Category Archives: Chiến tranh Việt Trung 1979

Tại sao TQ không đánh Hà Nội sau khi vào Lạng Sơn?

THS2018 – Lạng Sơn đã là khúc xương khó nuốt. hóc xương gà ở đền Chí Linh thì cụ Lý Thường Kiệt đâu cho phép đi mà đi. Đến Hà Nội ngày nay hết ống đồng Thoát Hoan sao trở về Tàu?

Đây là một vấn đề thường xuyên được truyền thông phía TQ bàn luận khi nói về chủ đề Việt Trung. Mời quý vị tham khảo thêm website https://www.moquocte.com/ để cập nhật thêm các tin tức khác

Advertisements

Nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh trong Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc

TTXVN – Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 đã khẳng định sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam trước những thử thách ngặt nghèo.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm diễn ra sự kiện lịch sử đặc biệt này, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) xin trân trọng giới thiệu bài viết: “Nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc năm 1979” của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Khang, nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

Bộ Chỉ huy mặt trận Lạng Sơn cùng chỉ huy Đoàn 327 bàn phương án tác chiến tại hang Chùa Tiên (thị xã Lạng Sơn). Ảnh: Văn Bảo/TTXVN

Đầu năm 1979, khi Quân đội nhân dân Việt Nam tiến công đánh đổ tập đoàn phản động Pol Pot, giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, Chính phủ Trung Quốc cùng một số nước phương Tây ra sức tuyên truyền xuyên tạc sự xuất hiện của Quân tình nguyện Việt Nam trên lãnh thổ Campuchia, đồng thời liên tục gây sức ép hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Mục đích của họ muốn chống phá cách mạng Việt Nam, mưu toan áp đặt lợi ích nước lớn trên bán đảo Đông Dương.

Sau khi gây sức ép về chính trị, ngoại giao mà không đạt được mục đích đề ra, ngày 17/2/1979, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã động huy động khoảng 60 vạn quân cùng hàng trăm xe tăng, xe bọc thép; hàng ngàn khẩu pháo các loại… mở cuộc tiến công trực diện vào lãnh thổ Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Móng Cái (Quảng Ninh).

Nhân dân Việt Nam đứng trước thử thách to lớn: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc chưa lâu (1975), hậu quả để lại còn rất nặng nề; lại vừa kết thúc Chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam (12/1978) và đang làm nhiệm vụ quốc tế giúp đỡ nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, thực hiện công cuộc hồi sinh đất nước. Mặt khác, kinh tế gặp rất nhiều khó khăn do cấm vận của Mỹ; các thế lực phản động trong và ngoài nước vẫn ra sức hoạt động chống phá… Bên cạnh đó, cuộc đụng đầu lịch sử này có tác động rất lớn đến tâm lý, tình cảm của nhân dân hai nước bởi Trung Quốc là nước đã ủng hộ, giúp đỡ to lớn cả về chính trị, vật chất lẫn tinh thần cho Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến cứu nước (chống Pháp, chống Mỹ) trước đây.

Trước thử thách to lớn ấy, vấn đề chỉ đạo đấu tranh như thế nào được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam thảo luận rất kỹ. Yêu cầu đề ra là: Vừa phát huy sức mạnh tổng hợp, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời nêu cao tính chính nghĩa và thiện chí mong muốn hòa bình, khôi phục quan hệ hữu nghị hai dân tộc; vừa không để bị ảnh hưởng đến các nhiệm vụ chiến lược khác, nhất là nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia; tiếp tục tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của dư luận quốc tế.

Thực hiện phương châm đề ra, từ ngày 17/2/1979, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố nêu rõ: Nhà cầm quyền Trung Quốc đang đi ngược lại lợi ích của nhân dân, phá hoại nghiêm trọng tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, đồng thời khẳng định nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác là thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình để đánh trả.

Về chỉ huy tác chiến, phía Việt Nam chủ trương chưa đưa lực lượng dự bị chiến lược vào quyết chiến sớm, cũng không vội rút đại quân từ Campuchia về nước, dễ gây nên sự xáo trộn bất ngờ mà phát huy sức mạnh tổng hợp chiến tranh nhân dân địa phương, sử dụng lực lượng tại chỗ của Quân khu 1, Quân khu 2 là chính, có sự bổ sung một bộ phận lực lượng từ tuyến sau lên tăng cường. Đồng thời, xây dựng kế hoạch điều động dần các binh đoàn dự bị chiến lược của Bộ sẵn sàng thực hành phản công khi cần thiết, chuẩn bị cho nhân dân cả nước bước vào đối phó với tình huống chiến tranh mở rộng.

Dưới sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, quân dân Việt Nam trên tuyến đầu biên giới kịp thời đánh trả, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của quân Trung Quốc, buộc đối phương phải tung lực lượng dự bị chiến lược vào tham chiến. Với ưu thế quân đông, nhiều vũ khí trang bị kỹ thuật, quân Trung Quốc lần lượt chiếm được một số địa bàn, thị xã quan trọng như: Lào Cai (19/2), Cao Bằng (24/2), Cam Đường (25/2), Lạng Sơn (5/3)…

Trước tình hình cấp bách đó, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam quyết định điều động lực lượng dự bị chiến lược kết hợp cùng lực lượng tại chỗ chuẩn bị mở những đòn phản công quy mô lớn binh chủng hợp thành.

Thực hiện chủ trương đó, đầu tháng 3/1979, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ra lệnh cho Quân đoàn 2 (cơ bản đã hoàn thành nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia) nhanh chóng chuyển toàn bộ lực lượng về phía Bắc Hà Nội tập kết, đồng thời ra quyết định thành lập Quân đoàn 5 (ngày 2/3/1979) ngay tại mặt trận biên giới (gồm 4 sư đoàn bộ binh: 3, 338, 327, 337 cùng một số đơn vị kỹ thuật và bảo đảm khác). Ngoài ra, các đơn vị chủ lực của Quân đoàn 1, Quân chủng Phòng không – Không quân và các binh chủng kỹ thuật khác sẵn sàng tham gia chiến đấu.

Chiến sĩ xe tăng Trung đội 1, Đại đội 2, Đoàn 407 truy kích quân địch ở thị xã Lạng Sơn. Ảnh: Thế Thuần/TTXVN

Để phát huy sức mạnh tổng hợp, ngày 4/3/1979, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi quân dân cả nước phát huy khí thế cách mạng, hăng hái thi đua lao động sản xuất, chi viện nhiều nhất cho tiền tuyến, quyết tâm giữ vững biên cương Tổ quốc.

Tiếp đó, ngày 5/3, Chủ tịch nước công bố Lệnh tổng động viên. Cả nước cùng đồng lòng hướng về mặt trận. Hàng triệu thanh niên nam, nữ viết đơn tình nguyện đi chiến đấu. Dự trữ vật chất hậu cần phục vụ chiến đấu do đó tăng lên nhanh chóng.

Quyết tâm của Bộ Chỉ huy tối cao Việt Nam, đặc biệt là động thái chuẩn bị mở đòn phản công chiến lược đã tác động mạnh đến tương quan cục diện cuộc chiến và tâm lý của các nhà cầm quyền Trung Quốc, tạo niềm tin sắt đá cho nhân dân cả nước và bạn bè thế giới, nhất là nhân dân Campuchia vừa được Quân tình nguyện Việt Nam giúp đỡ thoát khỏi họa diệt chủng, đang ra sức bảo vệ chính quyền non trẻ. Các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng tiến bộ cùng nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới tiếp tục lên án mạnh mẽ hành động chiến tranh phi nghĩa của Trung Quốc và kêu gọi ủng hộ Việt Nam.

Chịu tổn thất nặng nề mà chưa đạt được mục tiêu cơ bản đề ra, lại bị dư luận quốc tế lên án mạnh mẽ, ngày 5/3/1979, chính quyền Trung Quốc tuyên bố rút quân khỏi lãnh thổ Việt Nam. Với truyền thống nhân nghĩa, lấy đại cục làm trọng, mong muốn củng cố hòa bình, khôi phục quan hệ hữu nghị giữa hai nước, Trung ương Đảng, Chính phủ Việt Nam chỉ thị cho các lực lượng vũ trang và nhân dân trên mặt trận biên giới phía Bắc ngừng mọi hoạt động quân sự để quân Trung Quốc rút về nước. Đến ngày 18/3/1979, Trung Quốc hoàn thành việc rút quân khỏi Việt Nam.

Thắng lợi của quân dân Việt Nam trong Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 được tạo nên từ nhiều nguyên nhân khác nhau: Đó là tinh thần chiến đấu kiên cường, anh dũng vì độc lập, tự do và sự vẹn toàn lãnh thổ; sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của bè bạn quốc tế; thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc được xây dựng, củng cố qua thời gian; là Quân đội nhân dân tinh nhuệ với đội ngũ tướng lĩnh tài ba đã được rèn luyện, thử thách qua các cuộc chiến tranh… Nhưng bao trùm lên tất cả chính là nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh độc lập, tự chủ, đúng đắn của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nghệ thuật ấy chính là sự vận dụng sáng tạo nghệ thuật đánh giặc truyền thống của cha ông (“lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”, “tránh thế ban mai, đánh lúc chiều tà”…) và nghệ thuật chiến tranh hiện đại (kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích, chiến tranh chính quy; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trên tất cả các mặt chính trị – kinh tế – quốc phòng – an ninh; phát huy sức mạnh chiến tranh nhân dân địa phương, đặc biệt là sức mạnh của lực lượng vũ trang tại chỗ, sức mạnh hậu phương cả nước); đồng thời biết khai thác, phát huy tư tưởng nhân văn “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, kết hợp với chủ anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

TTXVN/Báo Tin tức

40 năm chiến tranh biên giới Việt – Trung: những điều chưa nói hết

40 năm sau cuộc chiến biên giới Việt – Trung, các khách mời trong chương trình Bàn tròn Thứ năm của BBC Tiếng Việt nói về cách đưa tin và tuyên truyền về cuộc chiến ở Trung Quốc và Việt Nam, liệu chủ đề này có nên được đưa vào sách giáo khoa VN, và có thể rút ra bài học nào cho các bên. Do Quốc Phương dẫn chương trình, thảo luận có sự tham gia của Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng từ ĐH George Mason, Hoa Kỳ; sử gia GS Ngô Vĩnh Long từ ĐH Maine; TS Nghiêm Thúy Hằng, Đại học KHXH và Nhân văn (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội), TS Hà Hoàng Hợp, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Iseas-Singapore) và nhà báo Tô Bình, Biên tập viên BBC Tiếng Trung. Video đã được biên tập lại từ chương trình Bàn tròn Thứ năm được phát trực tiếp trên Facebook của BBC Tiếng Việt hôm 14/2. BBC News Tiếng Việt

Chiến tranh biên giới phía Bắc 1979: Vì sao trung Quốc quyết “trừng phạt Việt Nam”?

Đặng Tiểu Bình

© AP Photo

Từ cuối năm 1978, Trung Quốc tăng cường làm đường cơ động, xây dựng căn cứ, hệ thống kho trạm, vận chuyển tập kết vật chất, sơ tán dân về phía sau. Đồng thời, thực hiện các hoạt động nghi binh, đề ra kế hoạch “dạy cho Việt Nam một bài học” và chuẩn bị chiến tranh “trừng phạt Việt Nam”, Trí Thức Trẻ cho hay.

Năm 1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời và ngay từ những ngày đầu, chính phủ nước này đã áp dụng chính sách ngoại giao “Nhất biên đảo” (nghiêng hẳn về phe xã hội chủ nghĩa). Chính sách này đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng thế giới phát triển mạnh mẽ.

Cuộc xung đột Trung-Việt năm 1979

© SPUTNIK / VLADIMIR VYATKIN

Tướng Lê Mã Lương: Việt Nam dạy cho Trung Quốc 1 bài học trong chiến tranh biên giới 1979

Tuy nhiên, trong giai đoạn 1959-1969, quan hệ Trung — Xô — Mỹ có những diễn biến phức tạp, bắt đầu từ sự rạn nứt trong quan hệ Trung — Xô, đỉnh điểm là cuộc xung đột biên giới năm 1969.

Trái ngược với mâu thuẫn sâu sắc trong quan hệ Trung — Xô, quan hệ Trung — Mỹ xích lại gần nhau hơn và sự kiện Tổng thống Mỹ Nixon thăm Bắc Kinh vào tháng 2/1972 được coi là một “cột mốc quan trọng làm xoay chuyển cục diện thế giới”.

Trong lúc mâu thuẫn Trung — Xô sâu sắc, quan hệ Việt — Xô lại phát triển ngày càng mạnh mẽ, đã tác động mạnh đến những tính toán chiến lược của Trung Quốc. Ngày 3/11/1978, Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác, đánh dấu bước phát triển mới của tình đoàn kết và hợp tác toàn diện giữa hai nước.

Ngày 17/4/1975, tập đoàn Pol Pot lên nắm quyền ở Campuchia, lập ra nhà nước “Campuchia dân chủ” thực hiện chính sách diệt chủng cực kỳ tàn bạo ở Campuchia và xâm lược biên giới Tây Nam của Việt Nam.

​Đặng Tiểu Bình (trái) và Tổng thống Mỹ Jimmy Carter.

Vào những ngày kỷ niệm chiến tranh biên giới 1979  chính quyền đã bắt giữ một số người cố gắng tổ chức những hoạt động tôn vinh các liệt sĩ tại Hà Nội.

© AP PHOTO / TRAN VAN MINH

Chiến tranh biên giới 1979: Sự chính nghĩa của Việt Nam trước Trung Quốc xâm lược

Trước hành động xâm lược và diệt chủng tàn bạo của chế độ Pol Pot, đáp lời kêu gọi của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đã thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình, đập tan các hành động xâm lược, cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng Pôn Pốt, giải phóng Campuchia vào ngày 7/1/1979.

Thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc cùng nhân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng Pol Pot đã đẩy sự căng thẳng trong quan hệ Trung Quốc — Việt Nam lên đỉnh điểm.

Trung Quốc đã chuẩn bị để tấn công Việt Nam như thế nào?

Ngay từ đầu những năm Việt Nam thống nhất đất nước, Trung Quốc đã thể hiện rõ ý đồ gây sự bằng việc liên tục tăng cường các hoạt động quân sự, khiêu khích vũ trang, xâm lấn đất đai (từ 234 vụ năm 1975, 812 vụ năm 1976, tăng lên 873 vụ năm 1977 và đặc biệt là năm 1978 lên tới 2.175 vụ), gây tình hình căng thẳng, phức tạp trên vùng biên giới phía Bắc Việt Nam.

Từ tháng 5/1978, Trung Quốc dựng lên “sự kiện nạn kiều”, thực chất là dụ dỗ, đe dọa, lần lượt cưỡng ép gần 20 vạn Hoa kiều đang sống yên ổn ở Việt Nam phải về nước. Tiếp đó, họ trắng trợn vu cáo Việt Nam ngược đãi, khủng bố xua đuổi Hoa kiều, rút chuyên gia về nước, gây ra tình hình hết sức căng thẳng.

Cờ tổ quốc treo rủ trước lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày quốc tang

© ẢNH: VIỆT HÙNG/ZING40 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc: Không thể quên!

Từ cuối năm 1978, Trung Quốc tăng cường làm đường cơ động, xây dựng căn cứ, hệ thống kho trạm, vận chuyển tập kết vật chất, sơ tán dân về phía sau. Đồng thời, thực hiện các hoạt động nghi binh, đề ra kế hoạch “dạy cho Việt Nam một bài học” và chuẩn bị chiến tranh “trừng phạt Việt Nam”.

Họ tuyên bố lừa mị dư luận trong nước và quốc tế rằng chỉ sử dụng lực lượng “bộ đội biên phòng” để thực hiện “phản kích tự vệ”, bởi Việt Nam gây ra xung đột, “lấn chiếm đất đai”, “quấy rối biên cương” phía Nam.

Thực tế, trên vùng biên giới Việt — Trung không có lực lượng vũ trang nào của Việt Nam được triển khai gây sức ép buộc Trung Quốc phải “tự vệ”, chỉ có phía Trung Quốc chuẩn bị lực lượng quy mô lớn đánh Việt Nam.

Từ tháng 8/1978, phía Trung Quốc điều động lực lượng từ phía sau ra biên giới gồm 9 quân đoàn và 5 sư đoàn độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn bộ binh), cùng 550 xe tăng, xe bọc thép, 2.558 pháo (trong đó có 1.092 pháo xe kéo), 676 máy bay…

Trên hướng biển có hàng chục tàu chiến thuộc Hạm đội Nam Hải hỗ trợ. Ngoài ra, phía Trung Quốc còn bố trí nhiều trận địa pháo, trạm ra đa, trang bị vũ khí cho dân binh các công xã ở vùng biên giới, tổ chức nhiều cuộc diễn tập, gây căng thẳng trên vùng biên giới phía Bắc.

5 ý đồ của Trung Quốc

Lính cảnh giới Trung Quốc trên quảng trường Thiên An Môn

© AP PHOTO / ALEXANDER F. YUAN

“Bóp chết” Việt Nam: Tướng Trung Quốc ngông cuồng “chiếm Hà Nội trong vòng 1 tuần”

Đêm 16 rạng ngày 17/2/1979 (đêm thứ Bảy rạng ngày Chủ nhật), lợi dụng trời tối, sương mù, phía Trung Quốc bí mật đưa lực lượng lớn vượt biên, luồn sâu, ém sẵn ở nhiều khu vực trên toàn tuyến biên giới, từ Pò Hèn (Quảng Ninh) đến Pa Nậm Cúm (Lai Châu); đồng thời triển khai đội hình gồm một lực lượng lớn áp sát biên giới chuẩn bị tiến công.

Mở cuộc chiến tranh trên biên giới phía Bắc nước ta, quân xâm lược Trung Quốc hy vọng thực hiện được 5 mục tiêu:

Một là, cứu chế độ diệt chủng Pol Pot, giữ Campuchia trong quỹ đạo của họ (mục tiêu chủ yếu). Ý đồ là chiếm một số khu vực đất đai của ta ở gần biên giới, nếu ta sơ hở sẽ tiến vào sâu, buộc ta phải đàm phán, đòi ta rút quân khỏi Campuchia để đánh đổi việc họ rút quân.

Mức thấp là đánh để buộc Việt Nam vì lo bảo vệ miền Bắc sẽ phải rút quân khỏi Campuchia, tạo điều kiện cho quân Pôn Pốt bảo toàn lực lượng, giữ được các căn cứ, đẩy mạnh hoạt động, hòng khôi phục lật lại chính quyền Campuchia Dân chủ.

Hai là, tranh thủ Mỹ và các nước đế quốc giúp họ xây dựng “bốn hiện đại hóa” (nông nghiệp, công nghiệp, quân đội và khoa học — kỹ thuật).

Ba là, phá hoại tiềm lực quốc phòng và kinh tế của ta, làm ta suy yếu. Ý đồ của họ là tiêu diệt một bộ phận lực lượng vũ trang ta, nhất là khối bộ đội chủ lực, phá hoại các cơ sở kinh tế, tàn sát gây tâm lý khủng khiếp trong nhân dân ta, kích động bạo loạn, hạ uy thế quân sự, chính trị to lớn của ta sau chiến thắng 30/4/1975.

Bốn là, uy hiếp từ Lào về phía Bắc, làm suy yếu liên minh chiến đấu Việt — Lào, buộc Lào phải “trung lập” trong cuộc đấu tranh giữa ta và họ; phá hoại Lào toàn diện, buộc Lào theo họ chống lại ta, uy hiếp ta từ phía Tây. Đồng thời thị uy các nước Đông Nam Á, gỡ thể diện cho họ sau thất bại nặng nề ở Campuchia.

Cuộc xung đột Trung-Việt năm 1979

© SPUTNIK / VLADIMIR VYATKIN

Trung Quốc tuyên bố “dạy cho Việt Nam một bài học”: Hai cuộc chiến xâm lược có chung một kịch bản

Năm là, thăm dò phản ứng của Liên Xô và dư luận thế giới để chuẩn bị cho những bước phiêu lưu sau này.

Quân và dân Việt Nam sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc

Trước diễn biến căng thẳng trên vùng biên giới phía Bắc, Đảng và Nhà nước ta kiên trì chủ trương giải quyết bằng biện pháp hòa bình; đồng thời khẩn trương tăng cường lực lượng, đẩy mạnh xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trên phạm vi cả nước, nhất là ở Quân khu 1 và Quân khu 2.

Đây là một địa bàn chiến lược rất quan trọng, án ngữ toàn bộ vùng biên giới phía Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc của Tổ quốc, có chung đường biên giới với Trung Quốc dài hơn 1.400km, chạy qua 145 xã, 19 thị trấn thuộc 27 huyện của 6 tỉnh (Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Tuyên (nay là Hà Giang, Tuyên Quang), Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai, Yên Bái), Lai Châu).

Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng) Việt Nam làm nhiệm vụ ở các đồn và cửa khẩu vùng biên giới các tỉnh phía Bắc thường xuyên tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, tạo điều kiện thuận lợi, bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản cho Hoa kiều trở về nước. Trong cuộc đấu tranh chống âm mưu cưỡng ép người Hoa về nước, một số cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng Việt Nam đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

Tháng 7/1978, Hội nghị Trung ương lần thứ tư (khóa IV) của Đảng đã chỉ đạo tập trung lực lượng để giải quyết nhanh nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên hướng biên giới Tây Nam; đồng thời động viên, tăng cường lực lượng và công tác phòng thủ của đất nước ở biên giới phía Bắc.

Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, các đơn vị quân đội được chấn chỉnh, tăng cường về tổ chức biên chế, bổ sung quân số, vũ khí, trang bị, nâng cao sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Vào những ngày kỷ niệm chiến tranh biên giới 1979  chính quyền đã bắt giữ một số người cố gắng tổ chức những hoạt động tôn vinh các liệt sĩ tại Hà Nội.

© AP PHOTO / TRAN VAN MINH

Vào những ngày kỷ niệm chiến tranh biên giới 1979 chính quyền đã bắt giữ một số người cố gắng tổ chức những hoạt động tôn vinh các liệt sĩ tại Hà Nội.

Cuộc xung đột Trung-Việt năm 1979

© SPUTNIK / VLADIMIR VYATKIN

Chiến tranh biên giới Việt-Trung: Sòng phẳng với lịch sử không phải là kích động hận thù

Ngày 6/1/1979, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị về việc tăng cường chiến đấu ở các tỉnh phía Bắc, nêu rõ:

“Phải theo dõi nắm chắc tình hình địch, kịp thời phát hiện âm mưu và hành động tiến công phá hoại của chúng, quyết không để bị bất ngờ, không mắc mưu khiêu khích của chúng… Gấp rút đẩy mạnh công tác sẵn sàng chiến đấu ở các địa phương trên toàn biên giới, bảo đảm sẵn sàng đánh bại địch ngay từ đầu trong bất kỳ tình huống nào”.

Thực hiện Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tham mưu, quân và dân cả nước, đặc biệt là lực lượng vũ trang Quân khu 1, Quân khu 2, nhân dân các tỉnh biên giới phía Bắc đã nhanh chóng chuyển địa bàn, vốn là hậu phương trước đây, thành tiền tuyến của cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc.

Quân khu 1, Quân khu 2 và nhân dân các tỉnh biên giới phía Bắc gấp rút củng cố thế trận phòng thủ, chấn chỉnh tổ chức biên chế, bổ sung quân số và trang bị kỹ thuật, tăng cường huấn luyện, hoàn chỉnh phương án tác chiến, sẵn sàng chiến đấu cao.

Các tỉnh (thành), huyện (quận) ở tuyến sau cũng dự kiến kế hoạch chuẩn bị lực lượng, chủ động hiệp đồng giữa các ngành và địa phương, khi cần kịp thời cơ động lực lượng chiến đấu chi viện các tỉnh, huyện tuyến trước; đồng thời có kế hoạch sơ tán và tổ chức lực lượng tại chỗ, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ hậu phương.

Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc: Vị Xuyên hồi sinh

VOV.VN – Những điểm cao túi đạn hố pháo chiến trường ác liệt năm xưa thì nay đã hồi sinh thành các điểm trường Mầm non Nậm Ngặt.

cuoc chien bao ve bien gioi phia bac: hoi sinh thanh thuy - vi xuyen hinh 1
 Mặt trận Vị Xuyên – Thanh Thuỷ (Hà Giang) là vùng chiến sự ác liệt nhất trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc kéo dài 10 năm 1979-1989.
Nhiều địa danh, trận chiến tại đây đã đi vào lịch sử như: điểm cao 1509, 468, Cô Ích, Bốn Hầm, Lò vôi thế kỷ…

Đặc biệt từ 1984 đến 1989 tại mặt trận Vị Xuyên, tình hình chiến sự ngày càng khốc liệt, dựa trên địa hình hiểm trở, đèo dốc cao các lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Giang đã anh dũng đấu tranh, bảo vệ vững chắc từng tấc đất thiêng liêng của tổ quốc, câu nói được khắc trên báng súng của Anh hùng liệt sỹ Nguyễn Viết Minh “Sống bám đá – Chết hóa đá – Thành bất tử” đã thể hiện rõ tinh thần đó. 

Hôm nay (17/2), là ngày tròn 40 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của quân và dân ta bắt đầu. Ba thập kỷ sau cuộc chiến, điểm nóng Thanh Thủy – Vị Xuyên đang hồi sinh mạnh mẽ. Trong ảnh: Điểm cao 468 đã đi vào lịch sử là vùng chiến sự ác liệt trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc.

cuoc chien bao ve bien gioi phia bac: hoi sinh thanh thuy - vi xuyen hinh 2
Nằm trên điểm cao 468 ở lưng chừng núi Nậm Ngặt thuộc xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang) là Nhà tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ hy sinh tại Mặt trận Vị Xuyên… Được khánh thành ngày 25/6/2016, công trình đã trở thành địa chỉ lịch sử-văn hóa góp phần tưởng nhớ, tri ân các anh hùng liệt sĩ hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau. Đài hương 468 những ngày này đón rất nhiều đoàn đến thắp hương tưởng nhớ các chiến sỹ đã hy sinh tại Mặt trận Vị Xuyên.
cuoc chien bao ve bien gioi phia bac: hoi sinh thanh thuy - vi xuyen hinh 3
Bia ký ức của Sư đoàn 356. Chiến trường xưa tại khu vực biên giới xã Thanh Thủy huyện Vị Xuyên, nơi đã từng là chiến trường khốc liệt, nổi danh với những “đồi thịt băm”, “lò vôi thế kỷ” hay “thung lũng gọi hồn”.
cuoc chien bao ve bien gioi phia bac: hoi sinh thanh thuy - vi xuyen hinh 4
Gặp lại nhau, những người lính trẻ của Mặt trận Vị Xuyên năm nào đã cùng nhau ôn lại những ký ức của một thời hoa lửa. Họ kể về cuộc đời mình thời hậu chiến, về tình yêu, gia đình hay công việc.
cuoc chien bao ve bien gioi phia bac: hoi sinh thanh thuy - vi xuyen hinh 5
Khi đến các địa danh, nhớ lại những ngày tháng chiến đấu các cựu chiến binh không khỏi xúc động khi đây là nơi gần 5.000 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh khi chiến đấu bảo vệ từng tấc đất biên cương. Tại đây vẫn còn có 3.000 liệt sĩ vẫn nằm lại trên chiến trường xưa.

cuoc chien bao ve bien gioi phia bac: hoi sinh thanh thuy - vi xuyen hinh 6
Một nén tâm nhang, với tấm lòng thành kính, biết ơn chân thành nhất để tưởng nhớ đến đồng đội đã anh dũng hy sinh bảo vệ Tổ quốc, nhớ lại một thời oanh liệt của cán bộ, chiến sỹ đã anh dũng chiến đấu để bảo vệ biên cương. Cựu chiến binh Đại tá Phạm Minh Nhàn – Sư đoàn 313 Quân khu 2 thắp hương tưởng nhớ đồng đội.
cuoc chien bao ve bien gioi phia bac: hoi sinh thanh thuy - vi xuyen hinh 7
Đứng trên đài hương nhìn xuống, thung lũng Nậm Ngặt xanh ngát màu xanh của cây cối, lác đác những nếp nhà sàn êm ấm, yên bình. Dưới chân núi, dòng suối Thanh Thủy lặng lờ trôi. Cuộc sống thanh bình, hạnh phúc đã phủ lên mảnh đất từng một thời bom đạn, đau thương này. Trong ảnh là một góc bản làng Thanh Thủy hôm nay
cuoc chien bao ve bien gioi phia bac: hoi sinh thanh thuy - vi xuyen hinh 8
Những điểm cao túi đạn hố pháo chiến trường ác liệt năm xưa thì nay đã hồi sinh thành các điểm trường Mầm non Nậm Ngặt.
cuoc chien bao ve bien gioi phia bac: hoi sinh thanh thuy - vi xuyen hinh 9
Thế hệ trẻ luôn trân trọng xương máu của thế hệ cha anh đi trước để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Dù cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn, chính quyền các cấp tỉnh Hà Giang và huyện Vị Xuyên luôn quan tâm chăm lo sự nghiệp giáo dục để nuôi dưỡng và hun đúc truyền thống cha ông bảo vệ vững chắc từng tấc đất biên cương./.

Huy Nam/VOV1

Biên Giới 1979 Trước Biển Người Phương Bắc

Thanh Lam, Hoàng Phương/VN-Express

LTS: Tuy rằng lâu lắm mới có một cuộc chiến biên giới như năm 1979, và mặc dù ngắn ngủi, nhưng lại xảy ra sau ngày nước nhà thống nhất chỉ chưa đầy 4 năm, chưa phục hồi được nội lực, lại vẫn còn chịu đòn cấm vận của Mỹ. Phải nói rằng đất nước này còn tồn tại không bao giờ là chuyện may mắn. Bài viết xúc tích và cũng xúc động này đã đăng trên VNExpress. Trang nhà xin phép ghi lại để tưởng niệm các liệt sĩ đã bỏ mình cho niềm tự hào của chúng ta ngày nay.(SH)

Gồm các mục:

Lời mở đầu – Sự bình yên của họ Đặng – Đương đầu – Người người lớp lớp – Một bài học – Khi khói tan.

Lời mở đầu

https://i-vnexpress.vnecdn.net/2019/02/13/Biengioi-1-7703-1550030342.jpg

600.000 quân Trung Quốc được huy động để thực hiện một cuộc phá hoại rộng lớn trên đất Việt Nam. Mọi chuyện không như ý muốn của kẻ thù.

***

Nhiều năm sau này, người trong vùng vẫn kể về cái đêm con trai cô Dén chết. Đoàn người sơ tán từ thị xã Cao Bằng, lần rừng về cầu Tài Hồ Sìn, tìm đường xuôi về Bắc Kạn, Thái Nguyên, những vùng chiến sự chưa lan tới. Gặp một trại lính Trung Quốc, đoàn người bấm nhau đi thật khẽ. Đúng lúc, từ phía nhà cô Dén có tiếng ọ ọe của trẻ con. Thằng bé bú no nê và được ủ ấm, đã thức giấc. Cô Dén loay hoay tìm cách để nó thôi khóc.

Ai nấy nín thở, đã có tiếng thì thào gắt gỏng. Dưới áp lực sống của hàng trăm con người, người mẹ đã bịt chặt miệng con để nó không còn phát ra tiếng kêu nữa. Thằng bé càng giãy, mẹ nó càng bịt chặt. Đoàn người vượt qua bản, thằng bé cũng không còn thở nữa. Nó mới hai tháng tuổi.

Người mẹ ôm chặt con không nấc lên được tiếng nào. Một ngôi mộ cỏn con được đắp vội bên đường. Những bước chân nặng nề bước tiếp.

Đó là một khung cảnh biên giới phía Bắc Việt Nam tháng 2 năm 1979, nơi Đặng Tiểu Bình tuyên bố đang tìm kiếm “sự bình yên nơi biên viễn”.

Ngày 2 tháng 2 năm 1979, trên khán đài một buổi đua ngựa ở bang Texas, Mỹ, một người đàn ông châu Á thấp bé mặc bộ đồ Tôn Trung Sơn tối màu tay giơ chiếc mũ cao bồi, cười tươi. Khoảnh khắc đó, được các hãng thông tấn khắp thế giới truyền tải, trở thành một biểu tượng ngoại giao. Người đàn ông đó là Đặng Tiểu Bình, Phó thủ tướng Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

27 ngày sau khi quan hệ ngoại giao Mỹ-Trung được ký kết, 28 tháng 1 năm 1979, chiếc Boeing 707 từ Bắc Kinh cất cánh, nhắm hướng Washington. Đặng Tiểu Bình bắt đầu chuyến thăm chính thức nước Mỹ.

Trong tiệc chiêu đãi cùng ngày, Đặng yêu cầu một cuộc gặp riêng với Tổng thống Jimmy Carter về vấn đề Việt Nam. Yêu cầu của Đặng được thực hiện ngay hôm sau. Hai mươi vị lãnh đạo đôi bên dành tròn 7 tiếng cho cuộc hội đàm, từ 10 giờ 40 đến 17 giờ 40.

https://i-vnexpress.vnecdn.net/2019/02/12/Biengioi-4-7552-1549931296.jpg

Đặng Tiểu Bình và Jimmy Carter tháng 1/1979. Ảnh: UPI.

Trong sáu tiếng đầu tiên, Đặng nhấn mạnh về “chủ nghĩa bá quyền của Liên Xô”, cảnh báo “nguy cơ chiến tranh bắt đầu từ Liên Xô”, “Mỹ chưa chống trả Liên Xô thỏa đáng”; “Mỹ và Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng trong cuộc chiến này”.

Bàn đến Việt Nam, Tổng thống Mỹ Jimmy Carter đề nghị chuyển địa điểm sang phòng Bầu Dục. Cuộc họp rút xuống chỉ còn 8 người. Đặng Tiểu Bình đề cập đến “Việt Nam xâm lược Campuchia” để tiếp tay cho ý đồ bá chủ của Liên Xô. “Campuchia hy vọng Trung Quốc giúp đỡ, nhưng chúng tôi quá hiền lành”.

Ngày hôm sau, Việt Nam tiếp tục là chủ đề chính của cuộc hội đàm, lần này, của riêng Đặng và Carter. Trong biên bản cuộc họp có trích một phát biểu của Đặng: “Trung Quốc phải dạy Việt Nam một bài học”.

Jimmy Carter gọi ý định của Đặng là một “serious mistake”- sai lầm nghiêm trọng và từ chối giúp đỡ. Tổng thống Mỹ đích thân đọc một lá thư tay, nêu 8 lý do tại sao Trung Quốc không nên tấn công Việt Nam tại thời điểm này. Trong đó có “ảnh hưởng đến hình ảnh về một Cộng hòa nhân dân Trung Hoa yêu chuộng hòa bình”.

Đặng trả lời: “Cuộc chiến sẽ giới hạn trong quy mô nhỏ. Chúng tôi chỉ tìm kiếm một sự bình yên nơi biên viễn”.

Sự bình yên của họ Đặng

https://i-vnexpress.vnecdn.net/2019/02/12/Subinhyen-1-1766-1549931296.jpg

Mùa đông năm 1978, những người nước ngoài qua lại Nam Ninh, Côn Minh thường thấy từng đoàn xe lửa chở đầy binh sĩ, xe quân sự bít bùng kín bạt xuôi về phương Nam. Họ không biết những đoàn quân ấy đi đâu. Nhiều người dân Trung Quốc thì tin rằng đây là một cuộc hành quân diễn tập.

Cùng thời điểm ấy, đường phố huyện Nà Po, tỉnh Quảng Tây trở nên chật chội hơn, khi những tốp lính áo xanh tô châu thường xuyên đi lại. Vài chục lượt xe quân sự hoạt động mỗi ngày, làm đất đường cuộn tung lên. Huyện lị của tỉnh Quảng Tây cách đường biên giới vài chục cây số. Bên kia là Hà Quảng của Việt Nam.

https://i-vnexpress.vnecdn.net/2019/02/12/Subinhyen-2-4975-1549931296.jpg

Cựu trinh sát Nhan Văn Dĩnh.

Trong những người quan sát đoàn quân, có một người đàn ông Nùng hay mặc áo chàm đã phai. Ông Nhan Văn Dĩnh “sang thăm họ hàng” ở bên kia biên giới. Ông Dĩnh khi ấy, là đội trưởng trinh sát Đồn 167, công an vũ trang Sóc Giang, đóng ở Hà Quảng.

“Lính đỏ, thế là bộ đội chính quy của Trung Quốc rồi”, ông nhận ra Quân giải phóng Trung Quốc từ bộ quân phục màu xanh tô châu, phù hiệu đỏ trên cổ áo. Trước Tết Kỷ Mùi, lực lượng tập trung từ vài tiểu đoàn đã tăng lên cấp sư đoàn. Mang tin trinh sát về, ông Dĩnh thấy “trán chỉ huy nhăn lại”, dặn tiếp tục nắm tình hình.

Lịch sử bộ đội biên phòng Cao Bằng sau này thống kê, chỉ một ngày trước cuộc tấn công, dọc biên giới Cao Bằng đã có hơn 300 lần ôtô vận tải của Trung Quốc chở binh lính và quân nhu vào các cửa khẩu. Riêng cửa khẩu Tà Lùng, hơn 300 xe tải chở đá tập kết sẵn ở mốc 24, ý đồ lấp sông Bắc Vọng cho bộ binh và xe tăng tiến sâu vào huyện Quảng Hòa.

Trong ký ức của cựu trinh sát, vẻ mặt của người anh em bên kia biên giới bắt đầu “khó coi” từ sau ngày Việt Nam thống nhất, mùa xuân năm 1975. “Lúc mình sang làm việc, cái mặt của nó không được đẹp lắm, ăn nói cũng khác lắm lố”. Hai đồn công an vũ trang làm việc xong, không còn ngồi chung một mâm cơm nữa. Bên này thịt lợn, mời cơm, bên kia từ chối.

Xã Nà Sác của nữ dân quân Sầm Thị Đòng có chung 3,5 km đường biên với Trung Quốc. Dân hai bên trước nay uống cùng một mó nước, chung bãi chăn trâu, lấy củi cùng dãy núi Mã Lịp. Con gái bản Lũng Cát, Po Xà còn sang làm dâu Lũng Ỷ, Lũng Pình bên kia biên giới.

Nhưng từ những năm 1970, người bên kia hay gây chuyện, cứ tối trời là sang di dời cột mốc để lấn đất. “Ta gieo cây gì, nó nhổ cây ấy. Nó đợi ngô mình trồng có bắp, nó thả trâu bò sang ăn hết a”.

Có lần, nhóm dân quân xã vây bắt thám báo Trung Quốc từ bản Lũng Pỉa sang bản Lũng Loỏng. Cả ngày trời, Đòng chạy đường rừng, không nghỉ ăn cơm.

https://i-vnexpress.vnecdn.net/2019/02/12/Subinhyen-4-3647-1549931297.jpg

Bà Sầm Thị Đòng.

“Nếu người Việt Nam vào chợ thì đánh”, khẩu hiệu dán đầy các cột ở chợ Kẹp Nhìa ở Tịnh Tây; Bình Mãng bên kia biên giới… Nam giới sang thì bị nam giới đánh, nữ giới sang thì bị nữ giới đánh.

“Ở xã Sóc Hà này, người thôn Nà Sác bị bên kia ghét nhất. Sang bên ấy đi chợ, biết là dân Nà Sác, nặng thì nó đánh, nhẹ thì không bán hàng”, bà Sự nhớ lại những ngày còn căng thẳng. Trước khi có cửa khẩu Sóc Giang hôm nay, con đường chạy qua trước cửa nhà bà Nguyễn Thị Sự từng là đường đất dẫn thẳng sang Bình Mãng, Trung Quốc.

Cái thôn ngót nghét bốn mươi nóc nhà người Nùng, nằm ngay chân đường biên giới bị ghét vì “lì lợm”, không để bên kia lấn một tấc biên giới. Họ sang gây chuyện, dân Nà Sác bỏ ruộng bỏ nương, cả làng kéo nhau lên đứng thành hàng rào chắn dọc đường biên giới.

Người già trong làng vẫn dặn con cháu “Sớc hạc pác pi” – “Giặc ác trăm năm”, luôn phải đề phòng. Nà Sác sẵn tre từ hồi đánh Pháp. Sau 1975, dân Nà Sác mỗi năm trồng thêm tre, vót thêm chông. Cuối 1978, chông sắt, chông tre cắm kín gần 7 km đường biên Sóc Hà.

Pháo sáng mỗi đêm vẫn nổ trên bầu trời biên giới, soi đường cho người “bên kia” sang Nà Sác thăm dò. Đội dân quân của Đòng vẫn cắt cử nhau đi gác bản làng bất kể trời sáng tối. “Đang ngủ, mõ tre cốc cốc hai tiếng là báo động, thì lạnh bao nhiêu cũng phải dậy, sương buốt bao nhiêu cũng phải đi lớ”.

Nhiều lần, đụng độ đến đổ máu. Người bên kia dọa bằng tiếng Nùng “Dân mày đông không bằng một phần dân tao, vũ khí của bọn mày cũng không bằng bọn tao”.

“Ra Giêng rồi biết tay nhau”, bên ấy dọa thêm.

“Chúng mày không sợ chết thì cứ đánh sang đây”, bên này cũng không vừa, đáp trả.

Từ mùa thu năm 1977, quân dân xã Nà Sác đào hào dọc biên giới, lập ba điểm chốt: Đồi Cháy, Po Xà, Lũng Cát và chốt phụ Kéo Lỉ trên dãy núi Mã Lịp. Dân quân xã thay nhau canh gác. Cuối năm 1978, bộ đội tỉnh Cao Bằng cũng bắt đầu về đóng tại các bản.

Năm ấy được mùa cả lúa cả ngô. Mỗi nhà trong bản Lũng Pỉa đều tích trữ một phần lương thực, chăn màn, quần áo để lên hang Ngườm Siêu. Người Nà Sác ăn Tết Kỷ Mùi không tiếng pháo tép. Đòng cũng mất ngủ từ đấy.

Cuộc xung đột vũ trang biên giới Việt – Trung năm 1979 liên quan mật thiết đến những rạn vỡ trong quan hệ Trung Quốc – Liên Xô. Điều này, không phải đến năm 1979, mà bộc lộ ngay từ những năm 1930, khi Đảng Cộng sản Trung Quốc tiến hành đồng thời hai cuộc chiến kháng Nhật và nội chiến chống Quốc dân Đảng.

Việc Liên Xô duy trì quan hệ đồng thời với cả Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch, khuyến khích đôi bên liên kết chống Nhật không được Mao đồng thuận. 

Trong thập niên 1950, Liên Xô viện trợ hơn 6 tỷ rúp cho công cuộc hồi phục Trung Quốc sau chiến tranh. Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai ca ngợi mối quan hệ của hai nước là “vĩnh cửu, bền vững không gì phá vỡ nổi, không ai có thể chia rẽ được”. Nhưng khi Liên Xô quyết định “chung sống hòa bình, quá độ hòa bình, cạnh tranh hòa bình” với Mỹ năm 1959, Trung Quốc phê phán chủ trương “ba hòa” của Liên Xô là “phản bội chủ nghĩa Marx-Lenin”.

Sau thất bại của phong trào “đại nhảy vọt” năm 1960, Mao Trạch Đông quay sang đổ lỗi và phủ nhận đường lối của Liên Xô. Trung Quốc quyết tự đi tìm con đường khác. Tháng 7 cùng năm, Liên Xô ngừng viện trợ Trung Quốc.

Từ tháng 7/1963 đến tháng 8/1964, hai Đảng gửi 11 lá thư công khai đả kích lẫn nhau. Từ đầu năm 1968 đến tháng 3/1969, hơn bốn nghìn cuộc xung đột vũ trang nổ ra dọc biên giới Trung – Xô.

Tháng 2 năm 1972, Mỹ- Trung ký Thông cáo Thượng Hải, có điểm “Mỹ cam kết cùng Trung Quốc phối hợp chống ‘bá quyền’ Liên Xô”. Liên Xô đáp trả bằng cách đổ quân vào Ấn Độ, liên minh khống chế Trung Quốc từ biên giới phía Tây.

Năm 1974, Mao Trạch Đông đưa ra học thuyết “ba thế giới”, xếp Liên Xô vào “thế giới thứ nhất” ủ mưu bá quyền, cần chống lại.

Trở về từ chuyến thăm nước Mỹ, ngày 11 tháng 2 năm 1979, Đặng Tiểu Bình triệu tập cuộc họp Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc mở rộng, thông báo về kế hoạch chiến tranh “trừng phạt Việt Nam”.

Ba ngày sau, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi thông tư tới Đảng bộ các tỉnh và đơn vị quân đội liên quan, giải thích về cuộc “chiến tranh tự vệ”. Văn bản nhấn mạnh: chiến tranh sẽ diễn ra giới hạn về không gian, thời gian, quy mô, và kết luận, hành động quân sự này sẽ “thúc đẩy hòa bình và ổn định dọc theo biên giới”.

Đương đầu

https://i-vnexpress.vnecdn.net/2019/02/13/Khaihoa-1-9122-1550047559.jpg

Pháo nổ rạng sáng thứ Bảy, mùa xuân năm 1979.

Nông Thị Quyên năm ấy 19 tuổi, sống cách cửa khẩu Tà Lùng bảy cây số. Tối thứ Sáu, Quyên rủ mấy chị em xuống thị trấn Quảng Hòa xem chiếu bóng. Đoàn chiếu bóng của tỉnh đang chiếu bộ phim Em bé Hà Nội.

“Xem đến cảnh bé Ngọc Hà cổ quàng khăn tang, đi tìm nhà mình trong đống đổ nát Khâm Thiên sau đêm B52 rải thảm, mấy chị em cứ bíu chặt tay nhau, khóc”, bà Quyên nhớ lại.

Ở cách đó 60 km, tại thị xã Cao Bằng, trong rạp ngoài trời ven sông Bằng, người dân thị xã cũng ngồi trước màn chiếu, dõi theo bộ phim “Chiến đấu” của Liên Xô. Buổi chiếu bóng kết thúc lúc gần nửa đêm. Ai nấy chuẩn bị về nhà thì thấy mạn Trà Lĩnh, Quảng Hòa có nhiều ánh chớp lóe lên, thính tai còn nghe tiếng ì ầm.

https://i-vnexpress.vnecdn.net/2019/02/12/Khaihoa-2-2630-1549964664.jpg

Bà Nông Thị Quyên trong nghĩa trang liệt sĩ tại Cao Bằng.

“Không phải mùa mưa, sao có sấm chớp”, cậu bé Nông Vạn Ngàn 15 tuổi thắc mắc. Nhưng nỗi băn khoăn mau chóng lắng xuống, mọi người bàn tán về bộ phim, rồi tản  về nhà đi ngủ.

Mấy chị em Quyên cũng trở về nhà trong cơn mưa phùn lúc nửa đêm. Ra Giêng, khí trời còn lạnh. Đang lơ mơ trong chăn ấm, Quyên bị tiếng pháo rít ầm ầm qua mái nhà dựng dậy.

Cô nữ sinh lớp 10 trường cấp ba Quảng Hòa chỉ kịp vơ cái chăn, rồi nhảy xuống hầm chữ A dựng gần gốc nhãn. Cái hầm che chở cho năm người, rung lên bần bật khi loạt pháo mới nện xuống mặt đất. Ngớt pháo, cả nhà bò ra khỏi hầm. Cây nhãn bị pháo phạt gãy đôi, đổ rạp ngay miệng hầm.

Con nuôi người Trung Quốc của trưởng bản, hóa ra là thám báo. Đêm ấy hắn dẫn đường cho quân bên kia tràn sang. Bản Bó Tờ bị đốt sạch. “Nhà nào có Đảng viên hoặc người đi bộ đội, treo bằng khen, giấy khen, huân huy chương là chúng phá sập”. Nhà Quyên lợp mái tranh, trát vách đất, chúng cũng không tha.

Cuộc “trừng phạt giới hạn, quy mô nhỏ” của Đặng đã huy động 600 nghìn quân bộ binh. 32 sư đoàn của tám trong tổng số mười đại quân khu có mặt trong cuộc động binh này. Một con số mà Hứa Thế Hữu, Tổng tư lệnh lực lượng tham chiến gọi là “dùng dao mổ trâu để cắt tiết gà”.

Để “tiền pháo hậu xung”, Trung Quốc sử dụng 550 tăng thiết giáp Type-62, Type-59, Type-63, 480 khẩu pháo mặt đất, hơn 1.200 súng cối từ 76,2mm đến 152mm, 160mm và dàn hỏa tiễn 107mm đến 130mm. Không quân và hải quân cũng triển khai 200 tàu chiến; 706 máy bay tiêm kích J-5, J-6, J-7; 120 tiêm kích bom J-6, Q-5 và 122 máy bay ném bom H-5, H-6, để chi viện trong trường hợp cuộc chiến mở rộng.

Để đối phó với tình huống Liên Xô đổ quân đánh yểm trợ cho Việt Nam, mặt trận phía bắc Trung Quốc, bao gồm hai tỉnh Hắc Long Giang và Tân Cương được đặt chế độ báo động cao nhất. 300 nghìn dân cư tại đây được lệnh sơ tán.

https://i-vnexpress.vnecdn.net/2019/02/12/Khaihoa-4-6300-1549964664.jpg

Với lực lượng gấp mười lần, được yểm trợ bằng tăng và pháo, họ Hứa tin rằng sẽ nhanh chóng xé nát hệ thống phòng thủ biên giới của Việt Nam, đánh chiếm các thị xã trong vòng vài ba ngày. Và nếu muốn, “không đến hai giờ có thể đánh xuống Hà Nội”.

Bên này biên giới, 600 nghìn quân chủ lực của Việt Nam đang bị chia nhỏ ở các chiến trường Campuchia, Lào; miền Nam và quanh Hà Nội. Tổng lực lượng phòng thủ biên giới lúc này chỉ có bảy sư đoàn, một lữ đoàn và dân quân sáu tỉnh, tổng cộng chưa đến 60 nghìn người.

Biển quân 600 nghìn chia làm hai nhánh Đông – Tây. Hứa Thế Hữu cầm cánh phía Đông, đánh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh. Dương Đắc Chí, Tư lệnh Đại quân khu Côn Minh đảm nhiệm cánh Tây, tấn công Lai Châu, Hoàng Liên Sơn và Hà Tuyên.

Tỉnh Cao Bằng với 333 km đường biên cùng 634 mốc quốc giới, dài nhất toàn tuyến, đã khiến Trung Quốc dốc vào đây 130 nghìn quân – gần một phần tư tổng số, chia hai hướng để đánh chiếm.

Theo tài liệu chính thống, cuộc chiến nổ ra rạng sáng 17 tháng 2 năm 1979. Nhưng trên thực tế, súng đã nổ rất sớm ở biên giới Cao Bằng. Lúc 21h ngày 16 tháng 2, quân Trung Quốc đã pháo kích dữ dội vào xã Cần Yên của huyện Thông Nông. Và gần nửa đêm, chúng mở rộng phạm vi sang mạn Trà Lĩnh, Hà Quảng.

https://i-vnexpress.vnecdn.net/2019/02/12/Khaihoa-5-3440-1549964665.jpg

Tương quan lực lượng của Việt Nam và Trung Quốc trong cuộc chiến biên giới.

Tiếng pháo đầu tiên nổ ở bên kia biên giới, liền sau là tiếng mõ tre báo động hai nhịp một của dân quân tự vệ bản Lũng Pỉa, Hà Quảng. Sầm Thị Đòng vùng dậy, vơ lấy đôi lựu đạn và cái gậy tre ở góc nhà, chuẩn bị lên chốt chiến đấu.

Đứa em út 5 tuổi tỉnh giấc, khóc nghẽo nghẹt vì những tiếng nổ sáng lòe trời. Bà và mẹ chồng Đòng cùng sáu đứa em cuống cuồng dắt díu nhau lên hang Ngườm Siêu trú cùng dân bản. Ra đến cổng, mẹ chồng còn quay lại ôm vai con dâu mà khóc. “Con đi thế này, có chắc được quay về với mẹ không?”.

Bố chồng Đòng cũng là dân quân, trực trên chốt từ trước Tết. Chồng cô là bộ đội biên phòng, chiến đấu ở Nậm Quét, Bảo Lạc, Cao Bằng. Giờ pháo đã nổ, Đòng cũng quyết đi.

https://i-vnexpress.vnecdn.net/2019/02/12/Khaihoa-7-8410-1549964665.jpg

Bà Sầm Thị Đòng.

Trời không lạnh lắm. Đòng vẫn mặc thêm hai cái quần, bốn cái áo, chít cái khăn lên đầu. Túi quần áo này, Đòng sắp sẵn từ trước Tết.

“Nếu hy sinh, không có ai về nhà lấy đồ thay cho”. Nữ dân quân 24 tuổi đã chuẩn bị sẵn sàng cho cái chết của mình.

Sau lưng dân quân lên chốt, dân bản từng tốp lũ lượt kéo đi sơ tán. Những cánh đồng thuốc lá trồng từ trước Tết đã lên cao bằng cây cải. Cả vùng trời phía Bắc sáng lòe.

Tổ đội cối do Đòng làm đội trưởng có sáu dân quân nữ. Người ngoài đôi mươi như Đòng, như Liên hàng xóm, nhưng cũng có người chỉ mười sáu, mười bảy tuổi như Nga, như Xuân. Chẳng ai nặng được đến bốn chục cân. Tay không một bó đuốc, sáu cô gái băng hai cây số đường rừng sang hậu cứ ở bản Lũng Loỏng lấy vũ khí để sẵn sàng lên chốt Kéo Lỉ. 

Khẩu cối 60mm nặng hai mươi cân, cùng bốn thùng đạn trên vai sáu cô gái leo thêm bốn km đường núi, lên đến chốt, cũng là khi trời tảng sáng. Tiếng pháo từ bên kia đã vãn. Giọng của tổ trinh sát C5 rè rè qua bộ đàm “chúng nó đang tiến vào”.

Sáu cô gái ngay lập tức vào vị trí. Đòng và Liên trực tiếp điều khiển cối. Bốn người còn lại lo chỉnh kính ngắm, núm vặn và tiếp đạn. Chỉ mươi phút sau, biển người bắt đầu tràn vào từ bên kia biên giới mỗi lúc một gần, không cần dùng đến ống nhòm trinh sát cũng thấy được: một rừng xe tăng lẫn người mặc đồ xanh lá, tay cầm súng dàn hàng ngang mà đi.

Ở đường hào phía trước, cách đó chưa đầy 100 m, bộ đội chủ lực và dân quân nam của xã cũng đang không ngừng chiến đấu. Trên chốt, các cô gái liên tục thả những quả đạn nặng hơn một cân vào nòng súng. Quả đạn bay theo đường vòng cung rồi rơi xuống, một đám khói bay lên cùng những cái xác người. Địch đông đến nỗi bắn đi hướng nào cũng sẽ có một cơ số chết, nhưng “càng bắn càng thấy nhiều người nữa đi ra”.

Quá buổi trưa, quân Trung Quốc tràn vào mỗi lúc một sâu, bốn bề xung quanh chỉ thấy xác người và khói lửa. Sáu người họ vẫn chưa ngơi một giây để uống được ngụm nước. Đồng đội ở hậu cứ đều đi hỗ trợ nhân dân sơ tán và vận chuyển thương binh, không có ai tiếp cơm, tiếp nước lên chốt. Cánh rừng giữa tháng hai không có quả gì ăn được, giờ cũng bị pháo đốt cháy xác xơ. Họ chỉ còn biết nhìn về phía trước mà bắn.

https://i-vnexpress.vnecdn.net/2019/02/12/Khaihoa-9-8330-1549964665.jpg

Bộ đội Việt Nam trên chiến trường biên giới, 1979.

Giữa những tiếng mìn nổ của cả hai bên, hai đồng đội của Đòng lúc ấy bỗng thét lên đau đớn. Máu túa ra không ngừng trên đầu Nga và ở mạng sườn của Xuân. Họ bị mảnh pháo của địch găm trúng, ngã xuống đất. Đội cối chỉ còn bốn người chiến đấu.

Thân và miệng khẩu cối đã nóng như rang suốt từ sáng. Đầu óc Đòng căng như dây đàn, vừa lo cho hai đồng đội, vừa lo chiến đấu. Đến bốn giờ chiều, bốn thùng đạn vừa hết cũng là khi bộ đội và dân quân nam lên giữ chốt thay cho đội của Đòng.

Nga và Xuân được dìu về hậu cứ chữa trị vết thương. Đòng và những người còn lại tiếp tục giúp dân sơ tán, cùng tiểu đoàn 127 di chuyển bộ đội bị thương và mai táng tử sĩ. Trung Quốc đã tiến vào từng bản làng ngóc ngách của Nà Sác.

Một đêm tháng hai mưa lâm thâm, Đòng cùng đồng đội được lệnh rút về thị trấn Xuân Hòa. Họ bỏ lại sau lưng, sáu cái huyệt đang đào dở và chục liệt sĩ chưa kịp mai táng.

Bốn mươi năm trôi qua, bà Đòng vẫn nhớ những cái xác đỏ loét cụt chân, cụt tay, không nhận rõ mặt người mà đêm ấy bà bỏ lại. “Không sợ chết trên mặt trận, chỉ sợ nhớ về những xác người. Cứ nhắm mắt vào là lại thấy”.

Người người lớp lớp

https://i-vnexpress.vnecdn.net/2019/02/12/Nguoinguoiloplop-1-3985-1549964665.jpg

Sáng 17 tháng 2 năm 1979, khi sương vừa tan, trung sĩ Hồ Tuấn trên chốt cao gần cửa khẩu Tà Lùng nghe tiếng hô vang động sau loạt pháo kích. Qua kính ngắm của khẩu 14,5 mm, Hồ Tuấn lạnh gáy khi thấy từng đợt sóng người tràn qua biên giới. Pháo dọn đường cho xe tăng tiến trước, tiếp đến bộ binh. Có cả kèn trống trợ oai. Đoàn quân lố nhố kéo dài hàng cây số, tắc lại phía sau cửa khẩu.

“Giặc đông như quân Nguyên, không cần ngắm bắn, cứ giã xuống đầu kiểu gì cũng trúng”, Hồ Tuấn giữ chắc khẩu KPV 14,5 mm, khai hỏa. Biển người vẫn dâng lên. Tay pháo thủ mỏi nhừ.

Trong cuộc chiến tranh Triều Tiên cuối năm 1950, bên bờ sông Áp Lục, biên giới tự nhiên giữa bán đảo Triều Tiên và Trung Quốc, quân Mỹ đã sửng sốt khi nhìn thấy lớp lớp sóng bộ binh “Chí nguyện quân” ào ạt tấn công. Lớp này ngã xuống, lớp khác lại tiến lên. Liên quân Mỹ – Hàn với vũ khí lợi hại, vẫn bị biển người đẩy ngược về phía sau vĩ tuyến 38. Chiến thuật “biển người” chống lại quân đội Quốc dân Đảng một lần nữa được quân Chí nguyện áp dụng thành công.

Mao Trạch Đông trong cuốn Chiến tranh trường kỳ đã khẳng định “Trong chiến tranh, vũ khí rất quan trọng, nhưng không phải là yếu tố quyết định. Con người mới chính là yếu tố quyết định”. Năm 1946, trả lời nhà báo Mỹ Anna Louise Strong, Mao nói: “Bom nguyên tử chỉ là con hổ giấy mà Mỹ đem dọa người”. Tư tưởng quân sự của Mao từ chỗ đề cao yếu tố con người đã lấn thêm một nấc: coi thường sức mạnh vũ khí.

Ngay cả khi Mao qua đời, người kế nhiệm Hoa Quốc Phong vẫn ủng hộ tư tưởng này. Trong khi Đặng Tiểu Bình, người theo tư tưởng đổi mới, nhấn mạnh cải tổ quốc phòng trong chương trình Bốn hiện đại hóa của Trung Quốc.

Hội nghị Công tác chính trị toàn quân tháng 4 – 6/1978 trở thành một cuộc tranh luận giữa hai luồng tư tưởng và kết thúc không đạt được sự đồng thuận nào. Giữa lúc ấy, “cuộc chiến tranh trừng phạt Việt Nam” diễn ra. Tư tưởng quân sự của Mao vẫn áp đảo.

Trấn giữ thị xã Cao Bằng trước tháng Hai, chỉ có Trung đoàn 567 bộ đội địa phương, chủ yếu là làm kinh tế. Năm 1978, xung đột biên giới leo thang. Trung đoàn nhận lệnh vào trấn giữ Quảng Hòa. Chiến sĩ đi đào hào, đắp công sự, cắm chông thay cho làm đường, trồng rừng. 

https://i-vnexpress.vnecdn.net/2019/02/12/Nguoinguoiloplop-4-7355-1549964666.jpg

Ông Hồ Tuấn nhớ lại ký ức 40 năm trước.

Tết Kỷ Mùi ấy, đơn vị Hồ Tuấn ăn Tết sớm một tháng. Đầu tháng Hai, đơn vị cấm trại, báo động cấp một, sẵn sàng chiến đấu.

Hồ Tuấn đi ngủ sớm theo quân lệnh, sáng ngày mai có bài tập thể dục lúc 5h. Nhưng 4h30, kẻng báo động trong đơn vị vang dồn dập. Quân Trung Quốc tràn sang. Nhiều người vẫn đang mặc áo lót, chỉ kịp vơ lấy khẩu súng.

Tà Lùng thất thủ. Đêm 17 tháng 2, đơn vị Hồ Tuấn nhận lệnh rút về đèo Khau Chỉa. Các đại đội rải dọc đèo Khau Chỉa, từ đồi Nghĩa Trang đến đồi Không Tên, bắt đầu một cuộc chiến không cân sức.

Khau Chỉa cách cửa khẩu Tà Lùng 12 cây số, gồm một dải đồi liên tiếp nhau. Con đèo án ngữ Quốc lộ 3 – huyết mạch dẫn về thị xã Cao Bằng. Vượt qua được vị trí này, xe tăng Trung Quốc tiến về thị xã chỉ mất một tiếng. Khau Chỉa trở thành yết hầu. Bằng mọi giá phải giữ.

Trong sơ đồ dưới đây, có thể nhìn thấy kế hoạch “hội quân” giữa 2 mũi tấn công của kẻ thù, thành hay bại, nằm ở việc chúng có vượt qua đèo Khau Chỉa hay không.

https://i-vnexpress.vnecdn.net/2019/02/12/Nguoinguoiloplop-5-6460-1549964666.jpg

Sơ đồ 2 mũi tấn công của Trung Quốc vào Cao Bằng, bị chặn lại ở đèo Khau Chỉa.

Cả trung đoàn khi ấy, có ba khẩu 14,5 mm trực tiếp chiến đấu. Loại vũ khí phòng không chủ yếu của đơn vị nòng cốt trực thuộc Bộ chỉ huy quân sự cấp huyện đến tỉnh. Phiên bản ZPU-1 được Liên Xô sản xuất hàng loạt năm , từ lời đề nghị của Việt Nam, nhằm đối phó với không quân Mỹ khi đánh du kích trong địa hình rừng rậm hoặc đồi núi. Loại vũ khí tưởng đã hoàn thành nhiệm vụ khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc, nay một lần nữa tái xuất trong cuộc chiến bảo vệ biên cương phía Bắc.

“Chúng đánh có quy luật, thường bắn rạng sáng và nghỉ về đêm”, ông Hồ Tuấn tổng kết. Muốn tiến công chốt nào, chúng câu pháo vào trước và tập trung bắn. Pháo chuyển làn là bộ binh xung phong. Bộ đội Việt Nam chỉ chờ thế, mang pháo ra mà giã.

Mỗi lần bộ binh Trung Quốc ào lên, pháo đại đội bắn không ngừng nghỉ, nòng đỏ như thép nung, vét cát tút không kịp. Bộ đội để dành nước uống dội vào nòng pháo cho nguội bớt. Bắn đến nỗi loa che lửa đầu nòng bay đi đâu, mất pittong đẩy về, khẩu pháo trong tay trung sĩ Tuấn chỉ còn bắn được phát một. Sau trung đoàn phải vác nòng mới lên thay thì mới bắn tiếp được.

Mười hai ngày trên đèo Khau Chỉa, Hồ Tuấn cầm cự chiến đấu bằng những vắt cơm dân quân Quảng Hòa chuyển lên. Vắt cơm trắng, thi thoảng độn chút muối vừng hoặc con cá mắm. Nhiều người gánh cơm đến lưng đèo thì trúng pháo. Đêm tranh thủ bên kia ngưng bắn, bộ đội lăn xuống lưng dốc tìm, nhặt những nắm cơm đã nhớt, dính đầy đất. Ông nghĩ “không có dân quân tiếp tế, chắc bộ đội chết cả”.

Hôm nào nồi cơm khê là Quyên lại khóc. Chẳng hiểu sao, “cơm khê là bộ đội chết nhiều”. Sau đêm pháo nổ, Quyên cùng mấy chị em trong làng đi thẳng lên chốt, xin bộ đội cho tải đạn, tải thương.

“Nó đốt nhà mình, giết dân mình rồi nên phải đi thôi”, bà Quyên vẫn nhắc lại quyết định của mình năm ấy trong nước mắt.

Những cô bé người Tày sống gần cửa khẩu, thường vỗ tay hoan hô mỗi lần thấy đoàn xe tải bít bạt kín thùng từ phía bên kia sang. Những chiếc xe chở gạo, đạn dược Trung Quốc viện trợ cho chiến trường Việt Nam đánh Mỹ. Những năm “còn tốt với nhau”. Những đồng bào người Tày, người Nùng chỉ quen làm nương rẫy, ngày xuân đi hội, uống rượu, giờ cầm súng đi thẳng lên chốt. Ai không cầm được súng thì nắm cơm tiếp tế cho bộ đội, hoặc tải thương, chôn cất tử sĩ.

Sau phút chốc bất ngờ, sự kháng cự của dân quân biên giới Việt Nam, có lẽ là điều mà Đặng Tiểu Bình hay Hứa Thế Hữu không dự tính được.

12 ngày không vượt được Khau Chỉa, Trung Quốc cay cú dồn quân ở thị xã Cao Bằng, theo hướng đèo Mã Phục đánh ngược lên biên giới. Ý định cùng cánh quân bên kia đèo Khau Chỉa tạo thành gọng kìm bóp chết Trung đoàn 567. Thị xã bị chiếm, liên lạc bị cắt. Từ đây, đơn vị Hồ Tuấn gần như bị cô lập và hoàn toàn chiến đấu độc lập.

Chúng đông, bắn không xuể, ngày nào cũng đông như cũ. Hồ Tuấn chỉ nghĩ “Giá mà bộ đội chủ lực về kịp thì biết tay. Nhưng xác định mình cũng là chủ lực rồi, nên cứ dần cho chúng tơi tả trước”. Khi ông bắn đến thùng đạn cuối cùng, các quân đoàn chủ lực của Việt Nam đang từ mặt trận Campuchia quay về.

https://i-vnexpress.vnecdn.net/2019/02/12/Nguoinguoiloplop-8-2251-1549964666.jpg

Ngày 28 tháng 2, trung đoàn nhận lệnh rút khỏi Khau Chỉa, chờ phản công. Đại đội hy sinh chín người. Hồ Tuấn bị pháo văng vào đầu. Lúc nhận được lệnh rút, cũng là lúc bộ binh Trung Quốc xông lên đến gần chiến hào. Ông chỉ kịp tháo cơ bẩm, phá pháo, không để vũ khí rơi vào tay giặc, ném lại hai quả lựu đạn rồi lăn xuống lưng đèo. Hành quân về đến Quảng Uyên, đơn vị đụng một tiểu đoàn Trung Quốc, lại bắn nhau một trận long trời lở đất nữa rồi mới về hậu cứ.

Một trung đoàn bộ đội địa phương Việt Nam kìm chân một sư đoàn chủ lực Trung Quốc trong 12 ngày. Họ không tiến thêm được bước nào, ngoài quãng đường 12 cây số từ cửa khẩu Tà Lùng về đến đèo Khau Chỉa. Hơn 6.000 lính Trung Quốc đã bị tiêu diệt trong 12 ngày đêm ở hướng này. Bình quân mỗi ngày 500 lính, tương đương gần một tiểu đoàn.

Trận đánh giam chân ở đèo Khau Chỉa buộc Trung Quốc phải thay đổi chiến thuật ở Cao Bằng. Chúng chia quân thành những đơn vị cỡ tiểu đoàn cơ động để tìm kiếm, khóa đường, lùng sục. Nhưng vẫn không vượt qua được con đèo. Thất bại trong việc làm chủ Cao Bằng, Lạng Sơn “trong vài ba ngày”, thực quyền chỉ huy cuộc chiến từ Hứa Thế Hữu rơi vào tay Dương Đắc Chí.

Một bài học

https://i-vnexpress.vnecdn.net/2019/02/12/Motbaihoc-1-1172-1549964666.jpg

24 tháng 2, từ hướng tiến công còn lại, Trung Quốc chọc thủng được phòng tuyến của quân dân và tiến vào thị xã Cao Bằng. Cái gì bằng bê tông, cao quá đầu gối, chúng ốp mìn cho nổ tung. Những cột điện bị mìn bẻ cong, không sửa được. Lúc rút quân khỏi thị xã, chúng đánh sập cầu Bằng Giang. Những trụ cầu nằm dưới lòng sông, chỉ còn lại hai mố. Cả thị xã còn một ngôi nhà lành lặn. Trong nhà có treo ảnh Mao Trạch Đông.

https://i-vnexpress.vnecdn.net/2019/02/12/Motbaihoc-2-7658-1549964667.jpg

Nữ dân quân Việt Nam và tù binh Trung Quốc năm 1979.

Mười ngày sau mở màn cuộc chiến, 27 tháng 2, quân Trung Quốc bắt đầu tấn công thị xã Lạng Sơn. Lính Trung Quốc cố chiếm từng căn nhà, góc phố để đánh bật lực lượng phòng ngự Việt Nam ra khỏi thị xã. Cho đến ngày 5 tháng 3, quân Trung Quốc đạt được mục đích. Để chiếm thị xã cách biên giới 15 cây số, Trung Quốc đã dốc toàn lực của 10 sư đoàn, mất mười sáu ngày. Mỗi ngày tiến được chưa đầy một cây số.

Mục đích của quân phương Bắc để lại một bình địa kéo dài dọc đường biên. Thị xã Lạng Sơn bị chiến cuộc tàn phá. Năm thị xã còn lại đều là mục tiêu của cuộc phá hoại có hệ thống. Cao Bằng bị đánh sập tất cả những gì là bê tông có thể đứng vững. Trong cuộc chiến này, Trung Quốc đã phá hoại gần như sạch sẽ cơ sở hạ tầng, tiện nghi xã hội căn bản, đẩy 3,5 triệu người dân biên giới vào cảnh không cửa nhà.

Trung Quốc công bố con số thương vong sau cuộc chiến là 20 nghìn người. Trong khi Việt Nam thống kê là hơn 62,5 nghìn. Những thiệt hại cụ thể của cả hai bên, chưa bao giờ có một công bố chính thức.

Nếu cố tiến xuống Hà Nội như lời Hứa Thế Hữu tuyên bố, các cánh quân của Trung Quốc chắc chắn sẽ đụng độ với các đơn vị chủ lực Việt Nam vừa trở về từ mặt trận Tây Nam.

“Khi đó, các quân đoàn chủ lực của Việt Nam đã cơ động lên biên giới phía Bắc và vào vị trí chiến đấu, thậm chí là bao vây, sẵn sàng tiêu diệt các lực lượng xâm lược Trung Quốc. Nhưng chúng ta kiềm chế không đánh. Vì hòa bình, chúng ta để Trung Quốc rút quân. Các đơn vị cũng nhận lệnh để cho họ rút, không tổ chức truy quét”, nguyên Viện trưởng Viện lịch sử Đảng Nguyễn Mạnh Hà chia sẻ với VnExpress.

https://i-vnexpress.vnecdn.net/2019/02/12/Motbaihoc-4-9177-1549964667.jpg

Khung cảnh chiến trường biên giới phía Bắc năm 1979.

Cuộc tấn công ồ ạt bằng biển người ban đầu tạo lợi thế bất ngờ cho Trung Quốc. Nhưng càng lấn sâu vào đất Việt Nam, cuộc chiến càng giảm dần tốc độ. Một tuần sau khai chiến, Trung Quốc buộc phải tuyên bố chiến tranh hạn chế và “sẽ rút quân sau mười ngày”.

Hứa đã gặp may khi Đặng tuyên bố rút quân vào ngày mùng 6 tháng 3 năm 1979. Mười hai ngày sau, Trung Quốc mới hoàn thành việc rút quân. Rút về sau ba mươi ngày đụng độ với các lực lượng bán vũ trang Việt Nam, Trung Quốc thông báo với thế giới “đã hoàn thành mục tiêu chiến tranh”.

Thông qua lệnh Tổng động viên, một ngày trước khi Trung Quốc rút quân, Hà Nội khi đó đã tuyên bố “Công cuộc kháng chiến chống lại sự xâm lược của bọn phản động Trung Quốc bắt đầu”.

Chiến thuật biển người mà Trung Quốc sử dụng từ thời nội chiến dần vô dụng trước chiến tranh du kích của các lực lượng bán vũ trang Việt Nam. Chính cuộc chiến này, đã khai tử chiến thuật mà quân đội Trung Quốc áp dụng với nhiều cuộc chiến tranh trong thế kỷ 20. Tư tưởng quân sự của Mao hoàn toàn bị triệt bỏ.

“Dạy cho Việt Nam một bài học”, Trung Quốc nhận lại bài học về chiến thuật, chiến lược chiến tranh: quân đội Trung Quốc không thể đảm đương một cuộc chiến tranh hiện đại. Những tổn thất trong cuộc chiến cùng thất bại về vũ khí, chiến thuật buộc họ về sau phải hiện đại hóa gấp quân đội.

Khi khói tan

https://i-vnexpress.vnecdn.net/2019/02/12/Khikhoitan-1-5366-1549964667.jpg

Tám mươi tư năm cuộc đời ông Nông Văn Niêm từng nhiều lần đánh võ tay không với người Trung Quốc để giữ đất Sóc Hà, từng bị họng súng kề ngực, đá ném thành thương tật. 

Ông không nói được nhiều tiếng Kinh. Nhưng ông nhớ rõ ngày tiếng pháo rót sang cũng là ngày cha mình chết. Lúc ông cụ bị mảnh pháo văng vào bụng, người con đang giữ chốt cùng với dân quân Sóc Hà. Ông cũng nhớ mình mất một tháng hai mươi ngày đi bộ từ Nà Sác xuống Bắc Kạn tìm vợ con thất lạc.

Từ trên chốt trở về sau những ngày chiến đấu, ông thấy ngôi nhà sàn năm gian bị đạn pháo đánh sập một nửa phía sau. Những cột gỗ chống nhà sàn cũng bị gãy đổ. Ruộng ngô trước cửa nhà hôm ông lên chốt còn mới nhú xanh, trâu bò vợ ông vẫn hay chốt then trong chuồng. Bây giờ về lại, cha già đã mất, nhà đã đổ, ruộng ngô đã cháy, chuồng không thấy trâu bò.

Chẳng ai quên đâu, nhớ hết đấy. Nhưng có ai hỏi đến thì mới nói thôi. Chiến tranh qua rồi thì yên ổn mà làm ăn thôi, chẳng ai thích đi gây sự trước cả“.

Tà Lùng, Trà Lĩnh và Sóc Giang, những nơi quân Trung Quốc từng tràn qua, giờ đều là những cửa khẩu được hưởng cơ chế Khu kinh tế cửa khẩu, theo quy định của Chính phủ từ năm 2014.

Con đường từ cửa khẩu Tà Lùng về thành phố Cao Bằng trở thành tuyến thông thương chính, nơi có tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu đạt hơn 123 triệu USD năm 2018. Những chiếc container từ bên kia biên giới, nhận giấy thông hành, xuôi Quốc lộ 3, qua đèo Khau Chỉa sẽ đưa hàng hóa đi khắp vùng.

Cuộc chiến không kết thúc ở tháng Hai. Cuộc chiến kéo dài mười năm sau đó. Quân Trung Quốc tiếp tục chiếm đóng ở 10 điểm, liên tục tạo xung đột, quấy nhiễu để gây áp lực buộc Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia. Đất nước cùng lúc gánh hai cuộc chiến.

Dải biên giới phía Bắc, một thời trở thành vành đai trắng vì đạn pháo và mìn. Một năm sau, mười người gia đình ông Niêm dắt díu nhau lộn về Hà Quảng. Cả Nà Sác khi ấy vẫn chưa nhà nào dám về. Cũng có những nhà không bao giờ về nữa.

https://i-vnexpress.vnecdn.net/2019/02/12/Khikhoitan-4-4653-1549964667.jpg

Ông Nông Văn Niêm trước căn nhà ở bản Nà Sác.

Gia đình ông Niêm phải ở lại bản Giới, cách đó mấy cây số để đợi bộ đội gỡ hết mìn. Đúng mười năm, ông sống trong cảnh có nhà mà không dám về. Năm 1990, khi về lại nhà cũ, cỏ dại đã mọc ngang đầu.

Ông lên rừng chặt củi, nhào đất sét ruộng, dựng lại ba gian nhà trên nền đất cũ. Vợ chồng trỉa lại ngô, nuôi lại lợn. Năm 1996, trạm kiểm soát liên hợp cửa khẩu Sóc Giang động thổ thi công, bên kia lại gây chuyện. Ông Niêm đang cày ruộng cũng vứt đó, cùng dân Nà Sác kéo nhau ra cửa khẩu nói lý.

“Dân Nà Sác này nghèo, nhưng không sợ Trung Quốc đâu“, ông đứng dưới sân nhà, vốn là mặt ruộng chỉ về phía đường biên.

Từ cái sân đất nhà ông nhìn lên, một hàng rào biên giới được phía Trung Quốc dựng lên. Cái hàng rào dây thép gai màu xanh lơ, cao quá đầu. Người ta cố sơn xanh khối thép ấy, nhưng vẫn khác hẳn màu xanh của cỏ cây nơi biên giới.

https://i-vnexpress.vnecdn.net/2019/02/12/Khikhoitan-6-8076-1549964667.jpg

Bốn mươi năm, bao nhiêu trận lũ sông Bằng cũng không cuốn trôi được khối bê tông nằm ngay dưới chân cầu Bằng Giang mới. Một phần trụ cầu cũ bị đánh sập vẫn nằm đó. Dàn đèn ngũ sắc trên cầu Bằng Giang mới, là điểm nhấn của toàn thị xã này về đêm. Ông Hồ Tuấn mở một quán nhậu chân gà nướng, ngay bên chân cây cầu ấy.

Nghĩa trang liệt sĩ Quảng Uyên cách Khau Chỉa chưa đầy chục cây số, ông Hồ Tuấn đôi khi rẽ vào thắp hương cho đồng đội. 406 ngôi mộ nằm ở đây, có 250 mộ liệt sĩ Trung đoàn 567. Họ đều hy sinh tháng Hai năm 1979. Nhiều liệt sĩ nằm lại nghĩa trang các đồn biên phòng, các huyện biên giới từ Pa Nậm Cúm đến Pò Hèn đều có chung ngày giỗ. Nhiều ngôi mộ ở Vị Xuyên, Hà Giang thì mới hơn, từ 1984 đến 1989.

Người Cao Bằng như họ ít nhắc những đau buồn của cuộc chiến. Ký ức sẵn trong đầu, ai hỏi thì họ kể. 

Những người sống ở đường biên này, không quên ngày hôm qua nhưng vẫn nhận thức được ngày hôm nay; nhớ như in thời chiến nhưng biết trân trọng thời bình; và cùng một gương mặt, họ luôn biết khi nào coi là thù, lúc nào, cần là bạn.

Bài: Thanh Lam, Hoàng Phương

Ảnh: Trần Mạnh Thường, Ngọc Thành

Đồ họa: Tiến Thành

Nguồn: https://vnexpress.net/longform/bien-gioi-1979-truoc-bien-nguoi-phuong-bac-3879866.html

Thanh Thủy hôm nay

ANTD.VN – 40 năm sau cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, cuộc sống đã đổi thay ở những mặt trận được xem là ác liệt nhất.

Những địa danh này chỉ cần nhắc đến tên đã biết đến sự khốc liêt, thương vong là không thể đo đếm, nhưng giờ đây đã từng bước hòa nhịp phát triển nền kinh tế, quốc tế.

Vạn vật đổi thay, tuy nhiên, không vì thế chúng ta có thể lãng quên, mà cần nhắc nhớ về những hy sinh xương, máu của các anh hùng liệt sĩ, thương binh cho sự bình yên nơi biên cương Tổ quốc.

Trong ngày tháng lịch sử này, mời quý vị cùng chúng tôi trở lại xã Thanh Thủy, huyện vị Xuyên, tỉnh Hà Giang cùng ngược dòng lịch sử cũng như chứng kiến sự đổi thay của địa phương này, khi xưa là chiến trường đỏ lửa bởi bom đạn và chết chóc…

bình luận(0 bình luận)

Người vợ ôm con 5 tháng tuổi chờ chồng chụp ảnh chiến trường phía Bắc

Chị Đỗ Thu Thủy (nguyên phóng viên báo Sài Gòn Giải Phóng) mới đây đã chia sẻ hình ảnh ôm con trai 5 tháng tuổi đợi chồng là phóng viên ảnh Minh Điền đang chụp ảnh trên chiến trường phía Bắc với những tâm sự của một người mẹ trẻ. Bức ảnh hai mẹ con ở nơi hậu phương làm xúc động nhiều nhà báo và độc giả.

Nhà báo Minh Điền công tác tại Ban Ảnh, TTXVN. Khi chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 nổ ra, anh cùng nhiều phóng viên của TTXVN cũng như phóng viên nhiều cơ quan báo chí khác được phân công làm phóng viên chiến trường tác nghiệp tại các mặt trận. Anh đã gửi về tổng xã nhiều bức ảnh nóng hổi phản ánh tinh thần anh dũng chiến đấu của quân và dân trên chiến trường. Nhưng ít ai biết lúc đó nhà báo Minh Điền mới có cậu con trai 5 tháng tuổi cùng cô con gái cũng chỉ hơn 2 tuổi.

Chị Đỗ Thu Thủy chia sẻ: “Tháng 2/1979, ba mẹ con ở nhà thấp thỏm lo âu, hoang mang, có phần sợ hãi… bởi bố các con từ biên giới Tây Nam lên phía Bắc và đang ở Vị Xuyên. Hơn nữa, xung quanh xóm giềng có nhiều bà con từ Cao Bằng và các tỉnh biên giới phía Bắc về lánh nạn. Con trai mới 5 tháng tuổi, con gái chưa tròn 3 tuổi”.

Trong ba lô quần áo các con đi nhà trẻ luôn có tờ giấy ghi rõ họ tên và địa chỉ của bố mẹ và con cái, đề phòng địch tràn xuống thì sẽ sơ tán các cháu đi đến nơi an toàn. Chị Thủy cho biết: “Bà con từ trên biên giới đổ về kể lại những điều mắt thấy trực tiếp thật hãi hùng”.

Nghề phóng viên ảnh vô cùng gian khổ, vì phóng viên ảnh luôn đến trực tiếp nơi chiến sự nổ ra mới có thể chụp ảnh lấy tư liệu. Khi đó, địch đánh vòng vào cả tuyến sau của ta, rất nhiều nơi có địch. Phóng viên Minh Điền đã ghi lại nhiều hình ảnh các trận địa ta đang nổ súng đánh địch. Đến những nơi địch vừa tràn qua bao gây chết chóc đau thương. Những bức ảnh của Minh Điền và của các nhà báo khác giờ đây trở thành những hình ảnh vô cùng quý báu, minh chứng cho những ngày đau thương và hào hùng của dân tộc bảo vệ biên giới phía Bắc.

Chiến sĩ Đại đội 7, Đoàn M16 pháo binh Lạng Sơn dội bão lửa trên chiến trường. Ảnh: Minh Điền (TTXVN)

Song có lẽ ít ai biết được tâm sự và những câu chuyện phía sau các bức ảnh đó. Vợ nhà báo Minh Điền, chị Đỗ Thu Thủy kể lại: “Ngày ấy, bố các cháu từ biên giới phía Bắc trở về kể những điều mắt thấy tai nghe với đôi mắt đỏ quạch đau thương và khuôn mặt sạm đen màu khói… để lại tiếp tục quay vào biên giới Tây Nam…. để tiếp tục làm chứng nhân cho sự tàn độc man rợ của bọn sát nhân diệt chủng còn lẩn khuất đâu đó quanh ta…”.

Một nách hai con nhỏ, sống giữa không khí chiến tranh khốc liệt lan rộng. Chị Thu Thủy vẫn nhớ như in những tình cảm xóm giềng, bạn bè của mình, đã đến động viên vợ nhà báo: “Ngày này, tháng này năm 1979, một số bạn mình ở quân binh chủng phòng không không quân, hành quân cùng giàn tên lửa từ Cam Ranh ra qua Hà Nội. Đơn vị nghi ăn tối ở Ngã Tư Sở, bạn xin 30 phút chạy bộ về Cửa Đông, không kịp vào nhà, đứng ở cửa trao vội gói quà gồm gói mỳ chính, tấm vải hoa và chiếc mũ cho em bé, rồi chạy vội đi vì sợ chậm giờ hành quân.

Trao đổi với phóng viên, nhà báo Đỗ Thu Thủy cho biết thêm: “Sau biên giới phía Bắc, năm 1980 Minh Điền đi Campuchia tới 1985”. Như vậy là những đứa con nhỏ bé của họ gần như sáu tuổi mới biết mặt cha mình.

Tôi từng có thời gian làm việc cùng nhà báo Minh Điền và nhà báo Đỗ Thu Thủy. Họ không chỉ là đôi vợ chồng rất hiểu ý nhau mà còn là một cặp đồng nghiệp, người viết bài người chụp ảnh. Câu chuyện về năm tháng chiến tranh, sau thời gian, tưởng chừng bị phai mờ. Những bức ảnh về cuộc chiến năm 1979 cũng ít được phổ biến trên báo chí.

Cầu treo huyện Xín Mần, tỉnh Hà Tuyên trúng đạn pháo địch hư hỏng nặng. Ảnh Minh Điền (TTXVN)

Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, ôn lại những năm tháng gian khổ, nhà báo Đỗ Thu Thủy nhắc nhở: “Hàng vạn chiến sĩ đã hy sinh anh dũng giữ từng tấc đất đường biên bị xâm lăng. Hàng vạn dân lành đã bỏ mạng. Chúng ta không thể quên mối đau thương đó và đừng quên nhắc nhở con cháu mình khắc cốt ghi tâm”.

Cũng vào dịp kỷ niệm 40 chiến thắng biên giới phía Bắc, chị Đỗ Thu Thủy mới có dịp nhìn lại những tấm ảnh mà chồng mình đã chụp trên chiến trường, chị vô cùng cảm động và tự hào. Là người vợ trẻ một mình nuôi con cho chồng ra mặt trận, chị đã góp phần giúp chồng hoàn thành nhiệm vụ để lại cho đời những bức ảnh chiến tranh chân thực và cảm động về cuộc chiến đấu thần thánh của dân tộc.

Trần Nguyên Anh