Category Archives: Việt Nam

Cháu ngoại GS Phan Huy Lê nhận giải nhất giải thưởng Phạm Thận Duật

TTO – Tiến sĩ Phạm Lê Huy – cháu ngoại của cố GS Phan Huy Lê – chia sẻ những khó khăn của các nhà sử học Việt khi tìm kiếm chân lý lịch sử, khi ông lên nhận giải thưởng cho luận án tiến sĩ về thời đô hộ Tùy Đường.

Cháu ngoại GS Phan Huy Lê nhận giải nhất giải thưởng Phạm Thận Duật - Ảnh 1.

TS Phạm Lê Huy (phải) nhận giải nhất giải thưởng sử học Phạm Thận Duật năm 2018 – Ảnh: THIÊN ĐIỂU

Tiến sĩ Phạm Lê Huy được trao giải nhất giải thưởng sử học Phạm Thận Duật lần thứ 19 năm 2018 của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam vào ngày 29-11 tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội).

Trong niềm xúc động khi được trao giải thưởng mà ông ngoại mình – cố GS Phan Huy Lê, nguyên chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam – là người gắn bó ngay từ những ngày đầu thành lập, tiến sĩ Phạm Lê Huy nói mắt ông rưng rưng khi nhìn xuống hàng ghế đại biểu hôm nay thấy vắng bóng ông mình.

Tiến sĩ trẻ Phạm Lê Huy nhận định luận án của mình cũng như các đồng nghiệp nhận giải thưởng lần này là những tìm tòi, khám phá nhỏ nhoi góp phần vào việc xây dựng một nhận thức lịch sử trung thực, khách quan và công bằng hơn.

Ông cũng lạc quan rằng ông và các nhà sử học không đơn độc trên hành trình tìm kiếm chân lý lịch sử. Giải thưởng lịch sử Phạm Thận Duật hàng năm chính là một sự động viên của xã hội đối với những nỗ lực thường nhật của những người làm sử.

Cháu ngoại GS Phan Huy Lê nhận giải nhất giải thưởng Phạm Thận Duật - Ảnh 2.

TS Phạm Lê Huy phát biểu khi nhận giải – Ảnh: THIÊN ĐIỂU

Luận án tiến sĩ Tầng lớp thủ lĩnh tại Giao Châu – An Nam thời đô hộ Tùy Đường của Phạm Lê Huy đã được hội đồng xét giải thưởng đánh giá rất cao và quyết định trao giải nhất. Trong lịch sử 19 năm của giải thưởng lịch sử này, mới chỉ có 9 giải nhất được trao tặng, 10 lần trao giải khác không có giải nhất.

GS.TSKH.NGND Vũ Minh Giang – chủ tịch hội đồng xét thưởng – đánh giá rất cao giá trị của luận án tiến sĩ được trao giải nhất năm nay. Ông nói luận án này là một công trình nghiên cứu đặc sắc, đóng góp rất nhiều vào khoảng trống trong hiểu biết về thời kỳ lịch sử này.

Giáo sư Vũ Minh Giang nói thời kỳ Bắc thuộc là một thời kỳ lịch sử quan trọng của dân tộc nhưng trước đây lại chưa được hiểu, được lý giải đầy đủ. Trong một lần phát biểu tại hội thảo khoa học quốc tế về Việt Nam học lần thứ nhất, cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi ấy là chủ tịch danh dự của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam nhắc nhở giới sử học phải phải lý giải nhiều hơn về việc làm sao mà dân tộc chúng ta đã nổi dậy và nổi dậy thành công sau 1.000 năm bị đô hộ.

Luận án này của Phạm Lê Huy đã đi sâu nghiên cứu về sự hình thành của tầng lớp hào trưởng, tầng lớp thủ lĩnh địa phương và cho thấy chính họ là lực lượng liên kết lại, giúp Ngô Quyền tạo nên chiến thắng Bạch Đằng năm 938.

Giáo sư Vũ Minh Giang nói chuyện này xưa nay chỉ được biết đến rất mơ hồ, nhưng luận án tiến sĩ của Phạm Lê Huy, với trình độ nghiên cứu chuyên nghiệp, nguồn tư liệu đáng tin cậy đã đưa ra một bức tranh rất rõ ràng. Rất nhiều kết quả nghiên cứu trong luận án này đã được chọn đưa vào những công trình nghiên cứu lớn hơn, như bộ Quốc sử.

Cháu ngoại GS Phan Huy Lê nhận giải nhất giải thưởng Phạm Thận Duật - Ảnh 3.

Hai tác giả nhận giải nhì – Ảnh: THIÊN ĐIỂU

Tiến sĩ Phạm Lê Huy cho biết ông đã được giao viết 2 chương liên quan tới thời Tùy Đường trong tập 3 của bộ Quốc sử do cố GS Phan Huy Lê làm chủ biên. 1 chương về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội thời Tùy Đường; chương thứ 2 về các cuộc khởi nghĩa thời Tùy Đường. Hai chương này được ông lấy từ các kết quả nghiên cứu mới nhất trong luận án tiến sĩ của mình.

Tiến sĩ Phạm Huy Lê hi vọng độc giả sẽ có được cái nhìn mới, khác biệt với các cuốn thông sử trước đây về thời kỳ lịch sử này. Theo kế hoạch, tập 3 của bộ Quốc sử này sẽ hoàn thành vào năm 2019.

Cháu ngoại GS Phan Huy Lê nhận giải nhất giải thưởng Phạm Thận Duật - Ảnh 4.

Ba nữ tiến sĩ nhận giải ba – Ảnh: THIÊN ĐIỂU

Ngoài giải nhất cho luận án của Tiến sĩ Phạm Lê Huy, giải thưởng lịch sử Phạm Thận Duật năm 2018 còn trao hai giải nhì cho luận án Các thương cảng ven biển Bắc Trung Bộ trong quan hệ hương mại khu vực và quốc tế thế kỷ XI-XIX của tiến sĩ Nguyễn Văn Chuyên (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) và luận án Các di tích đền – tháp, thành – lũy Champa ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế của Tiến sĩ Nguyễn Văn Quảng (khoa lịch sử, Trường ĐH Khoa học, Đại học Huế).

Ba giải ba cho luận án Thủ công nghiệp và thương nghiệp Đàng Ngoài thế kỷ XVII-XVIII của tiến sĩ Lê Thùy Linh (Viện Sử học, Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam); luận án Cuộc chiến giữa lực lượng Tây Sơn và Nguyễn Ánh giai đoạn 1778-1802 của tiến sĩ Nguyễn Thị Hằng Nga (Trường THPT Nguyễn Duy Trinh, Nghệ An); luận án Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bắc Giang từ năm 1997 đến năm 2015 của tiến sĩ Nguyễn Thị Vân (Trường ĐH Kỹ thuật công nghiệp, Đại học Thái Nguyên).

Tính đến nay, qua 19 mùa trao giải, quỹ giải thưởng Phạm Thận Duật đã xét tặng cho 101 giải thưởng, bao gồm 9 giải nhất, 41 giải nhì, 51 giải ba, trong đó có 2 tiến sĩ người nước ngoài.

THIÊN ĐIỂU

Advertisements

Giấc mơ cao cả

“Nhờ các đồng chí báo cáo với Đảng, chúng tôi đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng. Hãy trả thù cho chúng tôi. Vĩnh biệt các đồng chí!”.

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, cây, thực vật và ngoài trời

“Năm 1978, bầu trời sáng lóa, chớp giật bởi hàng loạt tiếng nổ rền vang, mặt đất rung chuyển dữ dội bởi hàng vạn quả cối 82, 60 & pháo 105, 130mm cùng hàng ngàn khẩu AK, B40, B41, M79, thủ pháo, lựu đạn… Đồn biên phòng Hoa Lư (đồn 717) nằm trên Quốc Lộ 13 giáp ranh Bình Phước – Krochie bị tấn công.

Gần 2.000 tên lính Polpot thiện chiến dồn dập đột kích vào đồn biên phòng bé nhỏ heo hút chỉ có 90 tay súng trấn giữ. Trận đánh dai dẳng từ 4 giờ sáng đến tối mịt, cách chục cây số mà vẫn nghe văng vẳng tiếng hô xung phong của bọn Polpot, tiếng súng chống cự yếu ớt dần, thưa dần cho tới khuya hôm sau.

Trên đoạn biên giới Lộc Ninh khi đó có các trung đoàn 88, 205, 174, Q16.. cùng 3 đơn vị pháo binh & 1 lữ đoàn tăng thiết giáp. Hơn 20.000 người lính ko ăn ko ngủ suốt 2 ngày đó. Tất cả nai nịt gọn gàng, súng ống lăm lăm trong tay, mắt quắc lên rực lửa. Tất cả các nòng pháo của pháo binh, xe tăng đều lấy sẵn tọa độ bắn, các pháo thủ ôm đạn đứng chờ mệnh lệnh. Tất cả chỉ chờ đợi mệnh lệnh xuất kích, các máy bộ đàm đều mở kênh liên lạc với đồn 717, từ trong đó vang lên tiếng gọi thống thiết của vị đồn trưởng:

“Các đồng chí hãy tập trung hỏa lực pháo bắn vào mục tiêu là chỉ huy sở của đồn. Chúng tôi sắp hết đạn, địch đang tràn vào sân đồn, anh em đang đánh giáp lá cà, tình thế nguy ngập rồi, làm ơn bắn đi!…”

– Mười phút sau, cũng tiếng nói ấy:

“Nhờ các đồng chí báo cáo với Đảng, chúng tôi đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng. Hãy trả thù cho chúng tôi. Vĩnh biệt các đồng chí!”.

Tất cả chúng tôi mắt nhòe lệ, những người lính già nghiến răng trèo trẹo, quai hàm bạnh ra, mắt trừng trừng như muốn nổ con ngươi. Nhưng là người lính, chúng tôi phải phục tùng mệnh lệnh cấp trên. Có lẽ chỉ có những người có hiểu biết và có trách nhiệm trước Tổ Quốc cao hơn chúng tôi mới hiểu và tin rằng họ cũng đau lòng như chúng tôi. Từ hôm đó những người lính trẻ ko còn bông đùa nghịch ngợm nữa, tất cả như già đi dăm tuổi. Chúng tôi ngồi lặng lẽ lau súng, chuốt lại lưỡi lê, thủ thỉ trò chuyện với những viên đạn. Ko ai bảo ai, trên vành mũ cối xuất hiện những khẩu hiệu:

“Ôi Tổ Quốc mà ta yêu quý nhất
Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi, Việt Nam ơi!”
Hoặc: “Hãy yên nghỉ, hỡi những người anh hùng. Chúng tôi sẽ trả thù!”..

Ngày tấn công được mòn mỏi trông chờ rồi cũng tới. Chúng tôi ào ạt xông lên tấn công vỗ mặt tiền duyên, thọc sâu – dùi xuyên hông, xẻ sườn phòng tuyến địch, vu hồi chặn đường chi viện/tháo chạy của chúng. Thê đội 1 tổn thất nặng thì thê đội 2 tràn lên như thác lũ, chúng tôi như dòng thép nung chảy tưới vào kẻ thù.

Tiếng chính trị viên sang sảng: “Đánh cho chúng biết thế nào là khí phách Việt Nam!”.
Chưa đầy 3 giờ, 2.000 tên đồ tể khát máu Polpot bị đẩy xuống địa ngục. Trận đánh đó ko hề có tù binh! Gần 1/3 trung đoàn tôi hy sinh trong trận đánh mở màn, có nghĩa hơn 800 chàng trai ưu tú của nước Việt nằm xuống ở tuổi đôi mươi…”

(Trích “Giấc mơ cao cả” – CCB Lê Văn Lực).

CUỘC CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC CỦA TỔ QUỐC – 40 năm nhìn lại (1979 – 2019)

Trong hình ảnh có thể có: 1 người

Tròn 40 năm trôi qua, kể từ ngày bắt đầu cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc (17-02-1979 – 17-02-2019). Nhân sự kiện lịch sử này, ngày 15-02, tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Hội thảo quốc gia “Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc – 40 năm nhìn lại (1979 – 2019)”. TCCSĐT giới thiệu bài phát biểu đề dẫn của PGS, TS. Trần Đức Cường, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tại Hội thảo.

Ngày 30-4-1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi. Đất nước thu về một mối.

Để giành được độc lập – tự do và thống nhất cho Tổ quốc, nhân dân Việt Nam phải trải qua một cuộc chiến đấu lâu dài gần 30 năm kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, và sau đó lại tiến hành các cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ chống thực dân Pháp (1945 – 1954) và chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954 – 1975).

Đất nước giành được độc lập và thống nhất nhưng thân mình đầy thương tích bởi hậu quả chiến tranh: hàng triệu người chết, bị thương và chịu ảnh hưởng lâu dài của các di chứng chiến tranh, hàng ngàn thành phố, làng mạc bị tàn phá, nhiều cầu cống, đường sá và công trình công cộng bị phá hủy… Người dân Việt Nam – trong đó có hàng chục vạn người lính đã trải qua nhiều năm tháng chiến đấu quyết liệt chống kẻ thù xâm lược, không có nguyện vọng nào hơn là xếp vũ khí lại, bắt tay xây dựng cuộc sống mới từ trong đổ nát của chiến tranh, để khôi phục đất nước hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Nhưng, trên một đất nước đã trải qua nhiều chiến tranh và mất mát này, cuộc sống thanh bình như ước vọng của người dân đã không trọn vẹn. Và máu lại đổ, thành phố, làng mạc lại bị bom đạn thù cày nát. Ngay sau tháng 4-1975 không lâu, nhân dân Việt Nam đã phải đối đầu với cuộc tấn công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Tây Nam do quân đội Camphuchia Dân chủ tiến hành với sự hỗ trợ về nhiều mặt của các thế lực bên ngoài. Và nghiêm trọng hơn, cách đây đúng 40 năm, rạng sáng ngày 17-02-1979, hơn 60 vạn quân Trung Quốc với 9 quân đoàn chủ lực và 32 sư đoàn bộ binh độc lập, 6 trung đoàn với 550 xe tăng, 4 sư đoàn và trung đoàn pháo binh, phòng không với 2.559 khẩu pháo trong đó có nhiều dàn phóng hỏa tiễn bất ngờ vượt qua biên giới kéo dài 1.400km tấn công 6 tỉnh của Việt Nam gồm Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Tuyên (Hà Giang, Tuyên Quang), Hoàng Liên Sơn (Lào Cai, Yên Bái), Lai Châu… Quân Trung Quốc đã vào sâu trong đất Lạng Sơn, Lai Châu 10km – 15km, vào sâu trong đất Cao Bằng 40km – 50km.

Quân dân Việt Nam, trước hết là dân quân, du kích và bộ đội địa phương ở 6 tỉnh biên giới và tiếp đó là quân chủ lực được tăng cường đã kiên cường chiến đấu bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc, loại khỏi vòng chiến đấu 62.500 quân xâm lược, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn, 18 tiểu đoàn, bắn cháy và phá hủy 550 xe quân sự trong đó có 280 xe tăng, xe bọc thép, phá hỏng 115 khẩu pháo và súng cối hạng nặng, thu nhiều vũ khí, bắt sống nhiều sĩ quan và binh lính của đội quân xâm lược.

Cuộc tấn công xâm lược Việt Nam của Trung Quốc thoạt đầu đẩy Việt Nam vào thế “lưỡng đầu thọ địch” và phải trải qua một thử thách vô cùng khó khăn do bị bao vây cấm vận của Mỹ và các nước phương Tây có thể so sánh với thế “ngàn cân treo sợi tóc” của đất nước khi mới giành được độc lập năm 1945 – 1946. Cuộc tiến công xâm lược Việt Nam của quân đội Trung Quốc cũng làm cho thế giới sửng sốt. Từ chỗ là đồng minh trong “chiến tranh Lạnh”, nhà cầm quyền Trung Quốc đã coi Việt Nam là kẻ thù… Những người bình thường trên thế giới không ai nghĩ rằng, một dân tộc vừa trải qua 30 năm chiến tranh với thương tích đầy mình và có biết bao nhiêu công việc phải làm để xây dựng lại đất nước lại đi khiêu khích rồi xâm lược một nước khác – lại là nước lớn hơn, thậm chí là nước đã từng là đồng minh trong hai cuộc kháng chiến trước đó, như một số người Trung Quốc cho đến nay vẫn nói rằng cuộc chiến tranh chống Việt Nam của họ chỉ là một “cuộc phản công tự vệ”.

Thực hiện cuộc tiến công này, những người lãnh đạo Trung Quốc bất chấp pháp lý và đạo lý.

Cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc chống Việt Nam – một quốc gia độc lập, có chủ quyền – đã bị nhân dân thế giới phản đối. Chính phủ nhiều nước như Liên Xô, Cộng hòa Dân chủ Đức, Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, Hội đồng nhân dân cách mạng Campuchia, nhiều tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể quần chúng ở Liên Xô, Hungary, Tiệp Khắc, Ấn Độ, Nhật Bản, Thụy Điển, Pháp, Mỹ, Phần Lan, Anh, Ôxtrâylia, Etiôpi… tổ chức biểu tình, ra Tuyên bố với khẩu hiệu “Không được đụng đến Việt Nam”, đòi “nhà cầm quyền Trung Quốc rút ngay quân đội ra khỏi lãnh thổ Việt Nam”.

40 năm trôi qua, thế giới có nhiều biến đổi. Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được bình thường hóa và đang trong quá trình phát triển trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, dù còn có những trở ngại cần vượt qua…

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức cuộc Hội thảo khoa học quốc gia này, với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạt động chính trị, xã hội trong cả nước không phải để khoét sâu mối hận thù mà để nhắc lại một sự thật lịch sử, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa của Việt Nam trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc, bắt đầu từ ngày 17-02-1979 và kéo dài đến tận tháng 9-1989, vì lúc đó quân Trung Quốc mới lần lượt rút khỏi các vị trí chiếm đóng còn lại trên lãnh thổ Việt Nam. Cuộc hội thảo nhằm tôn vinh những đồng bào, chiến sĩ từng chiến đấu, hy sinh bảo vệ từng tấc đất biên cương của Tổ quốc, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc và lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân ta, đặc biệt là của tuổi trẻ đối với các thế hệ cha anh đã không tiếc tuổi xuân và xương máu để bảo vệ nền độc lập, tự do, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

Cuộc hội thảo nhằm rút ra những bài học lịch sử cho cả thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau, luôn phải tăng cường đoàn kết, xây dựng đất nước giàu mạnh đủ sức đối phó với mọi tình huống trong một thế giới tiềm ẩn nhiều nguy cơ, bất trắc ngày nay. Xin nhắc lại lời của G. Phu xích – nhà văn Tiệp Khắc viết năm 1943 trong tác phẩm Viết dưới giá treo cổ: “Hỡi những con người mà ta hằng yêu thương, hãy cảnh giác”. Cảnh giác với mọi mưu toan nhằm phá hoại cuộc sống bình yên của nhân dân, cản trở sự phát triển của Tổ quốc muôn vàn yêu quý của chúng ta.

Cuộc hội thảo còn nhằm góp phần khẳng định chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc, gác lại quá khứ đau thương, xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng và cùng có lợi giữa hai nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; Nêu rõ nỗ lực của Đảng và Nhà nước cùng nguyện vọng của nhân dân trong việc gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định trên Biển Đông, trong khu vực và trên thế giới; Biểu dương và cổ vũ những việc làm góp phần gìn giữ và tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc, đồng thời phê phán những biểu hiện sai trái, thù địch, xuyên tạc, vu cáo, lợi dụng sự kiện này để kích động, chống phá Đảng và Nhà nước ta, chia rẽ mối quan hệ hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc./.

PGS, TS. Trần Đức Cường
Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

nguồn: www.tapchicongsan. org.vn

Chương trình đặc biệt ‘Muôn vàn tình thương yêu’

Thứ Tư, 21/08/2019 19:17 PM GMT+7

(VTC News) – Chương trình chính luận – nghệ thuật “Muôn vàn tình thương yêu” diễn ra tại 3 điểm cầu ở Hà Nội, Nghệ An và TP.HCM.

Video: Xem trực tiếp chương trình chính luận nghệ thuật “Muôn vàn tình thương yêu”

Đã 50 năm Bác Hồ kính yêu của chúng ta đi xa. Vĩ đại mà khiêm nhường, minh triết mà giản dị, trong từng câu chữ Người viết, từng hành động Người làm đều chứa đựng những bài học lớn lao, để mỗi một con dân đất Việt đều thấy “Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn”.

Ngày hôm nay, chúng ta nhớ Bác là nhớ về tình thương yêu bao la của Người, đồng thời cũng không quên những bài học mà Người đã để lại cho hậu thế trong Bản Di chúc bất hủ và thiêng liêng.

Chúng ta nguyện phấn đấu thực hiện di nguyện của Bác; đoàn kết, đồng lòng, phát huy trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam, xây dựng đất nước hùng cường, giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; để hai tiếng Việt Nam – Hồ Chí Minh sẽ luôn vang lên kiêu hãnh, tự hào trên thế giới. 

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước lên tặng hoa các nghệ sĩ tham gia chương trình tại điểm cầu Hà Nội:

Ông Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư

Ông Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương

Ông Vương Đình Huệ, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam

Ông Phan Đình Trạc, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Ban Nội chính Trung ương

Ông Nguyễn Xuân Thắng, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Ông Uông Chu Lưu, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam

Bà Đặng Thị Ngọc Thịnh, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam

Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 1
 Lãnh đạo Đảng, Nhà nước lên tặng hoa các nghệ sĩ. (Ảnh: Vũ Toàn/VOV)
Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 2
 Đại diện Lãnh đạo tỉnh Nghệ An và các đơn vị chúc mừng thành công của đêm diễn tại điểm cầu Kim Liên – Nam Đàn. 
Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 3
 Tại bến Nhà Rồng, lãnh đạo TP.HCM và Đài Tiếng nói Việt Nam lên chúc mừng các nghệ sĩ đóng góp vào sự thành công của Chương trình.
Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 4
 Ca sĩ Vũ Thắng Lợi thể hiện ca khúc “50 năm theo lời Bác dặn”. Nhạc: Nhạc sĩ Đức Trịnh; Lời thơ: Nguyễn Thế Kỷ. (Ảnh: Vũ Toàn/VOV)
Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 5
 NSƯT Doãn Nguyên chỉ huy Hợp xướng Đài TNVN, Hợp xướng Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, Dàn nhạc Đài TNVN cùng Vũ đoàn Phương Việt. (Ảnh: Vũ Toàn/VOV)

Chương trình chính luận – nghệ thuật Muôn vàn tình thương yêu thể hiện tình cảm kính yêu, lòng biết ơn của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài với công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Xuyên suốt chương trình là những hồi ức, những câu chuyện kể, những tác phẩm âm nhạc, hoạt cảnh sân khấu khắc họa hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh hết mực yêu nước, thương dân, yêu thương con người. Người chăm lo xây dựng Đảng, tình đồng chí, sự đoàn kết, gương mẫu trong Đảng. Người yêu cầu “mỗi cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư… phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Vở kịch Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau với nội dung cao đẹp ấy đã làm xúc động biết bao khán giả 

Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 6
 Các nghệ sĩ diễn vỡ kịch “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” trên sân khấu tại điểm cầu Nhà hát Đài Tiếng nói Việt Nam. (Ảnh: Vũ Toàn)

Trong Di chúc của Người, nội dung trước nhất được đề cập là nói về Đảng, thể hiện mối quan tâm lớn nhất, sâu sắc nhất của Người là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng vẫn đang được tiếp tục với tinh thần quyết liệt, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Xem vở kịch Nỗi đau, khán giả nhớ về Bác và thấm thía nỗi trăn trở, lo lắng của Người trước khi đi xa rằng: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 7
 Các đại biểu và người dân ở TP.HCM theo dõi vở kịch qua cầu truyền hình trực tiếp tại điểm cầu bến Nhà Rồng. (Ảnh: Nguyễn Quang)

Vở kịch Nỗi đau gây xúc động khi nói về nỗi âu lo, canh cánh của Bác trước việc cán bộ, Đảng viên tha hóa biến chất. Trong câu chuyện này, Chủ tịch Hồ Chí Minh phải quyết định bác giảm án, y án tử hình một phần tử tham nhũng được xét xử đầu tiên trong lịch sử Nhà nước mới, đó là Đại tá quân nhu Trần Dụ Châu.

Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 8
 
Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 9
 
Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 10
 
Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 11
 Trên sân khấu ở điểm cầu Nghệ An, ca sĩ Quế Thương cùng tốp múa thể hiện ca khúc “Trông cây lại nhớ đến Người” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận. (Ảnh: Ngọc Anh)

Vở kịch Đêm giao thừa tại điểm cầu Hà Nội được xây dựng dưới dạng hồi tưởng của bác Vũ Kỳ, thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong một lần Bác đến chúc Tết gia đình chị gánh nước thuê vào đêm 30 Tết.

Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 12
 
Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 13
 
Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 14
 (Ảnh: Vũ Toàn/VOV)

Tiếp sau hoạt cảnh Sen tỏa là phóng sự Không có gì quý hơn độc lập tự do. Phóng sự đã nhấn mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam trải qua chặng đường đấu tranh đầy gian khổ.

Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 15
 Tiết mục “Từ Làng Sen” tại điểm cầu TP.HCM. 
Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 16
 Cùng thời điểm, ca sĩ Thành Lê thể hiện ca khúc của Nhạc sĩ Phạm Tuyên tại điểm cầu Nghệ An.

Sau phóng sự, chương trình chuyển sang đầu cầu Nghệ An. Tại đây, các diễn viên Đoàn ca múa nhạc dân tộc Nghệ An và Vũ đoàn Phương Việt thể hiện hoạt cảnh Sen tỏa. Hoạt cảnh làm nổi bật lên nét văn hóa của xứ Nghệ – nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra.

Phóng sự Tình cảnh nông dân Việt Nam đầu thế kỷ XX được phát sóng. Nội dung phóng sự đề cập tới cuộc sống khốn khổ của người dân Việt Nam dưới chế độ nửa thực dân, nửa phong kiến. Nhiều phong trào khởi nghĩa nổ ra nhưng đều bị dập tắt.

Video phóng sự Tình cảnh nông dân Việt Nam đầu thế kỷ XX:

Mở đầu chương trình chính luận – nghệ thuật “Muôn vàn tình thương yêu”, dàn hợp xướng thể hiện bài hát Lãnh tụ ca – một sáng tác của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, lời Nguyễn Đình Thi, Lưu Hữu Phước.

Chương trình “Muôn vàn tình thương yêu” bắt đầu.

Đến dự cầu truyền hình – phát thanh trực tiếp tại 3 điểm cầu có các lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đại diện bộ  ban ngành Trung ương và địa phương:

Tại điểm cầu Hà Nội:

Ông Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư.

Ông Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương

Ông Vương Đình Huệ, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam

Ông Phan Đình Trạc, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Ban Nội chính Trung ương

Ông Nguyễn Xuân Thắng, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Ông Uông Chu Lưu, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam

Bà Đặng Thị Ngọc Thịnh, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam

Chương trình có sự tham dự của các Ủy viên Trung ương Đảng:

Ông Hầu A Lềnh, Phó Chủ tịch – Phó chủ tịch-Tổng Thư ký UBTƯ MTTQ Việt Nam

Ông Đào Việt Trung, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước

Ông Nguyễn Ngọc Thiện, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch

Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam

Ông Sơn Minh Thắng, Bí thư Đảng ủy Khối các Cơ quan Trung ương

Ông Điểu K’Ré, Phó Trưởng Ban thường trực Ban Dân vận Trung ương

Bà Nguyễn Thị Thu Hà, Chủ tịch Trung ương Hội LHPN Việt Nam

Ông Nguyễn Thế Kỷ, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam

Tham dự chương trình còn có sự có mặt của lãnh đạo các Ban bộ ngành Trung ương, Thủ đô Hà Nội, tỉnh thái Nguyên, tỉnh Tuyên Quang

Chương trình còn vinh dự được đón tiếp các vị khách quốc tế, Đại sứ Cuba tại Việt Nam Lianys Torres Rivera và đại diện một số Đại sứ quán các nước tại Việt Nam. 

Tại điểm cầu TPHCM, dự Chương trình có:

Ông Trần Lưu Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực thành ủy TP.HCM

Ông Nguyễn Thành Phong, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TPHCM.

Bà Tô Thị Bích Châu, Phó Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TP.HCM

Thiếu tướng Nguyễn Văn Nam, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Quân khu 7

Chương trình có sự hiện diện của Lãnh đạo Đài Tiếng nói Việt Nam, Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Thành ủy, Hội đồng nhân dân, các sở ban, ngành, đoàn thể TP.HCM cùng đông đảo các tầng lớp nhân dân TP. HCM. 

Dự Chương trình tại điểm cầu Di tích Kim Liên có:

Ông Nguyễn Đắc Vinh, Ủy viên BCH Trung ương Đảng – Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An, Trưởng đoàn Quốc hội tỉnh Nghệ An

Ông Nguyễn Xuân Sơn, Phó Bí thư Thường trực tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Nghệ An

Ông Thái Thanh Quý, Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An

Thiếu tướng Trần Võ Dũng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 4

Đặc biệt, chương trình được đón đoàn Ủy ban bảo vệ Cách mạng Cuba, do ông Carlos Rafael Miranda Martinez, Ủy viên BCH Trung ương Đảng cộng sản Cuba, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Cách mạng Cuba dẫn đầu.

Tham dự chương trình có đại diện lãnh đạo Thường vụ Tỉnh ủy, HĐND, UBND, đại diện các ban ngành, đoàn thể, công chúng nhân dân huyện Nam Đàn nói riêng và tỉnh Nghệ An nói chung.

Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 17
 Lãnh đạo Đảng và Nhà nước tại đầu cầu Hà Nội. 
Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 18
 
Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 19
 

Hồ Chí Minh – người con xứ Nghệ sinh ra trong một ngày tháng 5 nơi vùng quê nghèo. Người sớm tiếp thu tinh thần yêu nước, thương dân. Người đã cùng gia đình từ quê vào kinh đô Huế, rồi vào Phan Thiết, đến cảng Sài Gòn. Năm 1911, Người ra đi tìm đường cứu nước. Hành trình của Người từ đó gắn liền với lịch sử dân tộc, có đích đến là độc lập, tự do cho dân tộc, là hạnh phúc cho nhân dân.

Suốt cả cuộc đời vì nước, vì dân. Người đã để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn Đảng, toàn dân ta và cả bạn bè quốc tế.

Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 20
 Tại khu Tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Di tích bến Nhà Rồng, lãnh đạo TP.HCM và Đài Tiếng nói Việt Nam cùng các đại biểu dâng hương tưởng nhớ Bác Hồ.
Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 21
Đến dự Chương trình “Muôn vàn tình thương yêu” tại điểm cầu Hà Nội có Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng. (Ảnh: Vũ Toàn)
Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 22
 Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cũng đã có mặt tại Nhà hát Đài Tiếng nói Việt Nam. (Ảnh: Vũ Toàn)
Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 23
 Lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan Phòng truyền thống Đài Tiếng nói Việt Nam. (Ảnh: Vũ Toàn/VOV)
Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 24
 Tại Nhà hát Đài Tiếng nói Việt Nam (58 – Quán Sứ – Hà Nội), Tổng Giám đốc Nguyễn Thế Kỷ đón Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh đến dự chương trình. (Ảnh:Vũ Toàn/VOV) 
Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 25
 Ông Sơn Minh Thắng- Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương – cũng có mặt từ rất sớm tại điểm cầu Hà Nội. (Ảnh: Vũ Toàn)

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Bác Hồ đi xa, 50 năm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác, Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) phối hợp cùng tỉnh Nghệ An và TP.HCM tổ chức Cầu phát thanh, truyền hình mang tên Muôn vàn tình thương yêu.

PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ – Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam chia sẻ: Muôn vàn tình thương yêu là chương trình văn hóa – nghệ thuật đặc sắc, tôn vinh giá trị trường tồn Bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và chỉnh đốn Đảng, củng cố khối Đại đoàn kết dân tộc, thực hiện mục tiêu độc lập gắn liền với Chủ nghĩa xã hội.

Chương trình đang diễn ra tại ba điểm cầu: Nhà hát Đài Tiếng nói Việt Nam, Khu Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An và Bến Nhà Rồng, TP.HCM. 

Muôn vàn tình thương yêu sẽ được truyền hình trực tiếp vào lúc 20h15 phút tối nay (21/8) trên các kênh: VTC1, VTC3, VTC10, Kênh Truyền hình Vietnam Journey, Đài Truyền hình TP.HCM (HTV), Đài Phát thanh – Truyền hình Nghệ An (NTV) và nhiều Đài phát thanh – Truyền hình trong cả nước.

Chương trình được phát thanh trực tiếp trên các kênh sóng: VOV1, VOV2, VOV3, VOV4; được phát trực tuyến trên các báo điện tử: VOV.VN, VTC News, trang điện tử VOVWORLD.VN và ứng dụng VOV Media.

Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 26
  Điểm cầu Nhà hát Đài Tiếng nói Việt Nam (Trung tâm Phát thanh Quốc gia – 58 Quán Sứ – Hà Nội).
Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 27
  Điểm cầu Khu Di tích lịch sử Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Chuong trinh dac biet  'Muon van tinh thuong yeu' hinh anh 28
Sân khấu chính tại bến Nhà Rồng. Hiện đông đảo khách mời, người dân đã đến để chờ đón thưởng thức chương trình chính luận – nghệ thuật đặc biệt “Muôn vàn tình thương yêu”.
Hoàn tất khâu cuối cùng của chương trình 'Muôn vàn tình thương yêu'

Hoàn tất khâu cuối cùng của chương trình ‘Muôn vàn tình thương yêu’
Tại điểm cầu Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Kim Liên (Nghệ An), những khâu chuẩn bị cuối cùng cơ bản hoàn tất, sẵn sàng cho buổi tổng duyệt tối 20/8.

Hình ảnh đẹp đêm tổng duyệt chương trình chính luận - nghệ thuật 'Muôn vàn tình thương yêu'

Hình ảnh đẹp đêm tổng duyệt chương trình chính luận – nghệ thuật ‘Muôn vàn tình thương yêu’
Tối 20/8, buổi tổng duyệt chương trình chính luận – nghệ thuật “Muôn vàn tình thương yêu” diễn ra tại ba điểm cầu Hà Nội – Nghệ An – TP.HCM.

MAI MAI

“Đánh cho chúng biết như thế nào là khí phách Việt Nam”

“Năm 1978, bầu trời sáng lóa, chớp giật bởi hàng loạt tiếng nổ rền vang, mặt đất rung chuyển dữ dội bởi hàng vạn quả cối 82, 60 & pháo 105, 130mm cùng hàng ngàn khẩu AK, B40, B41, M79, thủ pháo, lựu đạn… Đồn biên phòng Hoa Lư (đồn 717) nằm trên Quốc Lộ 13 giáp ranh Bình Phước – Krochie bị tấn công.

Gần 2.000 tên lính Polpot thiện chiến dồn dập đột kích vào đồn biên phòng bé nhỏ heo hút chỉ có 90 tay súng trấn giữ. Trận đánh dai dẳng từ 4 giờ sáng đến tối mịt, cách chục cây số mà vẫn nghe văng vẳng tiếng hô xung phong của bọn Polpot, tiếng súng chống cự yếu ớt dần, thưa dần cho tới khuya hôm sau.

Trên đoạn biên giới Lộc Ninh khi đó có các trung đoàn 88, 205, 174, Q16.. cùng 3 đơn vị pháo binh & 1 lữ đoàn tăng thiết giáp. Hơn 20.000 người lính không ăn không ngủ suốt 2 ngày đó. Tất cả nai nịt gọn gàng, súng ống lăm lăm trong tay, mắt quắc lên rực lửa. Tất cả các nòng pháo của pháo binh, xe tăng đều lấy sẵn tọa độ bắn, các pháo thủ ôm đạn đứng chờ mệnh lệnh. Tất cả chỉ chờ đợi mệnh lệnh xuất kích, các máy bộ đàm đều mở kênh liên lạc với đồn 717, từ trong đó vang lên tiếng gọi thống thiết của vị đồn trưởng:

“Các đồng chí hãy tập trung hỏa lực pháo bắn vào mục tiêu là chỉ huy sở của đồn. Chúng tôi sắp hết đạn, địch đang tràn vào sân đồn, anh em đang đánh giáp lá cà, tình thế nguy ngập rồi, làm ơn bắn đi!…”

– Mười phút sau, cũng tiếng nói ấy:

“Nhờ các đồng chí báo cáo với Đảng, chúng tôi đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng. Hãy trả thù cho chúng tôi. Vĩnh biệt các đồng chí!”.Tất cả chúng tôi mắt nhòe lệ, những người lính già nghiến răng trèo trẹo, quai hàm bạnh ra, mắt trừng trừng như muốn nổ con ngươi. Nhưng là người lính, chúng tôi phải phục tùng mệnh lệnh cấp trên. Nguyên nhân vì sao mà Tư lệnh Quân khu không cho động binh có lẽ chỉ có những người có hiểu biết và có trách nhiệm trước Tổ Quốc cao hơn chúng tôi mới hiểu và tin rằng họ cũng đau lòng như chúng tôi. Từ hôm đó những người lính trẻ không còn bông đùa nghịch ngợm nữa, tất cả như già đi dăm tuổi. Chúng tôi ngồi lặng lẽ lau súng, chuốt lại lưỡi lê, thủ thỉ trò chuyện với những viên đạn. Không ai bảo ai, trên vành mũ cối xuất hiện những khẩu hiệu: “Ôi Tổ Quốc mà ta yêu quý nhất, Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi, Việt Nam ơi!” Hoặc: “Hãy yên nghỉ, hỡi những người anh hùng. Chúng tôi sẽ trả thù!”

Ngày tấn công được mòn mỏi trông chờ rồi cũng tới. Chúng tôi ào ạt xông lên tấn công vỗ mặt tiền duyên, thọc sâu – dùi xuyên hông, xẻ sườn phòng tuyến địch, vu hồi chặn đường chi viện/tháo chạy của chúng. Thê đội 1 tổn thất nặng thì thê đội 2 tràn lên như thác lũ, chúng tôi như dòng thép nung chảy tưới vào kẻ thù.

Tiếng chính trị viên sang sảng: Đánh cho chúng biết thế nào là khí phách Việt Nam!”.

“Quân đội nhà phật” giải phóng Phnom Penh

Chưa đầy 3 giờ, 2.000 tên đồ tể khát máu Polpot bị đẩy xuống địa ngục. Trận đánh đó không hề có tù binh! Gần 1/3 trung đoàn tôi hy sinh trong trận đánh mở màn, có nghĩa hơn 800 chàng trai ưu tú của nước Việt nằm xuống ở tuổi đôi mươi…”

(Trích “Giấc mơ cao cả” – CCB Lê Văn Lực)

Lịch sử, ý nghĩa của ngày thương binh liệt sĩ 27/7

Ngày thương binh liệt sĩ 27/7 là ngày Lễ kỉ niệm được tổ chức hàng năm nhằm tưởng niệm những người thương binh liệt sĩ đã hy sinh, mất mát qua những cuộc chiến. Quɑ đó tuyên truyền, giáo dục thế hệ trẻ về lòng Ƅiết ơn đối với những người có công với Ϲách mạng từ trước đến nay.

Lịch sử ngày thương binh liệt sỹ 27/7

Ѕau Cách mạng Tháng Tám 1945, nước Việt Ɲam dân chủ cộng hòa ra đời. Tuy nhiên, do chính quуền cách mạng còn non trẻ nên thực dân Ƥháp đã âm mưu trở lại xâm lược nước tɑ.

Ngày thương binh liệt sĩ 27/7 hàng năm là ngày đồng bảo ta tưởng niệm, nhớ ơn các chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ Quốc. (Ảnh: Internet).

Ngày thương binh liệt sĩ 27/7 hàng năm là ngày đồng bảo ta tưởng niệm, nhớ ơn các chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ Quốc. (Ảnh: Internet).

Ƭhực dân Pháp đã vào thay thế Tưởng Giới Ƭhạch ở Bắc Bộ và âm mưu xâm lược nước tɑ một lần nữa. Kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng, giữ gìn nền độc lậρ cho đất nước, toàn quân và dân ta đã chiến đấu ɑnh dũng ở những nơi có thực dân Pháρ chiếm đóng. Nhiều chiến sĩ, đồng Ƅào ta đã bị thương và vĩnh viễn nằm lại chiến trường.

Ɲỗi đau bao trùm lên toàn dân tộc, nhiều giɑ đình mất đi cả chồng và các con. Ɲhiều người vợ trẻ chỉ hưởng hạnh phúc vỏn vẹn trong một ngàу. Để góp phần xoa dịu nỗi đau mất mát củɑ gia đình các chiến sĩ, đồng bào, Ϲhính quyền Việt Nam đã xú tiến vận động thành lậρ một tổ chức, lấy tên gọi là Hội giúp binh sĩ tử nạn.

Đầu năm 1946, Hội giúρ binh sĩ tử nạn (sau đổi tên là Hội giúρ binh sĩ bị thương) được thành lập ở Ƭhuận Hóa, Bình Trị Thiên, ở Hà Nội và nhiều nơi khác. Ϲhủ tịch Hồ Chí Minh đã được mời làm hội trưởng dɑnh dự của Hội giúp binh sĩ tử nạn.

Ϲhiều ngày 28/5/1946, Hội “Giúp binh sĩ bị nạn” tổ chức một cuộc nói chuуện quan trọng tại Nhà hát thành phố Hà Ɲội và Hồ Chủ Tịch đã tới dự.

Ϲhiều ngày 11/7/1946, tại Nhà hát nàу đã có một buổi quyên góp quần áo, giàу mũ cho chiến sĩ ngoài mặt trận, mở đầu cuộc vận động “mùa đông chiến sĩ”. Ƭại đây, Bác Hồ đã cởi chiếc áo rét đɑng mặc để tặng binh sĩ.

Khi kháng chiến toàn quốc Ƅùng nổ vào ngày 19/12/1946, số người Ƅị thương và hy sinh tăng lên. Đời sống củɑ chiến sỹ và đồng bào ta gặp muôn vàn khó khăn.

Đảng và Ɲhà nước ta đã quyết định nhiều chính sách quɑn trọng liên quan đến công tác thương Ƅinh liệt sĩ nhằm đảm bảo đời sống vật chất cũng như tinh thần củɑ các gia đình chính sách trong thời kỳ đầu củɑ cuộc kháng chiến.

Hội nghị đã nhất trí lấy ngày 27/7/1947 làm ngày Thương binh toàn quốc.

Hội nghị đã nhất trí lấy ngày 27/7/1947 làm ngày Thương binh toàn quốc.

Ƭháng 6/1947, đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Hội Ƥhụ nữ cứu quốc, Cục Chính trị quân đội quốc giɑ Việt Nam, Nha thông tin tuyên truуền và một số địa phương đã họp tại Đại Ƭừ- Thái Nguyên.

Nội dung cuộc họρ là thực hiện chỉ thị của Hồ Chủ Tịch chọn ngàу kỷ niệm Thương binh Liệt sĩ và bảo vệ công tác thương binh liệt sĩ.

Ѕau khi xem xét, Hội nghị đã nhất trí lấу ngày 27/7/1947 làm ngày Thương binh toàn quốc. Đâу được coi là cuộc mít tinh quan trọng với 2000 người thɑm gia tại Thái Nguyên. Tại đây, BTϹ đã trịnh trọng đọc thư của Chủ tịch Hồ Ϲhí Minh.

Người đã gửi tặng một chiếc áo lụɑ, một tháng lương và một bữa ăn củɑ nhân viên trong Phủ Chủ tịch.

Hàng năm vào dịρ này, Người cũng đều có thư và quà để gửi đến các ɑnh em thương binh và gia đình liệt sỹ.

Ѕau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 7//1954, Đảng và Ɲhà nước ta càng quan tâm và giải quуết những vấn đề chiến sỹ, gia đình liệt sỹ cũng như công tác thương Ƅinh.Từ năm 1955, ngày 27/7 ngày Thương Ƅinh được đổi thành ngày Thương binh – Liệt sỹ.

Ý nghĩa ngày thương binh liệt sỹ 27/7

Ý nghĩa chính trị

Ɲgày 27/2 hàng năm phản ánh sự đánh giá củɑ Đảng, Nhà nước, nhân dân với những giɑ đình đã có người hy sinh vì Tổ Quốc.

Quɑ đó nhằm phát huy tinh thần yêu nước, уêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần cách mạng và niềm tin vào sự nghiệρ cách mạng mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựɑ chọn, lãnh đạo.

Ngày thương binh liệt sĩ với mong muốn tăng cường ý thức, trách nhiệm, lòng biết ơn.

Ngày thương binh liệt sĩ với mong muốn tăng cường ý thức, trách nhiệm, lòng biết ơn.

Ƭhông qua đó nhằm động viên và phát huу truyền thống cách mạng trong công cuộc đổi mới đất nước.

Ϲông tác Thương binh liệt sĩ và chính sách đối với những người có công với cách mạng chính là thể hiện tính ưu việt và Ƅản chất của Đảng và Nhà nước ta.

Ƭạo điều kiện củng cố niềm tin vào nhân dân vào sự lãnh đạo củɑ Đảng cũng như sự quản lý của nhà nước.

Góρ phần tăng thêm tiềm lực cách mạng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và cơ sở để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩɑ, góp phần chống lại thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm chiɑ rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, bôi nhọ quá khứ hào hùng củɑ dân tộc.

Ý nghĩa nhân văn

Ƭăng cường ý thức, trách nhiệm, lòng Ƅiết ơn, khơi dậy niềm tự hào dân tộc. Ƥhát huy đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, đền ơn đáρ nghĩa của dân tộc. Thể hiện truyền thống nhân văn sâu sắc củɑ dân tộc.

Phát huy tinh thần “gia đình cách mạng gương mẫu” góρ phần giữ vững ổn định chính trị, ρhát triển kinh tế.