Category Archives: Chiến tranh Việt Trung 1979

CUỘC CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC CỦA TỔ QUỐC – 40 năm nhìn lại (1979 – 2019)

Trong hình ảnh có thể có: 1 người

Tròn 40 năm trôi qua, kể từ ngày bắt đầu cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc (17-02-1979 – 17-02-2019). Nhân sự kiện lịch sử này, ngày 15-02, tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Hội thảo quốc gia “Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc – 40 năm nhìn lại (1979 – 2019)”. TCCSĐT giới thiệu bài phát biểu đề dẫn của PGS, TS. Trần Đức Cường, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tại Hội thảo.

Ngày 30-4-1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi. Đất nước thu về một mối.

Để giành được độc lập – tự do và thống nhất cho Tổ quốc, nhân dân Việt Nam phải trải qua một cuộc chiến đấu lâu dài gần 30 năm kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, và sau đó lại tiến hành các cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ chống thực dân Pháp (1945 – 1954) và chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954 – 1975).

Đất nước giành được độc lập và thống nhất nhưng thân mình đầy thương tích bởi hậu quả chiến tranh: hàng triệu người chết, bị thương và chịu ảnh hưởng lâu dài của các di chứng chiến tranh, hàng ngàn thành phố, làng mạc bị tàn phá, nhiều cầu cống, đường sá và công trình công cộng bị phá hủy… Người dân Việt Nam – trong đó có hàng chục vạn người lính đã trải qua nhiều năm tháng chiến đấu quyết liệt chống kẻ thù xâm lược, không có nguyện vọng nào hơn là xếp vũ khí lại, bắt tay xây dựng cuộc sống mới từ trong đổ nát của chiến tranh, để khôi phục đất nước hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Nhưng, trên một đất nước đã trải qua nhiều chiến tranh và mất mát này, cuộc sống thanh bình như ước vọng của người dân đã không trọn vẹn. Và máu lại đổ, thành phố, làng mạc lại bị bom đạn thù cày nát. Ngay sau tháng 4-1975 không lâu, nhân dân Việt Nam đã phải đối đầu với cuộc tấn công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Tây Nam do quân đội Camphuchia Dân chủ tiến hành với sự hỗ trợ về nhiều mặt của các thế lực bên ngoài. Và nghiêm trọng hơn, cách đây đúng 40 năm, rạng sáng ngày 17-02-1979, hơn 60 vạn quân Trung Quốc với 9 quân đoàn chủ lực và 32 sư đoàn bộ binh độc lập, 6 trung đoàn với 550 xe tăng, 4 sư đoàn và trung đoàn pháo binh, phòng không với 2.559 khẩu pháo trong đó có nhiều dàn phóng hỏa tiễn bất ngờ vượt qua biên giới kéo dài 1.400km tấn công 6 tỉnh của Việt Nam gồm Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Tuyên (Hà Giang, Tuyên Quang), Hoàng Liên Sơn (Lào Cai, Yên Bái), Lai Châu… Quân Trung Quốc đã vào sâu trong đất Lạng Sơn, Lai Châu 10km – 15km, vào sâu trong đất Cao Bằng 40km – 50km.

Quân dân Việt Nam, trước hết là dân quân, du kích và bộ đội địa phương ở 6 tỉnh biên giới và tiếp đó là quân chủ lực được tăng cường đã kiên cường chiến đấu bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc, loại khỏi vòng chiến đấu 62.500 quân xâm lược, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn, 18 tiểu đoàn, bắn cháy và phá hủy 550 xe quân sự trong đó có 280 xe tăng, xe bọc thép, phá hỏng 115 khẩu pháo và súng cối hạng nặng, thu nhiều vũ khí, bắt sống nhiều sĩ quan và binh lính của đội quân xâm lược.

Cuộc tấn công xâm lược Việt Nam của Trung Quốc thoạt đầu đẩy Việt Nam vào thế “lưỡng đầu thọ địch” và phải trải qua một thử thách vô cùng khó khăn do bị bao vây cấm vận của Mỹ và các nước phương Tây có thể so sánh với thế “ngàn cân treo sợi tóc” của đất nước khi mới giành được độc lập năm 1945 – 1946. Cuộc tiến công xâm lược Việt Nam của quân đội Trung Quốc cũng làm cho thế giới sửng sốt. Từ chỗ là đồng minh trong “chiến tranh Lạnh”, nhà cầm quyền Trung Quốc đã coi Việt Nam là kẻ thù… Những người bình thường trên thế giới không ai nghĩ rằng, một dân tộc vừa trải qua 30 năm chiến tranh với thương tích đầy mình và có biết bao nhiêu công việc phải làm để xây dựng lại đất nước lại đi khiêu khích rồi xâm lược một nước khác – lại là nước lớn hơn, thậm chí là nước đã từng là đồng minh trong hai cuộc kháng chiến trước đó, như một số người Trung Quốc cho đến nay vẫn nói rằng cuộc chiến tranh chống Việt Nam của họ chỉ là một “cuộc phản công tự vệ”.

Thực hiện cuộc tiến công này, những người lãnh đạo Trung Quốc bất chấp pháp lý và đạo lý.

Cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc chống Việt Nam – một quốc gia độc lập, có chủ quyền – đã bị nhân dân thế giới phản đối. Chính phủ nhiều nước như Liên Xô, Cộng hòa Dân chủ Đức, Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, Hội đồng nhân dân cách mạng Campuchia, nhiều tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể quần chúng ở Liên Xô, Hungary, Tiệp Khắc, Ấn Độ, Nhật Bản, Thụy Điển, Pháp, Mỹ, Phần Lan, Anh, Ôxtrâylia, Etiôpi… tổ chức biểu tình, ra Tuyên bố với khẩu hiệu “Không được đụng đến Việt Nam”, đòi “nhà cầm quyền Trung Quốc rút ngay quân đội ra khỏi lãnh thổ Việt Nam”.

40 năm trôi qua, thế giới có nhiều biến đổi. Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được bình thường hóa và đang trong quá trình phát triển trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, dù còn có những trở ngại cần vượt qua…

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức cuộc Hội thảo khoa học quốc gia này, với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạt động chính trị, xã hội trong cả nước không phải để khoét sâu mối hận thù mà để nhắc lại một sự thật lịch sử, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa của Việt Nam trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc, bắt đầu từ ngày 17-02-1979 và kéo dài đến tận tháng 9-1989, vì lúc đó quân Trung Quốc mới lần lượt rút khỏi các vị trí chiếm đóng còn lại trên lãnh thổ Việt Nam. Cuộc hội thảo nhằm tôn vinh những đồng bào, chiến sĩ từng chiến đấu, hy sinh bảo vệ từng tấc đất biên cương của Tổ quốc, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc và lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân ta, đặc biệt là của tuổi trẻ đối với các thế hệ cha anh đã không tiếc tuổi xuân và xương máu để bảo vệ nền độc lập, tự do, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

Cuộc hội thảo nhằm rút ra những bài học lịch sử cho cả thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau, luôn phải tăng cường đoàn kết, xây dựng đất nước giàu mạnh đủ sức đối phó với mọi tình huống trong một thế giới tiềm ẩn nhiều nguy cơ, bất trắc ngày nay. Xin nhắc lại lời của G. Phu xích – nhà văn Tiệp Khắc viết năm 1943 trong tác phẩm Viết dưới giá treo cổ: “Hỡi những con người mà ta hằng yêu thương, hãy cảnh giác”. Cảnh giác với mọi mưu toan nhằm phá hoại cuộc sống bình yên của nhân dân, cản trở sự phát triển của Tổ quốc muôn vàn yêu quý của chúng ta.

Cuộc hội thảo còn nhằm góp phần khẳng định chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc, gác lại quá khứ đau thương, xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng và cùng có lợi giữa hai nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; Nêu rõ nỗ lực của Đảng và Nhà nước cùng nguyện vọng của nhân dân trong việc gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định trên Biển Đông, trong khu vực và trên thế giới; Biểu dương và cổ vũ những việc làm góp phần gìn giữ và tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc, đồng thời phê phán những biểu hiện sai trái, thù địch, xuyên tạc, vu cáo, lợi dụng sự kiện này để kích động, chống phá Đảng và Nhà nước ta, chia rẽ mối quan hệ hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc./.

PGS, TS. Trần Đức Cường
Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

nguồn: www.tapchicongsan. org.vn

Advertisements

Tháng Bảy, trở lại Vị Xuyên…

TP – Đã mấy năm nay, từ khi nghỉ hưu, năm nào cũng vậy, cứ đến dịp Mười Hai tháng Bảy là tôi lại thu xếp mọi việc riêng để trở lại Vị Xuyên, nơi đã gắn bó một phần đời, nơi lưu giữ những kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời quân ngũ của mình – nơi mà mỗi lần quay trở lại đây, tôi lại thấy mình quá may mắn hơn bao anh em, đồng đội cùng thời…

Trên điểm cao 468 sáng 11 tháng 7
Trên điểm cao 468 sáng 11 tháng 7

Người lính Vị Xuyên truyền nghề bắn súng cho giới trẻ
Bi hùng cao điểm Vị Xuyên 
Người trẻ Vị Xuyên với ký ức chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc
Thăm nghĩa trang Vị Xuyên đầu xuân 2019

Năm nay tròn 35 năm sự kiện “12 tháng 7” nên ngay từ đầu năm tôi và mấy anh bạn cựu chiến binh từng tham gia chiến đấu trên vùng đất xảy ra chiến sự ác liệt này đã liên hệ cùng anh em trong Ban Liên lạc Cựu Chiến binh Sư đoàn 356 thành phố Hà Nội để cùng nhau thực hiện chuyến hành hương…

Ngày 12 tháng 7 năm 1984 Bộ Tư lệnh tiền phương Quân khu Hai (Mặt trận Vị Xuyên) tổ chức trận đánh mở màn cho chiến dịch mang mật danh “MB84” nhằm thu hồi một số vị trí đang bị phía Trung Quốc chiếm giữ trong các ngày 28/4 và 15/5/1984 ở khu vực hai bên bờ Tây và Đông Sông Lô cận kề cửa khẩu Thanh Thủy, Vị Xuyên. Lực lượng tham gia đợt tiến công này gồm: Trung đoàn 141, Sư đoàn 312, đánh cao điểm 1030, Si Cà Lá phía Đông sông Lô; Trung đoàn 174, sư đoàn 316 đánh 233, bình độ 300 – 400 và Trung đoàn 876, sư đoàn 356 đánh cao điểm 772 phát triển sang 685 ở Tây sông Lô (tuy gọi là trung đoàn nhưng lực lượng thực sự tham gia chiến đấu mỗi mũi chỉ có 1-2 tiểu đoàn). Tuy bộ đội ta đã chiến đấu rất dũng cảm, quyết liệt nhưng đợt tiến công của ta đã không thành công.Ads by optAd360

Các đơn vị tấn công của ta đã gặp phải hỏa lực ác liệt của đối phương. Một số nguồn Trung Quốc cho biết quân đội họ đã bắn hơn 30.000 viên đạn trong ngày 12/7/1984. Hầu hết các mũi của ta đều bị thương vong lớn, mất liên lạc và không phát triển được, pháo binh chi viện không hiệu quả. Các Trung đoàn 876 và 174 chiếm được một phần mục tiêu nhưng bị tổn thất vì đạn pháo và bộ binh địch phản kích nên không giữ được trận địa. Trên cả ba hướng, có khoảng 600 – 700 người hy sinh (trong đó có một số cán bộ cấp trung đoàn, tiểu đoàn), 820 người bị thương…

Trong số 3 đơn vị tham gia trận đánh ngày hôm đó, Trung đoàn 876, Sư đoàn 356 bị tổn thất nặng nề nhất. Số liệu cụ thể về người hy sinh và bị thương hiện vẫn khác nhau. Có cán bộ chỉ huy cấp sư đoàn sau này nói hy sinh 596, nhưng theo một số cán bộ chiến sĩ thì dưới 300… Nhưng, dù là chưa tới 300 hay 596 thì đó cũng là sự hy sinh mất mát vô cùng to lớn, có thể nói là ít có trong mấy cuộc chiến tranh mà chúng ta bị buộc phải tiến hành trong thế kỷ XX. Chính vì vậy, ngày Mười Hai tháng Bảy hàng năm được các Cựu chiến binh Sư đoàn 356 gọi là ngày “Giỗ Trận”.

Nhưng cách đây hai năm, có ý kiến cho rằng gọi là “Giỗ Trận” nghe bi thương quá, không ổn; nên được đổi thành “Ngày mở đầu Chiến dịch MB84”. Từ đó, sự kiện “12 tháng 7” được mang tên mới, nhưng với một số cựu chiến binh Sư đoàn 356 thì họ vẫn quen hẹn nhau: dù đi đâu, làm gì thì ngày này cũng phải gác lại, về Vị Xuyên thắp hương cho đồng đội!

Tôi tuy không phải là lính Sư đoàn 356, nhưng do có thời gian sát cánh với anh em Đại đội 3, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 153 phòng thủ khu H thuộc 685 nên cũng rất vinh hạnh được anh em xem như “người nhà” – một thành viên của “gia đình Sư đoàn 356 Hà Nội”. Tiếp xúc với anh em nhiều, tôi nhận thấy một điều: sau chiến tranh, đơn vị giải thể, trở về họ đều rất vất vả kiếm sống, không mấy ai thành đạt về kinh tế; nhưng rất gắn bó, thương yêu đùm bọc nhau.

Năm kia xảy ra vụ một cựu chiến binh sư 356 quê Hà Nam lên Hà Nội làm nghề chạy xe xích lô chở tôn không may va quệt khiến một cháu bé tử vong phải đối mặt với vụ kiện, anh em đã quyên góp ủng hộ tiền bạc, thuyết phục gia đình nạn nhân để người đồng đội chỉ phải chịu mức án thấp nhất và được tặng một khoản tiền để tạo việc làm ổn định ở quê.

Trưởng ban Liên lạc CCB Sư đoàn 356 Hà Nội Nguyễn Ngọc Thạch, một “Thượng sĩ bắn súng máy” là người chiếm được sự tín nhiệm cao của anh em – cho biết, toàn thành phố có tới hơn 700 cựu binh 356 sinh hoạt rải rác trong 5 nhóm. Hội viên toàn anh em nghèo, mọi khoản chi đều do mọi người đóng góp, nhưng việc thăm viếng, chia sẻ với các hội viên gặp khó khăn đã trở thành nếp thường xuyên. Không những thế, anh em còn tìm về những nơi mình từng đóng quân khi xưa để tiến hành các hoạt động tri ân, tặng quà các gia đình nghèo, tặng giấy bút, sách vở cho các cháu học sinh “nhà nghèo vượt khó”.

Năm ngoái, tôi đã được tham dự các cuộc liên hoan thắm đượm tình nghĩa quân – dân giữa các cựu chiến binh tiểu đoàn 1, trung đoàn 876 với bà con Bản Tha, xã Phương Độ; năm nay, lại được thưởng thức những tiết mục đặc sắc của đội văn nghệ Bản Tha biểu diễn trong bữa liên hoan tối 10 tháng 7. Không chỉ như thế, các CCB sư đoàn còn là nhịp cầu nối những tấm lòng hảo tâm đến với bà con các nơi còn nhiều khó khăn. Hôm 11 tháng 7, được Ban liên lạc  CCB sư 356 Hà Nội chắp nối, các cô giáo Trường tiểu học xã Tam Hợp, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đã lên tặng quần áo, đồ dùng học tập và thực phẩm cho các cháu học sinh Trường dân tộc nội trú xã Xín Chải, huyện Vị Xuyên…

Dịp “12 tháng 7” năm nay là kỷ niệm 35 năm ngày diễn ra trận đánh mở màn Chiến dịch MB84 nên các cựu chiến binh Vị Xuyên về thăm chiến trường xưa rất đông; chỉ riêng Ban liên lạc thành phố Hà Nội đã có trên 700 người. Rất nhiều người dẫn theo vợ hoặc con. Các anh đưa vợ vào thăm hang Dơi – nơi tập kết thi hài các liệt sỹ khi xưa; thăm hang Làng Lò, nơi đóng quân của ban chỉ huy và cũng là hậu cứ của trung đoàn phụ trách chốt giữ phòng thủ khu vực Bắc suối Thanh Thủy nằm trong lòng một quả núi, có thể chứa được hàng ngàn quân; lính trung đoàn 856 giai đoạn 1984 – 1985 và lính trung đoàn 153 thời kỳ 1987 mấy ai chưa từng tới đây để tắm giặt, nghỉ ngơi trước hoặc sau khi vào trận…

35 năm cuộc chiến đấu bảo vệ Vị Xuyên (Hà Giang): Nằm lại núi đồi Vị Xuyên

Ngày 12.7 hằng năm cũng được coi là ngày “giỗ trận” chung cho những người đã nằm lại núi đồi Vị Xuyên.12.7.1984 mở đầu chiến dịch mang mật danh “MB-84” nhằm phản kích lấy lại các điểm cao bị quân Trung Quốc đánh chiếm trên mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang). Ngày 12.7 hằng năm cũng được coi là ngày “giỗ trận” chung cho những người đã nằm lại núi đồi Vị Xuyên.

35 năm cuộc chiến đấu bảo vệ Vị Xuyên (Hà Giang): Nằm lại núi đồi Vị Xuyên1
Vận chuyển vũ khí đạn dược lên biên giới Vị Xuyên ẢNH: TƯ LIỆU

Súng nổ ngày mùng 3 tết

Sau thời gian vừa huấn luyện vừa làm kinh tế, tháng 11.1977, anh Trịnh Thành Tuyên ở H.Yên Sơn (Tuyên Quang) cùng Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 122, Bộ Chỉ huy quân sự (BCHQS) tỉnh Hà Tuyên (nay là BCHQS Hà Giang) lên xã Thanh Thủy, H.Vị Xuyên (Hà Giang) làm đường. Đầu 1978, đơn vị chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, chốt dọc biên giới Xín Chải, Thanh Đức.

“Đêm mùng 3 Tết âm lịch 1979, tổ tuần biên của Đại đội 9 chạm trán một trung đội lính Trung Quốc trên đồi Cây Xanh, điểm cao 1427. Ta hy sinh một chiến sĩ”, anh Tuyên nói và hồi tưởng: “Sáng 17.2.1979, Trung Quốc đồng loạt tấn công trên tuyến biên giới phía bắc nước ta. Ở Hà Tuyên (nay là Hà Giang), chúng tràn sang lấn chiếm vào hướng chốt giữ của Tiểu đoàn 3 và gọi pháo binh yểm trợ, chiếm các điểm cao 1800a, 1785, 1800b, 1688…”.5 ngày sau, Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 122) chiếm lại các chốt dọc biên giới Vị Xuyên khiến phía Trung Quốc điên cuồng tìm mọi cách tái chiếm.

Buổi sáng 11.3.1979, anh Tuyên đi cùng chỉ huy kiểm tra các chốt, cũng chính là lúc phía Trung Quốc mở đợt tấn công quy mô lớn chiếm các điểm cao do đơn vị phụ trách.

Giữ suối Thanh Thủy

35 năm cuộc chiến đấu bảo vệ Vị Xuyên (Hà Giang): Nằm lại núi đồi Vị Xuyên1
Bộ đội ta chốt giữ trên khu vực Bốn Hầm, 1987ẢNH: THUẬN HÓA

Thiếu tướng Hoàng Văn Toái, nguyên Phó tư lệnh – Tham mưu trưởng Quân khu 2, nguyên Chỉ huy trưởng BCHQS tỉnh Hà Giang, nhớ lại thời điểm là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 14, Sư đoàn 313 của Quân khu 2: Tháng 3.1984, quân tình nguyện VN cùng lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia mở cuộc truy quét lớn quân Khmer Đỏ.

Ở biên giới phía bắc, Trung Quốc ráo riết chuẩn bị lấn chiếm lãnh thổ VN. Trên tuyến biên giới Hà Tuyên, địch tập trung nhiều sư đoàn áp sát Vị Xuyên, Yên Minh. Từ ngày 2 – 27.4.1984, phía Trung Quốc bắn hơn 11.000 viên đạn pháo sang Hà Tuyên.

Sáng 28.4.1984 trên hướng Vị Xuyên, chúng bắn gần 12.000 viên đạn pháo chi viện cho bộ binh tiến công các điểm phòng ngự của ta ở phía bắc suối Thanh Thủy.

Do tương quan lực lượng quá lớn, cuối ngày 30.4.1984, Trung Quốc đã đẩy bộ đội ta khỏi các điểm cao 1545, 1509, 772, 685, 226, 233 và bình độ 300 – 400.

Phía ta, Trung đoàn 122 (thuộc Sư đoàn 313) bị tổn thất nặng, phải lui về phòng ngự ở các vị trí thấp hơn.

35 năm cuộc chiến đấu bảo vệ Vị Xuyên (Hà Giang): Nằm lại núi đồi Vị Xuyên - ảnh 3

TIN LIÊN QUAN

Day dứt vì hàng ngàn liệt sĩ vẫn nằm lại trên các đỉnh núi Vị Xuyên

Chiều 30.4.1984, Trung đoàn trưởng Hoàng Văn Toái nhận lệnh: “Lập tức chiếm lĩnh trận địa phòng ngự, không để địch lấn chiếm sang phía nam suối Thanh Thủy”. Rạng sáng 1.5.1984, Trung đoàn 14 bám nắm các vị trí bắc suối Thanh Thủy; điểm nào đối phương chưa chiếm thì dâng đội hình lên chốt giữ (đồi Cô Ích, đồi Đá Pháp, đồn biên phòng cũ, lô cốt Gốc Gạo)…

Thời điểm này, lính Trung Quốc đã chiếm giữ đỉnh A5, khiến đội hình 2 bên nằm xen kẽ nhau. Bộ đội phải bố trí phòng ngự vòng tròn khép kín, tăng cường cải tạo hang hốc thành trận địa vững chắc, không để đối phương đánh chiếm.

Giành giữ 233

Cuối tháng 5.1984, Bộ Tư lệnh Quân khu 2 quyết định tập trung xây dựng lại trận địa phòng ngự; củng cố các đơn vị, từng bước đánh lấy lại các điểm tựa đã mất. Thiếu tướng Hoàng Đan, phái viên của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân VN, lên tận Vị Xuyên trực tiếp chỉ đạo rút kinh nghiệm cách đánh.

Chiều 2.6.1984, Ban Chỉ huy Trung đoàn 14 (Sư đoàn 313) quyết tâm chiếm lại điểm cao chiến lược 233.

Rạng sáng 12.6.1984, pháo binh ta bắn trùm lên các điểm cao 233, 226 yểm trợ cho bộ binh vận động đánh chiếm mục tiêu.

Tuy nhiên, khi bộ đội vừa rời khỏi vị trí xuất phát tiến công thì bị hỏa lực địch bắn trùm vào đội hình, gây tổn thất lớn. Mãi đến chiều tối, ở hướng chủ yếu mới chiếm được 2 công sự bê tông cách đỉnh 233 khoảng 50 m.

Ở hướng thứ yếu nhiều vật cản, không đủ bộc phá để mở cửa, đội hình ùn lại bị thương vong nhiều… “Lệnh của trên là chuyển vào thế trận phòng ngự. Toàn Trung đoàn 14 của tôi dàn ra phòng ngự, hoạt động tác chiến chủ yếu là giữ vững các mục tiêu đã chiếm kết hợp tập kích hỏa lực, bắn tỉa. Công tác đảm bảo cho bộ đội vô cùng khó khăn, việc tiếp tế cơm, nước lên chốt phải đi vào mờ sáng và chiều tối”, thiếu tướng Toái nhớ lại và trầm giọng: “Đúng 1 tháng sau (11.7.1984), chúng tôi mới bàn giao trận địa cho Trung đoàn 174 (Sư đoàn 316, Quân khu 2) để chuẩn bị tiến công vào hôm sau”.

Hôm sau là 12.7.1984 – ngày mở đầu chiến dịch mang mật danh “MB-84” với mục đích phản kích để lấy lại các điểm cao bị quân Trung Quốc đánh chiếm.

Ngày 12.7.1984 cũng in dấu trong tâm trí mọi cán bộ chiến sĩ mặt trận Vị Xuyên và bây giờ, ngày 12.7 hằng năm được coi là ngày “giỗ trận” chung cho những người đã nằm lại núi đồi Vị Xuyên. (còn tiếp)

Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang viếng các anh hùng liệt sĩ tại Vị Xuyên

Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang viếng các anh hùng liệt sĩ tại Vị Xuyên

Chiều 11.7, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng đoàn đại biểu lãnh đạo tỉnh Hà Giang, Giáo hội Phật giáo VN, Hội Cựu chiến binh VN, T.Ư Hội Chữ thập đỏ VN đã đến dâng hương, dâng vòng hoa, viếng các anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (ảnh).

Tối cùng ngày, tại Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Vị Xuyên, T.Ư Giáo hội Phật giáo VN cùng tỉnh Hà Giang tổ chức đại lễ cầu siêu anh linh anh hùng liệt sĩ, cầu quốc thái dân an.Nghĩa trang Vị Xuyên hiện có 1.797 ngôi mộ liệt sĩ và một mộ liệt sĩ tập thể cùng 330 mộ liệt sĩ chưa xác định được thông tin.

Trong số đó, có hơn 1.500 liệt sĩ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía bắc của Tổ quốc (1979 – 1989). Tới nay, sau gần 40 năm, vẫn còn hàng ngàn liệt sĩ hy sinh tại mặt trận Vị Xuyên chưa được quy tập.
Tin, ảnh: Lê Hiệp – Lưu Gia

Theo thiếu tướng Nguyễn Đức Huy, Trưởng ban liên lạc cựu chiến binh toàn quốc mặt trận Vị Xuyên – Hà Tuyên, các sư đoàn trực tiếp chiến đấu là: 312, 313, 314, 356, 316, 325, 31, 3; các trung đoàn thuộc Quân khu 1, Quân khu Thủ đô, Đặc khu Quảng Ninh, các binh chủng của Bộ và Quân khu 2 (pháo binh, công binh, thông tin, hóa học, phòng không, đặc công) và các trung đoàn, tiểu đoàn, dân quân tự vệ tỉnh Hà Tuyên, Trung đoàn 754 Sơn La…

Hơn 4.000 cán bộ, chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh, phần lớn trên dưới 20 tuổi và hàng ngàn người bị thương. Đến nay còn hơn 2.000 liệt sĩ chưa tìm được hài cốt.

Tóm tắt diễn biến chiến sự mặt trận Vị Xuyên – Hà Tuyên

– Từ 2.4 – 28.4.1984: Địch tập trung pháo binh bắn phá khu vực Vị Xuyên, từ điểm cao 1545 đến điểm cao 1030.

– Từ 28.4 – 30.4.1984: Địch bắn pháo để chi viện cho bộ binh tấn công đánh chiếm các điểm cao 226, 233, bình độ 300 – 400, 1509, 772, 685. Trong 2 ngày địch đã chiếm được 226, 233, 772, 1509, bình độ 300 – 400, E1, 685 và lấn vào lãnh thổ VN khoảng 2 km.

-Ngày 15.5.1984: Địch mở đợt tiến công phía đông sông Lô và sau đó đã chiếm được các điểm cao 1030, Si Cà Lá, 1250, đài 2, M13 (như vậy, từ 28.4 đến 16.5.1984, địch chiếm 18 điểm, triển khai phòng ngự chốt giữ 29 điểm trên lãnh thổ VN. Trong đó có khu 1509, 772, Si Cà Lá 1030, 1250 Núi Bạc).

– Ngày 12.7.1984: Ta nổ súng tiến công giành lại các chốt bị chiếm đóng. Tuy đã chiến đấu rất quyết liệt nhưng đợt tiến công của ta đã không thành công.

– Bộ Tư lệnh mặt trận mở đợt tấn công vây lấn từ 18.11.1984 đến 18.1.1985. Dù chưa khôi phục hoàn toàn khu vực A5, 300 – 400, 685 nhưng ta đã giành được một số chốt, hình thành thế phòng ngự xen kẽ, bám sát địch

.- Trong 2 năm 1985 – 1986: Địch tiếp tục mở nhiều đợt tiến công lấn chiếm trận địa của ta. Chiến sự diễn ra khá quyết liệt, có những nơi như ở Bốn Hầm, ta và địch giành giật nhau tới 38 lần, điểm cao 685 tới 41 lần, đồi Cô Ích tới 45 lần.

– Từ năm 1987 trở đi: Chiến sự ở mặt trận Vị Xuyên dần lắng xuống. Từ năm 1989, địch giảm bắn pháo và rút khỏi một số điểm phía bắc suối Thanh Thủy.

– Ngày 13.3.1989: Địch rút khỏi 20 điểm chiếm đóng và đến tháng 9.1989, địch rút khỏi 9 điểm còn lại.

(Theo đại tá Bùi Thuận Hóa, nguyên Trưởng phòng, Cục Dân vận, Tổng cục Chính trị)

Nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh trong Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc

Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 đã khẳng định sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam trước những thử thách ngặt nghèo.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm diễn ra sự kiện lịch sử đặc biệt này, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) xin trân trọng giới thiệu bài viết: “Nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc năm 1979” của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Khang, nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

Bộ Chỉ huy mặt trận Lạng Sơn cùng chỉ huy Đoàn 327 bàn phương án tác chiến tại hang Chùa Tiên (thị xã Lạng Sơn). Ảnh: Văn Bảo/TTXVN

Đầu năm 1979, khi Quân đội nhân dân Việt Nam tiến công đánh đổ tập đoàn phản động Pol Pot, giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, Chính phủ Trung Quốc cùng một số nước phương Tây ra sức tuyên truyền xuyên tạc sự xuất hiện của Quân tình nguyện Việt Nam trên lãnh thổ Campuchia, đồng thời liên tục gây sức ép hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Mục đích của họ muốn chống phá cách mạng Việt Nam, mưu toan áp đặt lợi ích nước lớn trên bán đảo Đông Dương.

Sau khi gây sức ép về chính trị, ngoại giao mà không đạt được mục đích đề ra, ngày 17/2/1979, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã động huy động khoảng 60 vạn quân cùng hàng trăm xe tăng, xe bọc thép; hàng ngàn khẩu pháo các loại… mở cuộc tiến công trực diện vào lãnh thổ Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Móng Cái (Quảng Ninh).

Nhân dân Việt Nam đứng trước thử thách to lớn: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc chưa lâu (1975), hậu quả để lại còn rất nặng nề; lại vừa kết thúc Chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam (12/1978) và đang làm nhiệm vụ quốc tế giúp đỡ nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, thực hiện công cuộc hồi sinh đất nước. Mặt khác, kinh tế gặp rất nhiều khó khăn do cấm vận của Mỹ; các thế lực phản động trong và ngoài nước vẫn ra sức hoạt động chống phá… Bên cạnh đó, cuộc đụng đầu lịch sử này có tác động rất lớn đến tâm lý, tình cảm của nhân dân hai nước bởi Trung Quốc là nước đã ủng hộ, giúp đỡ to lớn cả về chính trị, vật chất lẫn tinh thần cho Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến cứu nước (chống Pháp, chống Mỹ) trước đây.

Trước thử thách to lớn ấy, vấn đề chỉ đạo đấu tranh như thế nào được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam thảo luận rất kỹ. Yêu cầu đề ra là: Vừa phát huy sức mạnh tổng hợp, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời nêu cao tính chính nghĩa và thiện chí mong muốn hòa bình, khôi phục quan hệ hữu nghị hai dân tộc; vừa không để bị ảnh hưởng đến các nhiệm vụ chiến lược khác, nhất là nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia; tiếp tục tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của dư luận quốc tế.

Thực hiện phương châm đề ra, từ ngày 17/2/1979, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố nêu rõ: Nhà cầm quyền Trung Quốc đang đi ngược lại lợi ích của nhân dân, phá hoại nghiêm trọng tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, đồng thời khẳng định nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác là thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình để đánh trả.

Về chỉ huy tác chiến, phía Việt Nam chủ trương chưa đưa lực lượng dự bị chiến lược vào quyết chiến sớm, cũng không vội rút đại quân từ Campuchia về nước, dễ gây nên sự xáo trộn bất ngờ mà phát huy sức mạnh tổng hợp chiến tranh nhân dân địa phương, sử dụng lực lượng tại chỗ của Quân khu 1, Quân khu 2 là chính, có sự bổ sung một bộ phận lực lượng từ tuyến sau lên tăng cường. Đồng thời, xây dựng kế hoạch điều động dần các binh đoàn dự bị chiến lược của Bộ sẵn sàng thực hành phản công khi cần thiết, chuẩn bị cho nhân dân cả nước bước vào đối phó với tình huống chiến tranh mở rộng.

Dưới sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, quân dân Việt Nam trên tuyến đầu biên giới kịp thời đánh trả, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của quân Trung Quốc, buộc đối phương phải tung lực lượng dự bị chiến lược vào tham chiến. Với ưu thế quân đông, nhiều vũ khí trang bị kỹ thuật, quân Trung Quốc lần lượt chiếm được một số địa bàn, thị xã quan trọng như: Lào Cai (19/2), Cao Bằng (24/2), Cam Đường (25/2), Lạng Sơn (5/3)…

Trước tình hình cấp bách đó, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam quyết định điều động lực lượng dự bị chiến lược kết hợp cùng lực lượng tại chỗ chuẩn bị mở những đòn phản công quy mô lớn binh chủng hợp thành.

Thực hiện chủ trương đó, đầu tháng 3/1979, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ra lệnh cho Quân đoàn 2 (cơ bản đã hoàn thành nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia) nhanh chóng chuyển toàn bộ lực lượng về phía Bắc Hà Nội tập kết, đồng thời ra quyết định thành lập Quân đoàn 5 (ngày 2/3/1979) ngay tại mặt trận biên giới (gồm 4 sư đoàn bộ binh: 3, 338, 327, 337 cùng một số đơn vị kỹ thuật và bảo đảm khác). Ngoài ra, các đơn vị chủ lực của Quân đoàn 1, Quân chủng Phòng không – Không quân và các binh chủng kỹ thuật khác sẵn sàng tham gia chiến đấu.

Chiến sĩ xe tăng Trung đội 1, Đại đội 2, Đoàn 407 truy kích quân địch ở thị xã Lạng Sơn. Ảnh: Thế Thuần/TTXVN

Để phát huy sức mạnh tổng hợp, ngày 4/3/1979, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi quân dân cả nước phát huy khí thế cách mạng, hăng hái thi đua lao động sản xuất, chi viện nhiều nhất cho tiền tuyến, quyết tâm giữ vững biên cương Tổ quốc.

Tiếp đó, ngày 5/3, Chủ tịch nước công bố Lệnh tổng động viên. Cả nước cùng đồng lòng hướng về mặt trận. Hàng triệu thanh niên nam, nữ viết đơn tình nguyện đi chiến đấu. Dự trữ vật chất hậu cần phục vụ chiến đấu do đó tăng lên nhanh chóng.

Quyết tâm của Bộ Chỉ huy tối cao Việt Nam, đặc biệt là động thái chuẩn bị mở đòn phản công chiến lược đã tác động mạnh đến tương quan cục diện cuộc chiến và tâm lý của các nhà cầm quyền Trung Quốc, tạo niềm tin sắt đá cho nhân dân cả nước và bạn bè thế giới, nhất là nhân dân Campuchia vừa được Quân tình nguyện Việt Nam giúp đỡ thoát khỏi họa diệt chủng, đang ra sức bảo vệ chính quyền non trẻ. Các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng tiến bộ cùng nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới tiếp tục lên án mạnh mẽ hành động chiến tranh phi nghĩa của Trung Quốc và kêu gọi ủng hộ Việt Nam.

Chịu tổn thất nặng nề mà chưa đạt được mục tiêu cơ bản đề ra, lại bị dư luận quốc tế lên án mạnh mẽ, ngày 5/3/1979, chính quyền Trung Quốc tuyên bố rút quân khỏi lãnh thổ Việt Nam. Với truyền thống nhân nghĩa, lấy đại cục làm trọng, mong muốn củng cố hòa bình, khôi phục quan hệ hữu nghị giữa hai nước, Trung ương Đảng, Chính phủ Việt Nam chỉ thị cho các lực lượng vũ trang và nhân dân trên mặt trận biên giới phía Bắc ngừng mọi hoạt động quân sự để quân Trung Quốc rút về nước. Đến ngày 18/3/1979, Trung Quốc hoàn thành việc rút quân khỏi Việt Nam.

Thắng lợi của quân dân Việt Nam trong Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 được tạo nên từ nhiều nguyên nhân khác nhau: Đó là tinh thần chiến đấu kiên cường, anh dũng vì độc lập, tự do và sự vẹn toàn lãnh thổ; sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của bè bạn quốc tế; thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc được xây dựng, củng cố qua thời gian; là Quân đội nhân dân tinh nhuệ với đội ngũ tướng lĩnh tài ba đã được rèn luyện, thử thách qua các cuộc chiến tranh… Nhưng bao trùm lên tất cả chính là nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh độc lập, tự chủ, đúng đắn của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nghệ thuật ấy chính là sự vận dụng sáng tạo nghệ thuật đánh giặc truyền thống của cha ông (“lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”, “tránh thế ban mai, đánh lúc chiều tà”…) và nghệ thuật chiến tranh hiện đại (kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích, chiến tranh chính quy; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trên tất cả các mặt chính trị – kinh tế – quốc phòng – an ninh; phát huy sức mạnh chiến tranh nhân dân địa phương, đặc biệt là sức mạnh của lực lượng vũ trang tại chỗ, sức mạnh hậu phương cả nước); đồng thời biết khai thác, phát huy tư tưởng nhân văn “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, kết hợp với chủ anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

TTXVN/Báo Tin tức

Tại sao TQ không đánh Hà Nội sau khi vào Lạng Sơn?

THS2018 – Lạng Sơn đã là khúc xương khó nuốt. hóc xương gà ở đền Chí Linh thì cụ Lý Thường Kiệt đâu cho phép đi mà đi. Đến Hà Nội ngày nay hết ống đồng Thoát Hoan sao trở về Tàu?

Đây là một vấn đề thường xuyên được truyền thông phía TQ bàn luận khi nói về chủ đề Việt Trung. Mời quý vị tham khảo thêm website https://www.moquocte.com/ để cập nhật thêm các tin tức khác

Nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh trong Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc

TTXVN – Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 đã khẳng định sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam trước những thử thách ngặt nghèo.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm diễn ra sự kiện lịch sử đặc biệt này, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) xin trân trọng giới thiệu bài viết: “Nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc năm 1979” của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Khang, nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

Bộ Chỉ huy mặt trận Lạng Sơn cùng chỉ huy Đoàn 327 bàn phương án tác chiến tại hang Chùa Tiên (thị xã Lạng Sơn). Ảnh: Văn Bảo/TTXVN

Đầu năm 1979, khi Quân đội nhân dân Việt Nam tiến công đánh đổ tập đoàn phản động Pol Pot, giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, Chính phủ Trung Quốc cùng một số nước phương Tây ra sức tuyên truyền xuyên tạc sự xuất hiện của Quân tình nguyện Việt Nam trên lãnh thổ Campuchia, đồng thời liên tục gây sức ép hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Mục đích của họ muốn chống phá cách mạng Việt Nam, mưu toan áp đặt lợi ích nước lớn trên bán đảo Đông Dương.

Sau khi gây sức ép về chính trị, ngoại giao mà không đạt được mục đích đề ra, ngày 17/2/1979, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã động huy động khoảng 60 vạn quân cùng hàng trăm xe tăng, xe bọc thép; hàng ngàn khẩu pháo các loại… mở cuộc tiến công trực diện vào lãnh thổ Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Móng Cái (Quảng Ninh).

Nhân dân Việt Nam đứng trước thử thách to lớn: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc chưa lâu (1975), hậu quả để lại còn rất nặng nề; lại vừa kết thúc Chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam (12/1978) và đang làm nhiệm vụ quốc tế giúp đỡ nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, thực hiện công cuộc hồi sinh đất nước. Mặt khác, kinh tế gặp rất nhiều khó khăn do cấm vận của Mỹ; các thế lực phản động trong và ngoài nước vẫn ra sức hoạt động chống phá… Bên cạnh đó, cuộc đụng đầu lịch sử này có tác động rất lớn đến tâm lý, tình cảm của nhân dân hai nước bởi Trung Quốc là nước đã ủng hộ, giúp đỡ to lớn cả về chính trị, vật chất lẫn tinh thần cho Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến cứu nước (chống Pháp, chống Mỹ) trước đây.

Trước thử thách to lớn ấy, vấn đề chỉ đạo đấu tranh như thế nào được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam thảo luận rất kỹ. Yêu cầu đề ra là: Vừa phát huy sức mạnh tổng hợp, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời nêu cao tính chính nghĩa và thiện chí mong muốn hòa bình, khôi phục quan hệ hữu nghị hai dân tộc; vừa không để bị ảnh hưởng đến các nhiệm vụ chiến lược khác, nhất là nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia; tiếp tục tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của dư luận quốc tế.

Thực hiện phương châm đề ra, từ ngày 17/2/1979, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố nêu rõ: Nhà cầm quyền Trung Quốc đang đi ngược lại lợi ích của nhân dân, phá hoại nghiêm trọng tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, đồng thời khẳng định nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác là thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình để đánh trả.

Về chỉ huy tác chiến, phía Việt Nam chủ trương chưa đưa lực lượng dự bị chiến lược vào quyết chiến sớm, cũng không vội rút đại quân từ Campuchia về nước, dễ gây nên sự xáo trộn bất ngờ mà phát huy sức mạnh tổng hợp chiến tranh nhân dân địa phương, sử dụng lực lượng tại chỗ của Quân khu 1, Quân khu 2 là chính, có sự bổ sung một bộ phận lực lượng từ tuyến sau lên tăng cường. Đồng thời, xây dựng kế hoạch điều động dần các binh đoàn dự bị chiến lược của Bộ sẵn sàng thực hành phản công khi cần thiết, chuẩn bị cho nhân dân cả nước bước vào đối phó với tình huống chiến tranh mở rộng.

Dưới sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, quân dân Việt Nam trên tuyến đầu biên giới kịp thời đánh trả, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của quân Trung Quốc, buộc đối phương phải tung lực lượng dự bị chiến lược vào tham chiến. Với ưu thế quân đông, nhiều vũ khí trang bị kỹ thuật, quân Trung Quốc lần lượt chiếm được một số địa bàn, thị xã quan trọng như: Lào Cai (19/2), Cao Bằng (24/2), Cam Đường (25/2), Lạng Sơn (5/3)…

Trước tình hình cấp bách đó, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam quyết định điều động lực lượng dự bị chiến lược kết hợp cùng lực lượng tại chỗ chuẩn bị mở những đòn phản công quy mô lớn binh chủng hợp thành.

Thực hiện chủ trương đó, đầu tháng 3/1979, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ra lệnh cho Quân đoàn 2 (cơ bản đã hoàn thành nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia) nhanh chóng chuyển toàn bộ lực lượng về phía Bắc Hà Nội tập kết, đồng thời ra quyết định thành lập Quân đoàn 5 (ngày 2/3/1979) ngay tại mặt trận biên giới (gồm 4 sư đoàn bộ binh: 3, 338, 327, 337 cùng một số đơn vị kỹ thuật và bảo đảm khác). Ngoài ra, các đơn vị chủ lực của Quân đoàn 1, Quân chủng Phòng không – Không quân và các binh chủng kỹ thuật khác sẵn sàng tham gia chiến đấu.

Chiến sĩ xe tăng Trung đội 1, Đại đội 2, Đoàn 407 truy kích quân địch ở thị xã Lạng Sơn. Ảnh: Thế Thuần/TTXVN

Để phát huy sức mạnh tổng hợp, ngày 4/3/1979, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi quân dân cả nước phát huy khí thế cách mạng, hăng hái thi đua lao động sản xuất, chi viện nhiều nhất cho tiền tuyến, quyết tâm giữ vững biên cương Tổ quốc.

Tiếp đó, ngày 5/3, Chủ tịch nước công bố Lệnh tổng động viên. Cả nước cùng đồng lòng hướng về mặt trận. Hàng triệu thanh niên nam, nữ viết đơn tình nguyện đi chiến đấu. Dự trữ vật chất hậu cần phục vụ chiến đấu do đó tăng lên nhanh chóng.

Quyết tâm của Bộ Chỉ huy tối cao Việt Nam, đặc biệt là động thái chuẩn bị mở đòn phản công chiến lược đã tác động mạnh đến tương quan cục diện cuộc chiến và tâm lý của các nhà cầm quyền Trung Quốc, tạo niềm tin sắt đá cho nhân dân cả nước và bạn bè thế giới, nhất là nhân dân Campuchia vừa được Quân tình nguyện Việt Nam giúp đỡ thoát khỏi họa diệt chủng, đang ra sức bảo vệ chính quyền non trẻ. Các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng tiến bộ cùng nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới tiếp tục lên án mạnh mẽ hành động chiến tranh phi nghĩa của Trung Quốc và kêu gọi ủng hộ Việt Nam.

Chịu tổn thất nặng nề mà chưa đạt được mục tiêu cơ bản đề ra, lại bị dư luận quốc tế lên án mạnh mẽ, ngày 5/3/1979, chính quyền Trung Quốc tuyên bố rút quân khỏi lãnh thổ Việt Nam. Với truyền thống nhân nghĩa, lấy đại cục làm trọng, mong muốn củng cố hòa bình, khôi phục quan hệ hữu nghị giữa hai nước, Trung ương Đảng, Chính phủ Việt Nam chỉ thị cho các lực lượng vũ trang và nhân dân trên mặt trận biên giới phía Bắc ngừng mọi hoạt động quân sự để quân Trung Quốc rút về nước. Đến ngày 18/3/1979, Trung Quốc hoàn thành việc rút quân khỏi Việt Nam.

Thắng lợi của quân dân Việt Nam trong Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 được tạo nên từ nhiều nguyên nhân khác nhau: Đó là tinh thần chiến đấu kiên cường, anh dũng vì độc lập, tự do và sự vẹn toàn lãnh thổ; sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của bè bạn quốc tế; thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc được xây dựng, củng cố qua thời gian; là Quân đội nhân dân tinh nhuệ với đội ngũ tướng lĩnh tài ba đã được rèn luyện, thử thách qua các cuộc chiến tranh… Nhưng bao trùm lên tất cả chính là nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh độc lập, tự chủ, đúng đắn của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nghệ thuật ấy chính là sự vận dụng sáng tạo nghệ thuật đánh giặc truyền thống của cha ông (“lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”, “tránh thế ban mai, đánh lúc chiều tà”…) và nghệ thuật chiến tranh hiện đại (kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích, chiến tranh chính quy; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trên tất cả các mặt chính trị – kinh tế – quốc phòng – an ninh; phát huy sức mạnh chiến tranh nhân dân địa phương, đặc biệt là sức mạnh của lực lượng vũ trang tại chỗ, sức mạnh hậu phương cả nước); đồng thời biết khai thác, phát huy tư tưởng nhân văn “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, kết hợp với chủ anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

TTXVN/Báo Tin tức

40 năm chiến tranh biên giới Việt – Trung: những điều chưa nói hết

40 năm sau cuộc chiến biên giới Việt – Trung, các khách mời trong chương trình Bàn tròn Thứ năm của BBC Tiếng Việt nói về cách đưa tin và tuyên truyền về cuộc chiến ở Trung Quốc và Việt Nam, liệu chủ đề này có nên được đưa vào sách giáo khoa VN, và có thể rút ra bài học nào cho các bên. Do Quốc Phương dẫn chương trình, thảo luận có sự tham gia của Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng từ ĐH George Mason, Hoa Kỳ; sử gia GS Ngô Vĩnh Long từ ĐH Maine; TS Nghiêm Thúy Hằng, Đại học KHXH và Nhân văn (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội), TS Hà Hoàng Hợp, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Iseas-Singapore) và nhà báo Tô Bình, Biên tập viên BBC Tiếng Trung. Video đã được biên tập lại từ chương trình Bàn tròn Thứ năm được phát trực tiếp trên Facebook của BBC Tiếng Việt hôm 14/2. BBC News Tiếng Việt

Chiến tranh biên giới phía Bắc 1979: Vì sao trung Quốc quyết “trừng phạt Việt Nam”?

Đặng Tiểu Bình

© AP Photo

Từ cuối năm 1978, Trung Quốc tăng cường làm đường cơ động, xây dựng căn cứ, hệ thống kho trạm, vận chuyển tập kết vật chất, sơ tán dân về phía sau. Đồng thời, thực hiện các hoạt động nghi binh, đề ra kế hoạch “dạy cho Việt Nam một bài học” và chuẩn bị chiến tranh “trừng phạt Việt Nam”, Trí Thức Trẻ cho hay.

Năm 1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời và ngay từ những ngày đầu, chính phủ nước này đã áp dụng chính sách ngoại giao “Nhất biên đảo” (nghiêng hẳn về phe xã hội chủ nghĩa). Chính sách này đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng thế giới phát triển mạnh mẽ.

Cuộc xung đột Trung-Việt năm 1979

© SPUTNIK / VLADIMIR VYATKIN

Tướng Lê Mã Lương: Việt Nam dạy cho Trung Quốc 1 bài học trong chiến tranh biên giới 1979

Tuy nhiên, trong giai đoạn 1959-1969, quan hệ Trung — Xô — Mỹ có những diễn biến phức tạp, bắt đầu từ sự rạn nứt trong quan hệ Trung — Xô, đỉnh điểm là cuộc xung đột biên giới năm 1969.

Trái ngược với mâu thuẫn sâu sắc trong quan hệ Trung — Xô, quan hệ Trung — Mỹ xích lại gần nhau hơn và sự kiện Tổng thống Mỹ Nixon thăm Bắc Kinh vào tháng 2/1972 được coi là một “cột mốc quan trọng làm xoay chuyển cục diện thế giới”.

Trong lúc mâu thuẫn Trung — Xô sâu sắc, quan hệ Việt — Xô lại phát triển ngày càng mạnh mẽ, đã tác động mạnh đến những tính toán chiến lược của Trung Quốc. Ngày 3/11/1978, Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác, đánh dấu bước phát triển mới của tình đoàn kết và hợp tác toàn diện giữa hai nước.

Ngày 17/4/1975, tập đoàn Pol Pot lên nắm quyền ở Campuchia, lập ra nhà nước “Campuchia dân chủ” thực hiện chính sách diệt chủng cực kỳ tàn bạo ở Campuchia và xâm lược biên giới Tây Nam của Việt Nam.

​Đặng Tiểu Bình (trái) và Tổng thống Mỹ Jimmy Carter.

Vào những ngày kỷ niệm chiến tranh biên giới 1979  chính quyền đã bắt giữ một số người cố gắng tổ chức những hoạt động tôn vinh các liệt sĩ tại Hà Nội.

© AP PHOTO / TRAN VAN MINH

Chiến tranh biên giới 1979: Sự chính nghĩa của Việt Nam trước Trung Quốc xâm lược

Trước hành động xâm lược và diệt chủng tàn bạo của chế độ Pol Pot, đáp lời kêu gọi của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đã thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình, đập tan các hành động xâm lược, cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng Pôn Pốt, giải phóng Campuchia vào ngày 7/1/1979.

Thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc cùng nhân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng Pol Pot đã đẩy sự căng thẳng trong quan hệ Trung Quốc — Việt Nam lên đỉnh điểm.

Trung Quốc đã chuẩn bị để tấn công Việt Nam như thế nào?

Ngay từ đầu những năm Việt Nam thống nhất đất nước, Trung Quốc đã thể hiện rõ ý đồ gây sự bằng việc liên tục tăng cường các hoạt động quân sự, khiêu khích vũ trang, xâm lấn đất đai (từ 234 vụ năm 1975, 812 vụ năm 1976, tăng lên 873 vụ năm 1977 và đặc biệt là năm 1978 lên tới 2.175 vụ), gây tình hình căng thẳng, phức tạp trên vùng biên giới phía Bắc Việt Nam.

Từ tháng 5/1978, Trung Quốc dựng lên “sự kiện nạn kiều”, thực chất là dụ dỗ, đe dọa, lần lượt cưỡng ép gần 20 vạn Hoa kiều đang sống yên ổn ở Việt Nam phải về nước. Tiếp đó, họ trắng trợn vu cáo Việt Nam ngược đãi, khủng bố xua đuổi Hoa kiều, rút chuyên gia về nước, gây ra tình hình hết sức căng thẳng.

Cờ tổ quốc treo rủ trước lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày quốc tang

© ẢNH: VIỆT HÙNG/ZING40 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc: Không thể quên!

Từ cuối năm 1978, Trung Quốc tăng cường làm đường cơ động, xây dựng căn cứ, hệ thống kho trạm, vận chuyển tập kết vật chất, sơ tán dân về phía sau. Đồng thời, thực hiện các hoạt động nghi binh, đề ra kế hoạch “dạy cho Việt Nam một bài học” và chuẩn bị chiến tranh “trừng phạt Việt Nam”.

Họ tuyên bố lừa mị dư luận trong nước và quốc tế rằng chỉ sử dụng lực lượng “bộ đội biên phòng” để thực hiện “phản kích tự vệ”, bởi Việt Nam gây ra xung đột, “lấn chiếm đất đai”, “quấy rối biên cương” phía Nam.

Thực tế, trên vùng biên giới Việt — Trung không có lực lượng vũ trang nào của Việt Nam được triển khai gây sức ép buộc Trung Quốc phải “tự vệ”, chỉ có phía Trung Quốc chuẩn bị lực lượng quy mô lớn đánh Việt Nam.

Từ tháng 8/1978, phía Trung Quốc điều động lực lượng từ phía sau ra biên giới gồm 9 quân đoàn và 5 sư đoàn độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn bộ binh), cùng 550 xe tăng, xe bọc thép, 2.558 pháo (trong đó có 1.092 pháo xe kéo), 676 máy bay…

Trên hướng biển có hàng chục tàu chiến thuộc Hạm đội Nam Hải hỗ trợ. Ngoài ra, phía Trung Quốc còn bố trí nhiều trận địa pháo, trạm ra đa, trang bị vũ khí cho dân binh các công xã ở vùng biên giới, tổ chức nhiều cuộc diễn tập, gây căng thẳng trên vùng biên giới phía Bắc.

5 ý đồ của Trung Quốc

Lính cảnh giới Trung Quốc trên quảng trường Thiên An Môn

© AP PHOTO / ALEXANDER F. YUAN

“Bóp chết” Việt Nam: Tướng Trung Quốc ngông cuồng “chiếm Hà Nội trong vòng 1 tuần”

Đêm 16 rạng ngày 17/2/1979 (đêm thứ Bảy rạng ngày Chủ nhật), lợi dụng trời tối, sương mù, phía Trung Quốc bí mật đưa lực lượng lớn vượt biên, luồn sâu, ém sẵn ở nhiều khu vực trên toàn tuyến biên giới, từ Pò Hèn (Quảng Ninh) đến Pa Nậm Cúm (Lai Châu); đồng thời triển khai đội hình gồm một lực lượng lớn áp sát biên giới chuẩn bị tiến công.

Mở cuộc chiến tranh trên biên giới phía Bắc nước ta, quân xâm lược Trung Quốc hy vọng thực hiện được 5 mục tiêu:

Một là, cứu chế độ diệt chủng Pol Pot, giữ Campuchia trong quỹ đạo của họ (mục tiêu chủ yếu). Ý đồ là chiếm một số khu vực đất đai của ta ở gần biên giới, nếu ta sơ hở sẽ tiến vào sâu, buộc ta phải đàm phán, đòi ta rút quân khỏi Campuchia để đánh đổi việc họ rút quân.

Mức thấp là đánh để buộc Việt Nam vì lo bảo vệ miền Bắc sẽ phải rút quân khỏi Campuchia, tạo điều kiện cho quân Pôn Pốt bảo toàn lực lượng, giữ được các căn cứ, đẩy mạnh hoạt động, hòng khôi phục lật lại chính quyền Campuchia Dân chủ.

Hai là, tranh thủ Mỹ và các nước đế quốc giúp họ xây dựng “bốn hiện đại hóa” (nông nghiệp, công nghiệp, quân đội và khoa học — kỹ thuật).

Ba là, phá hoại tiềm lực quốc phòng và kinh tế của ta, làm ta suy yếu. Ý đồ của họ là tiêu diệt một bộ phận lực lượng vũ trang ta, nhất là khối bộ đội chủ lực, phá hoại các cơ sở kinh tế, tàn sát gây tâm lý khủng khiếp trong nhân dân ta, kích động bạo loạn, hạ uy thế quân sự, chính trị to lớn của ta sau chiến thắng 30/4/1975.

Bốn là, uy hiếp từ Lào về phía Bắc, làm suy yếu liên minh chiến đấu Việt — Lào, buộc Lào phải “trung lập” trong cuộc đấu tranh giữa ta và họ; phá hoại Lào toàn diện, buộc Lào theo họ chống lại ta, uy hiếp ta từ phía Tây. Đồng thời thị uy các nước Đông Nam Á, gỡ thể diện cho họ sau thất bại nặng nề ở Campuchia.

Cuộc xung đột Trung-Việt năm 1979

© SPUTNIK / VLADIMIR VYATKIN

Trung Quốc tuyên bố “dạy cho Việt Nam một bài học”: Hai cuộc chiến xâm lược có chung một kịch bản

Năm là, thăm dò phản ứng của Liên Xô và dư luận thế giới để chuẩn bị cho những bước phiêu lưu sau này.

Quân và dân Việt Nam sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc

Trước diễn biến căng thẳng trên vùng biên giới phía Bắc, Đảng và Nhà nước ta kiên trì chủ trương giải quyết bằng biện pháp hòa bình; đồng thời khẩn trương tăng cường lực lượng, đẩy mạnh xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trên phạm vi cả nước, nhất là ở Quân khu 1 và Quân khu 2.

Đây là một địa bàn chiến lược rất quan trọng, án ngữ toàn bộ vùng biên giới phía Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc của Tổ quốc, có chung đường biên giới với Trung Quốc dài hơn 1.400km, chạy qua 145 xã, 19 thị trấn thuộc 27 huyện của 6 tỉnh (Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Tuyên (nay là Hà Giang, Tuyên Quang), Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai, Yên Bái), Lai Châu).

Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng) Việt Nam làm nhiệm vụ ở các đồn và cửa khẩu vùng biên giới các tỉnh phía Bắc thường xuyên tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, tạo điều kiện thuận lợi, bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản cho Hoa kiều trở về nước. Trong cuộc đấu tranh chống âm mưu cưỡng ép người Hoa về nước, một số cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng Việt Nam đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

Tháng 7/1978, Hội nghị Trung ương lần thứ tư (khóa IV) của Đảng đã chỉ đạo tập trung lực lượng để giải quyết nhanh nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên hướng biên giới Tây Nam; đồng thời động viên, tăng cường lực lượng và công tác phòng thủ của đất nước ở biên giới phía Bắc.

Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, các đơn vị quân đội được chấn chỉnh, tăng cường về tổ chức biên chế, bổ sung quân số, vũ khí, trang bị, nâng cao sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Vào những ngày kỷ niệm chiến tranh biên giới 1979  chính quyền đã bắt giữ một số người cố gắng tổ chức những hoạt động tôn vinh các liệt sĩ tại Hà Nội.

© AP PHOTO / TRAN VAN MINH

Vào những ngày kỷ niệm chiến tranh biên giới 1979 chính quyền đã bắt giữ một số người cố gắng tổ chức những hoạt động tôn vinh các liệt sĩ tại Hà Nội.

Cuộc xung đột Trung-Việt năm 1979

© SPUTNIK / VLADIMIR VYATKIN

Chiến tranh biên giới Việt-Trung: Sòng phẳng với lịch sử không phải là kích động hận thù

Ngày 6/1/1979, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị về việc tăng cường chiến đấu ở các tỉnh phía Bắc, nêu rõ:

“Phải theo dõi nắm chắc tình hình địch, kịp thời phát hiện âm mưu và hành động tiến công phá hoại của chúng, quyết không để bị bất ngờ, không mắc mưu khiêu khích của chúng… Gấp rút đẩy mạnh công tác sẵn sàng chiến đấu ở các địa phương trên toàn biên giới, bảo đảm sẵn sàng đánh bại địch ngay từ đầu trong bất kỳ tình huống nào”.

Thực hiện Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tham mưu, quân và dân cả nước, đặc biệt là lực lượng vũ trang Quân khu 1, Quân khu 2, nhân dân các tỉnh biên giới phía Bắc đã nhanh chóng chuyển địa bàn, vốn là hậu phương trước đây, thành tiền tuyến của cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc.

Quân khu 1, Quân khu 2 và nhân dân các tỉnh biên giới phía Bắc gấp rút củng cố thế trận phòng thủ, chấn chỉnh tổ chức biên chế, bổ sung quân số và trang bị kỹ thuật, tăng cường huấn luyện, hoàn chỉnh phương án tác chiến, sẵn sàng chiến đấu cao.

Các tỉnh (thành), huyện (quận) ở tuyến sau cũng dự kiến kế hoạch chuẩn bị lực lượng, chủ động hiệp đồng giữa các ngành và địa phương, khi cần kịp thời cơ động lực lượng chiến đấu chi viện các tỉnh, huyện tuyến trước; đồng thời có kế hoạch sơ tán và tổ chức lực lượng tại chỗ, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ hậu phương.