Category Archives: Chiến tranh Việt Trung 1979

Nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh trong Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc

Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 đã khẳng định sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam trước những thử thách ngặt nghèo.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm diễn ra sự kiện lịch sử đặc biệt này, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) xin trân trọng giới thiệu bài viết: “Nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc năm 1979” của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Khang, nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

Bộ Chỉ huy mặt trận Lạng Sơn cùng chỉ huy Đoàn 327 bàn phương án tác chiến tại hang Chùa Tiên (thị xã Lạng Sơn). Ảnh: Văn Bảo/TTXVN

Đầu năm 1979, khi Quân đội nhân dân Việt Nam tiến công đánh đổ tập đoàn phản động Pol Pot, giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, Chính phủ Trung Quốc cùng một số nước phương Tây ra sức tuyên truyền xuyên tạc sự xuất hiện của Quân tình nguyện Việt Nam trên lãnh thổ Campuchia, đồng thời liên tục gây sức ép hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Mục đích của họ muốn chống phá cách mạng Việt Nam, mưu toan áp đặt lợi ích nước lớn trên bán đảo Đông Dương.

Sau khi gây sức ép về chính trị, ngoại giao mà không đạt được mục đích đề ra, ngày 17/2/1979, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã động huy động khoảng 60 vạn quân cùng hàng trăm xe tăng, xe bọc thép; hàng ngàn khẩu pháo các loại… mở cuộc tiến công trực diện vào lãnh thổ Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Móng Cái (Quảng Ninh).

Nhân dân Việt Nam đứng trước thử thách to lớn: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc chưa lâu (1975), hậu quả để lại còn rất nặng nề; lại vừa kết thúc Chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam (12/1978) và đang làm nhiệm vụ quốc tế giúp đỡ nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, thực hiện công cuộc hồi sinh đất nước. Mặt khác, kinh tế gặp rất nhiều khó khăn do cấm vận của Mỹ; các thế lực phản động trong và ngoài nước vẫn ra sức hoạt động chống phá… Bên cạnh đó, cuộc đụng đầu lịch sử này có tác động rất lớn đến tâm lý, tình cảm của nhân dân hai nước bởi Trung Quốc là nước đã ủng hộ, giúp đỡ to lớn cả về chính trị, vật chất lẫn tinh thần cho Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến cứu nước (chống Pháp, chống Mỹ) trước đây.

Trước thử thách to lớn ấy, vấn đề chỉ đạo đấu tranh như thế nào được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam thảo luận rất kỹ. Yêu cầu đề ra là: Vừa phát huy sức mạnh tổng hợp, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời nêu cao tính chính nghĩa và thiện chí mong muốn hòa bình, khôi phục quan hệ hữu nghị hai dân tộc; vừa không để bị ảnh hưởng đến các nhiệm vụ chiến lược khác, nhất là nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia; tiếp tục tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của dư luận quốc tế.

Thực hiện phương châm đề ra, từ ngày 17/2/1979, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố nêu rõ: Nhà cầm quyền Trung Quốc đang đi ngược lại lợi ích của nhân dân, phá hoại nghiêm trọng tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, đồng thời khẳng định nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác là thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình để đánh trả.

Về chỉ huy tác chiến, phía Việt Nam chủ trương chưa đưa lực lượng dự bị chiến lược vào quyết chiến sớm, cũng không vội rút đại quân từ Campuchia về nước, dễ gây nên sự xáo trộn bất ngờ mà phát huy sức mạnh tổng hợp chiến tranh nhân dân địa phương, sử dụng lực lượng tại chỗ của Quân khu 1, Quân khu 2 là chính, có sự bổ sung một bộ phận lực lượng từ tuyến sau lên tăng cường. Đồng thời, xây dựng kế hoạch điều động dần các binh đoàn dự bị chiến lược của Bộ sẵn sàng thực hành phản công khi cần thiết, chuẩn bị cho nhân dân cả nước bước vào đối phó với tình huống chiến tranh mở rộng.

Dưới sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, quân dân Việt Nam trên tuyến đầu biên giới kịp thời đánh trả, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của quân Trung Quốc, buộc đối phương phải tung lực lượng dự bị chiến lược vào tham chiến. Với ưu thế quân đông, nhiều vũ khí trang bị kỹ thuật, quân Trung Quốc lần lượt chiếm được một số địa bàn, thị xã quan trọng như: Lào Cai (19/2), Cao Bằng (24/2), Cam Đường (25/2), Lạng Sơn (5/3)…

Trước tình hình cấp bách đó, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam quyết định điều động lực lượng dự bị chiến lược kết hợp cùng lực lượng tại chỗ chuẩn bị mở những đòn phản công quy mô lớn binh chủng hợp thành.

Thực hiện chủ trương đó, đầu tháng 3/1979, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ra lệnh cho Quân đoàn 2 (cơ bản đã hoàn thành nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia) nhanh chóng chuyển toàn bộ lực lượng về phía Bắc Hà Nội tập kết, đồng thời ra quyết định thành lập Quân đoàn 5 (ngày 2/3/1979) ngay tại mặt trận biên giới (gồm 4 sư đoàn bộ binh: 3, 338, 327, 337 cùng một số đơn vị kỹ thuật và bảo đảm khác). Ngoài ra, các đơn vị chủ lực của Quân đoàn 1, Quân chủng Phòng không – Không quân và các binh chủng kỹ thuật khác sẵn sàng tham gia chiến đấu.

Chiến sĩ xe tăng Trung đội 1, Đại đội 2, Đoàn 407 truy kích quân địch ở thị xã Lạng Sơn. Ảnh: Thế Thuần/TTXVN

Để phát huy sức mạnh tổng hợp, ngày 4/3/1979, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi quân dân cả nước phát huy khí thế cách mạng, hăng hái thi đua lao động sản xuất, chi viện nhiều nhất cho tiền tuyến, quyết tâm giữ vững biên cương Tổ quốc.

Tiếp đó, ngày 5/3, Chủ tịch nước công bố Lệnh tổng động viên. Cả nước cùng đồng lòng hướng về mặt trận. Hàng triệu thanh niên nam, nữ viết đơn tình nguyện đi chiến đấu. Dự trữ vật chất hậu cần phục vụ chiến đấu do đó tăng lên nhanh chóng.

Quyết tâm của Bộ Chỉ huy tối cao Việt Nam, đặc biệt là động thái chuẩn bị mở đòn phản công chiến lược đã tác động mạnh đến tương quan cục diện cuộc chiến và tâm lý của các nhà cầm quyền Trung Quốc, tạo niềm tin sắt đá cho nhân dân cả nước và bạn bè thế giới, nhất là nhân dân Campuchia vừa được Quân tình nguyện Việt Nam giúp đỡ thoát khỏi họa diệt chủng, đang ra sức bảo vệ chính quyền non trẻ. Các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng tiến bộ cùng nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới tiếp tục lên án mạnh mẽ hành động chiến tranh phi nghĩa của Trung Quốc và kêu gọi ủng hộ Việt Nam.

Chịu tổn thất nặng nề mà chưa đạt được mục tiêu cơ bản đề ra, lại bị dư luận quốc tế lên án mạnh mẽ, ngày 5/3/1979, chính quyền Trung Quốc tuyên bố rút quân khỏi lãnh thổ Việt Nam. Với truyền thống nhân nghĩa, lấy đại cục làm trọng, mong muốn củng cố hòa bình, khôi phục quan hệ hữu nghị giữa hai nước, Trung ương Đảng, Chính phủ Việt Nam chỉ thị cho các lực lượng vũ trang và nhân dân trên mặt trận biên giới phía Bắc ngừng mọi hoạt động quân sự để quân Trung Quốc rút về nước. Đến ngày 18/3/1979, Trung Quốc hoàn thành việc rút quân khỏi Việt Nam.

Thắng lợi của quân dân Việt Nam trong Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 được tạo nên từ nhiều nguyên nhân khác nhau: Đó là tinh thần chiến đấu kiên cường, anh dũng vì độc lập, tự do và sự vẹn toàn lãnh thổ; sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của bè bạn quốc tế; thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc được xây dựng, củng cố qua thời gian; là Quân đội nhân dân tinh nhuệ với đội ngũ tướng lĩnh tài ba đã được rèn luyện, thử thách qua các cuộc chiến tranh… Nhưng bao trùm lên tất cả chính là nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh độc lập, tự chủ, đúng đắn của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nghệ thuật ấy chính là sự vận dụng sáng tạo nghệ thuật đánh giặc truyền thống của cha ông (“lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”, “tránh thế ban mai, đánh lúc chiều tà”…) và nghệ thuật chiến tranh hiện đại (kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích, chiến tranh chính quy; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trên tất cả các mặt chính trị – kinh tế – quốc phòng – an ninh; phát huy sức mạnh chiến tranh nhân dân địa phương, đặc biệt là sức mạnh của lực lượng vũ trang tại chỗ, sức mạnh hậu phương cả nước); đồng thời biết khai thác, phát huy tư tưởng nhân văn “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, kết hợp với chủ anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

TTXVN/Báo Tin tức

Advertisements

Tại sao TQ không đánh Hà Nội sau khi vào Lạng Sơn?

THS2018 – Lạng Sơn đã là khúc xương khó nuốt. hóc xương gà ở đền Chí Linh thì cụ Lý Thường Kiệt đâu cho phép đi mà đi. Đến Hà Nội ngày nay hết ống đồng Thoát Hoan sao trở về Tàu?

Đây là một vấn đề thường xuyên được truyền thông phía TQ bàn luận khi nói về chủ đề Việt Trung. Mời quý vị tham khảo thêm website https://www.moquocte.com/ để cập nhật thêm các tin tức khác

Nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh trong Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc

TTXVN – Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 đã khẳng định sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam trước những thử thách ngặt nghèo.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm diễn ra sự kiện lịch sử đặc biệt này, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) xin trân trọng giới thiệu bài viết: “Nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc năm 1979” của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Khang, nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

Bộ Chỉ huy mặt trận Lạng Sơn cùng chỉ huy Đoàn 327 bàn phương án tác chiến tại hang Chùa Tiên (thị xã Lạng Sơn). Ảnh: Văn Bảo/TTXVN

Đầu năm 1979, khi Quân đội nhân dân Việt Nam tiến công đánh đổ tập đoàn phản động Pol Pot, giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, Chính phủ Trung Quốc cùng một số nước phương Tây ra sức tuyên truyền xuyên tạc sự xuất hiện của Quân tình nguyện Việt Nam trên lãnh thổ Campuchia, đồng thời liên tục gây sức ép hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Mục đích của họ muốn chống phá cách mạng Việt Nam, mưu toan áp đặt lợi ích nước lớn trên bán đảo Đông Dương.

Sau khi gây sức ép về chính trị, ngoại giao mà không đạt được mục đích đề ra, ngày 17/2/1979, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã động huy động khoảng 60 vạn quân cùng hàng trăm xe tăng, xe bọc thép; hàng ngàn khẩu pháo các loại… mở cuộc tiến công trực diện vào lãnh thổ Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Móng Cái (Quảng Ninh).

Nhân dân Việt Nam đứng trước thử thách to lớn: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc chưa lâu (1975), hậu quả để lại còn rất nặng nề; lại vừa kết thúc Chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam (12/1978) và đang làm nhiệm vụ quốc tế giúp đỡ nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, thực hiện công cuộc hồi sinh đất nước. Mặt khác, kinh tế gặp rất nhiều khó khăn do cấm vận của Mỹ; các thế lực phản động trong và ngoài nước vẫn ra sức hoạt động chống phá… Bên cạnh đó, cuộc đụng đầu lịch sử này có tác động rất lớn đến tâm lý, tình cảm của nhân dân hai nước bởi Trung Quốc là nước đã ủng hộ, giúp đỡ to lớn cả về chính trị, vật chất lẫn tinh thần cho Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến cứu nước (chống Pháp, chống Mỹ) trước đây.

Trước thử thách to lớn ấy, vấn đề chỉ đạo đấu tranh như thế nào được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam thảo luận rất kỹ. Yêu cầu đề ra là: Vừa phát huy sức mạnh tổng hợp, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời nêu cao tính chính nghĩa và thiện chí mong muốn hòa bình, khôi phục quan hệ hữu nghị hai dân tộc; vừa không để bị ảnh hưởng đến các nhiệm vụ chiến lược khác, nhất là nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia; tiếp tục tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của dư luận quốc tế.

Thực hiện phương châm đề ra, từ ngày 17/2/1979, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố nêu rõ: Nhà cầm quyền Trung Quốc đang đi ngược lại lợi ích của nhân dân, phá hoại nghiêm trọng tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, đồng thời khẳng định nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác là thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình để đánh trả.

Về chỉ huy tác chiến, phía Việt Nam chủ trương chưa đưa lực lượng dự bị chiến lược vào quyết chiến sớm, cũng không vội rút đại quân từ Campuchia về nước, dễ gây nên sự xáo trộn bất ngờ mà phát huy sức mạnh tổng hợp chiến tranh nhân dân địa phương, sử dụng lực lượng tại chỗ của Quân khu 1, Quân khu 2 là chính, có sự bổ sung một bộ phận lực lượng từ tuyến sau lên tăng cường. Đồng thời, xây dựng kế hoạch điều động dần các binh đoàn dự bị chiến lược của Bộ sẵn sàng thực hành phản công khi cần thiết, chuẩn bị cho nhân dân cả nước bước vào đối phó với tình huống chiến tranh mở rộng.

Dưới sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, quân dân Việt Nam trên tuyến đầu biên giới kịp thời đánh trả, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của quân Trung Quốc, buộc đối phương phải tung lực lượng dự bị chiến lược vào tham chiến. Với ưu thế quân đông, nhiều vũ khí trang bị kỹ thuật, quân Trung Quốc lần lượt chiếm được một số địa bàn, thị xã quan trọng như: Lào Cai (19/2), Cao Bằng (24/2), Cam Đường (25/2), Lạng Sơn (5/3)…

Trước tình hình cấp bách đó, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam quyết định điều động lực lượng dự bị chiến lược kết hợp cùng lực lượng tại chỗ chuẩn bị mở những đòn phản công quy mô lớn binh chủng hợp thành.

Thực hiện chủ trương đó, đầu tháng 3/1979, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ra lệnh cho Quân đoàn 2 (cơ bản đã hoàn thành nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia) nhanh chóng chuyển toàn bộ lực lượng về phía Bắc Hà Nội tập kết, đồng thời ra quyết định thành lập Quân đoàn 5 (ngày 2/3/1979) ngay tại mặt trận biên giới (gồm 4 sư đoàn bộ binh: 3, 338, 327, 337 cùng một số đơn vị kỹ thuật và bảo đảm khác). Ngoài ra, các đơn vị chủ lực của Quân đoàn 1, Quân chủng Phòng không – Không quân và các binh chủng kỹ thuật khác sẵn sàng tham gia chiến đấu.

Chiến sĩ xe tăng Trung đội 1, Đại đội 2, Đoàn 407 truy kích quân địch ở thị xã Lạng Sơn. Ảnh: Thế Thuần/TTXVN

Để phát huy sức mạnh tổng hợp, ngày 4/3/1979, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi quân dân cả nước phát huy khí thế cách mạng, hăng hái thi đua lao động sản xuất, chi viện nhiều nhất cho tiền tuyến, quyết tâm giữ vững biên cương Tổ quốc.

Tiếp đó, ngày 5/3, Chủ tịch nước công bố Lệnh tổng động viên. Cả nước cùng đồng lòng hướng về mặt trận. Hàng triệu thanh niên nam, nữ viết đơn tình nguyện đi chiến đấu. Dự trữ vật chất hậu cần phục vụ chiến đấu do đó tăng lên nhanh chóng.

Quyết tâm của Bộ Chỉ huy tối cao Việt Nam, đặc biệt là động thái chuẩn bị mở đòn phản công chiến lược đã tác động mạnh đến tương quan cục diện cuộc chiến và tâm lý của các nhà cầm quyền Trung Quốc, tạo niềm tin sắt đá cho nhân dân cả nước và bạn bè thế giới, nhất là nhân dân Campuchia vừa được Quân tình nguyện Việt Nam giúp đỡ thoát khỏi họa diệt chủng, đang ra sức bảo vệ chính quyền non trẻ. Các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng tiến bộ cùng nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới tiếp tục lên án mạnh mẽ hành động chiến tranh phi nghĩa của Trung Quốc và kêu gọi ủng hộ Việt Nam.

Chịu tổn thất nặng nề mà chưa đạt được mục tiêu cơ bản đề ra, lại bị dư luận quốc tế lên án mạnh mẽ, ngày 5/3/1979, chính quyền Trung Quốc tuyên bố rút quân khỏi lãnh thổ Việt Nam. Với truyền thống nhân nghĩa, lấy đại cục làm trọng, mong muốn củng cố hòa bình, khôi phục quan hệ hữu nghị giữa hai nước, Trung ương Đảng, Chính phủ Việt Nam chỉ thị cho các lực lượng vũ trang và nhân dân trên mặt trận biên giới phía Bắc ngừng mọi hoạt động quân sự để quân Trung Quốc rút về nước. Đến ngày 18/3/1979, Trung Quốc hoàn thành việc rút quân khỏi Việt Nam.

Thắng lợi của quân dân Việt Nam trong Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 được tạo nên từ nhiều nguyên nhân khác nhau: Đó là tinh thần chiến đấu kiên cường, anh dũng vì độc lập, tự do và sự vẹn toàn lãnh thổ; sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của bè bạn quốc tế; thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc được xây dựng, củng cố qua thời gian; là Quân đội nhân dân tinh nhuệ với đội ngũ tướng lĩnh tài ba đã được rèn luyện, thử thách qua các cuộc chiến tranh… Nhưng bao trùm lên tất cả chính là nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh độc lập, tự chủ, đúng đắn của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nghệ thuật ấy chính là sự vận dụng sáng tạo nghệ thuật đánh giặc truyền thống của cha ông (“lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”, “tránh thế ban mai, đánh lúc chiều tà”…) và nghệ thuật chiến tranh hiện đại (kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích, chiến tranh chính quy; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trên tất cả các mặt chính trị – kinh tế – quốc phòng – an ninh; phát huy sức mạnh chiến tranh nhân dân địa phương, đặc biệt là sức mạnh của lực lượng vũ trang tại chỗ, sức mạnh hậu phương cả nước); đồng thời biết khai thác, phát huy tư tưởng nhân văn “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, kết hợp với chủ anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

TTXVN/Báo Tin tức

40 năm chiến tranh biên giới Việt – Trung: những điều chưa nói hết

40 năm sau cuộc chiến biên giới Việt – Trung, các khách mời trong chương trình Bàn tròn Thứ năm của BBC Tiếng Việt nói về cách đưa tin và tuyên truyền về cuộc chiến ở Trung Quốc và Việt Nam, liệu chủ đề này có nên được đưa vào sách giáo khoa VN, và có thể rút ra bài học nào cho các bên. Do Quốc Phương dẫn chương trình, thảo luận có sự tham gia của Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng từ ĐH George Mason, Hoa Kỳ; sử gia GS Ngô Vĩnh Long từ ĐH Maine; TS Nghiêm Thúy Hằng, Đại học KHXH và Nhân văn (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội), TS Hà Hoàng Hợp, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Iseas-Singapore) và nhà báo Tô Bình, Biên tập viên BBC Tiếng Trung. Video đã được biên tập lại từ chương trình Bàn tròn Thứ năm được phát trực tiếp trên Facebook của BBC Tiếng Việt hôm 14/2. BBC News Tiếng Việt

Chiến tranh biên giới phía Bắc 1979: Vì sao trung Quốc quyết “trừng phạt Việt Nam”?

Đặng Tiểu Bình

© AP Photo

Từ cuối năm 1978, Trung Quốc tăng cường làm đường cơ động, xây dựng căn cứ, hệ thống kho trạm, vận chuyển tập kết vật chất, sơ tán dân về phía sau. Đồng thời, thực hiện các hoạt động nghi binh, đề ra kế hoạch “dạy cho Việt Nam một bài học” và chuẩn bị chiến tranh “trừng phạt Việt Nam”, Trí Thức Trẻ cho hay.

Năm 1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời và ngay từ những ngày đầu, chính phủ nước này đã áp dụng chính sách ngoại giao “Nhất biên đảo” (nghiêng hẳn về phe xã hội chủ nghĩa). Chính sách này đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng thế giới phát triển mạnh mẽ.

Cuộc xung đột Trung-Việt năm 1979

© SPUTNIK / VLADIMIR VYATKIN

Tướng Lê Mã Lương: Việt Nam dạy cho Trung Quốc 1 bài học trong chiến tranh biên giới 1979

Tuy nhiên, trong giai đoạn 1959-1969, quan hệ Trung — Xô — Mỹ có những diễn biến phức tạp, bắt đầu từ sự rạn nứt trong quan hệ Trung — Xô, đỉnh điểm là cuộc xung đột biên giới năm 1969.

Trái ngược với mâu thuẫn sâu sắc trong quan hệ Trung — Xô, quan hệ Trung — Mỹ xích lại gần nhau hơn và sự kiện Tổng thống Mỹ Nixon thăm Bắc Kinh vào tháng 2/1972 được coi là một “cột mốc quan trọng làm xoay chuyển cục diện thế giới”.

Trong lúc mâu thuẫn Trung — Xô sâu sắc, quan hệ Việt — Xô lại phát triển ngày càng mạnh mẽ, đã tác động mạnh đến những tính toán chiến lược của Trung Quốc. Ngày 3/11/1978, Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác, đánh dấu bước phát triển mới của tình đoàn kết và hợp tác toàn diện giữa hai nước.

Ngày 17/4/1975, tập đoàn Pol Pot lên nắm quyền ở Campuchia, lập ra nhà nước “Campuchia dân chủ” thực hiện chính sách diệt chủng cực kỳ tàn bạo ở Campuchia và xâm lược biên giới Tây Nam của Việt Nam.

​Đặng Tiểu Bình (trái) và Tổng thống Mỹ Jimmy Carter.

Vào những ngày kỷ niệm chiến tranh biên giới 1979  chính quyền đã bắt giữ một số người cố gắng tổ chức những hoạt động tôn vinh các liệt sĩ tại Hà Nội.

© AP PHOTO / TRAN VAN MINH

Chiến tranh biên giới 1979: Sự chính nghĩa của Việt Nam trước Trung Quốc xâm lược

Trước hành động xâm lược và diệt chủng tàn bạo của chế độ Pol Pot, đáp lời kêu gọi của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đã thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình, đập tan các hành động xâm lược, cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng Pôn Pốt, giải phóng Campuchia vào ngày 7/1/1979.

Thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc cùng nhân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng Pol Pot đã đẩy sự căng thẳng trong quan hệ Trung Quốc — Việt Nam lên đỉnh điểm.

Trung Quốc đã chuẩn bị để tấn công Việt Nam như thế nào?

Ngay từ đầu những năm Việt Nam thống nhất đất nước, Trung Quốc đã thể hiện rõ ý đồ gây sự bằng việc liên tục tăng cường các hoạt động quân sự, khiêu khích vũ trang, xâm lấn đất đai (từ 234 vụ năm 1975, 812 vụ năm 1976, tăng lên 873 vụ năm 1977 và đặc biệt là năm 1978 lên tới 2.175 vụ), gây tình hình căng thẳng, phức tạp trên vùng biên giới phía Bắc Việt Nam.

Từ tháng 5/1978, Trung Quốc dựng lên “sự kiện nạn kiều”, thực chất là dụ dỗ, đe dọa, lần lượt cưỡng ép gần 20 vạn Hoa kiều đang sống yên ổn ở Việt Nam phải về nước. Tiếp đó, họ trắng trợn vu cáo Việt Nam ngược đãi, khủng bố xua đuổi Hoa kiều, rút chuyên gia về nước, gây ra tình hình hết sức căng thẳng.

Cờ tổ quốc treo rủ trước lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày quốc tang

© ẢNH: VIỆT HÙNG/ZING40 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc: Không thể quên!

Từ cuối năm 1978, Trung Quốc tăng cường làm đường cơ động, xây dựng căn cứ, hệ thống kho trạm, vận chuyển tập kết vật chất, sơ tán dân về phía sau. Đồng thời, thực hiện các hoạt động nghi binh, đề ra kế hoạch “dạy cho Việt Nam một bài học” và chuẩn bị chiến tranh “trừng phạt Việt Nam”.

Họ tuyên bố lừa mị dư luận trong nước và quốc tế rằng chỉ sử dụng lực lượng “bộ đội biên phòng” để thực hiện “phản kích tự vệ”, bởi Việt Nam gây ra xung đột, “lấn chiếm đất đai”, “quấy rối biên cương” phía Nam.

Thực tế, trên vùng biên giới Việt — Trung không có lực lượng vũ trang nào của Việt Nam được triển khai gây sức ép buộc Trung Quốc phải “tự vệ”, chỉ có phía Trung Quốc chuẩn bị lực lượng quy mô lớn đánh Việt Nam.

Từ tháng 8/1978, phía Trung Quốc điều động lực lượng từ phía sau ra biên giới gồm 9 quân đoàn và 5 sư đoàn độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn bộ binh), cùng 550 xe tăng, xe bọc thép, 2.558 pháo (trong đó có 1.092 pháo xe kéo), 676 máy bay…

Trên hướng biển có hàng chục tàu chiến thuộc Hạm đội Nam Hải hỗ trợ. Ngoài ra, phía Trung Quốc còn bố trí nhiều trận địa pháo, trạm ra đa, trang bị vũ khí cho dân binh các công xã ở vùng biên giới, tổ chức nhiều cuộc diễn tập, gây căng thẳng trên vùng biên giới phía Bắc.

5 ý đồ của Trung Quốc

Lính cảnh giới Trung Quốc trên quảng trường Thiên An Môn

© AP PHOTO / ALEXANDER F. YUAN

“Bóp chết” Việt Nam: Tướng Trung Quốc ngông cuồng “chiếm Hà Nội trong vòng 1 tuần”

Đêm 16 rạng ngày 17/2/1979 (đêm thứ Bảy rạng ngày Chủ nhật), lợi dụng trời tối, sương mù, phía Trung Quốc bí mật đưa lực lượng lớn vượt biên, luồn sâu, ém sẵn ở nhiều khu vực trên toàn tuyến biên giới, từ Pò Hèn (Quảng Ninh) đến Pa Nậm Cúm (Lai Châu); đồng thời triển khai đội hình gồm một lực lượng lớn áp sát biên giới chuẩn bị tiến công.

Mở cuộc chiến tranh trên biên giới phía Bắc nước ta, quân xâm lược Trung Quốc hy vọng thực hiện được 5 mục tiêu:

Một là, cứu chế độ diệt chủng Pol Pot, giữ Campuchia trong quỹ đạo của họ (mục tiêu chủ yếu). Ý đồ là chiếm một số khu vực đất đai của ta ở gần biên giới, nếu ta sơ hở sẽ tiến vào sâu, buộc ta phải đàm phán, đòi ta rút quân khỏi Campuchia để đánh đổi việc họ rút quân.

Mức thấp là đánh để buộc Việt Nam vì lo bảo vệ miền Bắc sẽ phải rút quân khỏi Campuchia, tạo điều kiện cho quân Pôn Pốt bảo toàn lực lượng, giữ được các căn cứ, đẩy mạnh hoạt động, hòng khôi phục lật lại chính quyền Campuchia Dân chủ.

Hai là, tranh thủ Mỹ và các nước đế quốc giúp họ xây dựng “bốn hiện đại hóa” (nông nghiệp, công nghiệp, quân đội và khoa học — kỹ thuật).

Ba là, phá hoại tiềm lực quốc phòng và kinh tế của ta, làm ta suy yếu. Ý đồ của họ là tiêu diệt một bộ phận lực lượng vũ trang ta, nhất là khối bộ đội chủ lực, phá hoại các cơ sở kinh tế, tàn sát gây tâm lý khủng khiếp trong nhân dân ta, kích động bạo loạn, hạ uy thế quân sự, chính trị to lớn của ta sau chiến thắng 30/4/1975.

Bốn là, uy hiếp từ Lào về phía Bắc, làm suy yếu liên minh chiến đấu Việt — Lào, buộc Lào phải “trung lập” trong cuộc đấu tranh giữa ta và họ; phá hoại Lào toàn diện, buộc Lào theo họ chống lại ta, uy hiếp ta từ phía Tây. Đồng thời thị uy các nước Đông Nam Á, gỡ thể diện cho họ sau thất bại nặng nề ở Campuchia.

Cuộc xung đột Trung-Việt năm 1979

© SPUTNIK / VLADIMIR VYATKIN

Trung Quốc tuyên bố “dạy cho Việt Nam một bài học”: Hai cuộc chiến xâm lược có chung một kịch bản

Năm là, thăm dò phản ứng của Liên Xô và dư luận thế giới để chuẩn bị cho những bước phiêu lưu sau này.

Quân và dân Việt Nam sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc

Trước diễn biến căng thẳng trên vùng biên giới phía Bắc, Đảng và Nhà nước ta kiên trì chủ trương giải quyết bằng biện pháp hòa bình; đồng thời khẩn trương tăng cường lực lượng, đẩy mạnh xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trên phạm vi cả nước, nhất là ở Quân khu 1 và Quân khu 2.

Đây là một địa bàn chiến lược rất quan trọng, án ngữ toàn bộ vùng biên giới phía Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc của Tổ quốc, có chung đường biên giới với Trung Quốc dài hơn 1.400km, chạy qua 145 xã, 19 thị trấn thuộc 27 huyện của 6 tỉnh (Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Tuyên (nay là Hà Giang, Tuyên Quang), Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai, Yên Bái), Lai Châu).

Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng) Việt Nam làm nhiệm vụ ở các đồn và cửa khẩu vùng biên giới các tỉnh phía Bắc thường xuyên tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, tạo điều kiện thuận lợi, bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản cho Hoa kiều trở về nước. Trong cuộc đấu tranh chống âm mưu cưỡng ép người Hoa về nước, một số cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng Việt Nam đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

Tháng 7/1978, Hội nghị Trung ương lần thứ tư (khóa IV) của Đảng đã chỉ đạo tập trung lực lượng để giải quyết nhanh nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên hướng biên giới Tây Nam; đồng thời động viên, tăng cường lực lượng và công tác phòng thủ của đất nước ở biên giới phía Bắc.

Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, các đơn vị quân đội được chấn chỉnh, tăng cường về tổ chức biên chế, bổ sung quân số, vũ khí, trang bị, nâng cao sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Vào những ngày kỷ niệm chiến tranh biên giới 1979  chính quyền đã bắt giữ một số người cố gắng tổ chức những hoạt động tôn vinh các liệt sĩ tại Hà Nội.

© AP PHOTO / TRAN VAN MINH

Vào những ngày kỷ niệm chiến tranh biên giới 1979 chính quyền đã bắt giữ một số người cố gắng tổ chức những hoạt động tôn vinh các liệt sĩ tại Hà Nội.

Cuộc xung đột Trung-Việt năm 1979

© SPUTNIK / VLADIMIR VYATKIN

Chiến tranh biên giới Việt-Trung: Sòng phẳng với lịch sử không phải là kích động hận thù

Ngày 6/1/1979, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị về việc tăng cường chiến đấu ở các tỉnh phía Bắc, nêu rõ:

“Phải theo dõi nắm chắc tình hình địch, kịp thời phát hiện âm mưu và hành động tiến công phá hoại của chúng, quyết không để bị bất ngờ, không mắc mưu khiêu khích của chúng… Gấp rút đẩy mạnh công tác sẵn sàng chiến đấu ở các địa phương trên toàn biên giới, bảo đảm sẵn sàng đánh bại địch ngay từ đầu trong bất kỳ tình huống nào”.

Thực hiện Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tham mưu, quân và dân cả nước, đặc biệt là lực lượng vũ trang Quân khu 1, Quân khu 2, nhân dân các tỉnh biên giới phía Bắc đã nhanh chóng chuyển địa bàn, vốn là hậu phương trước đây, thành tiền tuyến của cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc.

Quân khu 1, Quân khu 2 và nhân dân các tỉnh biên giới phía Bắc gấp rút củng cố thế trận phòng thủ, chấn chỉnh tổ chức biên chế, bổ sung quân số và trang bị kỹ thuật, tăng cường huấn luyện, hoàn chỉnh phương án tác chiến, sẵn sàng chiến đấu cao.

Các tỉnh (thành), huyện (quận) ở tuyến sau cũng dự kiến kế hoạch chuẩn bị lực lượng, chủ động hiệp đồng giữa các ngành và địa phương, khi cần kịp thời cơ động lực lượng chiến đấu chi viện các tỉnh, huyện tuyến trước; đồng thời có kế hoạch sơ tán và tổ chức lực lượng tại chỗ, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ hậu phương.

Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc: Vị Xuyên hồi sinh

VOV.VN – Những điểm cao túi đạn hố pháo chiến trường ác liệt năm xưa thì nay đã hồi sinh thành các điểm trường Mầm non Nậm Ngặt.

cuoc chien bao ve bien gioi phia bac: hoi sinh thanh thuy - vi xuyen hinh 1
 Mặt trận Vị Xuyên – Thanh Thuỷ (Hà Giang) là vùng chiến sự ác liệt nhất trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc kéo dài 10 năm 1979-1989.
Nhiều địa danh, trận chiến tại đây đã đi vào lịch sử như: điểm cao 1509, 468, Cô Ích, Bốn Hầm, Lò vôi thế kỷ…

Đặc biệt từ 1984 đến 1989 tại mặt trận Vị Xuyên, tình hình chiến sự ngày càng khốc liệt, dựa trên địa hình hiểm trở, đèo dốc cao các lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Giang đã anh dũng đấu tranh, bảo vệ vững chắc từng tấc đất thiêng liêng của tổ quốc, câu nói được khắc trên báng súng của Anh hùng liệt sỹ Nguyễn Viết Minh “Sống bám đá – Chết hóa đá – Thành bất tử” đã thể hiện rõ tinh thần đó. 

Hôm nay (17/2), là ngày tròn 40 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của quân và dân ta bắt đầu. Ba thập kỷ sau cuộc chiến, điểm nóng Thanh Thủy – Vị Xuyên đang hồi sinh mạnh mẽ. Trong ảnh: Điểm cao 468 đã đi vào lịch sử là vùng chiến sự ác liệt trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc.

cuoc chien bao ve bien gioi phia bac: hoi sinh thanh thuy - vi xuyen hinh 2
Nằm trên điểm cao 468 ở lưng chừng núi Nậm Ngặt thuộc xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang) là Nhà tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ hy sinh tại Mặt trận Vị Xuyên… Được khánh thành ngày 25/6/2016, công trình đã trở thành địa chỉ lịch sử-văn hóa góp phần tưởng nhớ, tri ân các anh hùng liệt sĩ hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau. Đài hương 468 những ngày này đón rất nhiều đoàn đến thắp hương tưởng nhớ các chiến sỹ đã hy sinh tại Mặt trận Vị Xuyên.
cuoc chien bao ve bien gioi phia bac: hoi sinh thanh thuy - vi xuyen hinh 3
Bia ký ức của Sư đoàn 356. Chiến trường xưa tại khu vực biên giới xã Thanh Thủy huyện Vị Xuyên, nơi đã từng là chiến trường khốc liệt, nổi danh với những “đồi thịt băm”, “lò vôi thế kỷ” hay “thung lũng gọi hồn”.
cuoc chien bao ve bien gioi phia bac: hoi sinh thanh thuy - vi xuyen hinh 4
Gặp lại nhau, những người lính trẻ của Mặt trận Vị Xuyên năm nào đã cùng nhau ôn lại những ký ức của một thời hoa lửa. Họ kể về cuộc đời mình thời hậu chiến, về tình yêu, gia đình hay công việc.
cuoc chien bao ve bien gioi phia bac: hoi sinh thanh thuy - vi xuyen hinh 5
Khi đến các địa danh, nhớ lại những ngày tháng chiến đấu các cựu chiến binh không khỏi xúc động khi đây là nơi gần 5.000 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh khi chiến đấu bảo vệ từng tấc đất biên cương. Tại đây vẫn còn có 3.000 liệt sĩ vẫn nằm lại trên chiến trường xưa.

cuoc chien bao ve bien gioi phia bac: hoi sinh thanh thuy - vi xuyen hinh 6
Một nén tâm nhang, với tấm lòng thành kính, biết ơn chân thành nhất để tưởng nhớ đến đồng đội đã anh dũng hy sinh bảo vệ Tổ quốc, nhớ lại một thời oanh liệt của cán bộ, chiến sỹ đã anh dũng chiến đấu để bảo vệ biên cương. Cựu chiến binh Đại tá Phạm Minh Nhàn – Sư đoàn 313 Quân khu 2 thắp hương tưởng nhớ đồng đội.
cuoc chien bao ve bien gioi phia bac: hoi sinh thanh thuy - vi xuyen hinh 7
Đứng trên đài hương nhìn xuống, thung lũng Nậm Ngặt xanh ngát màu xanh của cây cối, lác đác những nếp nhà sàn êm ấm, yên bình. Dưới chân núi, dòng suối Thanh Thủy lặng lờ trôi. Cuộc sống thanh bình, hạnh phúc đã phủ lên mảnh đất từng một thời bom đạn, đau thương này. Trong ảnh là một góc bản làng Thanh Thủy hôm nay
cuoc chien bao ve bien gioi phia bac: hoi sinh thanh thuy - vi xuyen hinh 8
Những điểm cao túi đạn hố pháo chiến trường ác liệt năm xưa thì nay đã hồi sinh thành các điểm trường Mầm non Nậm Ngặt.
cuoc chien bao ve bien gioi phia bac: hoi sinh thanh thuy - vi xuyen hinh 9
Thế hệ trẻ luôn trân trọng xương máu của thế hệ cha anh đi trước để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Dù cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn, chính quyền các cấp tỉnh Hà Giang và huyện Vị Xuyên luôn quan tâm chăm lo sự nghiệp giáo dục để nuôi dưỡng và hun đúc truyền thống cha ông bảo vệ vững chắc từng tấc đất biên cương./.

Huy Nam/VOV1

Thanh Thủy hôm nay

ANTD.VN – 40 năm sau cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, cuộc sống đã đổi thay ở những mặt trận được xem là ác liệt nhất.

Những địa danh này chỉ cần nhắc đến tên đã biết đến sự khốc liêt, thương vong là không thể đo đếm, nhưng giờ đây đã từng bước hòa nhịp phát triển nền kinh tế, quốc tế.

Vạn vật đổi thay, tuy nhiên, không vì thế chúng ta có thể lãng quên, mà cần nhắc nhớ về những hy sinh xương, máu của các anh hùng liệt sĩ, thương binh cho sự bình yên nơi biên cương Tổ quốc.

Trong ngày tháng lịch sử này, mời quý vị cùng chúng tôi trở lại xã Thanh Thủy, huyện vị Xuyên, tỉnh Hà Giang cùng ngược dòng lịch sử cũng như chứng kiến sự đổi thay của địa phương này, khi xưa là chiến trường đỏ lửa bởi bom đạn và chết chóc…

bình luận(0 bình luận)

Người vợ ôm con 5 tháng tuổi chờ chồng chụp ảnh chiến trường phía Bắc

Chị Đỗ Thu Thủy (nguyên phóng viên báo Sài Gòn Giải Phóng) mới đây đã chia sẻ hình ảnh ôm con trai 5 tháng tuổi đợi chồng là phóng viên ảnh Minh Điền đang chụp ảnh trên chiến trường phía Bắc với những tâm sự của một người mẹ trẻ. Bức ảnh hai mẹ con ở nơi hậu phương làm xúc động nhiều nhà báo và độc giả.

Nhà báo Minh Điền công tác tại Ban Ảnh, TTXVN. Khi chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 nổ ra, anh cùng nhiều phóng viên của TTXVN cũng như phóng viên nhiều cơ quan báo chí khác được phân công làm phóng viên chiến trường tác nghiệp tại các mặt trận. Anh đã gửi về tổng xã nhiều bức ảnh nóng hổi phản ánh tinh thần anh dũng chiến đấu của quân và dân trên chiến trường. Nhưng ít ai biết lúc đó nhà báo Minh Điền mới có cậu con trai 5 tháng tuổi cùng cô con gái cũng chỉ hơn 2 tuổi.

Chị Đỗ Thu Thủy chia sẻ: “Tháng 2/1979, ba mẹ con ở nhà thấp thỏm lo âu, hoang mang, có phần sợ hãi… bởi bố các con từ biên giới Tây Nam lên phía Bắc và đang ở Vị Xuyên. Hơn nữa, xung quanh xóm giềng có nhiều bà con từ Cao Bằng và các tỉnh biên giới phía Bắc về lánh nạn. Con trai mới 5 tháng tuổi, con gái chưa tròn 3 tuổi”.

Trong ba lô quần áo các con đi nhà trẻ luôn có tờ giấy ghi rõ họ tên và địa chỉ của bố mẹ và con cái, đề phòng địch tràn xuống thì sẽ sơ tán các cháu đi đến nơi an toàn. Chị Thủy cho biết: “Bà con từ trên biên giới đổ về kể lại những điều mắt thấy trực tiếp thật hãi hùng”.

Nghề phóng viên ảnh vô cùng gian khổ, vì phóng viên ảnh luôn đến trực tiếp nơi chiến sự nổ ra mới có thể chụp ảnh lấy tư liệu. Khi đó, địch đánh vòng vào cả tuyến sau của ta, rất nhiều nơi có địch. Phóng viên Minh Điền đã ghi lại nhiều hình ảnh các trận địa ta đang nổ súng đánh địch. Đến những nơi địch vừa tràn qua bao gây chết chóc đau thương. Những bức ảnh của Minh Điền và của các nhà báo khác giờ đây trở thành những hình ảnh vô cùng quý báu, minh chứng cho những ngày đau thương và hào hùng của dân tộc bảo vệ biên giới phía Bắc.

Chiến sĩ Đại đội 7, Đoàn M16 pháo binh Lạng Sơn dội bão lửa trên chiến trường. Ảnh: Minh Điền (TTXVN)

Song có lẽ ít ai biết được tâm sự và những câu chuyện phía sau các bức ảnh đó. Vợ nhà báo Minh Điền, chị Đỗ Thu Thủy kể lại: “Ngày ấy, bố các cháu từ biên giới phía Bắc trở về kể những điều mắt thấy tai nghe với đôi mắt đỏ quạch đau thương và khuôn mặt sạm đen màu khói… để lại tiếp tục quay vào biên giới Tây Nam…. để tiếp tục làm chứng nhân cho sự tàn độc man rợ của bọn sát nhân diệt chủng còn lẩn khuất đâu đó quanh ta…”.

Một nách hai con nhỏ, sống giữa không khí chiến tranh khốc liệt lan rộng. Chị Thu Thủy vẫn nhớ như in những tình cảm xóm giềng, bạn bè của mình, đã đến động viên vợ nhà báo: “Ngày này, tháng này năm 1979, một số bạn mình ở quân binh chủng phòng không không quân, hành quân cùng giàn tên lửa từ Cam Ranh ra qua Hà Nội. Đơn vị nghi ăn tối ở Ngã Tư Sở, bạn xin 30 phút chạy bộ về Cửa Đông, không kịp vào nhà, đứng ở cửa trao vội gói quà gồm gói mỳ chính, tấm vải hoa và chiếc mũ cho em bé, rồi chạy vội đi vì sợ chậm giờ hành quân.

Trao đổi với phóng viên, nhà báo Đỗ Thu Thủy cho biết thêm: “Sau biên giới phía Bắc, năm 1980 Minh Điền đi Campuchia tới 1985”. Như vậy là những đứa con nhỏ bé của họ gần như sáu tuổi mới biết mặt cha mình.

Tôi từng có thời gian làm việc cùng nhà báo Minh Điền và nhà báo Đỗ Thu Thủy. Họ không chỉ là đôi vợ chồng rất hiểu ý nhau mà còn là một cặp đồng nghiệp, người viết bài người chụp ảnh. Câu chuyện về năm tháng chiến tranh, sau thời gian, tưởng chừng bị phai mờ. Những bức ảnh về cuộc chiến năm 1979 cũng ít được phổ biến trên báo chí.

Cầu treo huyện Xín Mần, tỉnh Hà Tuyên trúng đạn pháo địch hư hỏng nặng. Ảnh Minh Điền (TTXVN)

Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, ôn lại những năm tháng gian khổ, nhà báo Đỗ Thu Thủy nhắc nhở: “Hàng vạn chiến sĩ đã hy sinh anh dũng giữ từng tấc đất đường biên bị xâm lăng. Hàng vạn dân lành đã bỏ mạng. Chúng ta không thể quên mối đau thương đó và đừng quên nhắc nhở con cháu mình khắc cốt ghi tâm”.

Cũng vào dịp kỷ niệm 40 chiến thắng biên giới phía Bắc, chị Đỗ Thu Thủy mới có dịp nhìn lại những tấm ảnh mà chồng mình đã chụp trên chiến trường, chị vô cùng cảm động và tự hào. Là người vợ trẻ một mình nuôi con cho chồng ra mặt trận, chị đã góp phần giúp chồng hoàn thành nhiệm vụ để lại cho đời những bức ảnh chiến tranh chân thực và cảm động về cuộc chiến đấu thần thánh của dân tộc.

Trần Nguyên Anh