiều, có thể lên đến 46.000-62.000 quân (với khoảng 13.000-26.000 người chết) và khoảng 400 xe tăng bị phá hủy. Họ cũng cho rằng thương vong của các lực lượng vũ trang Việt Nam thấp hơn với khoảng 8.000-10.000 người chết.

Mặc dù vậy, cuộc xâm lược của Bắc Kinh đã gây ra những thiệt hại vô cùng nặng nề cho nước Việt Nam lúc đó đã phải hứng chịu 35 năm chiến tranh liên tục. 

Lính Trung Quốc đã gây ra những vụ hãm hiếp, tàn sát, bắn phá… bừa bãi làm trên 10.000 dân thường Việt Nam bị thương vong. Bên cạnh đó quân Trung Quốc còn thực hiện chính sách cướp bóc và phá hoại triệt để ở các khu vực chiếm đóng được: ước tính 320/320 xã, 735/904 trường học, 428/430 bệnh viện, bệnh xá, 41/41 nông trường, 38/42 lâm trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ, 600.000 mét vuông nhà ở và 80.000 héc-ta hoa màu ở khu vực chiến sự bị tàn phá, 400.000 gia súc bị giết và bị cướp. 

Khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân ở biên giới bị mất nhà cửa, tài sản và phương tiện sinh sống. Các thị xã lớn Lạng Sơn, Cao Bằng và Cam Đường gần như bị hủy diệt hoàn toàn, lính Trung Quốc dùng mìn đánh sập hầu hết các công trình, nhà ở, cầu, đường bộ và đường sắt… ngay cả những di tích lịch sử hoàn toàn không có ý nghĩa gì về mặt quân sự như hang Pắc Bó (Cao Bằng) – từng là nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, động Tam Thanh, Nhị Thanh (Lạng Sơn)… cũng bị phá hoại.

Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979: Khi đại quân chính quy xung trận - 4

Thị xã Lạng Sơn bị quân Trung Quốc tàn phá

Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc tạm thời kết thúc sau 1 tháng, tuy nhiên tiếp nối ngay sau đó là một thời kỳ dài Trung Quốc tiến hành một cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt chống lại Việt Nam. 

Các hoạt động vũ trang như phục kích, tập kích, pháo kích, tiến công lấn chiếm… tiếp tục được Bắc Kinh duy trì với cường độ cao nhằm tạo ra tình trạng căng thẳng, bất ổn ở khu vực biên giới Việt-Trung, gây ra nhiều tổn thất cho lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam. 

Ở nhiều nơi giao tranh diễn ra ác liệt, kéo dài như khu vực bình độ 400 ở Cao Lộc (Lạng Sơn) năm 1981 hay khu vực Thanh Thủy ở Vị Xuyên (Hà Tuyên) từ 1984-1989… Phải tới năm 1990, quan hệ hai nước mới được bình thường hóa, và đến đây hòa bình thực sự mới được lập lại trên lãnh thổ Việt Nam. 
Theo Trường Sơn (Infonet.vn)

Chiến tranh biên giới 1979: Quân TQ thổi kèn tấn công bằng biển người nhưng vũ khí hiện đại nhất còn thua kém VN

Chỉ Nhàn | 

Chiến tranh biên giới 1979: Quân TQ thổi kèn tấn công bằng biển người nhưng vũ khí hiện đại nhất còn thua kém VN
Chiến tranh biên giới 1979

Các loại vũ khí mà Trung Quốc sử dụng trong cuộc chiến xâm lược Việt Nam năm 1979 nhìn chung không hiện đại hơn chúng ta, thậm chí còn kém hơn.

Cách đây 40 năm về trước, rạng sáng ngày 17/2/1979, Bắc Kinh bất ngờ xua hơn nửa triệu quân xâm lược toàn tuyến biên giới Việt Nam sau một thời gian dài tiến hành nhiều hoạt động gây hấn.

Theo các tài liệu phía ta tổng kết sau này, quân xâm lược Bắc Kinh huy động tới 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn độc lập, 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không với tổng số binh sĩ lên tới 600.000 người. Đây được xem là đợt huy động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ Chiến tranh Triều Tiên.

Về mặt vũ khí, chúng triển khai đến 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối và dàn hỏa tiễn, chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 948 máy bay sẵn sàng phía sau.

Số lượng thì đã rõ, tuy nhiên bây lâu nay không nhiều tài liệu nhắc tới cụ thể chủng loại vũ khí mà Bắc Kinh sử dụng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam 1979.

Vậy Quân Trung Quốc xâm lược Việt Nam đầu năm 1979 đã sử dụng những loại vũ khí nào, có vượt trội hơn chúng ta khi đó hay không?

Huy động vũ khí hiện đại nhất cũng chỉ ngang ngửa!

Thực tế không có tài liệu nào ghi rõ chi tiết về chủng loại vũ khí mà quân Trung Quốc sử dụng trong cuộc chiến tranh xâm lược biên giới phía Bắc Việt Nam năm 1979. Hoặc cũng có thể những tài liệu như vậy chưa bao giờ được giải mã.

Chỉ biết rằng căn cứ theo hình ảnh tư liệu về cuộc chiến, thời điểm năm 1979, quân đội Trung Quốc có thể nói đã huy động tất cả những gì họ có trong tay, trừ tên lửa đạn đạo và vũ khí hạt nhân ném vào cái gọi là “dạy cho Việt Nam một bài học”.

– Tiểu liên

Về mặt trang bị cá nhân, phần lớn các binh sĩ Trung Quốc sử dụng khẩu súng trường tấn công Type 56 (Việt Nam gọi là K56) được nước này tự sản xuất theo mẫu AK-47 và AKM Liên Xô.

Type 56 có cấu tạo và nguyên lý hoạt động tương tự AK-47, chỉ có chút khác biệt nhỏ ở lưỡi lê và đầu ruồi. Súng dùng đạn 7,62x39mm, tốc độ bắn 600-650 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 300-400m, xa nhất 800-1.000m.

Ngoài Type 56, các binh sĩ Trung Quốc còn sử dụng phiên bản báng gấp Type 56-I (tương đương mẫu AKMS của Liên Xô). Thường khẩu này hay trang bị cho các đơn vị trinh sát đặc nhiệm hay lính tăng đòi hỏi khẩu súng gọn nhẹ.

Chiến tranh biên giới 1979: Quân TQ thổi kèn tấn công bằng biển người nhưng vũ khí hiện đại nhất còn thua kém VN - Ảnh 1.

Trang bị của một lính Trung Quốc bị quân dân phía Bắc bắt sống năm 1979. Vũ khí ngoài lựu đạn còn có khẩu súng carbine Type 56.

Đáng chú ý, cũng căn cứ vào tư liệu hình ảnh, ngoài tiểu liên Type 56, một phận không nhỏ binh sĩ Trung Quốc súng carbine bán tự động Type 56 sản xuất theo mẫu SKS của Liên Xô (Việt Nam thường biết tới cái tên CKC).

Cơ bản thì carbine Type 56 cũng không khác gì nhiều SKS khi dùng đạn 7,62x39mm, tốc độ bắn 35-40 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 400m.

Ngoài ra, lính Trung Quốc được ghi nhận là sử dụng mẫu súng trường tấn công Type 63 – thiết kế sản xuất trên cơ sở kết hợp khẩu Type 56 carbine và tiểu liên Type 56.

Type 63 có hình dáng khá giống khẩu carbine, tuy nhiên nó sử dụng hộp tiếp đạn kiểu AK-47 nhưng chỉ có 20 viên. Tất nhiên, khẩu súng này bên trong có cơ cấu cơ khí khác biệt cho phép đạt tốc độ bắn liên thanh 680-725 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 100-800m.

Nhìn chung, trang bị cá nhân của binh sĩ Trung Quốc thời điểm năm 1979 chỉ ngang ngửa với Việt Nam, không có gì vượt trội hơn. Lúc bấy giờ, bộ đội ta cũng chủ yếu sử dụng AK/Type 56, CKC và có cả khẩu Type 63.

– Trung liên – đại liên

Đối với loại vũ khí quan trọng dùng để tiêu diệt sinh lực địch tập trung, chi viện cho bộ binh chiến đấu, lính Trung Quốc năm 1979 được cho là chủ yếu sử dụng khẩu súng cũng tên là Type 56.

Nó được Trung Quốc sản xuất trên cơ sở tham khảo khẩu RPD của Liên Xô. Súng sử dụng cỡ đạn 7,62x39mm với hộp tiếp đạn tang trống 100 viên, tốc độ bắn lý thuyết 650 phát/phút.

Ngoài ra, bộ binh Trung Quốc còn được cho là đã sử dụng khẩu trung liên đa công dụng Type 67 có chút tương đồng với dòng PK Liên Xô. Nó dùng đạn 7,62x54mmR, tốc độ bắn 650-700 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 800-1.000m.

Với đại liên, quân Trung Quốc có thể chủ yếu sử dụng khẩu Type 54 – chế theo mẫu DShK 12,7mm của Liên Xô với cùng tính năng.

Chiến tranh biên giới 1979: Quân TQ thổi kèn tấn công bằng biển người nhưng vũ khí hiện đại nhất còn thua kém VN - Ảnh 2.

Lính Trung Quốc sử dụng súng chống tăng Type 69 và trung liên Type 56.

– Súng chống tăng

Thời kỳ này, hỏa lực chống tăng của quân Trung Quốc cũng không hiện đại hơn Việt Nam. Chúng chủ yếu sử dụng khẩu Type 69 được làm trên cơ sở khẩu RPG-7 mà chúng ta thường gọi là B41.

Khẩu này được Trung Quốc sản xuất vào năm 1969 để thay thế Type 56 (sản xuất trên cơ sở RPG-2, Việt Nam gọi là B40). Nó có cỡ nòng 40 mm, trọng lượng 5,6 kg, dài 910 mm, tầm bắn hiệu quả 200 m và xa nhất đạt tới 600 m.

Các loại đạn dành cho Type-69 đều do Trung Quốc sản xuất, khác biệt với đạn RPG-7 và không thể lắp chung cho nhau.

Đối với tên lửa chống tăng, năm 1979 được xem là năm ra đời của tổ hợp tên lửa HJ-73 (Hồng tiễn – 73) được Trung Quốc chế tạo theo mẫu AT-3 của Liên Xô. Tuy nhiên, không rõ việc chúng có sử dụng trong chiến với Việt Nam hay không.

– Pháo – súng cối

Về loại hỏa khí quan trọng trong thành phần lục quân chuyên dùng để tiêu diệt sinh lực địch, phá hủy các công sự kiên cố, Trung Quốc năm 1979 đã tung vào cuộc chiến xâm lược Việt Nam toàn bộ các khẩu pháo tốt nhất của mình từ cỡ 76-152mm.

Tuy nhiên, nhìn chung “vua chiến trường” Trung Quốc không có gì tốt hơn Việt Nam, quá lắm chỉ là ngang ngửa. Bởi đa số các loại pháo Trung Quốc sử dụng đều được sản xuất theo mẫu Liên Xô, mà Việt Nam cũng có trang bị y hệt. Thậm chí, nói một cách chủ quan, “hàng chính hãng” Việt Nam có thể tốt hơn hẳn.

Chiến tranh biên giới 1979: Quân TQ thổi kèn tấn công bằng biển người nhưng vũ khí hiện đại nhất còn thua kém VN - Ảnh 3.

Lựu pháo Type 54 122mm của lính Trung Quốc.

Có thể điểm qua một vài loại pháo, súng cối như khẩu lựu pháo Type 54 122mm được làm theo mẫu M30 122mm của Liên Xô. Pháo có tầm bắn 11,8km, tốc độ bắn 5-6 phát/phút.

Hay khẩu Type 66 152mm được làm theo khẩu D20 152mm của Liên Xô (cũ). Pháo có tầm bắn 17-18km với đạn pháo thông thường.

Hỏa lực pháo kéo bắn xa nhất mà Trung Quốc huy động xâm lược Việt Nam cũng chỉ là khẩu Type 59 130mm làm theo mẫu M46 130mm (bắn xa 27-28km) mà Việt Nam sử dụng rất thành công trong kháng chiến chống Mỹ.

Với súng cối, binh sĩ Trung Quốc sử dụng phổ biến khẩu Type 67 82mm được làm theo mẫu PM-41 Liên Xô với tầm bắn khoảng 3km. Ngoài ra, quân Trung Quốc có thể còn sử dụng súng cối hạng nặng 160mm Type 56 làm theo kiểu 160mm M1943 của Liên Xô. Khẩu này có tầm bắn 5,1km, nạp đạn bằng đuôi.

Tuy không quá nổi bật, nhưng có nhiều hình ảnh xác nhận việc quân xâm lược Trung Quốc đã sử dụng một vài loại pháo phản lực phóng loạt. Ví dụ như Type 70 được chế tạo vào cuối những năm 1960.

Loại này thiết kế trên khung gầm xe thiết giáp chở quân Type 63 với bệ phóng 19 ống 130mm, tầm bắn khoảng 11km.

Ngoài ra, có thể quân Trung Quốc còn sử dụng cả các khẩu pháo phản lực Type 63 107mm (kéo xe hoặc là lắp trên thùng xe tải). Trong khi đó, Việt Nam đã có trong tay pháo phản lực BM-21 Grad thuộc loại hiện đại nhất thế giới lúc bấy giờ.

– Xe tăng – thiết giáp

Về tăng – thiết giáp, theo các thống kê sau này, quân xâm lược Trung Quốc trang bị khoảng 550 xe tăng biên chế cho 6 trung đoàn. Chiếm đa số các xe tăng được sử dụng là loại tăng hạng nhẹ Type 62.

Mặc dù lúc bấy giờ, quân Trung Quốc có trong tay loại Type 59 tương đương với T-54 của Việt Nam. Tuy nhiên, địa hình toàn đồi núi ở biên giới phía Bắc Việt Nam đã khiến chúng chỉ có thể sử dụng Type 62 với khả năng cơ động tốt.

Cho nên, có thể xem Type 62 là loại xe tăng hiện đại nhất mà quân đội Trung Quốc sử dụng trong cuộc chiến xâm lược Việt Nam.

Chiến tranh biên giới 1979: Quân TQ thổi kèn tấn công bằng biển người nhưng vũ khí hiện đại nhất còn thua kém VN - Ảnh 4.

Chiến tranh biên giới 1979: Dù chiến thuật “biển người” hay “biển xe tăng”, Trung Quốc đều thảm bại

Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt 

Chiến tranh biên giới 1979: Dù chiến thuật "biển người" hay "biển xe tăng", Trung Quốc đều thảm bại
Chiến tranh biên giới 1979

Trong đợt tấn công Việt Nam tháng 2/1979, riêng về tăng thiết giáp, Trung Quốc đã huy động 6 trung đoàn với tổng số 550 chiếc.

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam tháng 2/1979, Trung Quốc đã sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn) cùng nhiều đơn vị binh chủng với quân số lên tới hơn 60 vạn.

Riêng về tăng thiết giáp, Trung Quốc đã huy động 6 trung đoàn với tổng số 550 chiếc. Mặc dù chiến sự trải dài trên toàn tuyến biên giới song số cửa khẩu tăng thiết giáp có thể vượt qua chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Chiến tranh biên giới 1979: Dù chiến thuật biển người hay biển xe tăng, Trung Quốc đều thảm bại - Ảnh 1.

Xe tăng Trung Quốc ồ ạt tiến vào Việt Nam sáng ngày 17/2/1979.

Vì vậy, không hề nói quá khi kết luận rằng trong cuộc tấn công này, Trung Quốc không chỉ sử dụng chiến thuật “biển người” mà còn sử dụng cả chiến thuật “biển xe tăng”. Nhưng dù cho có dùng chiến thuật gì đi chăng nữa thì số phận quân xâm lược đều giống nhau mà thôi.

Chiến tranh biên giới 1979: Dù chiến thuật biển người hay biển xe tăng, Trung Quốc đều thảm bại - Ảnh 2.

Đó là trận đánh của Đại đội 10, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 851, Sư đoàn 346, Quân khu 1 ngày 18-2-1979.

Bản Sẩy thuộc xã Bế Triều, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng ở về phía đông bắc đường 166 (thị xã Cao Bằng đi Hà Quảng), cách thị xã Cao Bằng 12km về phía tây bắc, cách biên giới Việt-Trung và mốc 113 khoảng 30km về phía đông nam. Dân cư chủ yếu là người Tày-Nùng, chỉ có dân quân ở lại còn đã sơ tán hết.

Bản Sẩy dài khoảng 600m, rộng 300m, nằm trên một ngọn đồi thấp, gồm 2 xóm: 1 và 2, cách nhau khoảng vài trăm mét. Xung quanh các xóm có lũy tre tương đối dày và kín đáo tiện giấu quân, bí mật, bất ngờ. Trong bản nhà ở thưa, làm bằng gỗ và xây gạch, có vườn, cách nhau 50-70m. Xa khoảng 1km là núi cao, rừng rậm khi cần cơ động được kín đáo.

Đường 166 từ mốc 113 qua Hà Quảng, ngã ba Đôn, huyện lị Hoà An theo đường 3 về thị xã Cao Bằng. Đường rộng 4-5m, trải đá dăm xe cơ giới đi lại thuận tiện, đoạn qua Bản Sẩy thấp hơn khu dân cư. Hai suối phía tây bắc và đông nam bản cách nhau 2km, rộng 6-7m có cầu bắc qua. Nếu 2 cầu bị phá xe cơ giới cơ động khó khăn.

Tóm lại, đoạn đường qua Bản Sẩy có thể tổ chức phục kích, khi cần thiết dựa vào địa hình làng mạc chuyển vào phòng ngự ngăn chặn địch, tạo thời cơ cho lực lượng ở thị xã chuẩn bị chiến đấu.

Chiến tranh biên giới 1979: Dù chiến thuật biển người hay biển xe tăng, Trung Quốc đều thảm bại - Ảnh 3.

Xe tăng Trung Quốc bị quân ta bắt giữ tại khu vực cầu Bản Sẩy, Hòa An Cao Bằng. Ảnh: Trần Mạnh Thường

Về phía Trung Quốc, sau khi chiếm Thông Nông, Thạch An, để phối hợp với các hướng Trà Lĩnh, Trùng Khánh, ngày 18.2.1979, 1 sư đoàn tăng cường có 1 phân đội xe tăng phái đi trước từ Thông Nông tiến theo đường 166 về thị xã Cao Bằng. Ta không nắm được ý định, lịch trình cụ thể.

Về phía ta, Đại đội 10 của Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 81, Sư đoàn 346 Quân khu 1 chuyển vào phòng ngự từ cuối năm 1978. Tổ chức biên chế của đại đội tương đối đủ, ngoài ra có phó chính ủy trung đoàn, phó chính trị viên tiểu đoàn đi cùng. Trang bị vũ khí có 1 ĐKZ 82mm, 1 cối 82mm, 2 cối 60mm, 12 B41, 1 đại liên, 7 trung liên, 60 AK và 1 máy VTĐ.

Ngày 17.2.1979, Đại đội 10 đang phòng ngự ở đèo Mã Phục cách thị xã 11km về phía đông bắc. 22h00 cùng ngày được lệnh cơ động về xã Đức Long cách thị xã 20km về phía tây bắc ngăn chặn địch từ Thông Nông tiến theo đường 166 về thị xã.

Chiến tranh biên giới 1979: Dù chiến thuật biển người hay biển xe tăng, Trung Quốc đều thảm bại - Ảnh 4.

Sau khi nhận lệnh, đại đội tiến hành chuẩn bị và hành quân bằng 4 xe vận tải, khởi hành lúc 04h00 ngày 18.2. Lúc 05h30 ngày 18.2.1979, xe đến Bản Vạn cách vị trí quy định 10km dừng lại nghỉ. cán bộ tranh thủ hội ý xác định nơi sẽ chặn địch.

Trong lúc đang hội ý thì nghe tiếng súng phía tây bắc và thấy bộ binh địch xuất hiện cách khoảng 600-700m, sau khi trao đổi, phó chính uỷ cho đơn vị quay lại chọn địa hình có lợi đánh địch. Xe về đến Bản Sẩy thấy địa hình có lợi, phó chính ủy cho đại đội triển khai lực lượng ở đây.

Ý định chiến đấu: Tổ chức trận địa phục kích trên đoạn đường dọc theo xóm 1 dài 500-600m, chặn đầu ở đông nam xóm 1 (sát sông Bằng Giang), khoá đuôi ở cầu phía đông trạm xá. Đoạn chủ yếu giữa xóm 1 (200-300m). Bố trí lực lượng phục kích gần đường, cách khoảng 15-20m.

Tổ chức các bộ phận chặn đầu, khoá đuôi, chặn địch đánh vào làng và cơ động. Hoả lực ĐKZ, cối, đại liên do đại đội nắm chi viện chung, bố trí phía sau.

Diễn biến chiến đấu:

07h10: đại đội vừa vào hết trong bản chưa triển khai xong thì có 4 xe tăng địch, mỗi xe chở khoảng 10 tên lính đi cách nhau 50m chạy qua Bản Sẩy về phía Cao Bằng. Địch không phát hiện ta bố trí ở đây mặc dù lúc đó cạnh đường còn 2 xe vận tải của ta chưa giấu kịp.

07h20: đại đội triển khai xong đội hình. Cùng lúc đó có 3 xe tăng (cách tốp đi đầu 500-600m) chở bộ binh tiến vào trận địa. Xe địch đến giữa trận địa, khoảng đầu đội hình trung đội 5, đại đội trưởng ra lệnh nổ súng. B41 của 2 trung đội diệt ngay 3 xe tăng này, bộ binh trên xe bị trung liên, AK tiêu diệt.

Các xe chạy sau dừng lại bên kia cầu, triển khai quanh trạm xá ở bên tây đường dùng pháo trên xe và hoả lực bộ binh bắn mạnh vào luỹ tre và trong bản, sau đó cho xe vừa chạy vừa bắn định vượt qua Bản Sẩy để tiến vào thị xã.

Trung đội 4 và 5 lợi dụng mô đất, khóm tre ẩn nấp để địch vượt qua cầu vào sâu trong trận địa (gần hết phạm vi trung đội 4) mới nổ súng diệt tiếp 5 xe tăng này và số bộ binh trên xe. Sau đợt chiến đấu, đại đội trưởng cho củng cố đội hình, giải quyết thương binh tử sĩ, bổ sung đạn, sửa sang công sự.

14h00: 4 xe tăng đi đầu lúc trước quay lại tiến vào trận địa. Đại đội trưởng ra lệnh để xe lọt vào giữa trận địa Trung đội 5 mới được nổ súng.

4 xe tăng địch vừa đi vừa thăm dò thận trọng, đến 14h30 lọt vào trận địa trung đội 5. Phó chính trị viên đại đội ra lệnh nổ súng. B41 bắn cả 4 xe bốc cháy. Số bộ binh trên xe nhảy xuống chống cự sau ít phút thì bị tiêu diệt. Trận đánh nhanh chóng kết thúc.

Kết quả: Chúng ta diệt 150 tên địch, bắn cháy 12 xe tăng, thu 1 đại liên, 3 AK cùng một số đạn, khí tài khác.

Bên phía ta hy sinh 4 đồng chí, bị thương 12. Bộ phận địch bị tiêu diệt trong trận chiến đấu này là Đại đội 6 thuộc Trung đoàn xe tăng của quân đoàn 42, cùng một số bộ binh, công binh hộ tống. Phía TQ cũng đã phải thừa nhận trận phục kích đã gây thiệt hại nặng nề cho họ.

Chiến tranh biên giới 1979: Dù chiến thuật biển người hay biển xe tăng, Trung Quốc đều thảm bại - Ảnh 6.

Chỉ phải đối phó với bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng (lúc đó gọi là công an vũ trang) và dân quân tự vệ nên quân Trung Quốc áp đảo cả về binh lực và hỏa lực. Tận dụng sự hơn hẳn đó, song song với chiến thuật “biển người”, Trung Quốc đã áp dụng chiến thuật “biển xe tăng” ở nhiều nơi.

Chiến tranh biên giới 1979: Dù chiến thuật biển người hay biển xe tăng, Trung Quốc đều thảm bại - Ảnh 7.

Trong hầu hết các trận đánh, đầu tiên phía TQ thường sử dụng pháo binh bắn cấp tập vào trận địa phòng ngự của ta. Sau đó dùng xe tăng dẫn dắt, chi viện bộ binh xung phong với số đông tham gia để tràn ngập trận địa.

Do đã có sự chuẩn bị từ trước, các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) đã tận dụng công sự có sẵn, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, linh hoạt… tiêu diệt được nhiều địch- trong đó có nhiều tăng thiết giáp, phá vỡ âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của đối phương.

Trên mặt trận Cao Bằng, ngoài trận phục kích ở Bản Sẩy, quân và dân Cao Bằng đã có nhiều trận đánh cơ giới trên các ngả đường tiến về thị xã, tiêu diệt và phá hủy 134 tăng thiết giáp của Trung Quốc.

Trên mặt trận Lạng Sơn, trong các trận đánh tại Đồng Đăng, Thâm Mô, Pháo Đài, Khánh Khê… các đợt xung phong của TQ đều có sự chi viện, yểm trợ của xe tăng. Tuy nhiên, các chiến sĩ QĐNDVN đã bắn cháy, phá hủy 76 xe tăng địch, giữ vững trận địa đến nhiều ngày sau đó.

Tại mặt trận Hoàng Liên Sơn (Lào Cai) cũng có đến 66 tăng thiết giáp của Trung Quốc bị loại khỏi vòng chiến đấu.

Chiến tranh biên giới 1979: Dù chiến thuật biển người hay biển xe tăng, Trung Quốc đều thảm bại - Ảnh 8.

Tính chung, trong số 550 tăng thiết giáp tham gia xâm lược Việt Nam thì đã có quá nửa – 280 chiếc bị tiêu diệt. Để che giấu thất bại ê chề này, khi rút quân TQ đã cất công kéo hầu hết xác tăng thiết giáp bị cháy ở Việt Nam về bên kia biên giới.

Vậy là “biển người”, “biển xe tăng” hay biển gì đi chăng nữa, khi xâm lược Việt Nam cũng sẽ chuốc lấy thất bại thảm hại mà thôi!

theo Trí Thức Trẻ

Cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc: Người lính gác cầu năm xưa

Những ký ức về cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc cách đây 40 năm vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí của ông Tao Văn Nó, người lính gác cầu Việt-Trung năm xưa.

Chiến sỹ Đoàn 368 pháo binh tỉnh Hoàng Liên Sơn dội bão lửa trừng trị quân địch, ngày 10/3/1979. (Ảnh: Phùng Triệu/TTXVN)

Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của quân và dân ta đã trôi qua 40 năm nhưng ký ức về sự hy sinh anh dũng, lòng quả cảm của những người đồng chí, đồng đội… vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí của ông Tao Văn Nó, người lính gác cầu Việt-Trung năm xưa.

Cầu Việt-Trung là cây cầu bắc qua suối Nậm Cúm, nối cửa khẩu Ma Lù Thàng, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (Việt Nam) với cửa khẩu Kim Thủy Hà, huyện Kim Bình, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Đây là một trong những vị trí trọng điểm mà 40 năm về trước, quân xâm lược đã ồ ạt tràn qua biên giới nước ta.

Trong căn nhà gỗ 3 gian ở bản Hon, xã Bản Hon, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu, ông Tao Văn Nó, người dân tộc Lự, kể cho chúng tôi nghe về những ngày đêm chiến đấu ác liệt của ông và đồng đội tại cây cầu Việt-Trung.

Ông cho biết tháng 5/1976, ông nhập ngũ. Sau khi tham gia huấn luyện, ông được điều về công tác tại Đồn 33 (nay là Đồn Biên phòng Cửa khẩu Ma Lù Thàng, huyện Phong Thổ).

Tại Đồn 33, chiến sỹ Tao Văn Nó được phân công làm Tiểu đội phó Tiểu đội canh gác bảo vệ đầu cầu Việt-Trung gồm 12 cán bộ, chiến sỹ.

Vào thời điểm tháng 6-7/1978, khu vực biên giới đã có những căng thẳng nhất định, địch đã nhiều lần có những hành động khiêu khích, ban đêm địch thường đột nhập vào đơn vị để quấy rối. Khi Tiểu đội của chiến sỹ Nó ngăn cản và kháng cự, địch đã dùng súng bắn trả, làm một số chiến sỹ bị thương.

Khoảng 6 giờ ngày 17/2/1979, trong lúc đang đứng gác, đồng đội của ông vẫn đang ngủ, một “cơn mưa” pháo từ bên kia biên giới trút sang đã phá tan không gian yên tĩnh của buổi sáng sớm. Ông Tao Văn Nó đã kịp thời thông báo để các đồng đội trong Tiểu đội vào vị trí chiến đấu. Sau những “cơn mưa” pháo, hàng ngàn quân địch được trang bị đầy đủ vũ khí ồ ạt tiến sang.

Ông Tao Văn Nó nhớ lại thời điểm đó, tương quan lực lượng giữa ta và địch chênh lệch quá lớn. Trước tình hình đó, Chỉ huy Đồn 33 đã lệnh cho Tiểu đội của ông rút quân để đảm bảo an toàn. Trong lúc “mưa bom bão đạn,” các chiến sĩ của Tiểu đội bị mất liên lạc, không nhận được lệnh rút quân. Do đó, các chiến sĩ vẫn kiên cường bám trụ và đánh trả quyết liệt với quân địch.

Đến khoảng 17 giờ ngày 17/2/1979, quân địch tràn sang mỗi lúc một đông, pháo nổ ầm ầm. Các đồng chí trong Tiểu đội của ông Nó ai cũng hết đạn. Các chiến sỹ đành tự tản ra để rút vào rừng lánh nạn.

Trong lúc tìm cách rút vào rừng, chiến sỹ Tao Văn Nó đã lọt vào vòng vây của địch. Vào lúc nguy hiểm tưởng chừng như không thể sống để quay về nữa, ông Nó đã nhanh trí nghĩ ra một kế để thoát thân.

Ông đã hét lên bằng tiếng Quan Hỏa “Tất cả anh em, các đồng chí xem đằng trước, đằng sau, nếu đằng trước đúng quân địch tất cả chạy lên đằng trước đuổi quân địch đi.” Quân địch thấy thế ồ ạt chạy về phía trước, còn chiến sỹ Tao Văn Nó từ từ lùi lại phía sau và chạy vào rừng.

“Trong 1 ngày kiên cường chiến đấu với quân địch, 8 đồng đội của tôi đã anh dũng hy sinh, mãi mãi nằm lại nơi chiến trường,” giọng nói như nghẹn lại, đôi mắt rưng rưng, ông Tao Văn Nó ngậm ngùi nhớ lại.

Ngày 18/2/1979, trong lúc đang trốn ở trong rừng vừa đi tìm đồng đội vừa chờ quân tiếp viện đến, chiến sỹ Tao Văn Nó trúng phải mìn của địch và bị mảnh vỡ của mìn găm vào chân.

Sợ bị địch phát hiện, ban ngày ông trốn vào bụi cây, đến tối mới tìm đường thoát ra khỏi rừng. Đến ngày 20/2/1979, sau khi bơi qua sông và lên được đường lớn, ông Nó đã gặp một chiếc xe tiếp viện từ Lai Châu lên, ông vội kêu lên “Các đồng chí ơi, cứu tôi với, tôi bị thương…”

Chiến sỹ Đại đội 10, Tiểu đoàn 3 bộ đội Lạng Sơn tổ chức tấn công, chiếm lại đồi Chậu Cảnh và đồi Cây Xanh (cao điểm 409), thuộc xã Tam Lung, huyện Văn Lãng (tỉnh Lạng Sơn), bị địch chiếm đóng từ ngày 17/2/1979. (Ảnh: Hà Việt/TTXVN)

Sau đó, ông Nó được đưa về Huyện đội Phong Thổ (nay là Ban Chỉ huy Quân sự huyện Phong Thổ) và được đưa đi điều trị vết thương. Do điều kiện khó khăn lúc đó, vết thương của ông chỉ được chữa lành ngoài da còn mảnh mìn vẫn nằm trong người.

Sau khi được đưa đi điều trị 1 tháng, ông Nó tiếp tục quay lại Đồn 33 công tác.

Đến tháng 5/1982, ông xuất ngũ. Mang theo mảnh đạn trong người trở về địa phương, mỗi khi trái nắng trở trời, chân của ông lại đau nhức. Thế nhưng với phẩm chất của anh Bộ đội cụ Hồ không khuất phục trước bất kỳ khó khăn nào, ngoài việc tích cực tham gia lao động, sản xuất, phát triển kinh tế gia đình, ông Nó còn thường xuyên hỗ trợ, hướng dẫn người dân trong bản kỹ thuật và kinh nghiệm trồng trọt, chăn nuôi, giúp đồng bào xóa đói giảm nghèo.

Cùng với đó, ông tích cực tham gia các công tác xã hội tại địa phương, thường xuyên nhắc nhở con cháu luôn ghi nhớ những trang sử hào hùng của cha ông; khuyên dạy con cháu tập trung phát triển kinh tế, không sa vào các tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, ma túy…

Với sự mưu trí, lòng dũng cảm và những chiến công đã lập được trong Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979, những thành tích mà trong công tác xã hội tại địa phương, ông Tao Văn Nó đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba; các cấp, các ngành của tỉnh Lai Châu tặng nhiều bằng khen, giấy khen.

Trước khi chia tay chúng tôi, ông Tao Văn Nó chia sẻ cuộc chiến đã cướp đi sinh mạng của nhiều đồng đội và đã để lại cho ông nhiều nỗi đau về thể chất cũng như tinh thần. Với tinh thần “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, ông mong nhân dân hai nước Việt-Trung luôn được sống trong hòa bình, cùng nhau hợp tác để phát triển kinh tế./.

Công Tuyên (TTXVN/Vietnam+)

Nguyên Tư lệnh pháo binh: Việt Nam đã tính tới sử dụng bão thép “Vua chiến trường” trong chiến tranh biên giới 1979

Bình Nguyên (thực hiện) 

Nguyên Tư lệnh pháo binh: Việt Nam đã tính tới sử dụng bão thép "Vua chiến trường" trong chiến tranh biên giới 1979
Chiến tranh biên giới 1979

Trong hai chiến dịch quan trọng đánh tan quân Trung Quốc xâm lược, pháo binh Việt Nam đã tính tới việc sử dụng vũ khí hiện đại nhất, tung những cú đấm sấm sét mang tính quyết định.

Nhân dịp kỷ niệm 40 Chiến tranh biên giới phía Bắc đánh thắng quân xâm lược Trung Quốc, Thiếu tướng Đỗ Quốc Ân – Nguyên Tư lệnh Binh chủng Pháo binh, một trong những người tham gia chỉ huy, chỉ đạo pháo binh Việt Nam trong suốt 10 năm trên biên giới bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ Quốc đã chia sẻ với chúng tôi về những kỷ niệm không thể nào quên.

Bên chiếc bàn trà đơn sơ có lẽ được đóng từ những năm 90 của thế kỷ trước, cảm xúc về những trận chiến khốc liệt mà mình trực tiếp tham gia trong chiến tranh biên giới phía Bắc chợt như tuôn chảy, vị tướng nguyên Tư lệnh Binh chủng “Chân đồng – Vai sắt – Đánh giỏi – Bắn trúng” rất xúc động.

Nguyên Tư lệnh pháo binh: Việt Nam đã tính tới sử dụng bão thép Vua chiến trường trong chiến tranh biên giới 1979 - Ảnh 1.

Nhà cầm quyền Trung Quốc những tưởng huy động 60 vạn quân cùng nhiều xe tăng, thiết giáp, pháo binh ồ ạt tấn công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc sẽ nhanh chóng giành thắng lợi, nhưng họ đã nhầm.

Mặc dù tương quan lực lượng rất bất lợi vì đối phương quá đông, nhưng Việt Nam, chỉ với công an vũ trang, bộ đội địa phương và một số đơn vị chủ lực của các quân khu biên giới, đã kiên cường giáng trả quân xâm lược, gây cho chúng thiệt hại lớn cả về người lẫn vũ khí trang bị.

Quân đoàn 1 – lực lượng dự bị chiến lược của ta lúc bấy giờ chưa cần xung trận, vẫn trấn giữ các vị trí hiểm yếu quanh Hà Nội, Hà Nam Ninh,…

Nguyên Tư lệnh pháo binh: Việt Nam đã tính tới sử dụng bão thép Vua chiến trường trong chiến tranh biên giới 1979 - Ảnh 2.

Thiếu tướng Đỗ Quốc Ân – Nguyên tư lệnh Binh chủng Pháo binh.

Trước sự anh dũng kiên cường của quân và dân ta, 60 vạn quân Trung Quốc đã phải rút chạy khi mà quân chủ lực tinh nhuệ của Việt Nam mới chỉ hội quân, chuẩn bị chiến dịch phản công quy mô lớn, đánh trận quyết định, làm sụp đổ hoàn toàn âm mưu xâm lược của nhà cầm quyền Trung Quốc. Tuy nhiên, đúng lúc đó, đối phương tuyên bố rút quân.

Chúng ta có quyền tự hào rằng trong Chiến tranh biên giới phía Bắc, quân và dân ta đã thể hiện ý chí quật cường, không gì khuất phục nổi của dân tộc Việt Nam, tiếp tục giữ gìn phát huy truyền thống dựng nước và giữ nước của cha ông, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, quyết không để mất bất kỳ mét đất nào của Tổ quốc.

Nguyên Tư lệnh pháo binh: Việt Nam đã tính tới sử dụng bão thép Vua chiến trường trong chiến tranh biên giới 1979 - Ảnh 3.

Ngay từ năm 1978, trước tình hình căng thẳng ở biên giới Tây Nam khi Quân Polpot dưới sự hà hơi tiếp sức của Trung Quốc liên tiếp gây hấn, các cấp chiến lược của ta đã dự báo tình hình rất chuẩn xác rằng Trung Quốc có thể động binh tấn công Việt Nam ở biên giới phía Bắc.

Vì thế, pháo binh ta đã tiến hành trinh sát kỹ, xây dựng mạng lưới tọa độ, dấu mốc để sẵn sàng tác chiến nếu nhà cầm quyền Bắc Kinh liều lĩnh xua quân xâm lược Việt Nam.

Vì thế, tới năm 1979 và những năm tiếp sau, khi chiến đấu với quân Trung Quốc, pháo binh Việt Nam rất đĩnh đạc, chủ động mọi tình huống.

Thực tế cho thấy, pháo binh đã phát huy được sức mạnh hỏa lực, trực tiếp đánh địch và chi viện hiệu quả, đắc lực cho các lực lượng ta chiến đấu trên biên giới.

Nguyên Tư lệnh pháo binh: Việt Nam đã tính tới sử dụng bão thép Vua chiến trường trong chiến tranh biên giới 1979 - Ảnh 5.

Ông kể, “khi chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, lúc ấy tôi đang công tác Trường sĩ quan Pháo binh thì được trên điều về làm trợ lý tác chiến của Binh chủng Pháo binh.

Và thế là từ đó, tôi có 10 năm liền (1979-1989) trực tiếp tham gia chỉ huy, chỉ đạo pháo binh ta chiến đấu trên khắp các mặt trận ở biên giới phía Bắc. Cuối những năm 1980, tôi được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Binh chủng Pháo binh.

Từ Móng cái Quảng Ninh cho tới Lào Cai, Lai Châu, không có nơi nào mà tôi và các đồng chi trong cơ quan tham mưu Binh chủng Pháo binh chưa từng đặt chân tới và trong những giai đoạn quyết định nhất, không có tháng nào mà chúng tôi không có mặt trực tiếp ở biên giới để cùng bộ đội đánh địch”.

Ông nhớ lại, khi Trung Quốc xâm lược Việt Nam tháng 2 năm 1979, khi đó Liên Xô vừa viện trợ pháo phản lực BM-21 Grad rất hiện đại và uy lực đồng thời cử chuyên gia sang trực tiếp huấn luyện cho bộ đội ta sử dụng.

Để chuẩn bị cho chiến dịch phản công quy mô lớn, Trung đoàn 204 – đơn vị được trang bị loại pháo này được lệnh lên biên giới, sẵn sàng giội bão thép vào đầu thù.

Nguyên Tư lệnh pháo binh: Việt Nam đã tính tới sử dụng bão thép Vua chiến trường trong chiến tranh biên giới 1979 - Ảnh 6.

Pháo phản lực BM-21 trong biên chế QĐND Việt Nam.

“Lúc bấy giờ, một nửa biên chế của Trung đoàn 204 với 24 xe hỏa lực (mỗi xe 40 ống phóng, chưa kể còn tiếp thêm nhiều đạn) đã chuẩn bị xong, chỉ chờ lệnh là khai hỏa.

Các bạn có hình dung là 960 quả đạn phản lực chỉ trong vòng vài chục giây, cùng lúc chụp xuống mục tiêu thì kẻ địch sẽ phải hứng chịu hậu quả khủng khiếp đến thế nào. Đó là chưa kể hàng trăm khẩu pháo khác cũng đã sẵn sàng, chắc chắn quân xâm lược sẽ thực sự phải hứng chịu đòn tập kích hỏa lực sấm sét chưa từng có của Việt Nam”.

Ông trầm ngâm, “Đánh kẻ chạy đi không ai đánh kẻ chạy lại” khi họ đã rút quân, ta cũng không cần thiết phải đuổi cùng giết tận để gây thêm đổ máu, hận thù, thể hiện lòng hiếu sinh từ ngàn đời của dân tộc Việt Nam mặc dù quân Trung Quốc xâm lược đã gây không biết bao nhiêu tội ác với nhân dân ta”.

Nguyên Tư lệnh pháo binh: Việt Nam đã tính tới sử dụng bão thép Vua chiến trường trong chiến tranh biên giới 1979 - Ảnh 7.
Nguyên Tư lệnh pháo binh: Việt Nam đã tính tới sử dụng bão thép Vua chiến trường trong chiến tranh biên giới 1979 - Ảnh 8.

Nhắc tới Hà Giang, vị tướng pháo binh như chùng hẳn xuống. Trong suốt chiến tranh biên giới phía Bắc, sau năm 1979, trong khi Quảng Ninh, Lạng Sơn và nhiều tỉnh biên giới khác tương đối yên ắng thì mặt trận Vị Xuyên – Hà Giang vẫn ầm ầm tiếng súng, pháo. Không ở đâu gian khổ và ác liệt như ở đây.

Ông nói: “Tôi và cơ quan tham mưu pháo binh đã trực tiếp lên từng chốt kiểm tra, tận mắt thấy Trung Quốc sử dụng pháo quy mô lớn đến như thế nào.

Núi đá vôi Hà Giang liên tiếp bị đạn pháo Trung Quốc cày xới, họ bắn không tiếc đạn, nhiều đến mức chân chúng tôi như đi trên một lớp bột dày xen lẫn các mảnh thép, nhưng bộ đội ta vẫn kiên cường bám chốt, giữ vững trận địa.

Nhằm hạn chế sức sát thương của pháo địch, tất cả pháo đều được đưa vào hầm. Gỗ ở Hà Giang thì sẵn, cứ việc chặt rồi đào, xây công sự thôi. Các hầm pháo của ta đều có lớp che chắn dày hàng mét kết hợp gỗ, đất. Ta ngụy trang rất kỹ, chỉ khi nào bắn thì mới mở nắp”.

Nguyên Tư lệnh pháo binh: Việt Nam đã tính tới sử dụng bão thép Vua chiến trường trong chiến tranh biên giới 1979 - Ảnh 9.

Pháo tự hành M107 175mm “Vua chiến trường”.

 Để giáng trả, Binh chủng Pháo binh đã được lệnh nghiên cứu đưa pháo tự hành M107 175mm “Vua chiến trường” vốn chiến lợi phẩm do Mỹ chế tạo, lên tham gia đánh địch ở mặt trận Vị Xuyên nhằm phát huy hỏa lực rất mạnh (mỗi quả đạn nặng 79 kg có bán kính sát thương hơn 50 mét) và tầm bắn xa (khoảng 34 km).

“Các bạn có thể hình dung như thế này: Muốn đưa được những khẩu pháo nặng gần 30 tấn này lên biên giới quả là gian nan, ngay như chúng tôi hành quân lên Hà Giang bằng ô tô con hồi đó cũng phải mất tới 2 ngày.

Đường hành quân vừa nhỏ, hẹp lại nhiều cầu cống, mà hầu hết là cầu yếu, xe con mà còn đi khó khăn như thế thì chắc chắn pháo vừa to, vừa nặng không thể qua được. Muốn sang sông phải làm ngầm, mà như thế thì cần phải có lực lượng công binh cùng địa phương giúp đỡ, rất khó có thể huy động được một lực lượng lớn đến như vậy.

Bên cạnh đó, pháo chiến lợi phẩm do Mỹ sản xuất, số đạn vét ở tất cả các kho còn không nhiều, không đảm bảo chiến đấu lâu dài được. Vì thế, cuối cùng kế hoạch đưa “Vua chiến trường” lên tham chiến ở Vị Xuyên đã phải dừng lại”.

Nguyên Tư lệnh pháo binh: Việt Nam đã tính tới sử dụng bão thép Vua chiến trường trong chiến tranh biên giới 1979 - Ảnh 10.

Khi được hỏi có ý kiến cho rằng Trung Quốc là thầy dậy về tác chiến pháo binh nên bộ đội Việt Nam gặp nhiều khó khăn, vị tướng 10 năm chỉ huy pháo binh ở biên giới nói ngay, “khó khăn đúng là rất nhiều, nhưng chỉ là ở chỗ phía Trung Quốc có nhiều pháo, nhiều đạn hơn mà thôi. Còn trong tác chiến, làm sao pháo binh Trung Quốc có thể hơn được chúng ta”.

Nguyên Tư lệnh pháo binh: Việt Nam đã tính tới sử dụng bão thép Vua chiến trường trong chiến tranh biên giới 1979 - Ảnh 11.

Dù khó khăn gian khổ nhưng công tác bảo đảm hậu cần kỹ thuật về cơ bản vẫn đáp ứng được yêu cầu chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của bộ đội ta trên biên giới phía Bắc.

Đến đây ông sôi nổi hơn hẳn. “Pháo binh ta đã đánh rất xuất sắc trong chiến tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, nhiều lần khiến pháo binh Mỹ cường quốc số 1 thế giới lúc bấy giờ cũng phải nể sợ, thì Trung Quốc, sau chiến tranh Triều Tiên, hơn 30 năm không đánh đấm gì sao có thể bằng ta được.

Hầu hết các cán bộ chỉ huy pháo binh ta lúc bấy giờ đều trưởng thành từ kháng chiến chống Mỹ, có rất nhiều kinh nghiệm cộng với sự thông minh, sáng tạo và linh hoạt thì chẳng có gì phải ngán ngại Trung Quốc.

Trong những trận đấu pháo, khi ta bắn Trung Quốc phản pháo rất nhanh chỉ sau chừng 10-15 phút, nhưng ta đâu có kém, cũng mất bấy nhiêu thời gian là trận địa pháo địch cũng được ăn đạn của ta.

Nói vậy để thấy được rằng trình độ tác chiến của pháo binh Việt Nam không hề thua kém Trung Quốc. Chúng ta thậm chí còn hơn họ ở chỗ là pháo gì cũng dùng được và dùng giỏi, từ pháo chiến lợi phẩm cho tới pháo do Liên Xô, Tiệp Khắc, Ba Lan và các nước viện trợ.

Chẳng có gì khó khăn trong công tác đảm bảo kỹ thuật, hậu cần đạn dược vì ta quá quen với truyền thống lấy vũ khí địch đánh địch trong suốt chiều dài chiến tranh. Năm 1975, chúng tôi ở Quân đoàn 3 khi giải phóng Tây Nguyên, thu được xe – pháo địch là lấy để sử dụng ngay, hành quân thần tốc vào giải phóng Sài Gòn, vừa đi vừa huấn luyện vẫn đánh giỏi bắn trúng.

Chiến tranh đã lùi xa nhưng nhắc lại như vậy để nhớ một thời chúng tôi đã chiến đấu oanh liệt như thế nào. Nhiều đồng đội của chúng tôi đã ngã xuống hay mất một phần xương máu để giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc”.

Thời điểm năm 1979, Việt Nam sở hữu hệ thống tên lửa mạnh nhất châu Á

ADù huy động tới 700 máy bay các loại, nhưng không quân Trung Quốc cuối cùng không đánh phá Việt Nam. Khi đó, Việt Nam đang sở hữu lưới lửa phòng không mạnh nhất Châu Á lúc đó, trong số này phải kể đến S-125.

Được biết năm 1979 Trung Quốc huy động tới 1/5 tổng số máy bay hiện có tương ứng với 700 chiếc, sẵn sàng đánh phá Việt Nam. Tuy nhiên cuối cùng các máy bay này chỉ bay trong không phận và không đánh phá qua Việt Nam.

Lý do Trung Quốc không triển khai không quân đánh là do trình độ tác chiến của phi công Việt Nam vượt trội do vừa trải qua các cuộc chiến ác liệt và giành chiến thắng. Mặt khác các máy bay Việt Nam tuy ít hơn nhưng lại có chất lượng hơn hẳn máy bay Trung Quốc khi đó.

Cuối cùng là lo ngại lưới lửa phòng không cực mạnh của Việt Nam, có thể nói rằng mạnh nhất khu vực Châu Á khi đó, toàn bộ khí tài đều do Liên Xô cung cấp. Đáng chú ý trong số này phải kể đến hệ thống phòng không cực mạnh S-125 (SAM 3). Đây là hệ thống phòng không được Liên Xô cấp mới vào thời điểm cuối Chiến tranh Việt Nam.

Hệ thống S-125 khai hỏa

S-125 Pechora là một trong những vũ khí thành công của Liên Xô cũ. Cho đến thời điểm hiện tại, đây là hệ thống phòng không duy nhất từng bắn hạ máy bay tàng hình. Tên lửa S-125 gồm 2 phần. Phần thân dưới là động cơ đẩy phụ-nhiên liệu rắn, thời gian hoạt động 2,6 giây, gắn 4 cánh vây hình chữ nhật có thể xoay 90 độ; phần trên đường kính nhỏ hơn là động cơ đẩy chính-nhiên liệu rắn, thời gian hoạt động 18,7 giây và đầu đạn, được gắn 4 vây đuôi cố định và 4 vây chuyển động được nhỏ hơn ở đầu.

Đạn tên lửa được điều khiển bằng sóng radio qua antenna ở cánh vây sau phần trên (có thể tên lửa loại này được trang bị công nghệ tự tìm mục tiêu bằng hồng ngoại ở cuối hành trình IR terminal homing).

Tên lửa 5V24 (V600) của hệ thống S-125 có thể đạt tốc độ Mach 3-3,5. Tuy có tầm bắn ngắn và độ cao thấp hơn người tiên nhiệm S-75, nhưng điểm độc đáo là thiết kế hai gian đoạn bay nên cực kì hiệu quả để chống lại mục tiêu di động. Hệ thống S-125 sử dụng 2 phiên bản đạn tên lửa khác nhau. V-600 (hay 5V24) có đầu nổ nhỏ chỉ có trọng lượng 60 kg, có tầm bắn khoảng 15 km.

Phiên bản sau có tên gọi V-601 (hay 5V27). Nó có chiều dài 6,09 m, sải cánh 2,2 m và đường kính 0,375 m. Trọng lượng tên lửa khi phóng là 953 kg, đầu nổ nặng 70 kg gồm 33 kg thuốc nổ mạnh và 4.500 mảnh nhỏ. Tầm bắn từ 3,5 đến 35 km (với Pechora 2A). Độ cao hoạt động của tên lửa từ 100 m đến 18 km.

Hiện tại S-125 vẫn là vũ khí phòng không chủ lực của một số quốc gia, trong đó có Việt Nam. Chúng ta đã tiến hành nâng cấp hệ thống này lên chuẩn S-125 Pechora TM nhằm có thể đáp ứng được điều kiện tác chiến trong chiến tranh hiện đại.

Việt Hùng