Category Archives: Việt Nam

NHỮNG BÍ MẬT VỀ TRẬN THẤT THỦ BAN MÊ THUỘ

NHỮNG BÍ MẬT VỀ TRẬN THẤT THỦ BAN MÊ THUỘT


Tác giả: Lữ Giang

Trong thời gian bị giam giữ trong các trại cải tạo của CS, chúng tôi đã có dịp tiếp xúc với hàng trăm người có trách nhiệm hay liên quan đến những biến cố đưa đến sự sụp đổ toàn bộ miền Nam VN, trong đó trận Ban Mê Thuột là trận quan trọng nhất. Vì được gặp nhiều người cùng một lúc nên chúng tôi đã có dịp kiểm chứng những điều mà mỗi người đã kể. Đối với những người mà chúng tôi không ở cùng chung trại, sau khi về Saigon hay qua Mỹ, chúng tôi đã tìm cách để tiếp xúc và hỏi thêm, như trường hợp của Đại tá Nguyễn Văn Đồng, Tư lệnh Thiết đoàn 2 của Quân khu 2. Ông chỉ huy đoàn quân tháo chạy trên liên tỉnh lộ 7 và đã bị bắt gần Củng Sơn (Phú Yên). Chúng tôi cũng đã có dịp tham khảo nhiều sách báo của các tác giả miền Nam VN, của người Mỹ cũng như của Quân đội VC viết liên quan đến biến cố 30/4/75. So sánh những tài liệu thu thập được, chúng tôi đã khám phá ra nhiều sự kiện lịch sử cần được viết lại cho chính xác hơn.

Khi mới đến Hoa Kỳ vào năm 1990, chúng tôi đã viết ngay một bài nói về những bí ẩn đằng sau sự thất thủ Ban Mê Thuột, bài này đã gây ngạc nhiên và xúc động cho nhiều ngườị Nay những người liên hệ đến trận Ban Mê Thuột đã đến Hoa Kỳ. Có nhưng người đã đồng ý viết ra những biến cố mà họ đã tham dự hay chứng kiến như Đại tá Trịnh Tiếu, Trưởng phòng 2 Quân đoaný 2, Trung tá Ngô Văn Xuân, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 44 thuộc Sư đoàn 23… nhưng đa số đã thú nhận rằng họ phải bỏ bớt đi vì sợ đụng chạm. Có người chỉ kể lại chứ không chịu viết và cũng có người khi kể lại đã yêu cầu đừng nêu tên họ ra khi viết, cũng vì sợ đụng chạm. Sau khi tổng kết, chúng tôi xin ghi lại những bí ẩn liên quan đến sự thất thủ Ban Mê Thuột.

Sự thật có nhiều điều khác xa với những gì Văn Tiến Dũng đã viết trong cuốn “Đại Thắng Mùa Xuân” hay Phạm Huấn đã viết trong cuốn “Tướng Phú và Những Trận Đánh Từ Điện Biên Phủ 1954 Đến Ban Mê Thuột 1975”.
 
Biến cố 30/4/75 đã gây ra những ấn tượng kinh hoàng và đau xót trong lòng người Việt trong cũng như ngoài nước. Biến cố đó đã đưa cả dân tộc vào những ngày bi thảm nhất và để lại một vết thương đau đớn trong lịch sử. Mặc dầu đã 21 năm qua, ấn tượng đau xót và tủi nhục đó vẫn chưa phai mờ đi được.
Mọi người dều công nhận rằng sự thất thủ Ban Mê Thuột là biến cố khởi đầu đưa đến sự sụp đổ toàn bộ miền Nam VN. Tại sao Ban Mê Thuột đã bị thất thủ một cách mau chóng như vậy? Phải chăng đây là một cuộc tấn công quá bất ngờ của Cộng quân khiến QLVNVH không trở tay kịp? Phải chăng Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH đã thua đòn cân não của Hà Nội? Phải chăng khả năng chiến đấu của QLVNCH quá yếu kém, không đương đầu nổi với lực lượng của Cộng quân? Rất nhiều câu hỏi như thế đã được nhiều người đặt rạ Chúng tôi xin tuần tự trình bày từng chi tiết về diễn biến của trận Ban Mê Thuột để trả lời những câu hỏi đó. Note : Một bản sơ đồ phối trí quân của 2 bên trong trận Ban Mê Thuột ngày 10/3/1975 sẽ được scanned và saved in Pict filẹ Nếu bạn nào muốn có nó thì cho biết qua e-mail.


1. Phối trí của QLVNCH và Cộng quân

Ban Mê Thuột là một tỉnh nằm ở Cao nguyên Trung phần; vùng cao nguyên này gồm 4 tỉnh Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột và Quảng Đức. Tướng Phú phụ trách Quân đoàn 2 đã phối trí quân để phòng thủ Cao nguyên như sau : 5 Liên đoàn Biệt động quân được dùng để bảo vệ Kontum vì sợ Cộng quân sẽ mở một cuộc tấn công như “Mùa hè đỏ lửa” năm 1972. 3 tỉnh còn lại được giao cho Sư đoàn 23 bảo vệ, sư đoàn này được phối trí như sau : 2 Trung đoàn 44 và 45 được đưa về phòng thủ Pleikụ Trung đoàn 45 đóng ở căn cứ Gầm Ga, phía Bắc Quận Thuần Mẫn, gần đèo Tử sĩ, dọc theo Quốc lộ 14, giữa Ban Mê Thuột và Pleikụ Trung đoàn 53 giữ Ban Mê Thuột và Quảng Đức. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 đóng tại Ban Mê Thuột còn Bộ Tư lệnh Hành quân đóng tại căn cứ Hàm Rồng ở Pleikụ Về sau, Bộ Tổng Tham mưu tăng cường cho Quân đoàn 2 thêm 3 Liên đoàn 4, 6 và 7 Biệt động quân của trung ương nữạ Cộng quân có Sư đoàn 320 đóng ở Kontum, Sư đoàn F.10 hoạt động ở Pleiku, Sư đoàn 986 trú quân tại vùng Tam Biên và Trung đoàn biệt lập 25, một trung đoàn khá thiện chiến, luôn quấy phá ở 2 tỉnh Ban Mê Thuột và Quảng Đức.

Ban Mê Thuột là nơi đặt Bộ Tư lệnh của Sư đoàn 23 của QLVNCH. Nơi đây toàn rừng cao su, không có chướng ngại thiên nhiên để giúp phòng thủ như ở Kontum hay Pleiku nên rất dễ bị tấn công. Lực lượng phòng thủ ở đây lại rất yếụ Nghĩa quân và Địa phương quân phần lớn là người Thượng, không thiện chiến, thiếu tinh thần kỷ luật và được trang bị không đầy đủ. Tất cả chỉ trông chờ vào Trung đoàn 53, nhưng Trung đoàn này phải bao một vùng lãnh thổ quá lớn gồm 2 tỉnh nên khó bảo vệ nổị Do đó, không ai ngạc nhiên khi thấy Cộng quân chọn Ban Mê Thuột để tấn công. Mặt khác, nếu chiếm được Ban Mê Thuột, Cộng quân sẽ khai thông được con đường Đông Trường Sơ từ Pleiku tới Phước Long qua Quận Đức Lập của Ban Mê Thuột.


2. Địch điều quân


Đại tá Trịnh Tiếu, Trưởng phòng 2 của Quân đoàn 2 kể lại rằng nhờ hệ thống truyền tin điện tử, Quân đoàn 2 QLVNCH đã mở được hầu hết các khóa mật mã của Cộng quân đánh đị Nhờ vậy, Quân đoàn 2 đã khám phá ra Cộng quân chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột từ tháng 12/74. Để đánh Ban Mê Thuột, lúc đầu Cộng quân huy động 4 sư đoàn: Sư đoàn Sao Vàng ở Bình Định, Sư doàn F.10 ở Pleiku, Sư đoàn 320 ở Kontum, Sư đoàn 986 đang đóng ở vùng Tam Biên. Ngoài ra, Cộng quân còn xử dụng Trung đoàn biệt lập 25.


Trước hết, Cộng quân ra lệnh cho Sư đoàn 986 đang đóng ở vùng Tam Biên kéo về phía Tây Quận Thanh An ở phía Tây Pleiku để thay cho Sư đoàn F.10 tiến về phía Tây Nam Ban Mê Thuột.

Đại úy Trác Ngọc Anh, một sĩ quan không báo của Quân đoàn 2, đã nói với chúng tôi rằng vào cuối tháng 1/75, khi máy bay L.19 chở anh đang bay thám thính trên con đường từ vùng Tam Biên về Thanh An thì bất thần anh phát hiện ra một đoàn quân xa độ 100 chiếc đang chạy từ Tam Biên theo hướng Nam về phía Pleiụ. Một lúc sau khi nghe báo cáo, cơ quan quân báo của Hoa Kỳ đã nói vào máy cho biết đích danh đó là các xe chuyển quân của Sư đoàn 968 của Cộng quân. Quân đoàn 2 đã xin Bộ Tổng Tham mưu huy động các phi cơ Ạ37 của Sư đoàn 2 và Sư đoàn 6 Không quân đến oanh kích. Cuộc oanh kích kéo dài từ 9 giờ sáng đến quá trưa, nhưng vẫn còn thấy một số xe đang chạỵ Bộ Tổng Tham mưu phải điều động thêm Sư đoàn 1 Không quân ở Đà Nẵng vào trợ chiến. Cuộc oanh kích kéo dài đến 4 giờ chiều thì chấm dứt. Một máy bay C.47 của Bộ Tổng Tham mưu đã đến chụp hình và thấy khói bay ngụt trời, nhiều tiếng nổ từ dưới đất phát ra, vô số xe bị bắn cháy nằm rải rác trên đường. Sau chiến công này Trung úy Trác Ngọc Anh (hiện đang ở Hoa Kỳ) được vinh thăng Đại úỵ.


Bị thiệt hại nặng trong vụ oanh kích đó, Sư đoàn 968 không còn khả năng chiến đấu như lúc đầu nữạ Bộ chỉ huy Tây nguyên của Cộng quân đã điện về Hà Nội cầu cứụ Hà Nội liền ra lệnh rút gấp Sư đoàn 316 đang đóng ở vùng biên giới Lào – Việt ở phía Tây Nghệ Tĩnh đưa vào Cao nguyên Trung phần thay thế cho Sư đoàn 968. Sư đoàn 316 là một sư đoàn cơ động nhẹ, chỉ có 2 trung đoàn, nên khi đi qua Thừa Thiên đã được tăng cường thêm một trung đoàn của 1 sư đoàn Cộng quân đóng phía Tây đèo An Khê; sư đoàn này cắt quốc lộ 19 nối liền Bình Định và Pleiku để chận đường tiếp viện của Sư đoàn 2 Bộ binh VNCH và làm nghi binh.


Sư đoàn F.10, từ Pleiku tiến về phía Tây Ban Mê Thuột, vây Quận Đức Lập, cắt con đường (Quốc lộ) 14 nối liền Ban Mê Thuột với Đức Lập. Sư đoàn 320 từ Kontum di chuyển về phía Bắc Ban Mê Thuột, đóng cách Quốc lộ 14 về phía Tây 5km để chận Quốc lộ 14 từ Pleiku đến Ban Mê Thuột. 1 tiểu đoàn của sư đoàn này đã băng qua Quốc lộ 14, khúc cầu 210 (còn gọi là Ialeo) và tiến về phía Đông, đóng chốt trên đường nối liền tỉnh Phú Bổn với Quận Thuần Mẫn ở phía Đông Bắc Ban Mê Thuột.

Trung đoàn 25 Cộng quân tiến về phía Đông Ban Mê Thuột, chận Quốc lộ 21 nối liền tỉnh Khánh Hòa với Ban Mê Thuột, khúc đèo Chư Cúc, giữa Quận Khánh Dương của Khánh Hòa và Quận Phước An của Ban Mê Thuột. Tàn quân của Sư đoàn 986 (khoảng hơn 1 trung đoàn) tiến về phía Tây Pleiku, có nhiệm vụ gây rối để cầm chân 2 Trung đoàn của Sư đoàn 23 VNCH lại mặt trận Pleiku.

Sư đoàn cơ động nhẹ 316 mới từ Bắc vào sẽ làm mũi nhọn đánh vào thành phố Ban Mê Thuột để thăm dò. Sợ Sư đoàn 316 thiếu kinh nghiệm, không nắm vững địa hình địa vật, không hoàn thành nhiệm vụ, Hà Nội chỉ thị cho một tiểu đoàn của Trung đoàn 95-B hướng dẫn sư doàn nàỵ
Riêng Sư đoàn 2 Sao Vàng, Phòng 2 của Quân đoàn 2 VNCH không tìm thấy dấu vết ở đâu. Sau này, khi đọc cuốn “Sư đoàn 3 Sao Vàng” của VC, chúng tôi mới khám phá ra sư đoàn 2 Sao Vàng này đã bị tiêu diệt trong trận Kontum năm 1972, số còn lại đã tăng cường cho Sư đoàn 3 Sao Vàng ở Bình Định.

Qua các khóa mật mã mở được, Quân đoàn 2 cũng biết đích xác ngày giờ Tướng VC Văn Tiến Dũng sẽ từ Bắc vào Nam theo đường mòn HCM, xuống đường Đông Trường Sơn để vào Ban Mê Thuột. Ngày Văn Tiến Dũng đi qua phía Tây Kontum, Quân đoàn 2 đã cho thả một đại đội trinh sát xuống quãng đường này để phục kích Văn Tiến Dũng nhưng không gặp vì đường Đông Trường Sơn ở khúc đó có quá nhiều nhánh, không biết đoàn xe đi đường nào.
Tóm lại, mọi ý đồ, cách điều quân và phối trí quân của địch đều được Quân đoàn 2 đệ trình lên Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh của Quân đoàn. Nhưng…

3. Các tin tức tình báo dồn dập


Đại tá Phùng Văn Quang, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 45 thuộc Sư đoàn 23 VNCH cho biết rằng 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 45 đang hành quân trên Quốc lộ 14 gần Quận Thuần Mẫn thì một cán binh VC ra xin đầu thú. Anh ta khai tên là Sinh (có người nói là Sính), một sĩ quan truyền tin, có nhiệm vụ bắt đường dây điện thoại ngang qua Quốc lộ 14 nối liền Bộ Tư lịnh Sư đoàn 32 Cộng quân ở tây quốc lộ này với một đơn vị đang đóng ở Quận Thuần Mẫn. Khi điều tra thì khám phá ra anh ta chỉ là một Thượng sĩ chớ không phải sĩ quan. Vì giữ nhiệm vụ truyền tin, anh ta biết khá nhiều về kế hoạch hành quân của sư đoàn 320 và các đơn vị phối hợp. Anh cho biết Sư đoàn 320 đang đóng ở phía Bắc Quận Buôn Hô, cách Quốc lộ 14 về phía Tây và đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột. Khi tin này được báo về Quân đoàn 2, Tướng Phú ra lệnh cho Trung đoàn 45 cho 1 tiểu đoàn hành quân lục soát 2 bên Quốc lộ 14, từ Ban Mê Thuột đến Pleiku để phát hiện địch. Trung tá Quang nói ông đã cho lục soát nhưng không thấy gì. Sau này ông tiết lộ rằng tiểu đoàn đó chỉ lục soát mỗi bên Quốc lộ 14 khoảng 1km, trong khi Sư đoàn 320 đóng xa quốc lộ đến 5 km nên không thể phát hiện địch, tên Sinh đồng ý hướng dẫn trực thăng đến trên vùng Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320 đang đóng.

Đại tá Quang nói rằng theo sự chỉ dẫn của tên Sinh ông đã nhìn thấy phía dưới các cơ sở chứng minh có địch đang đóng quân tại đó và đã báo cáo cho Tướng Phú biết.

Mặc dầu có tin Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320 đã chuyển từ Kontum về phía Bắc Ban Mê Thuột, nhưng cơ quan truyền tin của Quân đoàn 2 cho biết vẫn nhận được các tín hiệu truyền tin của sư đoàn này phát xuất từ một căn cứ ở Kontum. Căn cứ vào báo cáo này, Tướng Phú cho rằng Sư đoàn 320 vẫn còn tại Kontum và những lời khai của tên Sinh chỉ là một kế nghi binh của địch để đánh Pleikụ. Về sau mới biết rằng Sư đoàn 320 cho tiếp tục phát các tín hiệu truyền tin ở Kontum là để đánh lạc hướng. Trong thực tế, sư đoàn này đã chuyển về phía Bắc Ban Mê Thuột.

Đầu tháng 2/75, Phòng 2 Quân đoàn 2 khám phá ra một thông báo của Cộng quân về cuộc họp ngày 1/2/75 của Tư lịnh Sư đoàn 320, F.10 và 986 tại vùng phía Tây Đức Cơ để khai triển chiến dịch 275. Thông báo này do một người ký tên là Tuấn. Đây là một trong những bí danh của Văn Tiến Dũng.

Một nữ du kích hồi chánh ở Ban Mê Thuột cho biết Trung đoàn 25 Cộng quân đã được lệnh ăn Tết trước để chuyển quân về vùng Khánh Dương ở phía Đông Ban Mê Thuột và một số đơn vị thuộc Sư đoàn F.10 đã có mặt xung quanh Quận Đức Lập, phía Tây Nam Ban Mê Thuột. Các thợ rừng báo cáo họ thấy nhiều đơn vị Cộng quân ở phía Tây Pleiku chuyển xuống Ban Mê Thuột, v.v… Những tin tức này cho thấy Cộng quân chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột.

4. Tổng Thống Thiệu ăn Tết Pleiku


Khi ở trại Lam Sơn, Thanh Hóa, Đại tá Trịnh Tiếu có cho chúng tôi biết vào ngày mồng 2 Tết, TT Thiệu đến Pleikụ Tại phòng Hành quân của Không quân ở phi trường Cù Hanh, ông đã trình bày cho TT Thiệu kế hoạch đánh Ban Mê Thuột của Cộng quân. TT chỉ thị Tướng Phú đưa 2 Trung đoàn của Sư đoàn 23 về lại Ban Mê Thuột, nhưng sau đó Tướng Phú không thi hành vì cho rằng địch sẽ đánh Pleikụ Khi ông đến Mỹ, chúng tôi yêu cầu ông viết lại chuyện này thì trong bài “Thiếu tướng Phạm Văn Phú và Quân đoàn 2” đăng trên báo SGN, ông viết rằng trước Tết 5 ngày, khi TT Thiệu lên Quân đoàn 2 ủy lạo chiến sĩ, chính ông đã đích thân trình bày cho TT kế hoạch nói trên của Cộng quân.

Sau khi thăm hỏi nhiều người liên hệ khác, chúng tôi thấy lời tường thuật của Trung tá Ngô Văn Xuân, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 44 là đúng hơn cả. Trung tá Xuân cho biết vào Tết Ất Mão (1975), Trung đoàn 44 đang đóng ở căn cứ 801, cách tỉnh Pleiku khoảng 20km về hướng Tây Bắc, đã được Quân đoàn 2 chỉ định tiếp đón TT Thiệu đến ăn Tết.

Đúng 12 giờ trưa ngày mồng một Tết (11/2/75), TT từ Bộ Tư lịnh Quân doàn 2 đến Trung tâm Hành quân của Trung đoàn 44 bằng trực thăng cùng với các Tướng Trần Văn Trung, Lê Nguyên Khang và Phạm Văn Phú. Tại đây, Trung tá Điều Ngọc Chuy, Trưởng phòng 2 Sư đoàn 23 đã trình bày về tình hình chung của các khu vực trách nhiệm đang do Sư doàn 23 trấn giữ, đặc biệt nhấn mạnh đến chi tiết về cung từ của một cán binh CS thuộc Sư đoàn 320 ra đầu thú cho biết rõ các chi tiết địch đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột.

TT có vẽ đăm chiêu rồi quay lại hỏi Tướng Phú thì Tướng Phú nhận định rằng có thể VC đưa ra một kế trá hàng nhằm đánh lạc hướng chú ý của ta Theo ông, Pleiku là điểm, Ban Mê Thuột chỉ là diện, bởi vì Pleiku có cơ sở đầu não là Bộ Tư lịnh Quân đoàn 2. Nếu địch tiêu diệt được cứ điểm này, chúng sẽ dễ dàng làm chủ được toàn bộ khu vực cao nguyên và tỏa xuống khu vực duyên hảị TT Thiệu suy nghĩ trong giây lát, rồi ra lịnh cho Tướng Phú đưa toàn bộ Sư đoàn 23 về Ban Mê Thuột.

TT nói địa thế Pleiku là khu vực trống trải, bao gồm nhiều đồi thấp và trọc, có tầm quan sát rộng, địch không bao giờ dám đương đầu trên khoảng trống như vậỵ TT hứa sẽ cho thêm một Liên đoàn Biệt động quân để làm một lực lượng trừ bị. Tướng Phú đáp xin tuân lịnh.

Sau khi nghe thuyết trình, TT Thiệu không đi Kontum như đã dự định mà đến Ban Mê Thuột và Quảng Đức để thăm và ủy lạo các chiến sĩ.


5. Bất tuân thượng lịnh


Đại tá Trịnh Tiếu cho biết ngày 15/2/75, Tướng Phú đã mở một cuộc họp tại Quân đoàn 2 để kiểm điểm tình hình trong Quân khu 2, có Lãnh sự Mỹ ở Nha Trang lên tham dự. Đại tá Trịnh Tiếu đã trình bày thêm các tài liệu cho biết địch sẽ đánh Ban Mê Thuột, nhưng Tướng Phú cứ chần chờ, không chịu ra lịnh chuyển quân.


Trung tá Ngô Văn Xuân cho biết ngày 17/2/75, Tướng Phú mới triệu tập phiên họp để đặt kế hoạch chuyển quân về Ban Mê Thuột. Theo kế hoạch này, Bộ Tư lịnh Sư đoàn 23 sẽ di chuyển bằng đường bộ, khi qua khu đèo Tử Sĩ, Trung đoàn 45 sẽ đi theo tháp tùng. Trung đoàn 44 đợi một Liên đoàn Biệt động quân đến thay thế trong vòng 3 ngày và sẽ đi sau.


Trong bài “Tướng Phạm Văn Phú và Quân đoàn 2”, Đại tá Trịnh Tiếu ghi rằng ngày 1/3/75, Tướng Phú mới ra lịnh chuyển quân, sau khi hỏi lại nhiều người, chúng tôi được biết ngày chuyển quân là ngày 17/2/75 như Trung tá Ngô Văn Xuân ghi lại là đúng. 8 giờ sáng ngày 18/2/75, đoàn quân tập trung tại căn cứ Hàm Rồng để khởi hành, nhưng đến 11 giờ Tướng Phú ra lịnh hủy bỏ việc chuyển quân. Ông nói địch sẽ đánh Pleiku và địch chuyển quân quanh Ban Mê Thuột là đẻ nghi binh mà thôị Lệnh của Tướng Phú đã làm cả Quân đoàn 2 ngạc nhiên.


6. Những ngày địch chuẩn bị tấn công



Ngày 1/3/75, Sư đoàn 3 Sao Vàng chốt đèo Mang Yang trên quốc lộ 19 nối liền Pleiku với Qui Nhơn và gây áp lực mạnh ở Đông Pleikụ Điều này càng làm cho Tướng Phú tin hơn nữa rằng địch sẽ đánh Pleikụ Tướng Phú xin thêm viện binh để giữ mặt nàỵ Liên đoàn 44 Biệt động quân được gởi đến tăng viện Pleikụ Tướng Phú liền ra lịnh Thiết đoàn 2 Thiết giáp do Đại tá Ngyễn văn Đồng chỉ huy phối hợp với Liên đoàn này trấn giữ phía Đông Pleiku.


Năm 1989, khi gặp Đại tá Đồng ở Saigon, ông cho chúng tôi biết mặt trận này khá nặng, vì địch rất đông, ẩn nắp trong các hóc núi pháo kích ra dữ dội, nên mặc dù có lệnh phá chốt, Thiết đoàn 2 cũng không yểm trợ cho Liên đoàn 4 Biệt động quân thực hiện việc phá chốt được. Đại tá Nguyễn Văn Đồng cũng kể lại từng chi tiết việc ông chỉ huy đoàn quân tháo chạy trên liên tỉnh lộ 7 và sau đó ông bị bắt gần Củng Sơn (sẽ tường thuật vào một dịp khác). Cũng trong ngày 1/3/75, Sư đoàn 968 tấn công chiếm 2 đồn ở phía tây Thanh An và áp sát vào Quận Thanh An. Điều này càng làm cho Tướng Phú tin địch sẽ đánh Pleiku.


Ngày 2/3/75, Chi trưởng CIA ở Quân khu 2 tại Nha Trang đã lên Ban Mê Thuột báo cho Đại tá Nguyễn Trọng Luật phải đề phòng. Đại tá Luật thông báo cho Quân đoàn 2 thì ở đây cho biết đã nhận được công điện của CIA vào buổi sáng. Tướng Phú liền ra lịnh cho Trung đoàn 53 rút một tiểu đoàn đang hành quân tại Quảng Đức về phòng thủ Ban Mê Thuột và đưa một Liên đoàn Biệt động quân từ Kontum đến thay. Cũng trong ngaỳ này, tình báo của Cảnh Sát báo cáo phát hiện một đơn vị Cộng quân lảng vảng ở rừng cao su phía đông Ban Mê Thuột, gần quốc lộ 21.


Ngày 4/3/75, Sư đoàn 3 Sao Vàng cắt đứt quốc lộ 19 từ Qui Nhơn đến Pleiku, ở khúc Bình Khê và Suối Đôi 2 Trung đoàn 41 và 42 của Sư đoàn 22 VNCH được lệnh khai thông nhưng không tiến lên nổi.


Ngày 5/3/75, Trung đoàn 25 của Cộng quân chốt quốc lộ 21 ở đèo Chu Cúc ở giữa Khánh Dương và Quận Phước An, phía đông Ban Mê Thuột. Một đoàn xe quân sự của QLVNCH di chuyển qua đèo Chu Cúc đã bị Cộng quân phục kích và bắn cháy, các binh sĩ bị bắt.


Trưa 5/3/75, Sư đoàn 320 Cộng quân cho 1 tiểu đoàn chận đánh một đoàn quân xa của Trung đoàn 45 gồm 14 chiếc di chuyển trên quốc lộ 14, khúc phía bắc Quận Thuần Mẫn. Đoàn xe này có kéo theo một khẩu đại bác 105 lỵ Từ Tết đến hôm đó, việc di chuyển trên quốc lộ 14 từ Ban Mê Thuột đến Pleiku vẫn an toàn và hàng ngày có từ 60-80 xe quân sự lưu thông trên khoảng đường này. Được tin này, Tướng Phú ra lịnh cho Trung đoàn 53 đưa một tiểu đoàn hành quân lục lọi 2 bên quốc lộ 14 để tìm các dấu vết của Su đoàn 320 Cộng quân, nhưng không phát hiện được gì.


Ngày 7/3/74, Cộng quân chiếm cứ điểm Chư Xê phía bắc Buôn Hô và cắt đứt quốc lộ 14.


Sau đó, Cộng quân pháo kích vào Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 tại phi trường Cù Hanh ở Pleiku và mở những trận đánh lớn ở Bình Định để cầm chân Sư đoàn 22 và đánh lạc hướng. Tướng Phú đã lấy máy bay đi quan sát mặt trận Bình Định. Đại tá Trịnh Tiếu kể rằng sau khi thị sát các mặt trận Tam Quan, Bồng Sơn và đèo Mang Yang, Tướng Phú đưa ông và một sĩ quan khác về Nha Trang ăn cơm tối ở nhà ông. Tại đây, bà Phú đã lên tiếng khiển trách các sĩ quan Quân đoàn 2 trong việc cho oanh tạc cơ phá hủy đoàn xe của Sư đoàn 968. Theo bà, VC chỉ mượn đường của Quân đoàn 2 để đi vô Nam, nhưng vì Quân đoàn 2 đánh họ nên bây giờ họ đánh trả lại khắp nơi.

Tướng Phú ngồi im lặng và tỏ ra ngao ngán chán nản.


Đại tá Phùng Văn Quang có kể lại khi tin tình báo về việc địch tập trung xung quanh Ban Mê Thuột ngày càng dồn dập, Tướng Phú đã gọi ông vào và nói : “Anh quen thuộc địa hình Ban Mê Thuột, anh bay về đó xem tình hình ra sao”. Đại tá Phùng Văn Quang đã bay một vòng và phát hiện rất nhiều dấu vết xe tăng của địch đã chạy qua khu vực Buôn Hô, cách Ban Mê Thuột khoảng 30km. Ông cho trực thăng đáp xuống thì quân báo của địa phương cho ông biết các thợ rừng và dân chúng địa phương thông báo rằng họ thấy rất nhiều bộ đội VC đi qua vùng này.


Ngày 8/3/75, Sư đoàn 320 Cộng quân đánh chiếm Quận Thuần Mẫn. Tại đây chỉ có 1 tiểu đoàn Địa phương quân trấn đóng nên họ không cầm cự được lâu và đã bi thất thủ. Quốc lộ 14 bị cắt thêm ở khúc Quận Thuần Mẫn. Đêm 8/3/75, Sư đoàn F.10 Cộng quân bắt đầu tấn công Quận Đức Lập, Các căn cứ Núi lửa và 23 bảo vệ Đức Lập bị tràn ngập.


Khoảng 8 giờ sáng ngày 9/3/75, Tướng Phú và Bộ Tham mưu Quân đoàn 2 đã bay về Ban Mê Thuột họp với Chuẩn tướng Lê Trung Tường, Tư lệnh Sư đoàn 23, Đại tá Vũ Thế Quang, Tư lệnh phó sư đoàn, Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột, Đại tá Phạm Văn Nghìn, Tỉnh trưởng Quảng Đức và Trung tá Võ Ân, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 53. Theo dõi 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 45 đang chiến đấu với Sư đoàn F.10 Cộng quân, Tướng Phú cho rằng tình hình Đức Lập không thể cứu vãn được nên không tăng viện thêm.

Điều đáng ngạc nhiên là cho đến giờ phút đó, khi mọi tin tức quân báo và tình hình thực tế xác định dịch chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột, Tướng Phú vẫn cho rằng địch sẽ đánh Pleiku. Ông lặp lại nhận định của ông là Cộng quân chỉ bao vây Ban Mê Thuột để làm kế nghi binh rồi bất thần tấn công vào Pleiku. Nhưng do sự thúc đẩy của Bộ Tư lệnh Quân đoàn, Tướng Phú chỉ thị cho Đại tá Lê Khắc Lý, Tham mưu trưởng của Quân đoàn xin Bộ Tổng Tham mưu cho trực thăng chuyển Liên đoàn 21 Biệt động quân đang đóng tại Kontum, thả xuống Buôn Hô, cách thành phố Ban Mê Thuột 30km về phía Bắc, đề phòng khi địch tấn công vào Ban Mê Thuột, có thể tiến về cứu viện. Cuộc chuyên quân khởi sự từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều thì chấm dứt.


Thấy tình thế nguy ngập, Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột, đã lấy một chiếc máy bay cho vợ con ông và vợ con của một vài viên chức cao cấp trong tỉnh di tản về Saigon. Các giới chức trách nhiệm phòng thủ Ban Mê Thuột đều biết trong vòng 1,2 ngày tới địch sẽ tấn công Ban Mê Thuột, nhưng họ không làm gì được, vì Tướng Phú không chịu thay đổi ý kiến.


Lúc 11 giờ trưa, Tướng Phú đến thăm Tiểu khu Ban Mê Thuột và chỉ thị cho Đại tá Vũ Thế Quang và Đại tá Nguyễn Trọng Luật phối trí quân phòng thủ các vị trí quan trọng và các kho tiếp liệụ 5 giờ chiều ông bay về Pleiku.


Mặc dù đã có chỉ thị của Tướng Phú, Đại tá Vũ Thế Quang không biết lấy đâu ra quân để phòng thủ. Trong thị xã và vòng đai thành phố lúc đó chỉ còn 2 Tiểu đoàn của Trung đoàn 45, một giữ ở ngã ba Dak Sak và một đóng ở căn cứ B.50 ở gần phi trường Phụng Dực, cùng với 2 chi đội thiết giáp và một đại đội pháo binh. Số còn lại là 2 Tiểu đoàn Địa phương quân và Nghĩa quân phân tán mỏng để bảo vệ các kho trong thành phố. Cảnh sát Dã chiến được phân chia bố trí ở các cao ốc. Tướng Phú hứa sẽ cho thêm một chi đoàn thiết giáp và cho phép rút 2 Tiểu đoàn Địa phương quân ở bản Đôn về bảo vệ thị xã. Tối 9/3/75, Quận Đức Lập bị thất thủ. Sư đoàn F.10 Cộng quân đã làm chủ tình hình về phía tây nam Ban Mê Thuột và đang tiến về thành phố. Vòng vây Ban Mê Thuột bắt đầu xiết chặt.


7. Cuộc tấn công mở màn


Khoảng 2 giờ sáng ngày 10/3/75, Cộng quân bắt đầu tấn công vào thành phố. Cộng quân mở đường bằng xe tăng và trọng pháo đủ loạị Mọi phía đều có dịch. Trung đoàn 174 CS theo quốc lộ 14 từ hướng Đức Lập tiến vào trước tiên, sau đó Trung đoàn 149 CS đánh từ phía Nam lên, Trung đoàn 95-B CS từ ngả Buôn Hô xuống, còn Trung đoàn 148 từ ngả Bản Đôn vào.

Đại tá Phùng Văn Quang kể lại rằng khi nghe tin địch tấn công vào Ban Mê Thuột, ông đã điện đàm với Tướng Phú để xin chỉ thị. Ông cho biết các binh sĩ của ông rất nóng lòng, muốn được đi giải cứu Ban Mê Thuột, vì vợ con họ đang ở tại dó. Nhưng Tướng Phú đã trả lời với ông rằng nếu đem quân đi cứu Ban Mê Thuột, Cộng quân sẽ tấn công Pleiku.


Khi tiến công vào thành phố, địch nhắm vào hậu cứ Sư đoàn 23, Tiểu khu, kho Mai Hắc Đế và căn cứ B.50. Đến 8 giờ sáng, địch dùng chiến xa T.54 đánh chiếm kho Mai Hắc Đế của Bộ Chỉ huy 5 Tiếp vận. Đại tá Quang chỉ thị Đại tá Luật điều động 2 đại đội và 4 xe M.113 ra chốt ở Ngã Sáu để chận địch. Các oanh tạc cơ được phái đến yểm trợ. 11 giờ địch tấn công Bộ Chỉ huy Tiểu khụ Đại tá Luật trao quyền lại cho Tiểu khu phó và chạy qua Bộ Tư lịnh Sư đoàn 23. 3 giờ chiều, Đại tá Quang không còn bắt liên lạc được với Tiểu khụ Khoảng 5 giờ, Đại tá Quang bắt liên lạc được với Liên đoàn 21 Biệt động quân đang ở phía Buôn Hô tiến vào thành phố. Ông liền ra lịnh cho Trung tá Lê Quý Dậu cho Tiểu đoàn 72 chiếm lại Tiểu khu và Tiểu đoàn 96 yểm trợ lấy lại kho Mai Hắc Đế. Suốt đêm mồng 10, Địa phương quân, Nghĩa quân và Cảnh sát Dã chiến quần thảo với địch trong thành phố để tranh từng tấc đất. Địch không nắm vững địa hình nên không tiến nhanh được.


7 giờ sáng ngày 11/3/75, Cộng quân tấn công vào Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23, nhưng lực lượng phòng thủ vẫn còn cầm cự được. Đến 10 giờ, một phi đội Ạ37 trợ chiến đã thả bom lạc, trúng một góc hầm Bộ Tư lệnh, hệ thống truyền tin bị hỏng, không còn liên lạc được với các đơn vị chung quanh nữạ, cả Đại tá Quang lẫn Đại tá Luật bỏ Bộ Tư lịnh, luồn qua lưng chùa Khải Hoàn để chạy qua căn cứ B.50, nhưng bị bắn dữ quá, phải tạt vào rừng cao su và bị bắt sau đó.

Chỉ có căn cứ B.50 ở gần phi trường Phụng Dực là cầm cự được lâu dài nhất. Đây là một căn cứ có chu vi trên 1 km, trước đây là 1 trại Lực lượng Đặc biệt của Mỹ nên công sự được xây cất rất kiên cố, có tất cả 11 hầm đủ sức chịu đựng được đạn 130 ly, xung quanh có xếp bao cát cao làm thành những ụ chiến đấu cá nhân. Ở xa xa là một vòng đai hàng rào kẽm gai nhiều lớp bao bọc. Căn cứ này được dùng làm hậu cứ của Trung đoàn 53. Nhờ các công sự vững chắc, Trung tá Võ Ân đã chỉ huy chỉ có 1 tiểu đoàn chống lại rất anh dũng các đợt tấn công bằng xe tăng và đại pháo của địch. Cuộc cầm cự kéo dài đến ngày 18/3/75 thì phải mở đường máu chạy thoát về hướng Lạc Thiện, sau khi có lệnh rút khỏi Cao nguyên.


Tướng Phú và Bộ Tham mưu đã lên máy bay đi tìm và bắt được liên lạc, nhưng số tàn quân ở cạnh Trung tá Ân lúc đó chỉ còn 20 binh sĩ mà thôị Đây là đơn vị chiến đấu anh dũng nhất trong trận Ban Mê Thuột và đã làm Cộng quan phải điên đầu.

Mãi đến sáng ngày 12/3/75, khi TT Thiệu trực tiếp ra lịnh cho Tướng Phú phải đem 2 Trung đoàn của Sư đoàn 23 về giải cứu Ban Mê Thuột, Tướng Phú mới tuân lệnh hành quân. Việc nhà trước, việc nước sau


Khi Cộng quân khởi đầu tấn công Ban Mê Thuột, Đại tá Vũ Thế Quang, Tư lịnh phó Sư đoàn 23 liền điện đàm mgay với Chuẩn tướng Lê Trung Tường để xin viện binh. Tướng Tường trả lời rằng không thể có viện binh vì Tướng Phú còn tập trung quân để đối phó tại Pleiku Tướng Phú chỉ ra lịnh cho Liên đoàn 21 Biệt động quân do Trung tá Lê Quý Dậu chỉ huy, từ Buôn Hô tiến vào thành phố thôi. Liên đoàn 21 đã vào được thành phố và lập được một số chiến công, nhưng khi cuộc giao chiến đang tiếp tục thì đùng một cái, Chuẩn tướng Lê Trung Tường ra lệnh cho Trung tá Dậu điều động Liên đoàn 21 phối hợp với Địa phương quân còn lại rút về vây quanh sân bay L.19 trong thành phố để ông phái trực thăng đến đón 21 người trong gia đình của ông đang kẹt tại sân bay này.


Mặc dù có sự yểm trợ của cả Địa phương quân lẫn Liên đoàn 21 Biệt động quân, trực thăng của Tướng Tường phái đến cũng không đáp xuống được vì địch pháo kích dữ quá. Cuối cùng Chuẩn tướng Tường đã ra lịnh lấy một chiếc Thiết vận xa M.113 chở toàn bộ gia đình của ông tới Trung tâm Huấn luyện cách thị xã 3km để trực thăng đến đón. Khi trực thăng bốc được gia đình Chuẩn tướng Tường đi rồi thì địch đã chiếm gần như toàn bộ thành phố Ban Mê Thuột.


Liên đoàn 21 tiến về sân bay Phụng Dực để phối hợp tác chiến với 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 45 ở căn cứ B.50 thì bị chận đánh phải lui ra khỏi vòng đai thành phố và bị vây ở Đạt Lý. Đại tá Trịnh Tiếu nói rằng Tướng Phú biết những chuyện Tướng Tường đã làm nói trên, nhưng ông nói ông thông cảm với Tướng Tường, giống như trường hợp của ông tại Huế trong trận Tết Mậu Thân.

9. Kế hoạch tái chiếm Ban Mê Thuột


Ngày 12/3/75, sau khi có lệnh trực tiếp của TT Thiệu phải tái chiếm lại Ban Mê Thuột, một cuộc họp đã được tổ chức tại Bộ Tư lịnh Quân đoàn để hoạch định kế hoạch tái chiếm. Theo kế hoạch này, Trung đoàn 45 được bốc ngay trong ngày 12/3/75 từ đèo Tử Sĩ đổ xuống Phước An, phía Đông Ban Mê Thuột. Trung đoàn này sẽ lần theo quốc lộ 21 tiến về Ban Mê Thuột cho đến khi chạm địch thì ngưng lại và chờ lệnh. Liên đoàn 7 Biệt động quân sẽ được chuyển từ Saigon ra thay Trung đoàn 44 ở căn cứ 801. Sau khi bàn giao, Trung đoàn 44 di chuyển đến căn cứ Hàm Rồng đợi máy bay đến bốc thả xuống Phước An tiếp theo.



Việc chuyển quân của Trung đoàn 45 không có gì trở ngại, nhưng Đại tá Phùng Văn Quang nói với chúng tôi rằng khi từ Phước An tiến về Ban Mê Thuột thì một số binh sĩ của ông đã bỏ ngũ đi tìm gia đình của họ ở Ban Mê Thuột.

Ngày 13/3/75, 50 chiếc trực thăng đủ loại đã đến đưa Trung đoàn 44 tới Phước An, nhưng chỉ mới di chuyển được Tiểu đoàn 3, Đại đội Trinh sát và Bộ Chỉ huy của Trung đoàn thì có lệnh ngưng lạị Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 bị bỏ lại ở Hàm Rồng.

Lực lượng của 2 Trung đoàn 44 và 45 khi tiến về thành phố thì bị chận lại ở vòng đai thành phố. Ở phía sau, Trung đoàn 25 của Cộng quân từ Chư Cúc đánh lên chi khu Phước An, nơi đặt Bộ Chỉ huy Hành quân của Sư đoàn 23.

Ngày 14/3/75, trong chuyến bay từ Khánh Dương đến Phước An, máy bay của Tướng Lê Trung Tường bị bắn, ông chỉ bị xây xát đôi chút, nhưng ông lấy cớ này xin từ chức Tư lệnh Sư đoàn 23. Ngày 15/3/75, Tương Phú cử Đại tá Lê Hữu Đức đến thay thế.

Ngày 16/3/75, lực lượng còn lại của Sư đoàn 23 được lệnh tập trung về Phước An và được trực thăng bốc về Nha Trang vì đã có lệnh của TT Thiệu rút khỏi Cao Nguyên.

Một số sĩ quan cao cấp trong Bộ Tư Lịnh Quân đoàn 2 kể lại rằng trong suốt thời gian chưa bốc được gia đình ra khỏi Ban Mê Thuột, Chuẩn tướng Lê Trung Tường không màng gì tới các đơn vị thuộc quyền cũng như tình hình mặt trận. Các đơn vị thuộc Sư đoàn 23 giống như rắn không đầu, không biết phải làm gì nữa. Mãi cho đến khi mang được gia đình tới nơi bình yên, Chuẩn tướng Tường mới lo việc hành quân.


10. Một người đàn bà


Tôi gặp Đại tá Trịnh Tiếu đầu tiên ở trại Thanh Cẩm. Ông cho biết khi được báo cáo Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Ban Mê Thuột bị bắt, Tướng Phú liền chỉ định ông làm Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột thay thế Đại tá Luật. Trong bài “Tướng Phạm Văn Phú và Quân đoàn 2”, ông cũng viết tương tự : “Ngày hôm sau, 12/3/75, Tướng Phú gọi tôi và nói :”Tôi đã trình với TT bổ nhiệm anh làm Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột. Ngày mai, 13/2/75, anh xuống Phước An cùng đoàn quân của Sư đoàn 23 và phối trí tại đó, 2 ngày sau sẽ có Sư đoàn Dù tăng cường tái chiếm Ban Mê Thuột”. Tôi đứng nghiêm nhận lệnh và thi hành”.


Năm 1983, khi được chuyển vào trại giam Xuân Lộc, chúng tôi được gặp Đại tá Phạm Duy khang, Trưởng phòng 3 của Quân khu 2 nên biết thêm 1 chi tiết khác khá quan trọng torng việc chỉ định chức vụ Tỉnh trưởng nàỵ Đại tá Khang là môt người nhỏ bé nhưng rất nhanh nhẹn, cương trực và có những nhận thức về tình hình rất sâu sắc, nên chúng tôi thường hỏi han và bàn luận với ông. Sau nhiều lần nói chuyện về Ban Mê Thuột bị thất thủ, ông tiết lộ với chúng tôi rằng chính ông mới là người đầu tiên được Tướng Phú cử làm Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột thay thế Đại tá Luật bị bắt. Sau khi được thả xuống Phước An để cùng chỉ huy đoàn quân tiến về tái chiếm Ban Mê Thuột thì Thiếu tá Phạm Huấn, một “sứ giả” của bà Tướng Phú được trực thăng chở đến gặp ông. Phạm Huấn đã thông báo cho ông hay theo lệnh của bà Phú, nếu muốn được làm Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột ông phải cam kết sau này khi tái thiết lại Ban Mê Thuột, sẽ chi cho bà Phú 20% số tiền tái thiết. Đại tá Khang nói ông đã trả lời Phạm Huấn rằng hiện mặt trận đang dầu sôi lửa bỏng, ngay mạng sống của ông cũng không biết ra sao, trách nhiệm của ông bây giờ là giải tỏa Ban Mê Thuột, ông không muốn bàn tới chuyện tiền bạc đó.


Đại tá Khang cho biết tiếp, sau khi Phạm Huấn lên trực thăng bay về Nha Trang vài tiếng đồng hồ thì Chuẩn tướng Lê Trung Tường nhận được công điện khẩn của Tướng Phú cử Đại tá Trịnh Tiếu làm Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột thay thế Đại tá Khang. Tướng Tường đã hỏi Đại tá Khang :”Có đến 2 công điện cử 2 người khác nhau làm Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột, tôi biết theo công điện nào?” Đại tá Khang liền trả lời :”Công điện sau có hiệu lực hủy công điện trước. Tôi sẽ bàn giao ngay cho Đại tá Trịnh Tiếu”.


Vì lúc đó Đại tá Trịnh Tiếu đang ở cùng chung một trại nên tôi đi gặp Đại Tá Trịnh Tiếu ngay và nói với ông về những việc Đại tá Khang đã kể. Đại tá Tiếu xác nhận: ”Câu chuyện thay ngựa giữa đường do Đại tá Khang kể là hoàn toàn sự thật”. Đại tá Khang đã đến dịnh cư tại Hoa Kỳ và đang hiện ở Bắc Cali.
Trong bài “Thiếu tướng Phạm Văn Phú và Quân doàn 2”, sau khi kể lại chuyện bà Tướng Phú khiển trách việc Quân đoàn đánh cháy đoàn xe của Sư đoàn 968 CS như chúng tôi đã tường thuật ở trên, Đại tá Trịnh Tiếu Viết :”Tướng Phú làm Tư lịnh Quân đoàn 2 chỉ mới 4 tháng, nhiều sĩ quan tình báo trước đây có khả năng nên được Tướng Toàn tin tưởng bổ nhiệm làm Quận trưởng các quận có nhiều VC, đều báo với tôi rằng bà Phú thường cho người đến “thu hụi”, số tiền nhiều ít tùy theo quận giàu hay nghèo”.


Những sự kiện trên giải thích tại sao Phạm Huấn đã không viết trung thực những chuyện Tướng Phú đã làm ở Cao nguyên.



11. Chọn con đường chết


Địch đã chiếm dược Ban Mê Thuột vì sự nhận định sai lầm và thái độ cố chấp của Tướng Phạm Văn Phú. Theo ý kiến của đa số các Đại tá ở Quân đoàn 2, Tướng Phú chỉ có khả năng làm tới Tư lịnh Sư đoàn, còn Tướng Tường chỉ có thể làm Trung đoàn trưởng mà thôi. Đưa các ông ấy lên chức vụ cao quá đã gây tai họa. Nếu QLVNCH không thất trận ngày 30/4/75, cả 2 Tướng này đã bị đưa ra Tòa Án Quân Sự Mặt Trận.


Trước khi kết thúc bài “Thiếu tướng Phạm Văn Phú và Quân đoàn 2”, Đại tá Trịnh Tiếu có nhận xét về Tướng Phú như sau: “Tướng Nguyễn văn Toàn đã thành công tại Quân đoàn 2 vì biết nghe lời khuyên của Đại tướng Cao Văn Viên, khôn khéo hợp tác chặt chẽ với John Paul Vann trong kế hoạch bảo vệ Kontum.

Tướng Phạm Văn Phú làm Tư lịnh Quân đoàn 2 không có cố vấn Hoa Kỳ nữạ Ông chỉ làm việc với vài người thân tín của ông. Ông không tin tưởng vào Bộ Tổng Tham mưu Quân đoàn. Ông không thi hành lệnh TT Thiệu đưa Sư đoàn 23 về giữ Ban Mê Thuột. Đến khi Ban Mê Thuột bị mất, ông rơi vào “mê hồn trận”. Sau đó, ông lại thi hành một cách mù quáng lệnh bỏ Kontum, Pleiku và đưa đoàn quân vào tử lộ một cách đau thương. Hàng chục ngàn quân đã bỏ xác một cách oan uổng trên liên tỉnh lộ 7”.

Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

Tấn bi kịch ở châu Á và kết cuộc của Giấc mơ Mỹ

Marc Frey

Phan Ba dịch

Marc Frey, sinh năm 1963, là giáo sư về Lịch sử Quốc tế và là người giữ chức vụ Helmut Schmidt Chair of International History ở Jacobs University Bremen, Đức. Các lĩnh vực làm việc chính của ông là Lịch sử Mỹ hiện đại và Lịch sử quá trình phi thuộc địa hóa ở Đông Nam Á.

Lời nói đầu

Chiến tranh Việt Nam là xung đột quân sự dài nhất của thế kỷ 20. Cuộc chiến này đã bắt đầu như là cuộc xung đột giữa thế lực thực dân Pháp và phong trào dân tộc-cộng sản của Việt Minh trong Đệ nhị thế chiến. Mãi ba mươi năm sau đó, chiến tranh mới chấm dứt khi Hoa Kỳ rút lui ra khỏi Việt Nam, Sài Gòn thất thủ và đất nước này được thống nhất.

Cuộc chiến đã để lại những vết thương thật sâu ở Việt Nam mà cho tới nay vẫn còn chưa lành lại. Là một trong số ít các quốc gia còn bị cộng sản nắm quyền, Việt Nam đã phải chịu đựng những hậu quả lâu dài của cuộc chiến về mặt sinh thái, xã hội và kinh tế. Điều này cũng đúng cho cả Lào và đặc biệt là cho Campuchia, nơi Chiến tranh Việt Nam đã khởi động một vòng xoáy của bạo lực mà các tác động của nó trước sau vẫn còn quyết định vận mệnh của đất nước này.

Đối với Hoa Kỳ, cuộc xung đột chấm dứt với chiến bại đầu tiên trong lịch sử. “Hội chứng Việt Nam” vẫn còn ảnh hưởng tới chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ cho tới ngày hôm nay. Cuộc chiến đã tác động đến quan điểm của nhiều người Mỹ về đất nước họ, và dẫn tới việc phê phán xét lại “Thuyết ngoại lệ” Mỹ – tức là niềm tin rằng quốc gia của những người di dân có thể là một gương mẫu cho các nước và dân tộc khác.

Ở nước Đức, Chiến tranh Việt Nam đã làm thay đổi hình ảnh nước Mỹ mà cho tới tận những năm sáu mươi vẫn còn hết sức tốt đẹp. Hơn hai mươi năm sau khi người Mỹ giải phóng nước Đức ra khỏi chế độ Quốc Xã, một tinh thần chống Mỹ đã hình thành và lan rộng, ảnh hưởng đến suy nghĩ của nhiều người Đức trẻ tuổi về nước Mỹ. Ở Đức, khi người ta thảo luận về nước Mỹ và cuộc Chiến tranh Việt Nam, bên cạnh sự phẫn nộ có phân biệt trái phải thường hay có một sự hả hê ác tâm nhất định đi cùng – một sự hài lòng kỳ lạ về việc là không chỉ có lịch sử nước Đức mới đầy những con đường đi sai lầm và đầy những phát triển tai hại. Thế nhưng từ giữa những năm tám mươi và chậm nhất là kể từ khi tái thống nhất, nhận thức của nhiều người Đức và sự quan tâm đến nước Mỹ đã biến đổi một cách cơ bản. Đặc biệt, “Tấm gương Mỹ” được tuyên truyền ở khắp nơi trong mối liên quan với “toàn cầu hóa”, cùng với cuộc khủng hoảng của nhà nước an sinh xã hội và quá trình chuyển đổi từ xã hội công nghiệp sang một xã hội dịch vụ và thông tin, đã tăng cường mối quan tâm chung và tích cực đến lịch sử và xã hội Hoa Kỳ.

Quyển sách dẫn nhập này xuất phát từ những cố gắng muốn đáp ứng mối quan tâm đó. Công việc soạn thảo đã cố gắng mang lại cấu trúc cho những câu hỏi chủ đạo sau: Tại sao Hoa Kỳ can dự vào Việt Nam? Các nhà hoạt động chính trị có những động lực nào? Những cột mốc quyết định của Chiến tranh Việt Nam nằm ở đâu? Cuộc chiến có những tác động nào đến nước Mỹ? Và cuối cùng: Tại sao Hoa Kỳ thua cuộc chiến này? Qua đó có thể thấy rằng trọng tâm của quyển sách này nằm ở góc nhìn của nước Mỹ. Thế nhưng để đánh giá thì phải mang nó vào trong bối cảnh của lập trường Bắc và Nam Việt Nam, cũng như quốc tế.

Quyển sách này dựa trước hết vào nghiên cứu của các sử gia Mỹ, những người từ lâu đã tích cực nghiên cứu lịch sử của cuộc Chiến tranh Việt Nam. Cũng mang lại nhiều gợi ý là những cuộc thảo luận với sinh viên của khoa Lịch sử Anh-Mỹ trường Đại học Köln và của Chương trình Bắc Mỹ thuộc Đại học Bonn. Các phê bình của Tiến sĩ Claus Daufenbach (Bonn), Tiến sĩ Detlef Felken (München), Giáo sư Tiến sĩ Jürgen Heideking († 2000, Köln), Tiến sĩ Wilfried Mausbach (Washington) và Sigrid Schneider (Köln) cũng đã giúp tôi rất nhiều. Xin cảm ơn những người này tại đây. Anne Frey đã tư vấn cho tôi một cách hết sức thông thạo và chuyên môn, và đã trợ giúp trên nhiều mặt để bản thảo này được hoàn thành. Trách nhiệm cho văn bản, cũng như cho những đánh giá sai lầm có thể có chỉ nằm ở bản thân tôi.

I. Hoa Kỳ và Cuộc Chiến tranh Đông Dương của Pháp (1945-1954)

 Chế độ thực dân và phong trào chống thực dân ở Việt Nam cho tới 1945

Máy bay Mỹ bay một vòng danh dự trên Hà Nội, một giàn nhạc chơi bài “Star Spangled Banner”. Nhân viên tình báo Mỹ “Office of Strategic Services” (OSS) đứng từ trên một khán đài nhìn xuống một quảng trường có hàng trăm ngàn người tụ tập lại ở đó. Đứng tại tâm điểm của sự kiện là nhà dân tộc chủ nghĩa và cộng sản người Việt Hồ Chí Minh. Vào ngày 2 tháng Chín năm 1945 đó, dựa theo Thomas Jefferson, ông đã tuyên bố nền độc lập của đất nước ông, thoát khỏi chế độ thuộc địa Pháp và sự chiếm đóng của Nhật: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”[1]. Và cũng như Jefferson đã quy nhiều tội phạm về cho vua Anh George III, Hồ cũng biện hộ cho tuyên ngôn độc lập bằng sự độc đoán của chế độ thực dân Pháp.

Các sĩ quan OSS cùng với Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, Hà Nội, tháng Tám 1945

Hồ đã hoạt động nhiều năm trời cho sự kiện này. Như cha của ông – một quan lại của triều đình Huế, người rời bỏ gia đình của ông và trở thành thầy giáo đi dạy học hết nơi này sang nơi khác – Hồ cũng muốn đi ra thế giới bên ngoài ngay từ sớm. Trong năm 1922, từ ở Sài Gòn ông lên một chiếc tàu thủy làm phụ bếp và đi đến Bombay, New York và London. Trước khi Đệ nhất thế chiến bùng nổ, ông làm báo ở Paris và liên kết với những người thuộc phe Xã hội Pháp. Năm năm sau, giới công chúng lần đầu tiên chú ý đến con người Việt Nam trẻ tuổi đó: ông kêu gọi Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson, người tham dự các cuộc đàm phán hòa bình ở Versailles, hãy tạo thêm áp lực ủng hộ lời yêu cầu đòi quyền tự quyết cho mọi dân tộc, nhưng không có kết quả. Năm 1920, niềm tin cá nhân và hoàn cảnh chính trị đã dẫn Hồ đến với những người cộng sản Pháp, đảng duy nhất dứt khoát chống lại mọi hình thức của chủ nghĩa thực dân. Chẳng bao lâu sau đó, ông rơi vào xung đột với cảnh sát vì những bài báo bút chiến và chống thực dân gay gắt. Năm 1924, Hồ phải rời Pháp. Bắt đầu từ đó, Hồ có một cuộc sống nay đây mai đó, sống nhiều năm ở Moscow, ở Trung Quốc và ở Thái Lan. Trước sau ông vẫn kiếm tiền sống bằng cách viết lách. Thế nhưng qua thời gian lưu vong, ông không chỉ trở thành một nhà báo biết diễn đạt thông thạo bằng nhiều thứ tiếng – Hồ trở thành một nhà cách mạng chuyên nghiệp. Năm 1929, ông cùng với các trí thức người Việt khác thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương ở Hongkong, và cuối cùng ông đã đặt ra một mục tiêu duy nhất: nền độc lập của Việt Nam, thoát khỏi thế lực thuộc địa Pháp. Nhưng mãi Đệ nhị thế chiến mới mở ra cho Hồ những khả năng mà ông đã chờ đợi từ lâu. Vì trong những năm ba mươi, hoàn toàn không có điều gì cho thấy rằng chế độ thuộc địa Pháp ở Đông Dương sẽ sớm chấm dứt.

Ba năm trước khi Hồ ra đời, trong năm 1887, Pháp thành lập Liên bang Đông Dương sau những trận chiến kéo dài. Pháp đã lợi dụng các xung đột địa phương ở Việt Nam và dần dần mở rộng chế độ thuộc địa ra thành bốn đơn vị hành chánh: Nam Kỳ với thủ đô Sài Gòn, Vương quốc An Nam ở miền Trung Việt Nam, Bắc Kỳ với trung tâm Hà Nội ở miền Bắc, và vương quốc láng giềng Campuchia. Lào nhập vào vài năm sau đó. Sau khi những kháng cự cuối cùng bị bẻ gãy năm 1897, công cuộc thuộc địa hóa có hệ thống được bắt đầu. Hành chánh được tập trung hóa, quyền tự trị của làng mạc bị hạn chế nhiều và tiếp tục bị làm suy yếu đi bởi một hệ thống lao động khổ sai (corvée). Thị trường nội địa bị đóng kín cho tới mức trên thực tế chỉ có hàng hóa Việt và Pháp là đến được với thị trường. Qua trưng thu và khai phá, nhiều nông trại và đồn điền lớn đã thành hình, sản xuất gạo và cao su cho xuất khẩu. Đi cùng với việc này là công cuộc xây dựng kênh đào, đường sắt và đường bộ.

Nhà hát trong Chợ Lớn

Cho tới Đệ nhất thế chiến, hạ tầng cơ sở được cải thiện, kinh tế tiền tệ và kinh tế thực dân, và cả việc xây dựng một hệ thống giáo dục mang dấu ấn Pháp cũng đã làm thay đổi cấu trúc xã hội một cách sâu sắc. Cộng đồng làng mạc truyền thống, khai thác đất trồng trọt phần lớn như là sở hữu chung, bắt đầu tan rã ở một vài vùng, nhất là khi việc tái phân chia đất đai đã mang lại một giai cấp tinh hoa mới. Trong khi xã hội nông thôn nằm trong một trạng thái có nhiều căng thẳng giữa truyền thống Nho giáo-Phật giáo và hiện đại tư bản-Phương Tây, con số tương đối nhỏ người dân thành thị ngày càng hướng tới Kitô giáo và nền văn hóa giáo dục Pháp nhiều hơn. Việc Tây Phương hóa cũng được tạo điều kiện dễ dàng qua những lợi ích kinh tế mà tầng lớp này hưởng được qua liên kết với nước Pháp. Thế nhưng sự chống đối chính quyền thực dân bắt đầu tăng lên trong nội bộ giới tinh hoa nhỏ của Việt Nam. Các cuộc nổi dậy ở Trung Quốc (1911) và cuộc Cách mạng tháng Mười Nga của năm 1917 đã để lại một ấn tượng sâu đậm, vì chúng hứa hẹn sẽ giải phóng khỏi sự cai trị của nước ngoài và sự bình đẳng về xã hội, luật pháp, kinh tế và chính trị cho tất cả mọi người.

Vào thời điểm cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu ở Pháp và Việt Nam năm 1930, những người trí thức này bắt đầu thảo luận công khai về tình cảnh kinh tế-xã hội và chính trị. Trong khi chủ nghĩa tư bản đang nằm trong cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất của nó thì Liên bang Xô viết của Josef Stalin đã đạt được nhiều thành công về kinh tế với công cuộc xây dựng “chủ nghĩa xã hội trong một nước”. Cả lịch sử của đất nước cũng đưa ra những khả năng cho sự nhận dạng: nó đưa ra nhiều ví dụ đa dạng của công cuộc kháng chiến chống lại người Trung Quốc, những người đã cai trị đất nước này nhiều thế kỷ. Vào cuối những năm ba mươi, đàn áp những người bất đồng chính kiến tăng lên ở Việt Nam. Năm 1939, có khoảng 2000 người chống chế độ thực dân, dân tộc chủ nghĩa và cộng sản đã bị bắt. Một vài người có thể thoát được truy nã, trong số họ là Tướng Võ Nguyên Giáp sau này. Thế nhưng toàn bộ gia đình ông đã chết trong trại của Pháp. Chính quyền thuộc địa Pháp và 27.000 người lính của họ vẫn còn có thể kiểm soát được một dân tộc 18 triệu người.

Đảng Cộng sản Đông Dương cũng như các phong trào giải phóng dân tộc khác ở châu Á đã được thúc đẩy mạnh qua các diễn tiến trên trường quốc tế. Chiến thắng nước Pháp của Hitler trong tháng Sáu 1940, nước Nhật, liên kết với Đức, chiếm đóng Việt Nam (tháng Chín 1940/tháng Bảy 1941) và sự cộng tác với người Nhật của chính quyền thuộc địa, trung thành với chính phủ Vichy. Khi người Nhật chiếm đóng nhiều phần rộng lớn ở Đông Nam Á chỉ vài tháng sau lần tấn công Pearl Harbor trong tháng Mười Hai 1941, tiếng chuông đánh dấu sự kết thúc chế độ thực dân Âu châu nói chung đã được gióng lên. Ngay cả khi người Nhật chiếm đóng đối xử tàn bạo hơn nhiều khi so với chế độ thực dân Âu châu, ví dụ của nước Nhật đã cho các phong trào giải phóng dân tộc từ Miến Điện qua bán đảo Mã Lai và Indonesia cho tới Đông Dương thấy rõ một điều: cái được cho là tính ưu việt của Phương Tây so với văn hóa Á châu, so với chiến lược, chính trị và tổ chức Á châu, đã bộc lộ ra là ảo giác, là huyền thoại.

Khai thác than ở Hòn Gai

Trong thời gian người Nhật nắm quyền tối cao ở Đông Dương, chính quyền thuộc địa Pháp đàn áp chống những người cộng sản, những nhóm chống chế độ thực dân và chống Nhật một cách ác liệt chưa từng có cho tới lúc đó. Một cuộc nổi dậy của Đảng Cộng sản ở miền Nam của đất nước trong tháng Mười Một 1940 đã bị đàn áp đẫm máu bằng không quân, trên năm ngàn người bị bắt và hơn một trăm người bị xử bắn. Để có thể đối phó lại với cuộc truy nã, với sự tham gia mang tính quyết định của Hồ Chí Minh, người từ Trung Quốc đã trở về Việt Nam, Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, gọi tắt là Việt Minh, đã được thành lập. Thuộc vào trong đó, bên cạnh một vài lực lượng trung lưu, trước hết là giới trí thức trẻ mà đã quay sang với chủ nghĩa cộng sản trong những năm ba mươi. Là nhóm chính trị duy nhất, Việt Minh giành lấy về phần mình cuộc đấu tranh chống chế độ thực dân Pháp  chống kẻ thù của Đồng Minh. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, thành công của họ có liên quan tới Hồ Chí Minh. Ông không những được kính trọng như là một nhà cách mạng quốc tế có nhiều kinh nghiệm. Tài năng tổ chức nổi bật của ông, khả năng thuyết phục người khác nhiệt tình hoạt động cho sự việc của ông, và sức mạnh tích hợp của ông đã đưa ông lên trở thành lãnh tụ không tranh cãi của phong trào kháng chiến và giành độc lập của Việt Nam trong những năm từ 1941 cho tới 1945. Hồ và Việt Minh đã mở ra cho giới trí thức một triển vọng cộng tác với người dân ở nông thôn, chiếm 95% người Việt, như là cán bộ tuyên truyền, như là chỉ huy quân đội hay như là thầy giáo. Họ đấu tranh cho quyền lợi của người nghèo và nông dân, tiến hành những chiến dịch xóa nạn mù chữ trong làng mạc, khuyến khích phụ nữ tham gia đời sống chính trị, hứa hẹn tự do dân chủ và biết cách dùng những từ ngữ đơn giản để diễn tả thế giới như là một cuộc xung đột giữa cái tốt và cái xấu.

Ý thức hệ của Việt Minh bắt nguồn từ lý thuyết của Lênin về một liên minh quốc gia “của tất cả các lực lượng chống đế quốc và tiến bộ” trong các xã hội thuộc địa. Họ vay mượn từ Mao Trạch Đông, người tiến hành một cuộc chiến tranh du kích chống lại người Trung Hoa Quốc gia từ cuối những năm hai mươi, sự chuyển tải của chủ nghĩa cộng sản sang hoàn cảnh của châu Á. Họ hướng tới các tác phẩm của ông về việc huy động tầng lớp nông dân và về chiến tranh du kích. Nhưng có tác động đặc biệt tới những người theo Việt Minh là sự nhấn mạnh tới một chủ nghĩa dân tộc Việt Nam. Cái làm cho nó khác biệt với các phong trào dân tộc trong những nước Đông Nam Á khác là việc một chủ nghĩa dân tộc Việt Nam đã tồn tại từ trước khi người Pháp đến. Chế độ thực dân ở Việt Nam vì vậy không thúc đẩy sự thành hình một nhận thức dân tộc, mà nó hướng nhận thức dân tộc này đi theo các ý tưởng chống thực dân.

Lúc đầu, Việt Minh tập trung trong vùng rừng núi Việt Bắc khó đi lại ở cạnh biên giới Việt-Trung. Mãi tới khi người Nhật chấm dứt chính quyền Pháp trong tháng Ba 1945 (Paris được quân đội Pháp và Đồng Minh giải phóng trong tháng Tám 1944), tình hình mới thay đổi. Sau khi người Nhật tuyên bố “nền độc lập” của Việt Nam, và đưa Hoàng đế Bảo Đại đã được người Pháp sử dụng lên làm người đứng đầu nhà nước phụ thuộc vào Nhật, thì Việt Minh mới có thể nhanh chóng kiểm soát được thêm sáu tỉnh ở miền Bắc. Thành công của Việt Minh không chỉ có liên quan tới lực lượng chiếm đóng đã suy yếu đi của Nhật. Cho tới 1943/1944, nền kinh tế phục vụ cho chiến tranh, lạm phát và bóc lột đất nước đã dẫn tới thiếu thốn trong cung cấp lương thực, điều còn trầm trọng thêm qua xuất khẩu gạo bắt buộc sang các vùng đất khác trong khu vực do Nhật chiếm đóng. Trong hai năm chiến tranh cuối cùng, đặc biệt là ở miền Bắc, ở Bắc Kỳ, đã xảy ra nạn đói cướp đi sinh mạng từ một tới hai triệu người. Con số này tương ứng với gần một phần năm dân số. Hàng trăm ngàn người nghèo đói đã tham gia Việt Minh trong thời gian này.

Trong năm tháng từ tháng Ba 1945 cho tới khi nước Nhật đầu hàng vào ngày 15 tháng Tám 1945, Việt Minh trở thành đồng minh chính thức của phe Đồng Minh. Điệp viên OSS ở Việt Nam được trợ giúp về mặt tiếp vận, nhận được thông tin về các hoạt động của quân đội Nhật, và du kích Việt Minh giúp đỡ cho các phi công Mỹ bị bắn rơi. OSS cung cấp vũ khí cho Việt Minh và thậm chí còn nhận Hồ làm điệp viên của OSS, bí danh “Lucius”. Khi người lãnh tụ không tranh cãi của Việt Nam tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) vào ngày 2 tháng Chín 1945, người Mỹ và Việt Minh, điệp viên OSS và Hồ Chí Minh đã có một thời gian cộng tác nhiều thành công. Vào thời điểm đó, không ai nghĩ rằng liên minh chiến tranh này chẳng bao lâu nữa sẽ tan rã.

————————————————————————————————————————

[1] David G. Marr, Vietnam 1945. The Quest for Power, Stanford/CA 1995, trang 535.

Chiến tranh Đông Dương của Pháp bắt đầu

Đối với Việt Minh, những người đã tước vũ khí người Nhật ở nhiều vùng của Việt Nam và tuyên bố đất nước độc lập, có ba vấn đề đứng ở hàng đầu trong chính sách của họ. Đứng trước nạn đói, họ cố gắng phân chia một cách công bằng số lương thực ít ỏi trong những vùng đất do họ kiểm soát. Gắn chặt với việc đó là cố gắng mở rộng ảnh hưởng của họ trong Việt Nam. Thật sự là Việt Minh đã có nhiều thành công lớn trong lúc đó. Trong lúc phong trào chỉ có tròn 5000 thành viên tích cực vào lúc chiến tranh kết thúc thì bốn năm sau đó đã là 700 000. Miền Bắc chiếm số đông, nhưng Việt Minh cũng có cơ sở vững chắc trong các vùng nông thôn của miền Nam cũng như trong các thành phố, đặc biệt là ở Sài Gòn. Tuy vậy, ảnh hưởng của họ ở miền Nam ít hơn ở miền Bắc rất nhiều. Hai giáo phái chịu ảnh hưởng của Phật giáo, mang tính dân tộc chủ nghĩa, đạo Cao Đài và Hòa Hảo, nắm quyền gần như là tự trị ở nhiều vùng tại đồng bằng sông Cửu Long cũng như ở nhiều vùng khác của miền Nam. Mỗi một giáo phái này có khoảng một triệu thành viên. Việt Minh xem việc xây dựng quân đội của họ như là một mối quan tâm quan trọng khác. Lực lượng quân đội vào cuối 1946 là khoảng 80.000 người, chủ yếu đóng ở miền Bắc. Thêm vào đó là một con số lớn hơn rất nhiều của những đơn vị không chính quy, hoạt động trên mọi miền đất nước.

Việt Minh trong thời gian của Cách mạng tháng Tám. Hình: Wikipedia

Trong Đệ nhị thế chiến, Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt đã cố gắng thuyết phục các thế lực thuộc địa hãy từng bước trao trả lại nền độc lập cho những nước châu Á bị họ chiếm hữu. Thế nhưng những lời yêu cầu của ông đã bị phản đối kịch kiệt. Người Anh, người Pháp và người Hà Lan tin rằng chỉ với sự giúp đỡ của các nước thuộc địa, họ mới có thể tái xây dựng được những nền kinh tế quốc dân đã bị chiến tranh tàn phá. Để không gây nguy hại tới liên minh chiến tranh với Hà Lan và đặc biệt là với Liên hiệp Anh, Roosevelt phải chấp nhận nhiều thỏa hiệp lớn. Thế nhưng người Tổng thống này muốn dùng nước Pháp bị Đức chiếm đóng và chính quyền thuộc địa trung thành với chính phủ Vichy của nó để đưa ra một ví dụ làm gương. Sau khi quân đội Đồng Minh giài phóng nhiều phần đất rộng lớn của Pháp trong mùa hè 1944 và quân đội Pháp trở thành một yếu tố quan trọng trong cố gắng đánh bại nước Đức, Tướng Charles de Gaulle đã dùng mọi quyền lực để tuyên bố quyền sở hữu các nước thuộc địa của ông. Trong khi Roosevelt trì hoãn một quyết định thì Liên hiệp Anh đã tạo tiền đề để nước Pháp quay trở lại Đông Dương: Thủ tướng Winston Churchill để cho “nước Pháp tự do” của de Gaulle tham chiến chống Nhật ở Đông Nam Á. Khi người Nhật thiết lập chế độ bù nhìn dưới quyền của Hoàng đế Bảo Đại ở Việt Nam trong tháng Ba 1945, cả chính phủ Mỹ cũng chấp nhận để cho quân lính Pháp chiến đấu chống kẻ thù chung. Cuối cùng, sau cái chết của Roosevelt trong tháng Tư 1945, Washington cũng chấm dứt sự phê phán của ông ấy về chủ nghĩa thực dân. Tin chắc rằng Roosevelt đã đi quá xa, tân tổng thống Harry S. Truman hoan nghênh sự giúp đỡ của nước Pháp trong cuộc chiến chống Nhật. Qua đó, ngoài Việt Minh ra thì không còn điều gì ngăn chận việc tái thiết lập chế độ thực dân của Pháp ở Đông Dương sau chiến tranh nữa.

Thể theo kế hoạch được Đồng Minh thỏa thuận tại Hội nghị Potsdam vào tháng Bảy 1945, quân đội Anh chiếm đóng phần phía Nam của Việt Nam trong tháng Chín, trong khi một quân đội Trung Hoa Quốc gia tiến vào miền Bắc cho tới vĩ tuyến 17. Đi theo người Anh là quân đội Pháp mà một phần được chở sang Việt Nam trên những con tàu của Mỹ. Sau những trận đánh ác liệt chống lại Việt Minh, tướng Pháp Philippe Leclerc tuyên bố chiến thắng ở miền Nam năm tháng sau đó. Cả hai giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo, những người mà vào lúc đầu còn liên kết với Việt Minh, cũng đổi chiến tuyến và dàn xếp với người Pháp. Thế nhưng thật sự thì không thể nói đến một chiến thắng của quân đội Pháp được. Họ kiểm soát Sài Gòn cũng như những thành phố lớn khác, và họ giành được đất từ Việt Minh – thế nhưng họ không thể giữ được. Ngay sau khi quân đội Pháp rút đi thì các du kích quân Việt Minh lại quay trở về những ngôi làng đó.

Lính Pháp đổ bộ vào bờ biển An Nam, tháng Bảy 1950

Tại thủ đô Sài Gòn, Cao ủy Đông Dương, Đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu, tiếp nhận chính quyền, và với việc bổ nhiệm người Việt vào trong các chức vụ cao cấp, ông hy vọng có thể đáp ứng cho ý thức dân tộc Việt Nam lẫn các lợi ích của nước Pháp. Tuy vậy, chính phủ này không thể hiện một giải pháp mang tính dân tộc thay thế cho Việt Minh. Ở trong đó, bên cạnh người Pháp thì chỉ có đại địa chủ, doanh nhân và luật sư – évolués, như người Pháp gọi họ –, những người mong muốn một sự hiện diện của chính quyền thực dân.

Ở miền Bắc, tình hình còn phức tạp hơn. Quân đội Trung Hoa quốc gia bóc lột đất nước này một cách tàn nhẫn. Hồ Chí Minh hoài công kêu gọi Hoa Kỳ hãy chấm dứt tình trạng tồi tệ của những đạo quân cướp bóc và ngăn chận lần quay trở lại của người Pháp. Trong tháng Hai 1946, Tưởng Giới Thạch, lãnh tụ người Trung Hoa quốc gia, ký kết với người Pháp một hiệp định tạo khả năng cho chính quyền thực dân quay trở lại Bắc Kỳ, dưới điều kiện là Pháp phải từ bỏ những ưu đãi về kinh tế ở Trung Quốc. Hồ ở trong một tình thế khó khăn. Ông có thể cố gắng ngăn chận việc thực hiện hiệp định, bằng cách là chiến đấu chống lại người Hoa và người Pháp. Một khả năng khác cho ông là thương lượng với những người Trung Hoa quốc gia. Thế nhưng ông lại quyết định đàm phán với đặc sứ của tướng de Gaulle, Jean Sainteny. Các cuộc đàm phán này dẫn tới một thỏa hiệp tạm thời vào ngày 6 tháng Ba 1946. Pháp công nhận Việt Nam như là một “nhà nước tự do” nằm trong Liên hiệp Pháp – tên mới cho hệ thống thuộc địa cũ của Pháp. Đổi lại, Hồ đồng ý tôn trọng sự kiểm soát của người Pháp cả ở miền Bắc Việt Nam trong vòng năm năm. Hồ, bị nội bộ phê phán gay gắt vì hiệp định này, đã lý giải hành động của mình như sau: “Đối với tôi, thà tôi ngửi phân Pháp năm năm còn hơn là phải ăn phân Tàu cả đời.”[1]

Thế nhưng người Việt hết sức thất vọng vì hiệp định này hoàn toàn không có giá trị gì cả: trong khi Hồ còn ở Paris để đàm phán thêm nhiều chi tiết thì d’Argenlieu, với sự ủng hộ của chính phủ ông, đã tuyên bố thành lập một nhà nước Nam Kỳ riêng trong mùa hè 1946. Và cả những yêu cầu về kinh tế mà Hồ phải đối mặt với chúng ở Paris cũng vượt xa những điều khoản trong cuộc trao đổi với Sainteny. Hồ lại nhượng bộ thêm một lần nữa. Thật ra thì người Pháp không quan tâm tới một hiệp định với Việt Minh. Họ hoàn toàn không thể hiện ý định giao cho Việt Nam một thể chế tự trị, nói chi đến nền độc lập. Thêm vào đó, để giải quyết các xung đột mang tính địa phương, quân đội thực dân Pháp ngày càng hay dùng những biện pháp đàn áp bằng quân sự. Cuối cùng, trong tháng Mười Một 1946, quân đội Pháp có cơ hội để dạy cho Việt Minh một bài học. Khi quân đội Pháp dựa trên những lý do giả mạo mà ném bom thành phố cảng Hải Phòng vào ngày 23 tháng Mười Một 1946 và giết chết 6000 người dân thường, sự kiên nhẫn của Hồ, bị những người đi theo đường lối cứng rắn trong Việt Minh thúc ép, chấm dứt. Bắt đầu từ lúc đó, Việt Minh dùng vũ khí chống lại chế độ thực dân Pháp trên toàn nước. Với những trận đánh trong Hải Phòng và quanh Hà Nội, thành phố mà quân đội Pháp mãi tới tháng Mười Hai sau nhiều trận chiến liên tục mới có thể giành được quyền kiểm soát, cuộc chiến tranh kéo dài gần ba mươi năm trời ở Việt Nam bắt đầu.

————————————————————————————————————————

[1] The Pentagon Papers. The Defense Department History of the United States Decisionmaking in Vietnam (The Senator Gravel Edition), 4 tập, Washington 1971, tập 1, trang 50.

Hoa Kỳ, Chiến Tranh Lạnh và Đông Nam Á

Từ năm 1945 cho tới 1950, chính sách Đông Dương của Mỹ đã dịch chuyển từ một trạng thái trung lập có khuynh hướng nghiên về phía nước Pháp sang tích cực giúp đỡ thế lực thuộc địa và cuộc chiến chống Việt Minh của nước này. Nguyên nhân cho sự biến đổi này là đa dạng: truyền thống chống cộng sản, các phát triển đối nội, những sự kiện trong đối ngoại và thay đổi trong hệ thống nhà nước quốc tế, cân nhắc về kinh tế và những đánh giá chiến lược. Chúng góp phần dẫn tới một thế giới quan chịu nhiều ảnh hưởng bởi nhận thức về mối đe dọa từ cộng sản. Kết hợp lại với nhau, những yếu tố đó ở phía Mỹ đã tạo nên các tiền đề cho cuộc Chiến Tranh Lạnh và thành lập khối ở Đông và Tây. Hoạt động của Hoa Kỳ ở Việt Nam là một sản phẩm của tình trạng lưỡng cực này. Lịch sử Chiến tranh Việt Nam vì vậy mà có liên quan hết sức chặt chẽ với lịch sử của cuộc Chiến Tranh Lạnh. Cả cuộc Chiến tranh Đông Dương của Pháp, từ góc nhìn của Washington vào lúc ban đầu là một cuộc chạm trán giữa thế lực thuộc địa và phong trào giải phóng dân tộc-cộng sản, cũng đã nhanh chóng phát triển thành một phần của Chiến Tranh Lạnh. Chỉ sau một thời gian ngắn, quân đội Pháp đã không còn chỉ chiến đấu để tái thành lập chế độ thực dân của họ, mà còn để đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản đang hoạt động dưới chiêu bài chủ nghĩa dân tộc ở Đông Nam Á.

Đại đội súng cối nhảy dù lê dương (1er Compagnie étrangère parachutiste de mortiers lourds)

Cùng với Liên bang Xô viết, Hoa Kỳ và Liên hiệp Anh đã chiến thắng nước Đức Quốc Xã và Nhật. Thế nhưng ngay từ trong năm cuối cùng của cuộc chiến, người ta đã có thể nhìn thấy rõ những rạn nứt trong liên minh “Liên Hiệp Quốc”. Nhà độc tài Xô viết Stalin tuy vẫn cho rằng trật tự đó sau chiến tranh là có thể có, trật tự mà trong đó ông vẫn còn có thể tiếp tục hợp tác được với các thế lực Phương Tây. Nhưng đồng thời ông vẫn hy vọng rằng Phương Tây sẽ khoan dung và thừa nhận lần dùng bạo lực để mở rộng và củng cố phạm vi ảnh hưởng của Xô viết ở châu Âu. Stalin và các cố vấn của ông đã không nhận rõ được rằng những mục tiêu mà ông theo đuổi qua đó thì không thể nào tương hợp được với Phương Tây, và dưới ấn tượng của sự tàn phá khủng khiếp trong Liên bang Xô viết thì họ cũng không sẵn sàng điều chỉnh các đòi hỏi của họ cho phù hợp với những lợi ích của các thế lực Phương Tây.

Thủ tướng Anh Churchill và Tổng thống Mỹ Roosevelt tuy đã đồng ý để cho Liên bang Xô viết mở rộng vùng ảnh hưởng ở Đông Âu. Thế nhưng cuộc Xô viết hóa đầy bạo lực và sự đàn áp dã man những quyền tự do cá nhân và các đảng dân chủ đã nuôi dưỡng lòng nghi ngờ của họ đối với Stalin và làm tăng cường sự chống đối. Sau cái chết của Roosevelt, người lên nắm quyền lực Harry S. Truman không còn muốn “vuốt ve” người Xô viết nữa, và biết rằng đại đa số người Mỹ cũng đồng quan điểm này với ông. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, sự phản kháng tăng lên nhanh chóng từ Mỹ và Tây Âu, chống lại lần mở rộng quyền lực Xô viết ở Đông Âu, cũng có liên quan tới những hy vọng lớn lao mà người Mỹ đã đặt ra cho tương lai. Ngay từ trước khi bước vào cuộc Đệ nhị thế chiến, Tổng thống Roosevelt đã tuyên bố với người Mỹ và công chúng thế giới rằng, Hoa Kỳ phải bảo vệ dân chủ và tự do. Sau tháng Mười Hai 1941, hàng triệu người Mỹ đã bước vào cuộc chiến với niềm tin rằng việc thiết lập dân chủ và chủ nghĩa tư bản ở khắp nơi trên thế giới là sự bảo đảm duy nhất để không bao giờ xảy ra một thế chiến nữa.

Việc Stalin liên tục cự tuyệt hợp tác với Phương Tây và không muốn tìm kiếm một giải pháp chính trị đồng thuận cho tương lai của nước Đức đang bị chiếm đóng, áp lực lên Thổ Nhĩ Kỳ, sự trợ giúp của Xô viết cho du kích quân cộng sản ở Hy Lạp cũng như nhiều xung đột khác đã tạo thêm căng thẳng cho các quan hệ giữa những cựu đồng minh trước đây cho tới năm 1947. Trước bối cảnh đó, trong tháng Ba 1947, Tổng thống Truman tuyên bố Học thuyết Ngăn chặn (containment), có giá trị và được áp dụng ở phạm vi vượt ra khỏi Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ rất xa. Nó hứa hẹn rằng Hoa Kỳ sẽ giúp đỡ và hỗ trợ cho tất cả các dân tộc đang chiến đấu chống lại những thiểu số quá khích (cộng sản) hay đang bị áp lực từ bên ngoài. Truman tuyên bố rằng bây giờ là thời điểm để cho các dân tộc trên trái Đất lựa chọn giữa tự do và áp bức.

Với Kế hoạch Marshall (1947), Hoa Kỳ đã tạo một công cụ để ổn định các nền kinh tế quốc dân của (Tây) Âu châu, liên kết Hoa Kỳ và châu Âu chặt chẽ với nhau hơn. Ngoài ra, các cựu thù đã tiến lên trở thành đồng minh trong một trật tự thế giới mới. Nhật Bản cần phải được xây dựng trở thành một thế lực khu vực hướng về Phương Tây ở Viễn Đông, để ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc và Xô viết, và qua đó góp phần tăng cường an ninh cho Hoa Kỳ và Phương Tây. Ở châu Âu, Tây Đức, trái tim công nghiệp, cần phải được tích hợp vào trật tự dân chủ-tư bản. Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản (1952) cũng như lần thành lập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (North Atlantic Treaty Organization, NATO) năm 1949 và kết nạp nước Cộng hòa Liên bang Đức vào các cấu trúc quân sự của Phương Tây trong năm 1955 đã tạo khả năng để liên kết các chính sách an ninh tại Đông Á và Tây Âu vào trong hệ thống trật tự toàn cầu của Hoa Kỳ.

Qua đó, thuyết của Truman và công cuộc tái tích hợp kinh tế là hai mặt của cùng một cái huy chương: Phần chính sách an ninh phục vụ cho việc “ngăn chặn” vùng ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản, phần kinh tế phục vụ cho sự phát triển của trật tự tự do-tư bản. Cả hai phương diện bảo đảm cho the American way of life, một hệ thống dân chủ, nhà nước pháp quyền, cái có nhiệm vụ tạo mọi khả năng phát triển và tiêu thụ cho cá nhân. Trong hệ thống này, Đông Nam Á có một chức năng thiết yếu. Khu vực này lúc đầu cần phải là thị trường nguyên liệu và tiêu thụ cho Nhật Bản và châu Âu, để rồi dần dần tự tiến lên trở thành một nhà hoạt động độc lập, một tiểu trung tâm được tích hợp về kinh tế và liên kết với toàn thế giới, có khuynh hướng thân thiện với các giá trị và mô hình xã hội Mỹ.

Công nhận chính quyền Bảo Đại

Ở dưới bình diện của các ý tưởng chủ đạo và viễn tưởng to lớn về kinh tế thế giới và địa chính trị, Hoa Kỳ vào lúc đầu không quan tâm nhiều cho lắm tới Đông Dương. Washington tự hạn chế mình ở mức độ thận trọng thúc giục người Pháp hãy tiến hành cải tổ và hỗ trợ thành lập những nhóm dân tộc chủ nghĩa có định hướng Tây Phương ở Việt Nam. Vì cả trong Bộ Ngoại giao Mỹ, người ta cũng không nghi ngờ rằng Hồ là “cá nhân có nhiều ảnh hưởng nhất và có lẽ là có năng lực nhất” ở Việt Nam, và không có sự chọn lựa dân tộc chủ nghĩa nào khác để thay thế ông.[1] Một vài nhà báo và nhân viên của Bộ Ngoại giao vì vậy mà đề nghị hãy tiến hành tiếp xúc với Việt Minh. Mặc cho khuynh hướng ý thức hệ của ông, họ cho rằng ông trước hết là một nhà dân tộc chủ nghĩa Việt Nam. Không thể xác minh được quan hệ trực tiếp của ông với Moscow. Thế nhưng từ quan điểm của các chuyên gia về Âu châu có nhiều ảnh hưởng trong Bộ Ngoại giao thì điều đó không phải là lý do để đánh giá mới về Hồ và Việt Minh. Còn ngược lại – không có liên lạc còn được diễn giải là Stalin hoàn toàn tin tưởng vào tay sai của ông ở Việt Nam, và Hồ không cần được dẫn dắt. Chính sách đối ngoại của Mỹ sẽ luôn rơi vào tình thế khó xử đó: về một mặt, họ ủng hộ chấm dứt chế độ thực dân, tuyên truyền cho quyền tự quyết của các dân tộc và thận trọng hoạt động để giải tán các thuộc địa. Mặt khác, họ luôn luôn chùn bước (ngoại trừ Indonesia và Hà Lan) trước việc tạo áp lực có hiệu quả lên các thế lực thực dân châu Âu. Và họ cương quyết từ chối không tiếp xúc với những người dân tộc chủ nghĩa theo cộng sản của “Thế giới thứ Ba” đang thành hình.

Bảo Đại ngày phong vương

Ở Việt Nam, cố gắng của người Pháp, xây dựng một sự lựa chọn chính trị khác thay thế Việt Minh mà họ có thể chấp nhận được, đã không thành công. Cuối cùng thì Hoàng đế Bảo Đại, sau khi ngần ngừ ít lâu, là người duy nhất được công chúng biết tới mà đã tuyên bố sẵn sàng đứng đầu một chính phủ dựa vào ân sủng của Pháp. Trong cái được gọi là Hiệp ước Elysée của tháng Ba 1949, nước Pháp hứa trao cho Việt Nam “nền độc lập”, đổi lại nhiều nhân nhượng về kinh tế. Tuy vậy, chính sách đối ngoại và quốc phòng vẫn còn nằm trong phạm vi trách nhiệm của Pháp. Ngoài ra, Việt Nam, Lào và Campuchia phải gia nhập Liên hiệp Pháp, điều tiếp tục đào rỗng ruột lời hứa hẹn về nền độc lập. Cũng như trong quá khứ, thuộc trong chính phủ Việt Nam mới dưới quyền của Bảo Đại là những lực lượng hưởng lợi về chính trị và kinh tế từ một liên kết lâu dài với nước Pháp. “Nguyên thủ quốc gia” này không thể là một sự lựa chọn dân tộc khác để thay thế cho Việt Minh. Bảo Đại, người mà hầu hết thời gian đều sống với gia đình ông tại Côte d’Azur và ở Việt Nam thì thích ở thị trấn nghỉ dưỡng Đà Lạt xa vắng, không có tiếp xúc với người dân nông thôn và đã tách rời quá xa ra khỏi cuộc sống Việt Nam với các vấn đề của nó.

Việc Mao Trạch Đông chiến thắng Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc và người Trung Hoa quốc gia chạy trốn sang Đài Loan trong mùa thu 1949 đã có tác động đáng kể tới chính sách Đông Dương của Hoa Kỳ. Trong Quốc hội ở Washington, phe Cộng hòa đối lập quy trách nhiệm “mất Trung Quốc” về cho chính phủ Truman. Họ cáo buộc chính phủ không hỗ trợ đầy đủ cho Tưởng Giới Thạch và không cương quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản. Những lời cáo buộc này lại càng nghiêm trọng hơn, khi nhiều người Mỹ không chỉ có cảm giác bị đe dọa trên bình diện quốc tế mà còn lo sợ rằng ngay chính nước Mỹ cũng đã bị một âm mưu cộng sản thâm nhập. Ngay trong tháng Ba 1947, Tổng thống Truman đã ra lệnh kiểm tra tất cả các nhân viên liên bang, xem liệu họ có tiếp xúc với những người cộng sản Mỹ và quốc tế hay không, và một “Ủy ban về những hoạt động phi Mỹ” của Hạ viện (House Un-American Activities Committee, HUAC) điều tra cuộc sống của nhiều người dân. Những nỗi lo sợ về một âm mưu còn được tăng cường qua Chiến tranh Triều Tiên: từ 1950 cho tới 1954, thượng nghị sĩ Cộng hòa Joseph McCarthy còn tổ chức một “cuộc truy lùng” những người cựu cộng sản, trí thức và tự do. Bầu không khí nội địa của “kỷ nguyên McCarthy” yêu cầu cần phải có một chính sách đối ngoại cương quyết.

Trong tháng Giêng 1950, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Liên bang Xô viết công nhận Việt Minh là chính phủ hợp pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đối với Washington, bước đi này là bằng chứng cuối cùng cho sự hợp tác chặt chẽ giữa những người cộng sản Việt Nam, Trung Quốc và Xô viết. Như là một phản ứng, vào ngày 7 tháng Hai 1950, năm ngày sau khi Quốc Hội Pháp phê chuẩn Hiệp ước Elysée, Hoa Kỳ công nhận “nhà nước Việt Nam” dưới quyền Hoàng đế Bảo Đại như là một đất nước độc lập nằm trong Liên hiệp Pháp. Vẫn còn trong tháng Ba 1950, chính phủ Truman tiếp tục hỗ trợ tài chính cho cuộc Chiến tranh Đông Dương của Pháp, và chuyển giao 15 triệu dollar viện trợ quân sự cho Paris. Với lần công nhận ngoại giao này, Hoa Kỳ đã hợp thức hóa chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương. Bắt đầu từ đó, bên cạnh chính quyền thuộc địa Pháp, ở Việt Nam có hai chính phủ tranh giành quyền lực trong nước, được khối Đông Âu hay Phương Tây hợp thức hóa, và đều tuyên bố chủ quyền của mình trên toàn Việt Nam.

Quyết định ủng hộ Bảo Đại là một quyết định không dễ dàng cho chính phủ Mỹ. Trong Bộ Ngoại giao ở Washington, người ta biết rõ rằng vị cựu hoàng đế không phải là một đối trọng chính trị cho Hồ. Và người ta cũng biết rõ rằng việc xây dựng một lựa chọn dân tộc khác thay thế cho Việt Minh chỉ có thể khi người Pháp quyết định tự do hóa thật sự chế độ thực dân của họ, và có thể đưa ra cho người Việt những triển vọng đáng tin cậy về một nền độc lập. Thế nhưng trong bầu không khí đối nội và đối ngoại nóng bỏng sau khi “mất Trung Quốc”, người ta đã quyết định nghiên về phía được cho là ít tai hại hơn. Bây giờ, Bảo Đại và người Pháp xuất hiện như là những người bảo vệ các giá trị và mô hình xã hội của Phương Tây. Qua đó, trong cảm nhận của Mỹ, cuộc nổi dậy dân tộc của Việt Minh chống lại chế độ thực dân Pháp, bị cộng sản nắm thế áp đảo, đã biến thành một âm mưu toàn cầu của chủ nghĩa cộng sản chống Phương Tây được bộc lộ ra ở Việt Nam.

Vua xứ An Nam Bảo Đại, có toàn quyền Đông Dương tháp tùng rời dinh với đoàn tùy tùng.

Không văn kiện nào khác của lịch sử Mỹ sau chiến tranh mà có thể khiến cho người ta hiểu thấu được cảm nhận của xung đột Đông Tây như một tài liệu về chiến lược do Hội đồng An ninh Quốc gia (National Security Council, NSC) soạn thảo. NSC-68, tên của bản phân tích do Paul Nitze (người đứng đầu Ban Kế hoạch Chính trị trong Bộ Ngoại giao) góp phần quyết định soạn thảo, xác nhận các giả định cơ bản trong chính sách đối ngoại và an ninh Mỹ từ 1947, nhưng xét lại chúng một cách nghiêm khắc dưới ấn tượng của lần Xô viết cho nổ thử quả bom nguyên tử đầu tiên trong tháng Chín 1949. Văn kiện phân tích mọi lĩnh vực của chính sách đối ngoại và an ninh Mỹ này bắt đầu bằng câu: “Các vấn đề mà chúng ta phải đối phó với chúng là rất lớn, và chúng có liên quan không chỉ tới thành tựu hay phá hủy nền cộng hòa này, mà là tới nền văn hóa nói chung.” Mục tiêu của Liên bang Xô viết, được dẫn dắt bởi “một niềm tin cuồng tín mới”, là “quyền thống trị tuyệt đối trên phần còn lại của thế giới.”[2] Trong tương lai gần, Liên bang Xô viết muốn mở rộng quyền lực của mình ra trên toàn Âu-Á. Vì vậy mà trước tiên là phải đẩy lùi ảnh hưởng Xô viết ở vùng ngoại vi, trước khi người ta có thể bắt đầu thúc đẩy chính chế độ đó đi tới một thay đổi trong tư tưởng hệ và chính trị của nó nhờ vào những cuộc nổi dậy mang tính dân tộc chủ nghĩa của các dân tộc thiểu số trong Liên bang Xô viết. Hoa Kỳ phải chống lại và đẩy lùi sự xâm lược này bằng mọi quyết tâm. Được đưa ra như là những biện pháp phù hợp: tăng cường vũ trang thật nhiều, viện trợ phát triển, hợp tác quân sự, hoạt động bí mật của mật vụ (covert operations), tiến hành chiến tranh tâm lý và có giải pháp nhanh chóng cho các vấn đề về kinh tế của Nhật Bản và Tây Âu. Tuy NSC-68 không yêu cầu tiến hành chiến tranh rộng lớn, chiến tranh hạt nhân lại càng không, nhưng yêu cầu một chính sách “giải phóng” tích cực. Thuộc vào trong đó không chỉ là một tiềm năng răn đe về hạt nhân có thể khiến cho Liên bang Xô viết không dám tấn công Hoa Kỳ và các đồng minh của Hoa Kỳ. Cũng quan trọng không kém là tăng cường các lực lượng quân sự thông thường. Hoa Kỳ, theo NSC-68, phải có khả năng phá hỏng “các bước đi địa phương của Xô viết qua các hành động địa phương” trên khắp thế giới. Với cái nhìn đến Đông Nam Á, NSC-68 cũng như những phân tích khác của Hội đồng An ninh Quốc gia cho rằng không chỉ Việt Nam mà toàn bộ khu vực đó là mục tiêu bành trướng của cộng sản. Giành lấy quyền lực trong một nước sẽ dẫn tới sự thâm nhập vào các quốc gia khác và cuối cùng rồi sẽ đưa quyền lực về tay các chế độ cộng sản ở khắp nơi. Chiến thắng của một hệ thống trong một đất nước tự động có nghĩa là một sự mất mát của phía bên kia. Trong trò chơi chiến lược tổng bằng không này, những tiếng nói trung dung hầu như không còn được nghe đến nữa – chỉ có bạn và thù, và bất cứ nhà hoạt động nào mà không muốn bị cả bên này lẫn bên kia thu tóm lấy mình thì đều bị nghi ngờ ngay từ đầu. “Trung lập” trở thành một từ để chửi mắng.

Chỉ vài tháng sau đó, các phân tích của Nitze về tính hung hãn của chủ nghĩa cộng sản quốc tế dường như đã trở thành hiện thực: trong tháng Sáu 1950, quân đội cộng sản Bắc Hàn được Stalin và Mao trợ giúp đã tiến xuống miền Nam của bán đảo. Cuộc Chiến tranh Triều Tiên xác nhận các giả định của Bộ Ngoại giao, hướng sự chú ý đến Đông Nam Á mạnh hơn và cỗ vũ cho tính sẵn sàng giúp đỡ cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương. Và nước Pháp đang hết sức cần điều đó. Chỉ riêng trong năm 1949, cuộc chiến đã nuốt chửng 167 triệu franc – số tiền hết sức cần thiết cho công cuộc tái xây dựng nước Pháp. Từ 1950 cho tới 1954, dòng tiền bạc, thiết bị chiến tranh và dịch vụ quân sự Mỹ với tổng giá trị là 2,76 tỉ dollar đã chảy sang Pháp và Việt Nam (ngoài những thứ khác là 1800 xe bọc thép, 31.000 xe Jeep, 361.000 súng cá nhân và súng máy, hai hàng không mẫu hạm và 500 máy bay). Nếu như Hoa Kỳ còn đảm nhận 40% chi phí chiến tranh trong năm 1952 thì 1954 đã là 80%. Ngược lại, viện trợ phát triển kinh tế cho các chính phủ Đông Dương được giới hạn ở tổng cộng là 50 triệu dollar.

Thế nhưng sự trợ giúp của Mỹ bắt đầu từ tháng Ba 1950 đã không thể dẫn tới một chuyển biến có lợi cho quân đội Pháp. Việt Minh kiểm soát tròn hai phần ba lãnh thổ Việt Nam, và vào cuối năm đó tướng Giáp đã có thể đẩy lui hoàn toàn người Pháp ra khỏi vùng biên giới Việt-Trung. Từ đó, trợ giúp về quân sự từ Trung Quốc sang Việt Nam không còn bị ngăn chận nữa. Đột phá mang tính quyết định chiến lược này làm dấy lên nhiều mối lo âu đáng kể ở Paris và dẫn tới việc thay thế những người đứng đầu về quân đội ở Việt Nam. Thế nhưng cả Tướng Jean de Lattre de Tassigny có sức lôi cuốn và luôn luôn lan truyền sự lạc quan cũng chỉ đạt được những thành công tạm thời. Sau mỗi một chiến thắng, sau mỗi một trận đánh thắng lợi, du kích Việt Minh lại quay trở về làng và biến chúng trở thành những vùng đất tử thần về ban đêm cho những người Pháp không được bảo vệ và cho những người theo chính phủ Bảo Đại. Người con trai duy nhất của de Lattre hy sinh trong chiến tranh, và chỉ trong vòng một năm sau khi tiếp nhận quyền chỉ huy, viên tướng này đã qua đời vì bệnh ung thư. Số phận đáng buồn này mang tính tượng trưng cho chế độ thực dân Pháp. Cả các cố gắng xây dựng một quân đội Việt theo Phương Tây và “Việt Nam hóa” cuộc chiến cũng không đạt được thành công nào đáng kể. Cho tới cuối năm 1952, quân đội Pháp – từ 1946 cho tới 1954 có khoảng 35.000 người Đức là lính lê dương chiến đấu ở Đông Dương, phần lớn là thiếu niên mồ côi và bán mồ côi, cũng như tròn 40.000 lính Bắc Phi và châu Phi da đen – đã tổn thất hơn 90.000 người, bị bắt, bị thương và tử trận. Giới công chúng Pháp đã mệt mỏi với cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” (sale guerre) này, và sự bất mãn về chi phí cao đã lan rộng ra trong Quốc Hội. Ở Washington người ta quan sát tiến triển này với nhiều lo ngại, vì cuộc Chiến tranh Việt Nam của Pháp từ lâu đã trở thành một cuộc chiến tranh ủy nhiệm. Từ góc nhìn Mỹ, người Pháp bảo vệ Phương Tây ở Đông Dương, trong khi Hoa Kỳ trợ giúp nó ở Triều Tiên. Đó là hai mặt trận của cùng một cuộc đương đầu chống chủ nghĩa cộng sản quốc tế.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979

https://photos.app.goo.gl/RVcAF3IGCnvRgbot2

Bách khoa toàn thư mở WikipediaBuớc tưới chuyển hướngBước tới tìm kiếmBài này viết về Chiến tranh biên giới Việt Nam – Trung Quốc năm 1979. Đối với Chiến tranh Đông Dương, xem Chiến tranh Đông Dương (định hướng).

Chiến tranh biên giới Việt – Trung 1979
Một phần của Chiến tranh Đông Dương lần 3

Tù binh Trung Quốc trong cuộc Chiến tranh biên giới Việt Nam – Trung Quốc năm 1979
Thời gian17 tháng 2 – 16 tháng 3 năm 1979
Địa điểmToàn tuyến biên giới phía bắc của Việt Nam.
Nguyên nhân bùng nổ
Căng thẳng quan hệ Việt Nam – Trung Quốc thập niên 1970
Kết quảCả hai bên cùng tuyên bố chiến thắngTrung Quốc phải rút quân.Việt Nam tái chiếm lãnh thổ, tiếp tục tham chiến ở Campuchia.
Xung đột Biên giới kéo dài đến năm 1990
Thay đổi lãnh thổ
Trung Quốc chiếm một số huyện, thị xã gần biên giới với Việt Nam trước khi rút quân
Tham chiến
 Trung Quốc Việt Nam
Ủng hộ
 Cuba
 Liên Xô
Chỉ huy và lãnh đạo
 Đặng Tiểu Bình
 Từ Hướng Tiền
 Dương Đắc Chí
 Hứa Thế Hữu
 Lê Duẩn
 Võ Nguyên Giáp
 Văn Tiến Dũng
 Đàm Quang Trung
 Vũ Lập
Lực lượng
hơn 300.000 bộ binh và 400 xe tăng, hàng chục vạn dân công hỗ trợ vận tải (theo Việt Nam có hơn 600.000 lính Trung Quốc tham chiến)
(lực lượng của 7 quân đoàn với 21 sư đoàn tác chiến, 9 sư đoàn dự bị)
60.000-100.000 quân chính quy và 150.000 dân quân tự vệ
(7 sư đoàn, 15 trung đoàn độc lập, biên phòng và dân quân tự vệ)
Thương vong và tổn thất
Tranh cãi
Việt Nam tuyên bố 26 000 chết, 37 000 bị thương, 280 xe tăng bị phá hủy.
Trung Quốc tuyên bố 6.954 chết, 14.800 bị thương
(nguồn khác của Trung Quốc thống kê có 8 531 chết, 21 000 bị thương
Phương Tây ước tính:
~28.000 chết, hoặc hơn 20.000 chết hoặc ~13 000 chết, chưa kể hàng chục ngàn bị thương
Tranh cãi
Trung Quốc tuyên bố 30.000 chết-57.000 lính chết, 70.000 du kích chết
Phương Tây ước tính: Khoảng 20.000 chết hoặc bị thương. (trong đó ~8.000 chết
Việt Nam tuyên bố 10.000 dân thường bị thiệt mạng, nhưng chưa công bố số liệu chi tiết về thương vong quân sự

Chiến tranh biên giới 1979, hay thường được gọi là Chiến tranh biên giới Việt – Trung năm 1979, là một cuộc chiến ngắn nhưng khốc liệt giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nổ ra vào ngày 17 tháng 2 năm 1979 khi Trung Quốc đưa quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới giữa 2 nước.

Chiến tranh biên giới Việt – Trung bắt nguồn từ quan hệ căng thẳng kéo dài giữa hai quốc gia, kéo dài trong khoảng một tháng với thiệt hại về người và tài sản cho cả hai phía.

Cuộc chiến kết thúc khi Trung Quốc tuyên bố hoàn thành rút quân vào ngày 16 tháng 3 năm 1979 sau khi Chủ tịch Tôn Đức Thắng bên phía Việt Nam kí lệnh Tổng động viên toàn dân và Trung Quốc đã đánh chiếm các thị xã Lạng SơnLào CaiCao Bằng và một số thị trấn vùng biên. Mặc dù chịu thiệt hại lớn và thất bại trong việc buộc Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia nhưng Trung Quốc đã chứng minh được rằng đối thủ Liên Xô sẽ không trực tiếp tham chiến để bảo vệ đồng minh Việt Nam của mình. 

Cuộc chiến cũng để lại hậu quả lâu dài đối với nền kinh tế Việt Nam và căng thẳng trong quan hệ giữa hai nước. Xung đột vũ trang tại biên giới giữa hai nước vẫn còn tiếp diễn thêm hơn mười năm. Tới năm 1991, Quan hệ ngoại giao Việt – Trung mới chính thức được bình thường hóa.

Tên gọi

Cuộc chiến được phía Việt Nam gọi là Chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc, 1979 hay Cuộc chiến chống bè lũ bành trướng phương Bắc. Phía Trung Quốc gọi là Chiến tranh đánh trả tự vệ trước Việt Nam (对越自卫还击战 Đối Việt tự vệ hoàn kích chiến) (trên nghĩa rộng là chỉ xung đột biên giới Việt – Trung trong gần mười năm từ năm 1979 đến năm 1989), bởi vì cho đến bây giờ họ vẫn cho rằng chỉ chống trả cuộc tấn công của Việt Nam.

Nhiều nhà nghiên cứu coi cuộc chiến này là một phần của Chiến tranh Đông Dương lần 3

Bối cảnh

Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc – Liên Xô

Tuy nhận được sự giúp đỡ rất lớn của Trung Quốc trong chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam, các rạn nứt trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Trung Quốc đã bắt đầu thể hiện từ năm 1968Việt Nam nhất định cùng lúc giữ mối quan hệ nồng ấm với cả Moskva lẫn Bắc Kinh trong khi mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc đã lên cao. Bất đồng quan điểm giữa Việt Nam và Trung Quốc về cách thức tiến hành cuộc chiến với Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam trở nên rõ rệt. Trung Quốc muốn Việt Nam chỉ tiếp tục chiến tranh du kích có giới hạn chống Hoa Kỳ, trong khi Việt Nam muốn tiến hành chiến tranh quy mô để thống nhất đất nước. Và hơn thế nữa, Việt Nam muốn trực tiếp đàm phán với Hoa Kỳ, không cần thông qua một nước nào làm trung gian. Sau sự kiện Tổng tấn công Tết Mậu Thân, Việt Nam bắt đầu đàm phán trực tiếp với Hoa Kỳ, trong khi đó Trung Quốc phản đối.

Năm 1972chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Nixon tới Bắc Kinh và thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xem là một sự phản bội. Từ năm 1973, Ban lãnh đạo Trung Quốc đã có chỉ thị: “Bề ngoài ta đối xử tốt với họ (Việt Nam) như đối xử với đồng chí mình, nhưng trên tinh thần phải chuẩn bị họ sẽ trở thành kẻ thù của chúng ta”. Năm 1974Trung Quốc cho quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa (đang được Việt Nam Cộng hòa quản lí) trong sự làm ngơ của Hoa Kỳ.

Năm 1975, trong chuyến thăm Bắc KinhTổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn nêu ra vấn đề Hoàng Sa, phản ứng không nhượng bộ của Trung Quốc làm nhà lãnh đạo Việt Nam khó chịu. Lê Duẩn thẳng thừng từ chối việc đưa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào liên minh chống Liên Xô của Trung Quốc, ông cũng phủ nhận quan niệm của Trung Quốc rằng “chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô là mối đe dọa đối với các nước cộng sản châu Á“. Ông rút ngắn thời gian thăm Trung Quốc và rời nước này mà không tổ chức tiệc đáp lễ Trung Quốc theo truyền thống ngoại giao, cũng không ký thỏa thuận chung, không đưa ra bất cứ một phát biểu hoặc thông cáo nào về cuộc viếng thăm. Cũng trong chuyến thăm này, Trung Quốc thông báo rằng sẽ không giữ mức viện trợ như đã hứa năm 1973Bắc Kinh bắt đầu nói về một Việt Nam “hắc tâm”, “vô ơn”, “ngạo ngược”. Viện trợ của Trung Quốc sau đó giảm mạnh và đến năm 1978 thì cắt toàn bộ. Điều kiện đầu tiên Trung Quốc đặt ra cho Việt Nam để nối lại viện trợ là phải từ chối tất cả các khoản viện trợ của Liên Xô.

Khi Việt Nam ngày càng có quan hệ chặt chẽ hơn với Liên Xô thì Trung Quốc thấy mình bị đe dọa từ hai phía. Đồng thời, Việt Nam cũng đang cố gắng xây dựng mối quan hệ đặc biệt chặt chẽ giữa 3 nước Đông Dương mà trong đó Việt Nam giữ vị thế đứng đầu. Cùng với thực tế rằng nước Việt Nam thống nhất đã trở thành một sức mạnh quan trọng trong vùng, làm giảm ảnh hưởng của Trung Quốc tại khu vực Đông Nam Á. Những điều này làm cho Trung Quốc lo ngại về một “tiểu bá quyền” Việt Nam, cộng với việc bị Liên Xô bao vây từ phía bắc. Như vậy, một nước Campuchia chống Việt Nam đã trở thành một đồng minh quan trọng đối với Trung Quốc.Nam Quan, hay Hữu Nghị Quan năm 2007, cửa ải nằm tại biên giới Việt NamTrung Quốc.

Ngày 1 tháng 11 năm 1977, tờ Nhân dân Nhật báo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong một bài xã luận đã gọi Liên Xô như một kẻ thù nguy hiểm nhất của Trung Quốc, đồng thời coi Mỹ như là một đồng minh. Ngày 30 tháng 7 năm 1977, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Hoàng Hoa phát biểu: “Chúng tôi ủng hộ lập trường chống đế quốc xét lại Liên Xô của Campuchia… và sẽ không thể ngồi nhìn bất cứ sự can thiệp nào đối với chủ quyền Campuchia hoặc thèm khát lãnh thổ nào bởi đế quốc xã hội. Chúng tôi sẽ ủng hộ Campuchia trong cuộc đấu tranh và có các hành động nhằm bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền quốc gia Campuchia bằng mọi sự giúp đỡ có thể”.

Trung Quốc đòi quân đội Liên Xô phải hoàn toàn triệt thoái khỏi Mông Cổ, đồng thời giảm số lượng các lực lượng vũ trang trên suốt tuyến biên giới Trung – . Sau đó, vào đầu tháng 4 năm 1978, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev khi đi thăm Siberia và Hạm đội Thái Bình Dương, tuyên bố rằng sẽ triển khai trên tuyến biên giới các hệ thống vũ khí mới, ngoài những hệ thống vũ khí trang bị hiện đại đã có sẵn trên biên giới Trung – Xô. Ngày 12 tháng 4 năm 1978, chính phủ Mông Cổ cũng công khai bác bỏ yêu cầu của Trung Quốc, tuyên bố rằng lực lượng quân đội Liên Xô được tăng cường và triển khai dọc biên giới Mông Cổ – Trung Quốc là theo yêu cầu của Mông Cổ nhằm đáp trả việc tăng cường lực lượng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc trên biên giới. Ngày 26 tháng 4 năm 1978 Bộ Ngoại giao Trung Quốc yêu cầu bổ sung thêm vào điều kiện công nhận sự tồn tại các vấn đề tranh chấp khu vực trên biên giới Trung-Xô.

Với lý do cần kinh phí để hỗ trợ Hoa kiều hồi hương, tháng 5 năm 1978, lần đầu tiên Trung Quốc tuyên bố cắt một phần viện trợ (72 trong số 111 công trình viện trợ) không hoàn lại đã ký cho Việt Nam và rút bớt chuyên gia về nước. Ngày 29 tháng 6 năm 1978, Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế. Tháng 7, Trung Quốc tuyên bố cắt hết viện trợ và rút hết chuyên gia đang làm việc tại Việt Nam về nước. Ngày 3 tháng 11 năm 1978, Việt Nam ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết. Ngoài các điều khoản về hợp tác thương mại và văn hóa, hiệp ước còn có những thỏa thuận về quốc phòng như một hiệp ước về “phòng thủ chung” có nghĩa là “tham khảo ý kiến ​​chung và hành động hiệu quả để đảm bảo an ninh quốc phòng của cả hai nước”. Ngày 22 tháng 12 năm 1978Trung Quốc ngừng tuyến xe lửa liên vận tới Việt Nam. Đầu tháng 1 năm 1979, đường bay Bắc Kinh – Hà Nội cũng bị cắt.

Theo các nguồn tin chính thức của Mỹ vào tháng 8 năm 1978, Việt Nam có 4.000 cố vấn và chuyên gia Liên Xô và đến giữa năm 1979 con số đã tăng lên đến 5 000 – 8 000. Tháng 9 năm 1978, Liên Xô bắt đầu cung cấp vũ khí mới (máy bay, tên lửa phòng không, xe tăng và vũ khí, đạn dược, cơ sở vật chất phục vụ chiến tranh) cho Việt Nam bằng đường hàng không và đường biển.

Liên Xô cũng tăng cường áp lực lên Trung Quốc với mục đích đạt được sự kéo dài Hiệp định Xô – Trung có giới hạn 30 năm về quan hệ Liên minh, Hợp tác hữu nghị và giúp đỡ lẫn nhau, được ký vào ngày 14 tháng 2 năm 1950 (hết hạn vào ngày 15 tháng 2 năm 1979). Ngày 16 tháng 2 năm 1979, Đặng Tiểu Bình tuyên bố khả năng một cuộc chiến tranh tổng lực chống Liên Xô. Dọc tuyến biên giới Xô – Trung đã tập trung khoảng 1,5 triệu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc trên tổng số quân thường trực chiến đấu là 3,6 triệu người, phía Liên Xô đã triển khai hơn 40 sư đoàn Hồng quân.

Tháng 5 năm 1979, trên biên giới Liên Xô – Trung Quốc xảy ra một xung đột quân sự nghiêm trọng có sự tham gia của cả máy bay trực thăng chiến đấu. Cũng trong tháng 5 năm 1979, các tàu chiến Liên Xô bắt đầu đi vào hải phận Cam Ranh. Ít lâu sau, các máy bay của Hạm đội Thái Bình Dương (Liên Xô) bắt đầu hạ cánh xuống Cam Ranh.

Ngoài ra, theo một số nhà nghiên cứu quân sự Tây phương, về mặt chiến lược, Trung Quốc thử nghiệm một cuộc chiến tranh biên giới có giới hạn với Việt Nam để thăm dò khả năng tương trợ của Liên Xô, sau khi Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV) và ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô (1978) có giá trị trong 25 năm, trong đó có điều khoản về tương trợ quân sự. Nếu thỏa ước này được tuân thủ nghiêm ngặt, theo nhận định của Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, thì nó sẽ là hiểm họa quốc phòng lớn vì đặt Trung Quốc vào tình thế lưỡng đầu thọ địch khi xảy ra chiến tranh với Việt Nam hoặc Liên Xô.

Về phía Liên Xô, nguy cơ bị cô lập về ngoại giao sau khi quan hệ Trung Quốc – Hoa Kỳ trở nên nồng ấm khiến Moskva buộc phải tìm cách tăng cường quan hệ đối với Việt Nam. Viện trợ kinh tế của Liên Xô cho Việt Nam tăng đều từ năm 1975 đến 1979 từ 450 triệu USD lên 1,1 tỷ USD, viện trợ quân sự cũng tăng mạnh do sự kiện xung đột Việt Nam –Campuchia (từ 125 triệu USD năm 1977 lên 600 triệu năm 1978 và 890 triệu USD năm 1979).

Quan hệ Việt Nam – Campuchia – Trung Quốc

Năm 1975, sau khi lên nắm quyền, Khmer Đỏ bác bỏ đề nghị đàm phán xây dựng mối quan hệ đặc biệt từ phía Việt Nam do lo ngại Việt Nam âm mưu áp đảo Campuchia và lôi kéo Campuchia vào một Liên bang Đông DươngKhmer Đỏ tìm đến Trung Quốc để có được sự hậu thuẫn của nước này dù rằng Trung Quốc từng ủng hộ Hoàng thân Norodom Sihanouk chống lại Khmer Đỏ suốt những năm 1960 và không nhiệt tình ủng hộ họ chống Lon NolTrung Quốc đồng ý ủng hộ Khmer Đỏ, nhưng tuyên bố rằng chính phủ mới sẽ được dẫn dắt bởi Sihanouk. Trung Quốc ủng hộ Khmer Đỏ do nước này cần một đồng minh tại Đông Nam Á để thay thế cho Việt Nam trong lúc quan hệ Việt – Trung ngày càng xấu đi, đồng thời Trung Quốc cho rằng Việt Nam sẽ bành trướng ở Đông Dương nên cần phải ngăn chặn “nguy cơ bá quyền của Việt Nam”. Theo một điện tín từ Đại sứ quán Mỹ ở Malaysia gửi Bộ Ngoại giao Mỹ vào ngày 27 tháng 4 năm 1978, sau một cuộc họp với một thành viên của chính phủ Thụy Điển vừa đến thăm Trung Quốc“Ngoại trưởng Trung Quốc Hoàng Hoa lưu ý rằng khi người Việt đã đánh bại Mỹ và thu được số lượng lớn vũ khí của Mỹ, họ đã trở nên ‘tự cao tự đại’ và họ đã ấp ủ từ lâu những kế hoạch cho một Liên bang Đông Dương. Ngược lại Khmer Đỏ tuyên bố “kiên quyết và dứt khoát phản đối các thế lực bên ngoài có hành động can thiệp dưới mọi hình thức vào những vấn đề nội bộ của Campuchia“. Đại sứ quán Trung Quốc ở Phnom Penh mở cửa trở lại. Khmer Đỏ nhận được viện trợ của Trung Quốc, đổi lại họ sẽ ủng hộ tư tưởng “Ba Thế giới” của Trung Quốc và hậu thuẫn Bắc Kinh chống lại Liên Xô. Tuy nhiên Khmer Đỏ luôn nghi ngờ Trung Quốc vì sợ nước này sẽ biến Campuchia thành vệ tinh của Trung Quốc.

Ngay từ khi mới giành được chính quyền, Khmer Đỏ đã gây hấn với các nước láng giềng là Việt Nam và Thái Lan. Khmer Đỏ muốn lấy lại các lãnh thổ thuộc đế quốc Khmer đã bị các quốc gia láng giềng như Thái LanViệt Nam chiếm từ thế kỷ XVIII trở về trước. Hành động này bắt nguồn từ Chủ nghĩa Dân tộc, đã được khơi dậy từ thời Pháp thuộc, từng được cả Sihanouk và Lon Nol ủng hộ. Sihanouk, Lon Nol và sau này là Pol Pot đều xem các nước lân cận là kẻ thù truyền kiếp vì đã tiêu diệt đế quốc Khmer, xâm chiếm đất đai của Campuchia. Các cuộc xung đột lẻ tẻ trên biên giới Thái Lan và Campuchia diễn ra do tranh chấp các vùng lãnh thổ nhỏ dọc biên giới tại các tỉnh Trat, Aranyaprathet-Poipet và Surin, bắt đầu từ tháng 4 năm 1975 và gia tăng mạnh trong tháng 11. Ngoài tranh chấp biên giới, cuộc xung đột còn có nguồn gốc do các lực lượng Khmer Serei chống Khmer Đỏ đã sử dụng lãnh thổ Thái làm căn cứ xuất phát để tấn công Khmer Đỏ. Đáp lại, Khmer Đỏ cũng hỗ trợ những người cộng sản Thái Lan thiết lập “Angka Siam” chống đối chính quyền Thái Lan, và huấn luyện lực lượng này từ các tỉnh Sisaket, Buriram và Surin trên biên giới Thái.

Quan hệ Việt Nam – Campuchia ngày càng đi xuống, thể hiện ngay từ tháng 5 năm 1975 khi Khmer Đỏ cho quân đánh chiếm các đảo Phú Quốc và Thổ Chu và bắt đi hàng trăm dân thường, lên cao trào vào những năm 19771978 khi Khmer Đỏ nhiều lần đánh sâu vào lãnh thổ Việt Nam, tàn sát hàng chục nghìn dân thường. Trong suốt thời gian đó và cả về sau, Trung Quốc luôn là nước viện trợ đắc lực cho Khmer Đỏ về vũ khí, khí tài cũng như cố vấn quân sự. Chính phủ Việt Nam nhiều lần đề nghị Trung Quốc giúp đỡ dàn xếp quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia, song Trung Quốc im lặng. Bên cạnh các nỗ lực ngoại giao không thành nhằm xoa dịu căng thẳng với Trung Quốc và Campuchia, Việt Nam tin rằng Trung Quốc đang sử dụng Campuchia để tấn công Việt Nam.

Tuyên bố chủ quyền của nước Việt Nam thống nhất năm 1975 đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; cách ứng xử của Việt Nam đối với người Việt gốc Hoa; và cố gắng của Việt Nam trong việc xây dựng quan hệ chặt chẽ giữa ba nước Đông Dương được Bắc Kinh xem là nỗ lực nhằm thống trị Đông Dương và là ví dụ về sự hỗn xược của Việt Nam.[32] Từ tháng 8 năm 1975, Trung Quốc bắt đầu giảm mạnh viện trợ kinh tế cho Việt Nam, và cắt hoàn toàn vào tháng 6 năm 1978.

Cũng năm 1975, Trung Quốc cho Campuchia vay không lấy lãi 1 tỷ USD và ký kết một hiệp ước quân sự bí mật với chính quyền Khmer Đỏ vào tháng 2 năm 1976. Tháng 2 năm 1976, trong dịp Vương Thượng Vĩnh, Phó Tổng Tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc đến Phnôm Pênh đàm phán với Son Sen, Trung Quốc đã đồng ý viện trợ quân sự cho Campuchia 226 triệu nhân dân tệ (tương đương 1,5 tỷ USD) trong ba năm (1976 – 1978). Chính sách ngoại giao của Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á cũng được thay đổi theo hướng tăng cường quan hệ với khối ASEAN vốn ở thế đối đầu với các chính quyền cộng sản Đông Dương đồng thời cắt bỏ viện trợ của Trung Quốc đối với các Đảng Cộng sản ở Đông Nam Á. Tháng 2 năm 1977, Trung Quốc nói với Việt Nam là không sẵn sàng cung cấp viện trợ cho Việt Nam trong công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh.

Từ tháng 9 đến tháng 10 năm 1977Pol Pot có chuyến thăm tới Trung Quốc nhằm thắt chặt quan hệ đồng minh giữa hai nước.[18]

Ngày 20 tháng 11 năm 1977, Lê Duẩn sang thăm Trung Quốc. Trong cuộc hội đàm giữa Lê Duẩn và Hoa Quốc Phong, mặc dù hai bên đều tránh nói đến những tranh chấp về Hoàng SaTrường Sa, song sự khác biệt về quan điểm đối với việc nhìn nhận thế giới, chiến tranh và hòa bình đã bộc lộ ngày càng rõ. Lê Duẩn bày tỏ quan điểm không tham gia vào cuộc tranh cãi Trung – Xô thông qua việc “chân thành cảm ơn Liên Xô và các nước Xã hội Chủ nghĩa khác về sự nhiệt tình, giúp đỡ to lớn đối với Việt Nam“. Lê Duẩn cũng đề nghị những nhà lãnh đạo Trung Quốc yêu cầu Campuchia Dân chủ chấp nhận một giải pháp cho cuộc xung đột trên tuyến biên giới Tây Nam, nhưng Trung Quốc không quan tâm. Cuối cùng, giống như chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 9 năm 1975, Lê Duẩn cũng đã ra về mà không mở tiệc đáp lễ Trung Quốc.

Tháng 12 năm 1977, Phó Thủ tướng Trung Quốc Uông Đông Hưng tới thăm Campuchia và đi thị sát những vùng gần biên giới Việt Nam. Trong chuyến thăm này, Phó Thủ tướng Uông Đông Hưng tuyên bố: “Không một lực lượng nào có thể đứng cản trở quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc và Campuchia, hai nước sẽ là đồng chí với nhau mãi mãi“.

Cuối năm 1977, các văn kiện của Quân khu Quảng Châu luôn nhấn mạnh tinh thần “phải chuẩn bị các mặt để đánh Việt Nam“, tuyên truyền: “Việt Nam là tay sai của Liên Xô, có tham vọng xâm lược CampuchiaLào, chiếm Đông Nam Á, thực hiện bá quyền khu vực, phải đánh cho bọn xét lại Việt Nam, không đánh là không thể được và phải đánh lớn. Việt Nam là tiểu bá ở châu Á, xâm lược Campuchia, xua đuổi người Hoa“.

Tháng 1 năm 1978, Thủ tướng Phạm Văn Đồng yêu cầu các nước Xã hội Chủ nghĩa giúp đỡ giải quyết cuộc xung đột Việt Nam – Campuchia. Một lần nữa Trung Quốc không đáp ứng. Cũng trong tháng 1 năm 1978, bà Đặng Dĩnh Siêu, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc sang thăm Phnom Penh và ký một hiệp định xúc tiến viện trợ quân sự cho Campuchia Dân chủ, bắt đầu chuyển vũ khí đến Campuchia. Trong chuyến thăm, bà Đặng Dĩnh Siêu cũng tuyên bố, Trung Quốc sẽ không tha thứ cho một cuộc tấn công nào vào đồng minh của họ. Trung Quốc cũng hủy bỏ hiệp ước về lãnh sự với Việt Nam. Ngày 17/6/1978, Trung Quốc yêu cầu các lãnh sự quán Việt Nam ở Côn MinhQuảng Châu và Nam Ninh phải dời về nước. Ngày 12/7/1978, lần đầu tiên, tờ Nhân dân Nhật báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc công khai buộc tội Việt Nam “tìm cách sáp nhập Campuchia vào một Liên bang Đông Dương dưới sự thống trị của Việt Nam“. Ngày 4/11/1978 (một ngày sau khi Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác), Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc Uông Đông Hưng sang Campuchia để bày tỏ sự ủng hộ của Bắc Kinh đối với Campuchia.

Theo tính toán của nhà nghiên cứu D.R. Sardesai, từ năm 1975 – 1978, Trung Quốc cung cấp cho Campuchia súng đại bác, súng cối, súng bazoka, súng đại liên, súng trung liên, vũ khí các loại, xe cộ và xăng dầu đầy đủ để trang bị cho đội quân 200 000 người, Trung Quốc cũng gửi khoảng 10 000 cố vấn và chuyên gia quân sự sang Campuchia để hỗ trợ và huấn luyện quân đội Pol Pot. Theo Marish Chandona, tháng 7 năm 1977, Campuchia chỉ có 6 sư đoàn, nhưng đến tháng 1 năm 1978, Campuchia có tới 25 sư đoàn. Cuối năm 1978, căng thẳng giữa Việt Nam với Campuchia cũng như Trung Quốc đều lên một đỉnh mới. Cùng lúc căng thẳng Việt Nam – Trung Quốc lên cao thì ở biên giới phía Tây Nam của Việt Nam, chính quyền Khmer Đỏ, với sự bảo trợ của Trung Quốc, cũng bắt đầu leo thang hoạt động quân sự xâm lấn miền Nam Việt Nam.

Các xung đột lẻ tẻ ở khu vực này đã nhanh chóng bùng nổ thành Chiến tranh biên giới Việt Nam – Campuchia với hệ quả là Việt Nam đưa quân vào Campuchia lật đổ chính quyền diệt chủng Khmer Đỏ.

Đứng trước tình hình đó, Trung Quốc quyết định tấn công xâm lược Việt Nam với lý do “dạy cho Việt Nam một bài học” (lời của Đặng Tiểu Bình) nhưng mục đích chính là phân chia lực lượng quân đội của Việt Nam để giúp chính quyền diệt chủng Khmer ĐỏTrung Quốc có được lý do để tuyên bố về cuộc chiến chống Việt Nam sắp tiến hành. Sau khi Phnom Penh thất thủ, ngày 27 tháng 1 năm 1979 tờ Nhân dân Nhật báo (Trung Quốc) có bài viết, trong đó có đoạn: “Sự thất thủ của Phnom Penh không có nghĩa là chiến tranh chấm dứt mà chỉ là khởi đầu” và “vấn đề Campuchia đóng vai trò vật xúc tác để đẩy các quan hệ với Việt Nam vượt quá một điểm không thể nào quay trở lại được nữa”.

Trong khi đó, Đặng Tiểu Bình nổi lên trở thành người lãnh đạo quyền lực nhất Trung Quốc. Đặng nhìn thấy cả rắc rối lẫn cơ hội trong mối quan hệ khó khăn với Việt Nam và cho rằng cách tốt nhất để nắm lấy những cơ hội này là một hành động quân sự.[20] Trong chuyến thăm Đông Nam Á tháng 12 năm 1978, tại một cuộc trả lời phỏng vấn được Trung Quốc truyền hình trực tiếp, Đặng Tiểu Bình tuyên bố: “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học” mà ngày hôm sau báo chí chính thức của Trung Quốc cắt ngắn thành “phải dạy cho Việt Nam bài học“.

Tháng 1 năm 1979Đặng Tiểu Bình bí mật cử Ủy viên Bộ Chính trị Gừng Giao cùng Thứ trưởng Ngoại giao Hàn Niệm Long khẩn cấp sang Bangkok, hội đàm với Thủ tướng Thái Lan Kriangsak tại căn cứ không quân Utapao. Thái Lan đồng ý để Trung Quốc sử dụng lãnh thổ của mình làm nơi tiếp tế cho Khmer Đỏ. Đồng thời, sau hơn mười năm vắng bóng trên chính trường, Hoàng thân Sihanouk đại diện cho Campuchia đọc diễn văn trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, yêu cầu Đại hội đồng ra nghị quyết buộc Việt Nam rút quân ra khỏi Campuchia.

Việc Trung Quốc lựa chọn thời điểm tấn công Việt Nam cũng hết sức thuận lợi cho Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình vừa kết thúc chuyến công du sang Mỹ, cùng với việc ông ta lớn tiếng đe dọa “dạy cho Việt Nam một bài học”, Trung Quốc tỏ ra họ có được hậu thuẫn từ Hoa Kỳ, hoặc ít nhất là Mỹ cũng im lặng tán thành. Ngoài ra việc Trung Quốc cắt nguồn viện trợ dầu cho Việt Nam vào cuối năm 1978, vốn chiếm tới hơn một nửa tiêu thụ dầu của Việt Nam, trong khi Liên Xô chưa kịp viện trợ bổ sung, cũng khiến dự trữ dầu chiến lược của Việt Nam bị thiếu hụt trong thời điểm quyết định khi quân Trung Quốc tấn công.

Thêm vào đó, việc Trưởng Ngân khố Mỹ Blumenthal của chính quyền Carter viếng thăm Trung Quốc vào 24 tháng 2 cũng có tác dụng như một lời khuyến khích ngầm Trung Quốc, và có tác dụng phụ đảm bảo với Trung Quốc tình hình tại vùng duyên hải Phúc Kiến đối diện với Đài Loan sẽ yên tĩnh trong thời gian đầu năm 1979, khiến Trung Quốc có thể yên tâm tái bố trí các lực lượng tại Phúc Kiến về hướng biên giới phía nam với Việt Nam.

Vấn đề biên giới và hải đảo

Biên giới

Cuộc đàm phán đầu tiên về biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam – Trung Quốc được tiến hành từ ngày 15 tháng 8 năm 1974 đến ngày 2 tháng 11 năm 1974 ở cấp Thứ trưởng Ngoại giao. Từ giữa năm 1975, tình hình biên giới Việt Nam – Trung Quốc trở nên căng thẳng do những hoạt động vũ trang từ phía Trung Quốc. Những xung đột ở biên giới Việt Nam – Trung Quốc tại khu vực Cao Bằng – Lạng Sơn vào cuối năm 1976 làm quan hệ Việt Nam – Trung Quốc ngày càng xấu đi. Tháng 3 năm 1977, Việt Nam và Trung Quốc tiến hành đàm phán lần thứ hai về vấn đề biên giới Cao – Lạng – Quảng Tây. Đoàn Việt Nam yêu cầu bàn biện pháp chấm dứt các vụ vi phạm biên giới quốc gia và trở lại đường biên giới lịch sử, trong khi đó đoàn Trung Quốc muốn giữ nguyên trạng để bàn về các biện pháp ngăn ngừa xung đột, trong khi chờ Chính phủ hai nước đàm phán giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam – Trung Quốc.

Từ năm 1978 đến đầu năm 1979, mức độ xâm phạm lãnh thổ, hoạt động vũ trang mang tính khiêu khích tại biên giới Việt Nam của Trung Quốc ngày càng nghiêm trọng. Theo thống kê của Việt Nam, công bố trong Bị vong lục của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày 15 tháng 2 năm 1979, số vụ xâm phạm vũ trang của Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam năm 1978 là 583 vụ, trong tháng 1 và những tuần lễ đầu tháng 2 năm 1979 là 230 vụ. Không những vậy, Trung Quốc còn cho trên 100 lượt máy bay xâm phạm vùng trời và 481 lượt tàu thuyền hoạt động khiêu khích trên vùng biển Việt NamChính phủ Việt NamBộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần ra tuyên bố và gửi công hàm phản đối hành động xâm phạm biên giới Việt Nam tới Bộ Ngoại giao Trung Quốc.

Nam Quan, hay Hữu Nghị Quan năm 2007, cửa ải nằm tại biên giới Việt NamTrung Quốc.

Hải đảo

Từ năm 1973Liên Hiệp Quốc bắt đầu thảo luận về vấn đề chủ quyền của các quốc gia đối với vùng đặc quyền kinh tế trên biển. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định tuyên bố chủ quyền với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dựa theo Hiệp ước Pháp-Thanh ký kết năm 1887. Về phía Trung Quốc, với cuộc khủng hoảng dầu lửa những năm 1970, nước này đã tìm kiếm các nguồn khai thác dầu mỏ trên biển Đông sát với Việt Nam, một hành động mà theo Việt Nam là chiến lược bao vây đất nước họ. Tranh chấp giữa hai nước về hai quần đảo này đã bắt đầu ngay từ năm 1975 sau khi Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo này.

Ngày 10 tháng 9 năm 1975, phía Trung Quốc gửi công hàm cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức là Hoàng Sa và Trường Sa theo cách gọi của Trung Quốc). Tháng 9 năm 1975, trong chuyến viếng thăm Trung Quốc của Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam do Lê Duẩn dẫn đầu, Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn nêu vấn đề Trung Quốc dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa trong chuyến thăm, phía Việt Nam nêu vấn đề chủ quyền của mình đối với hai quần đảo này. Trong cuộc gặp ngày 24 tháng 9 năm 1975, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố phía Trung Quốc có đầy đủ chứng cứ để khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Trung Quốc, nhưng cần theo nguyên tắc hiệp thương hữu nghị để giải quyết bất đồng. Đặng Tiểu Bình cũng bày tỏ hai bên có thể thương lượng để giải quyết vấn đề. Phản ứng không nhượng bộ của Trung Quốc làm lãnh đạo Việt Nam khó chịu.

Ngày 10 tháng 11 năm 1975, Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi đến Bộ Ngoại giao Trung Quốc công hàm nhắc lại tuyên bố ngày 24 tháng 9 của Đặng Tiểu Bình và đề nghị ngưng tuyên truyền liên quan đến tranh chấp về các quần đảo nhằm tạo không khí thuận lợi cho việc thương thảo. Tuy nhiên trong công hàm trả lời ngày 24 tháng 12 năm 1975, Bộ ngoại giao Trung Quốc bác bỏ đề nghị này.

Ngày 3 tháng 12 năm 1975, Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Bắc Kinh khẳng định với Bộ trưởng Bộ ngoại giao Trung Quốc chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 5 tháng 6 năm 1976, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố Việt Nam sẽ giành quyền bảo vệ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 12 tháng 5 năm 1977, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế 200 dặm và thềm lục địa Việt Nam, bao gồm cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc phản ứng mạnh mẽ với tuyên bố này.

Ngày 30 tháng 7 năm 1977, Ngoại trưởng Trung Quốc Hoàng Hoa tuyên bố: “Khi thời cơ đến chúng ta sẽ thu hồi toàn bộ quần đảo Nam Sa (quần đảo Trường Sa) mà không cần phải thương lượng gì hết”.

Ngày 7 tháng 10 năm 1977, Việt Nam và Trung Quốc có cuộc họp đàm phán về biên giới. Trưởng đoàn Việt Nam Phan Hiền đề nghị đăng ký thảo luận về quần đảo Hoàng Sa đang bị Trung Quốc chiếm giữ từ năm 1974, trưởng đoàn đàm phán Trung Quốc Hàn Niệm Long từ chối.

Ngày 15 tháng 3 năm 1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Bị vong lục về vấn đề biên giới Việt – Trung, trong đó lên án việc Trung Quốc đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Ngày 28 tháng 9 năm 1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách trắng, giới thiệu 19 tài liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

Vấn đề Hoa Kiều

Một lý do nữa khiến căng thẳng Việt Nam – Trung Quốc leo thang là vấn đề Hoa kiều tại Việt Nam. Trước năm 1975 có khoảng 1,5 triệu người gốc Hoa sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, 15% sống ở phía bắc vĩ tuyến 17 và 85% còn lại sinh sống ở miền Nam Việt Nam. Người Hoa đặc biệt có ảnh hưởng ở miền Nam Việt Nam, nơi họ hoạt động mạnh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại. Năm 1955, ở miền Bắc Việt Nam, theo thỏa thuận của Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, “người Hoa cư trú ở miền Bắc Việt Nam phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam” và dần dần chuyển thành công dân Việt Nam, được hưởng những quyền lợi như người Việt Nam và tự nguyện nhập quốc tịch Việt Nam. Năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm đưa ra chính sách buộc người Hoa phải nhập quốc tịch Việt Nam hoặc họ sẽ bị trục xuất khỏi lãnh thổ. Ngược lại, Hà Nội và Bắc Kinh đồng ý trên nguyên tắc về việc cho phép Hoa kiều tự chọn lựa quốc tịch của mình. Cho đến năm 1975, giữa Việt Nam – Trung Quốc không có bất cứ một bất đồng nào trong vấn đề người Hoa ở miền Bắc Việt Nam.

Tháng 4 năm 1978Việt Nam tiến hành cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam. Trung Quốc coi việc Việt Nam, trong quá trình tiến hành cải tạo công thương nghiệp, tịch thu tài sản của giới công thương người Hoa ở miền Nam Việt Nam là một sự thách thức chính sách bảo vệ Hoa kiều của Trung Quốc. Phản ứng lại chính sách cải tạo công thương của nhà nước Việt Nam, một phong trào đòi lấy quốc tịch Trung Quốc trong người Hoa ở Việt Nam nổi lên. Trung Quốc đưa ra chính sách “đoàn kết với giai cấp tư sản Hoa kiều”, kêu gọi chống lại chính sách “bài Hoa” của Việt Nam; đồng thời, loan truyền trong cộng đồng người Việt gốc Hoa về một cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi giữa Việt Nam – Trung Quốc khiến cộng đồng người Hoa hoảng hốt.[18]

Chính sách của Việt Nam từ năm 1976 đã bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi nhanh chóng của mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, với nỗi e ngại rằng Trung Quốc có thể sử dụng Hoa kiều để ép Việt Nam theo các chính sách của mình. Vấn đề Hoa kiều được chính phủ Việt Nam xem là một thử thách đối với chủ quyền quốc gia hơn là một vấn đề nội bộ đơn thuần.[44][45] Chính sách một quốc tịch bắt đầu, Hoa kiều nếu không nhập quốc tịch Việt Nam sẽ bị cho thôi việc,[44] các báo và cơ sở giáo dục tiếng Hoa cũng bị đóng cửa.

Do ảnh hưởng của những yếu tố trên, trong năm 1978 cộng đồng người Hoa ở Việt Nam đã ồ ạt kéo về Trung Quốc. Từ năm 1977 đã có 70.000 Hoa kiều từ Việt Nam quay về Trung Quốc. Cho đến thời điểm xảy ra cuộc chiến đã có chừng 160.000 Hoa kiều hồi hương từ Việt Nam bằng đường biển hoặc đường bộ qua Cửa khẩu Hữu Nghị. Ngày 30 tháng 4 năm 1978, Chủ nhiệm Văn phòng Hoa kiều vụ đã phát biểu bày tỏ “sự quan tâm đối với hiện tượng Hoa kiều ở Việt Nam về nước hàng loạt”, hứa hẹn “sẽ sắp xếp thích đáng cho những Hoa kiều đã trở về một cách vội vàng”. Trung Quốc lập ra các trạm đón tiếp dọc theo biên giới hai nước. Sau đó, tháng 5 năm 1978, Trung Quốc đưa tàu sang đón người Hoa về Trung Quốc. Ngày 12 tháng 7 năm 1978, Trung Quốc đóng cửa biên giới Việt Nam – Trung Quốc, làm cho hàng vạn người Hoa muốn đi Trung Quốc bị kẹt lại tại biên giới. Do có quá nhiều người Hoa xin nhập cảnh vào Trung Quốc, nước này đưa ra điều kiện là người Hoa muốn về Trung Quốc phải chính thức xin giấy phép hồi hương do Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội cấp, cần có hộ chiếu xuất cảnh của chính quyền Việt Nam. Trung Quốc chỉ đón nhận những “nạn kiều người Hoa” đang bị Chính quyền Việt Nam ngược đãi, chứ không nhận về “người Việt gốc Hoa“, hay người Hoa có quốc tịch Việt Nam. Việc ra đi ồ ạt của người Hoa chuyên sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và hoạt động thương nghiệp làm tăng thêm tình trạng khan hiếm hàng hoá tiêu dùng một cách gay gắt, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Việt Nam.

Mục đích và mục tiêu của Trung Quốc

Theo hồi ký của tướng Châu Đức Lễ, Tham mưu trưởng Quân khu Quảng Châu, tháng 9 năm 1978, tại văn phòng Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc diễn ra một cuộc họp về “cách giải quyết vấn đề lãnh thổ bị quân Việt Nam chiếm đóng”. Mối quan tâm ban đầu là nhắm vào cuộc xung đột biên giới. Đề xuất đầu tiên tại cuộc họp muốn có một cuộc tấn công nhỏ vào một trung đoàn Việt Nam tại Trùng Khánh, Cao Bằng, Việt Nam giáp với Quảng TâyTrung Quốc. Sau khi nhận được tin tình báo cho biết Việt Nam sẽ tấn công Campuchia, đa số người dự họp cho rằng cần có một cuộc tấn công tác động lớn đến Hà Nội và tình hình Đông Nam Á. Họ đề nghị tấn công vào một đơn vị quân chính quy Việt Nam ở một khu vực địa lý rộng hơn. Cuộc họp kết thúc mà không đưa ra quyết định nào.

Tháng 11 năm 1978Đặng Tiểu Bình công du Thái LanMalaysia và Singapore. Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu Bình nói với lãnh đạo các nước này rằng Trung Quốc sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công Campuchia.

Ngày 7 tháng 12 năm 1978Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa họp và ra quyết định mở một cuộc chiến hạn chế ở biên giới Việt Nam – Trung Quốc. Cuộc chiến này sẽ được tiến hành một cách hạn chế, trong phạm vi 50 cây số từ biên giới và kéo dài hai tuần. Ngày 8 tháng 12 năm 1978, Quân ủy Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra chỉ thị cho các Quân khu Quảng Châu và Côn Minh chuẩn bị đầy đủ lực lượng trước ngày 10 tháng 1 năm 1979 để thực hiện chiến dịch tấn công Việt Nam.

Tuyên bố chiến tranh của Bắc Kinh nói rằng đây là cuộc chiến để quân Trung Quốc “phản công” chống lại các khiêu khích của Việt Nam. Phát ngôn viên của Tân Hoa xã nói: “Các lực lượng biên phòng Trung Quốc đã hành động khi tình hình trở nên không thể chấp nhận được và không còn lựa chọn nào khác. Chúng tôi không muốn một tấc đất nào của Việt Nam. Cái chúng tôi muốn là một đường biên giới ổn định và hòa bình. Sau khi đánh trả các thế lực hiếu chiến đủ mức cần thiết, các lực lượng biên phòng của chúng tôi sẽ quay lại bảo vệ chặt chẽ biên giới của tổ quốc”.

Nhiều nhà sử học phương Tây cho rằng cuộc chiến có những mục đích không rõ ràng, trong đó dễ thấy nhất là mục đích trừng phạt Việt Nam vì đã lật đổ chế độ Khmer Đỏ tại Campuchia – một đồng minh của Trung Quốc và là một trong những chế độ tàn bạo nhất của thế kỷ XX. Về sau, một số nhà sử học suy đoán rằng cuộc chiến có vẻ là một phần trong kế hoạch hiện đại hóa quân đội của Đặng Tiểu Bình khi nó thể hiện rõ các khiếm khuyết của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Những người khác cho rằng Đặng Tiểu Bình gây ra chiến tranh để giữ cho quân đội bận rộn trong khi ông củng cố quyền lực và loại bỏ các đối thủ cánh tả từ thời Mao Trạch Đông.

Tiến sĩ Xiaoming Zhang, từ trường Air War College, Hoa Kỳ cho rằng Đặng Tiểu Bình quyết định tấn công Việt Nam vì “Nguyên do trước tiên và quan trọng nhất là cách Đặng phản ứng trước đe dọa của Liên Xô với Trung Quốc khi đó. Liên minh của Hà Nội với Moskva khiến Đặng tin rằng đe dọa của Liên Xô không chỉ từ phía bắc mà cả từ phía nam… Các lãnh đạo Trung Quốc tin rằng tấn công trừng phạt Việt Nam sẽ là cú đòn đánh vào chiến lược bành trướng toàn cầu của Liên Xô. Rốt cuộc có lẽ Trung Quốc đã phản ứng thái quá trước đe dọa của Liên Xô. Nhưng vào lúc đó, Đặng Tiểu Bình thực sự tin vào nó. Còn có những yếu tố khác tác động quyết định gây chiến của Đặng, gồm chính trị trong nước và quan hệ với Mỹ. “Hành vi sai trái” của Việt Nam, đặc biệt là liên minh với Liên Xô, làm người Trung Quốc giận dữ. Họ muốn trừng phạt đồng minh phản bội sau nhiều năm Trung Quốc phải hy sinh giúp đánh Mỹ. Các va chạm biên giới cũng khích động tình cảm người Trung Quốc. Yếu tố tình cảm đóng vai trò quan trọng để tạo nên sự đồng thuận trong giới lãnh đạo chính trị và quân sự ủng hộ Đặng gây chiến… Đặng tin rằng liên minh với phương Tây sẽ chứng tỏ Trung Quốc có giá trị trong cuộc đấu tranh chống Liên Xô bành trướng và rằng để đổi lại, phương Tây sẽ giúp Trung Quốc cải tổ kinh tế. Ngoài ra, đấu tranh quyền lực trong đảng, cộng thêm phe nhóm trong quân đội, cũng khiến Đặng càng sẵn sàng có hành động quân sự chống Việt Nam. Theo ông ta, làm thế sẽ khuấy động ủng hộ trong nước và nước ngoài, tạo nên môi trường an toàn và ổn định để Trung Quốc hiện đại hóa”.

Theo Carl Thayer, trong mắt Trung QuốcHà Nội đã vô ơn với Bắc Kinh: sau khi được giúp đỡ trong cuộc chiến chống Mỹ thì quay sang bạc đãi cộng đồng người Hoa, quan hệ nồng ấm với Liên Xô mà khi đó Trung Quốc coi là kẻ thù, rồi lại tấn công quân sự lật đổ đồng minh Khmer Đỏ của Bắc KinhTrung Quốc muốn “dạy cho Việt Nam một bài học” vì đã thách thức uy quyền và ảnh hưởng của Trung Quốc tại vùng Đông Dương. Bên cạnh việc xâm lấn Việt Nam để “bình định vùng biên giới” sau nhiều năm căng thẳng với các xung đột ngày càng nhiều, Trung Quốc phải hành động để chứng tỏ uy tín của mình trong việc bảo vệ đồng minh Khmer Đỏ.

Đối với Việt Nam, cuộc chiến là một phần trong kế hoạch bành trướng về phía nam của Trung Quốc. Trước khi có xung đột, Việt Nam đã đề phòng những kế hoạch tiến xuống Đông Dương (bao gồm biển Đông). Trung Quốc đã viện trợ vũ khí, thuốc men và các nhu yếu phẩm khác cho Campuchia và xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng, đồng thời xúi giục Khmer Đỏ tấn công Việt Nam. Sau khi khống chế Campuchia rồi sẽ dùng bàn đạp để phối hợp với quân Trung Quốc ở phía bắc làm thế gọng kìm bao vây, nếu cần sẽ tấn công để buộc Việt Nam khuất phục. Theo phân tích của phía Việt Nam, mục tiêu chính của Trung Quốc trong hành động quân sự lần này gồm:

  • Nhanh chóng chiếm đóng vùng biên giới Việt-Trung, đặc biệt là các thị xã trọng yếu gồm Lạng Sơn (chốt chặn nối Quốc lộ 1A của Việt Nam với Trung Quốc), Cao Bằng và Lào Cai. Vùng chiếm đóng dự kiến với bề sâu chừng vài chục km sẽ được Trung Quốc sử dụng làm bàn đạp cho các cuộc tấn công vào sâu nội địa Việt Nam.
  • Tiêu hao lực lượng chủ lực và làm suy yếu khả năng phòng ngự phía Việt Nam bằng việc quét sạch các đồn biên phòng, tiêu diệt một phần lực lượng quân địa phương và các đơn vị quân độc lập khác của Việt Nam.
  • Hủy diệt cơ sở hạ tầng và nền kinh tế ở các vùng chiếm đóng để đưa nền kinh tế Việt Nam tới chỗ sụp đổ.

Tương quan lực lượng tham chiến

Trung Quốc

Dân binh Trung Quốc trong các đội tải thương. Ước tính có khoảng 4.000 lính Trung Quốc tử trận chỉ trong 2 ngày đầu của cuộc chiến.

Trung Quốc vào thời điểm đầu năm 1979 ước tính có khoảng 4,5 triệu quân, trong đó số quân được tập trung ở biên giới Việt – Trung vào khoảng 250 000. Trung Quốc có 121 sư đoàn bộ binh, 11 sư đoàn thiết giáp, 40 sư đoàn pháo binh, 3 sư đoàn không quân với 5.000 máy bay chiến đấu, 400.000 lính phòng không và 300.000 lính hải quân.

Theo phía Việt NamTrung Quốc đã huy động quân của hai đại quân khu Quảng Tây và Vân Nam, gồm 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn), 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không. Lực lượng được huy động khoảng trên 60 vạn binh sĩ, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối và dàn hỏa tiễn, chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 948 máy bay sẵn sàng phía sau (gồm 706 tiêm kích J-5, J-6, J-7; 120 tiêm kích bom J-6, Q-5 và 122 máy bay ném bom H-5, H-6).

Hải quân Trung Quốc cũng phái một lực lượng đặc nhiệm (gồm hai tàu mang tên lửa cùng ba đội tàu phóng lôi nhanh có hỏa tiễn) tới quần đảo Hoàng Sa để phòng trường hợp Liên Xô can thiệp bằng hải quân. Không quân Trung Quốc không tham chiến trực tiếp (vì e ngại lực lượng phòng không và lực lượng không quân giàu kinh nghiệm của Việt Nam) nhưng đã có 8.500 chuyến bay trinh thám và 228 chuyến bay trực thăng vận tải

Tướng Hứa Thế Hữu, Tư lệnh Đại Quân khu Quảng Châu chỉ huy hướng tiến công vào Đông Bắc Việt Nam với trọng điểm là Lạng Sơn và Cao Bằng.

Hứa Thế Hữu

Tướng Dương Đắc Chí, Tư lệnh Đại Quân khu Côn Minh đảm nhiệm hướng Tây Bắc với trọng điểm là Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai). Đây là đợt huy động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ Chiến tranh Triều Tiên.

Dương Đắc Chí

Ngoài lực lượng quân chính quy, Trung Quốc còn huy động hàng chục vạn dân công và lực lượng dân binh ở các tỉnh biên giới để tải đồ tiếp tế, phục vụ, tải thương, hỗ trợ quân chính quy phục vụ cho chiến dịch, chỉ riêng tại Quảng Tây đã có đến 215.000 dân công được huy động. Về phân phối lực lượng của Trung Quốc: hướng Lạng Sơn có quân đoàn 43, 54, 55; hướng Cao Bằng có quân đoàn 41, 42, 50; hướng Hoàng Liên Sơn có quân đoàn 13, 14; hướng Lai Châu có quân đoàn 11; hướng Quảng NinhHà Tuyên (nay là Hà Giang) mỗi nơi cũng có từ 1 đến 2 sư đoàn.

Lúc đầu Trung Quốc dự tính sử dụng 6 quân đoàn chủ lực đánh 3 – 5 ngày vào một số huyện biên giới, tiêu diệt 1 đến 2 sư đoàn Việt Nam. Ngày 31/12/1978, Quân ủy Trung Quốc lại họp hội nghị tác chiến, quyết định mở rộng quy mô, tăng thêm 3 quân đoàn, đổi mục tiêu tấn công huyện lỵ thành các tỉnh lỵ biên giới; thời gian kéo dài lên 15 – 20 ngày, nhằm tiêu diệt 3 đến 5 sư đoàn Việt Nam.

Trong chiến tranh, Trung Quốc đã huy động 18.000 khẩu pháo và súng cối, dàn phóng hỏa tiễn các loại. Trong cuộc chiến, trung bình mỗi ngày quân Trung Quốc tiêu thụ đạn dược và nhiên liệu là 700 tấn cho mỗi loại. Tính tổng cộng cả cuộc chiến, Trung Quốc đã sử dụng 1,06 triệu quả đạn pháo, 23,8 ngàn tấn đạn, 55 triệu viên đạn cá nhân và nhiều loại trang bị cá nhân.

Nguyên tắc chủ đạo khi giao chiến của Trung Quốc gồm ba điểm: tập trung tấn công vào vị trí quan trọng nhưng không phải điểm mạnh của quân địch; sử dụng lực lượng và hỏa lực áp đảo (tiền pháo hậu xung) để đập tan quân phòng ngự tại những những điểm mấu chốt; các đơn vị xung kích phải hết sức nhanh chóng thọc sâu và tấn công tất cả các con đường dẫn đến căn cứ kẻ thù. Địa hình miền núi phía Bắc Việt Nam phức tạp, không thuận lợi cho Trung Quốc triển khai các đơn vị tăng, thiết giáp và ngăn cản các thiết bị thông tin lạc hậu. Bù lại, Trung Quốc có đội quân “sơn cước” tuyển mộ từ những người Hoa ở Việt Nam lâu năm, vốn quen biết địa hình địa phương để dẫn đường cho quân đội. Với ưu thế về quân số và trang bị, các tướng lĩnh Trung Quốc tin tưởng rằng họ sẽ đè bẹp đối phương trong thời gian ngắn.

Việt Nam

Về phía Việt Nam, đầu năm 1979, Quân đội Nhân dân Việt Nam được đánh giá có khoảng 600 000 bộ binh chính quy, 3 000 lính hải quân, 300 máy bay và 12 000 lính phòng không, trong đó 19 sư đoàn tập trung ở biên giới Tây Nam, 4 sư đoàn ở biên giới Lào. Lực lượng quân chính quy giữ Hà Nội và các tỉnh Bắc Bộ vào khoảng 100.000.

Do phần lớn các quân đoàn chính quy (3 trong số 4 quân đoàn) đang chiến đấu ở Campuchia nên phòng thủ ở biên giới với Trung Quốc chỉ có một số sư đoàn chủ lực quân khu (chủ yếu là tân binh) của Quân khu I và II cùng các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện, công an vũ trang (biên phòng) và dân quân tự vệ tại 6 tỉnh biên giới (Lai Châu, Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai, Yên Bái), Hà Tuyên (nay là Hà Giang, Tuyên Quang), Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh). Lực lượng tinh nhuệ nhất của phía Việt Nam đóng ở biên giới Việt-Trung là Sư đoàn 3 (đóng tại Lạng Sơn) và Sư đoàn 316A (đóng tại Sa Pa), ngoài ra còn có các sư đoàn 346 ở Cao Bằng, 325B ở Quảng Ninh, 345 ở Lào Cai, 326 ở Phong ThổLai Châu. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng biên giới có khoảng 70.000 quân, sau được hai sư đoàn (327 và 337) từ tuyến sau lên Lạng Sơn tiếp viện. Lực lượng độc lập gồm các trung đoàn 141, 147, 148, 197, trung đoàn pháo binh 68, các trung đoàn quân địa phương 95, 121, 192, 254 và 741. Quân đoàn 1 vẫn đóng quanh Hà Nội đề phòng Trung Quốc đổi ý tiến sâu vào Bắc bộ.

Ngày 27 tháng 2Quân đoàn 2 là chủ lực của Bộ quốc phòng được lệnh cơ động về để bảo vệ miền Bắc, đến ngày 5 tháng 3 bắt đầu triển khai trên hướng Lạng Sơn, nhưng chưa kịp tham chiến thì Trung Quốc tuyên bố rút quân.

Quân đội Việt Nam được đánh giá là giàu kinh nghiệm chiến đấu, có vũ khí khá hiện đại từ kho chiến lợi phẩm thu được của Mỹ và sự giúp đỡ của Liên Xô. Tuy nhiên các yếu tố này không phát huy được nhiều lúc xảy ra chiến sự vì phần lớn quân chủ lực đang chiến đấu ở Campuchia, lực lượng tham chiến chủ yếu là quân địa phương, công an vũ trang và dân quân tự vệ bảo vệ biên giới.

Lãnh đạo 2 nước là Đặng Tiểu Bình và Lê Duẩn đã có nhiều lần gặp mặt và đều là những người quyết đoán. Trong bài phát biểu của mình sau chiến tranh 1979, Lê Duẩn đã khái quát: “Trung Quốc hiện nay có một đội quân ba triệu rưỡi người nhưng họ phải để lại một nửa trên biên giới Trung – Xô để phòng ngừa Liên Xô. Vì lý do đó, nếu họ có mang 1 hoặc 2 triệu quân sang đánh ta, chúng ta cũng không hề sợ hãi gì cả. Chúng ta chỉ có 600 ngàn quân ứng chiến và nếu sắp tới chúng ta phải đánh với 2 triệu quân thì cũng không có vấn đề gì cả. Chúng ta không sợ vì chúng ta đã biết cách chiến đấu. Nếu họ mang vào 1 triệu quân thì họ cũng chỉ đặt được chân ở phía Bắc… Phải đối mặt với những làng mạc, thành phố, nhân dân và công tác phòng ngự, không ai có thể thực hiện một cuộc tiến công hiệu quả chống lại từng người dân. Thậm chí có phải đánh nhau hai, ba năm hoặc bốn năm, họ cũng không thể tiến vào được… Mỗi huyện là một pháo đài, mỗi tỉnh là một chiến trường. Chúng ta sẽ chiến đấu và họ sẽ không thể xâm nhập vào được”.

Diễn biến – Chuẩn bị – Quân sự

Theo nguồn tin từ Cục tình báo Trung ương Hoa Kỳ, thì từ giữa năm 1978Trung Quốc đã hoàn chỉnh các phương án tác chiến, các đơn vị quân đội Trung Quốc đã sẵn sàng mở cuộc tiến công quân sự quy mô lớn chống Việt Nam, chỉ cần thời cơ đến là phát động chiến tranh. Trong những buổi họp của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc từ giữa năm 1978 đến cuối năm 1978, nhiều biện pháp trừng phạt Việt Nam bằng quân sự được đưa ra bàn thảo. Từ giữa tháng 12 năm 1978Trung Quốc đã chọn lực lượng quân đội từ năm quân khu và đưa áp sát biên giới Trung – Việt.

Từ tháng 10 năm 1978 cho đến 15 tháng 2 năm 1979Trung Quốc thực hiện hàng loạt các vụ tấn công thăm dò vào các vị trí phòng thủ của Việt Nam tại biên giới, với mục đích thu thập thông tin tình báo, đe dọa quân Việt Nam, và đánh lạc hướng khỏi mục tiêu chính của chiến dịch sắp tới. Các cuộc tấn công nhỏ này tăng dần về quy mô và tần số khi lực lượng Trung Quốc tập trung tại biên giới ngày càng đông. Không có tài liệu gì về các cuộc tấn công thăm dò của quân Việt Nam. Dấu hiệu đầu tiên của chiến tranh là việc Trung Quốc cắt đứt tuyến đường sắt Hữu Nghị nối liền hai nước vào ngày 22 tháng 12 năm 1978. Đến cuối tháng 1 năm 1979, khoảng 17 sư đoàn chính quy Trung Quốc (khoảng 225.000 quân) đã tập trung gần biên giới với Việt Nam. Hơn 700 máy bay chiến đấu và máy bay ném bom –{\displaystyle {\frac {1}{5}}} lực lượng không quân Trung Quốc – đã được đưa đến các sân bay gần biên giới. Các động thái leo thang này của Trung Quốc đã được phía Việt Nam đề cập tại cuộc họp của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ngày 11 tháng 2 năm 1979.

Từ ngày 9 đến ngày 12 tháng 2 năm 1979, Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc họp hội nghị để nghe báo cáo của Đặng Tiểu Bình và đánh giá tình hình. Hội nghị quyết định tấn công Việt Nam và thành lập Bộ Chỉ huy chung. Ngày 16 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc tổ chức cuộc họp phổ biến ý nghĩa của cuộc chiến tranh sắp tới chống Việt Nam cho cán bộ cao cấp nước này. Trong cuộc họp này, Đặng Tiểu Bình nêu mục tiêu, cái lợi, hại của cuộc chiến tranh chống Việt Nam, nhấn mạnh đây là cuộc phản kích tự vệ, hạn chế về thời gian và không gian.

Để cảnh báo Liên Xô và cũng nhằm ngăn chặn bị tấn công từ hai mặt, Trung Quốc đặt toàn bộ quân đội đóng dọc biên giới Trung – Xô vào tình trạng báo động đồng thời thiết lập một sở chỉ huy quân đội mới ở Tân Cương và di tản 300 000 dân khỏi vùng biên giới với Liên Xô.

Để đối phó lại việc Trung Quốc tập trung bộ binh và vũ khí hạng nặng tại biên giới, cũng như việc các cuộc đột kích vũ trang ngày càng gia tăng, Việt Nam tiến hành chuẩn bị các vị trí phòng ngự, chuẩn bị tinh thần dân chúng sẵn sàng một khi chiến tranh xảy ra. Tuy nhiên Việt Nam tại thời điểm đó vẫn tin rằng Trung Quốc sẽ không tấn công, vì Trung Quốc vẫn là một nước Xã hội Chủ nghĩa anh em. Thêm nữa, Việt Nam tin rằng đa phần nhân dân Trung Quốc không ủng hộ chiến tranh và sẽ phản đối chiến tranh nổ ra. Ngoài ra, tuyên bố của Đặng Tiểu Bình chỉ một tuần trước khi chiến tranh nổ ra, rằng chiến dịch quân sự của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc sẽ không dài hơn cuộc chiến 1962 với Ấn Độ, cộng với các tuyên bố của Đặng trước đó rằng chiến dịch quân sự này “giới hạn về không gian và thời gian”, khiến Hà Nội tin tưởng họ có khả năng cầm chân quân Trung Quốc tại các tỉnh biên giới.

Lực lượng Việt Nam đương đầu với cuộc tấn công của Trung Quốc chủ yếu là dân quân và bộ đội địa phương. Từ vài tháng trước khi chiến tranh nổ ra, Hà Nội đã tiến hành huấn luyện và trang bị vũ khí hạng nhẹ cho dân quân tại các tỉnh biên giới. Chỉ có một số đơn vị quân chính quy tham gia chiến trận, nhất là các đơn vị phòng thủ Lạng Sơn, nhưng ngay cả tại đây, lực lượng chủ yếu vẫn là dân quân và quân địa phương. Hà Nội giữ lại 5 sư đoàn chủ lực ở tuyến sau đề phòng Trung Quốc tiến sâu về đồng bằng, và đồng thời cũng để giới hạn việc cuộc chiến leo thang.

Từ tháng 1 năm 1979, Trung Quốc bắt đầu đẩy mạnh các hoạt động trinh sát vũ trang dọc biên giới. Trong tháng 1 và tuần đầu tiên của tháng 2 năm 1979, Trung Quốc gây ra 230 vụ xâm phạm vũ trang vào lãnh thổ Việt Nam, từ gây hấn cho tới phục kích, bắt cóc người đưa về Trung Quốc, tập kích, bắn phá các đồn biên phòng và trạm gác của công an, dân quân Việt Nam cũng như các cơ sở sản xuất của người dân. Trong những vụ xâm phạm này, lính Trung Quốc đã giết trên 40 dân thường và chiến sĩ, làm bị thương hàng trăm người và bắt đi hơn 20 người. Có những vụ diễn ra sâu trong lãnh thổ Việt Nam tới 5 km như vụ tập kích trạm gác của dân quân ở Bản Lầu (Hoàng Liên Sơn) ngày 14 tháng 1, có những vụ quy mô lớn như huy động 1 tiểu đoàn chính quy tấn công bình độ 400 ở Thanh Lòa, Cao Lộc (Lạng Sơn) ngày 10 tháng 2, có những vụ pháo kích lớn đã sử dụng cả tới pháo 85mm, súng cốiĐKZ,…

Ngày 1 tháng 1 năm 1979, theo chỉ thị của Thường vụ Quân ủy Trung ương Việt Nam, các lực lượng vũ trang biên giới được lệnh chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao. Ngày 15 tháng 2, ngoại trừ các xã biên giới và một vài đơn vị, các lực lượng trên tuyến 1 được lệnh hạ cấp xuống trạng thái sẵn sàng chiến đấu tăng cường. Nhiều đơn vị tổ chức cho phần lớn bộ đội về trạng thái sinh hoạt bình thường, di chuyển, điều chỉnh lại đội hình bố trí…

Ngoại giao

Ngày 12 tháng 8 năm 1978, trước khi tấn công Việt NamTrung Quốc ký với Nhật Bản Hiệp ước Hòa bình, Hữu nghị có giá trị trong mười năm và sẽ tái ký sau đó nhằm tạo sự ổn định tại khu vực Đông Bắc Á có lợi cho Trung Quốc.

Ngày 5 tháng 11 năm 1978, Đặng Tiểu Bình đi thăm các nước ASEAN. Trong chuyến đi ngày Đặng nói rằng, việc Việt Nam ký Hiệp ước Việt – Xô ngày 3 tháng 11 năm 1978 là mối đe dọa đối với các nước ASEANĐặng Tiểu Bình kêu gọi thành lập Mặt trận chống Liên Xô và Việt Nam, bao gồm Trung Quốc, khối nước ASEAN để cân bằng lại quyền lợi của các nước Đông Nam Á và nói rõ quyết tâm của Trung Quốc không để khu vực Đông Nam Á rơi vào tay Việt Nam. Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu Bình công khai ý định dùng biện pháp quân sự đối phó với Việt Nam. Các nước ASEAN đều cho rằng cuộc xung đột Việt Nam – Campuchia và Việt Nam – Trung Quốc là “nhân tố không ổn định đối với hòa bình khu vực”. Tuy nhiên, vì Việt Nam nghiêng về phía Liên Xô nên các nước ASEAN nhận thấy cần phải nhích lại gần Trung Quốc hơn nữa. Tại Bangkok, theo yêu cầu của Đặng Tiểu Bình, Thái Lan đồng ý cho phép máy bay Trung Quốc quá cảnh qua vùng trời Thái Lan để đi Campuchia và trở về. Theo Nayan Chanda, liên minh giữa Bắc Kinh và Bangkok đã mở ra con đường mòn Đặng Tiểu Bình xuyên qua Thái Lan và biến Thái Lan thành một cái then chặn chiến lược an toàn của Trung Hoa tại Campuchia.

Sau đó, tháng 1 năm 1979, Đặng Tiểu Bình thăm Mỹ rồi tới thăm Nhật. Về mặt ngoại giao, sau khi bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ từ tháng 12 năm 1978, trong chuyến thăm Washington từ 28 đến 30 tháng 1, Đặng Tiểu Bình nhận được sự ủng hộ cần thiết của đồng minh mới Hoa Kỳ trong kế hoạch tấn công Việt Nam.

Tổng thống Jimmy Carter cũng cảnh báo Đặng rằng vụ tấn công của Trung Quốc, nếu xảy ra, sẽ nhận được sự ủng hộ về mặt ngoại giao hoặc quân sự quốc tế. Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu Bình đã thông báo về ý định chuẩn bị tấn công Việt Nam với mong muốn có được sự hỗ trợ về tinh thần từ phía Mỹ. Khi tiếp xúc bí mật với Brzezinski, Đặng Tiểu Bình tuyên bố: “Đối với Việt Nam, Trung Quốc phải chịu trách nhiệm đối phó” và nhấn mạnh: “Các ngài nhớ kỹ một điều là những lời phát biểu của tôi trong chuyến thăm nước Mỹ sẽ hoàn toàn được chứng thực bằng những hành động”Đặng Tiểu Bình cũng bảo đảm rằng, cuộc tấn công Việt Nam sẽ giới hạn và nhanh chóng. Trong chuyến đi của Đặng Tiểu Bình sang Mỹ, Đặng đã chuẩn bị tinh thần cho các đồng minh một cách chắc chắn rằng sẽ thực hiện sự trừng phạt như đã loan báo.

Hai tuần sau chuyến thăm, ngay trước khi Trung Quốc tấn công Việt Nam, Đại sứ Mỹ Malcolm kín đáo khuyến cáo Ngoại trưởng A. Gromyko là Liên Xô nên tự kiềm chế trong trường hợp Trung Quốc tấn công Việt Nam, để khỏi ảnh hưởng đến việc Quốc hội Mỹ sẽ thông qua Hiệp ước SALT mà Liên Xô rất mong muốn.

Từ ngày 1 đến ngày 13 tháng 1 năm 1979, phía Trung Quốc liên tiếp có nhiều phát biểu và bình luận mà nội dung là tố cáo Việt Nam xâm lược, lên án Việt Nam chiếm đóng Phnôm Pênh. Trung Quốc kêu gọi Campuchia Dân chủ đánh lâu dài và hứa sẽ ủng hộ toàn diện. Trung Quốc đưa ra Hội đồng Bảo an Dự thảo nghị quyết đòi Việt Nam rút quân, kêu gọi các nước chấm dứt viện trợ cho Việt Nam. Trước dư luận trong nước và quốc tế, Trung Quốc công khai tuyên bố: “Việt Nam là tiểu bá theo đại bá Liên Xô“, “Trung Quốc quyết không để cho ai làm nhục”, cuộc tiến công của Trung Quốc vào Việt Nam sắp tới là nhằm “dạy cho Việt Nam một bài học“. Trước thái độ đó, báo chí và chính giới Mỹ không có phản ứng công khai, còn Thủ tướng Liên Xô A. Kosygin thì nhận định: Tuyên bố của Đặng Tiểu Bình là một bản “tuyên bố chiến tranh với Việt Nam“.

Ngày 7 tháng 2Bắc Kinh báo trước về một chiến dịch tấn công Việt Nam với thông cáo chính thức của chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phản đối việc quân đội Việt Nam tiến vào lãnh thổ Campuchia và đề nghị tất cả các quốc gia yêu hòa bình “dùng mọi biện pháp có thể để chấm dứt cuộc xâm lược dã man này”.

Giai đoạn 1

Mặt trận Lạng Sơn.

Mặt trận Cao Bằng.

5 giờ sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, lực lượng bộ binh Trung Quốc với khoảng 120.000 quân bắt đầu tiến vào Việt Nam trên toàn tuyến biên giới, mở đầu là pháo, tiếp theo là xe tăng và bộ binh. Cánh phía đông có Sở Chỉ huy Tiền phương đặt tại Nam Ninh và mục tiêu chính là Lạng Sơn. Có hai hướng tiến song song, hướng thứ nhất do quân đoàn 42A dẫn đầu từ Long Châu đánh vào Đồng Đăng nhằm làm bàn đạp đánh Lạng Sơn, hướng thứ hai do quân đoàn 41A dẫn đầu từ Tĩnh Tây và Long Châu tiến vào Cao Bằng và Đông Khê. Ngoài ra còn có quân đoàn 55A tiến từ Phòng Thành vào Móng Cái. Cánh phía tây có Sở Chỉ huy Tiền phương đặt tại Mông Tự, có 3 hướng tiến công chính. Hướng thứ nhất do các quân đoàn 13A và 11A dẫn đầu đánh vào thị xã Lào Cai. Hướng thứ hai từ Văn Sơn đánh vào Hà Giang. Hướng thứ 3 do sư đoàn 42D của quân đoàn 14A dẫn đầu đánh từ Kim Bình vào Lai Châu. Tổng cộng quân Trung Quốc xâm nhập Việt Nam trên 26 điểm, các khu vực dân cư Việt Nam chịu thiệt hại nặng nhất từ đợt tấn công đầu tiên này là Lào CaiMường KhươngCao BằngLạng Sơn và Móng Cái.

Không quân và hải quân không được sử dụng trong toàn bộ cuộc chiến. Tất cả các hướng tấn công đều có xe tăngpháo binh hỗ trợ. Quân Trung Quốc vừa chiếm ưu thế về lực lượng, vừa chủ động về thời gian tiến công, lại còn có “lực lượng thứ năm” gồm những người Việt gốc Hoa trên đất Việt Nam. Từ đêm 16 tháng 2, các tổ thám báo Trung Quốc đã mang theo bộc phá luồn sâu vào nội địa Việt Nam móc nối với “lực lượng thứ năm” này lập thành các toán vũ trang phục sẵn các ngã ba đường, bờ suối, các cây cầu để ngăn chặn lực lượng tiếp viện của Việt Nam từ phía sau lên. Trước giờ nổ súng, các lực lượng này cũng bí mật cắt các đường dây điện thoại để cô lập sở chỉ huy sư đoàn với các chốt, trận địa pháo.

Tiến nhanh lúc khởi đầu, nhưng quân Trung Quốc nhanh chóng phải giảm tốc độ do gặp nhiều trở ngại về địa hình và hệ thống hậu cần quá lạc hậu phải dùng lừangựa và người thồ hàng. Hệ thống phòng thủ của Việt Nam dọc theo biên giới rất mạnh, với các hầm hào hang động tại các điểm cao dọc biên giới do lực lượng quân sự tinh nhuệ có trang bị và huấn luyện tốt trấn giữ. Kết quả là Trung Quốc phải chịu thương vong lớn. Trong ngày đầu của cuộc chiến, chiến thuật dùng biển lửa và biển người của Trung Quốc đã có kết quả tốt, họ tiến được vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam hơn 10 dặm và chiếm được một số thị trấn. Chiến sự ác liệt nhất diễn ra tại các vùng Bát XátMường Khương ở tây bắc và Đồng Đăng, cửa khẩu Hữu NghịThông Nông ở đông bắc. Quân Trung Quốc cũng đã vượt sông Hồng và đánh mạnh về phía Lào Cai.

Trong hai ngày 18 và 19 tháng 2, chiến sự lan rộng hơn. Quân đội Việt Nam kháng cự rất mạnh và với tinh thần chiến đấu cao. Quân Trung Quốc hầu như không thể sử dụng lực lượng ở mức sư đoàn mà phải dùng đội hình nhỏ và thay đổi chiến thuật. Họ tiến chậm chạp, giành giật từng đường hầm, từng điểm cao, và cuối cùng cũng chiếm được Mường KhươngTrùng Khánh, và Đồng Đăng. Tại Móng Cái, hai bên giành giật dai dẳng. Cả hai bên đều phải chịu thương vong cao, có ít nhất 4.000 lính Trung Quốc chết trong hai ngày đầu này. Sau hai ngày chiến tranh, quân Trung Quốc đã chiếm được 11 làng mạc và thị trấn, đồng thời bao vây Đồng Đăng, thị trấn có vị trí then chốt trên đường biên giới Trung-Việt.

Quân Trung Quốc đang di chuyển tại Cao Bằng. Đi đầu là xe bọc thép Kiểu 63 (K63).

Trận chiến tại Đồng Đăng bắt đầu ngay từ ngày 17 và là trận ác liệt nhất. Đây là trận địa phòng thủ của Trung đoàn 12 Tây Sơn, Sư đoàn 3 Sao VàngQuân đội Nhân dân Việt Nam. Tấn công vào Đồng Đăng là 2 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn xe tăng và chi viện của 6 trung đoàn pháo binh Trung Quốc. Cụm điểm tựa Thẩm Mò , Pháo Đài, 339 tạo thế chân kiềng bảo vệ phía tây nam thị xã Đồng Đăng, do lực lượng của hai Tiểu đoàn 4 và 6, Trung đoàn 12 trấn giữ, bị Trung Quốc bao vây và tấn công dồn dập ngay từ đầu với lực lượng cấp sư đoàn. Lực lượng phòng thủ không được chi viện nhưng đã chiến đấu đến những người cuối cùng, trụ được cho đến ngày 22. Ngày cuối cùng tại Pháo Đài, nơi có hệ thống phòng thủ kiên cố nhất, không gọi được đối phương đầu hàng, quân Trung Quốc chở bộc phá tới đánh sập cửa chính, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, bắn đạn hóa chất độc vào các lỗ thông hơi làm thiệt mạng hầu hết thương binh cũng như dân quanh vùng đến đây lánh nạn. Tổng cộng trong trận Đồng Đăng, Trung Quốc thương vong 2.220 lính (trong đó 531 chết). Về phía Việt Nam, trong số 700 bộ đội, dân quân và công an phòng thủ tại pháo đài Đồng Đăng, chỉ có sáu người sống sót.

Ngày 19 tháng 2Đặng Tiểu Bình trong cuộc gặp với giới ngoại giao Argentina tuyên bố đây là cuộc chiến tranh hạn chế và Trung Quốc sẽ rút quân ngay sau khi đạt được mục tiêu giới hạn.

Cùng ngày, một đoàn cố vấn quân sự cao cấp của Liên Xô do Đại tướng G.Obaturovym đứng đầu tới Hà Nội hỗ trợ cho các tướng lĩnh chỉ huy của Việt Nam. Nhóm chuyên gia của Trung tướng M.Vorobevy có trách nhiệm cố vấn cho Bộ Tư lệnh lực lượng Phòng không – Không quân còn Đại tướng G.Obaturovym làm cố vấn cho Tổng Tham mưu trưởng lực lượng vũ trang Việt Nam Lê Trọng Tấn và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Văn Tiến DũngMoskva yêu cầu Trung Quốc rút quân. Liên Xô cũng viện trợ gấp vũ khí cho Việt Nam qua cảng Hải Phòng.

Mặt trận Lào Cai.

Đến 21 tháng 2Trung Quốc tăng cường thêm 2 sư đoàn và tiếp tục tấn công mạnh hơn nữa. Ngày 22, các thị xã Lào Cai và Cao Bằng bị chiếm. Quân Trung Quốc chiếm thêm một số vùng tại Hà TuyênCao BằngLạng Sơn và Quảng Ninh. Chiến sự lan rộng tới các khu đô thị ven biển ở Móng Cái. Về phía Việt Nam, cùng lúc với việc triển khai phòng ngự quyết liệt, khoảng từ 3 đến 5 sư đoàn (gồm 30.000 quân) cũng được giữ lại để thành lập một tuyến phòng ngự cánh cung từ Yên Bái tới Quảng Yên với nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng.

Ngày 23 tháng 2Đặng Tiểu Bình nhắc lại tuyên bố về “cuộc chiến tranh hạn chế” và nói sẽ rút quân trong vòng 10 ngày hoặc hơn. Đây được xem là thông điệp nhằm ngăn Liên Xô can thiệp quân sự, đáp lại kêu gọi rút quân của Mỹ, xoa dịu các nước đang lo ngại về một cuộc chiến lớn hơn, và gây khó hiểu cho Việt Nam. Trong khi đó, một tuần dương hạm Sverdlov và một khu trục hạm Krivak của Liên Xô đã rời cảng từ ngày 21 tiến về phía vùng biển Việt NamLiên Xô cũng đã bắt đầu dùng máy bay giúp Việt Nam chở quân và vũ khí ra Bắc. Hai chuyến bay đặc biệt của Liên Xô và Bulgaria chở vũ khí, khí tài bay tới Hà Nội.

Ngày 26 tháng 2, thêm nhiều quân Trung Quốc tập kết quanh khu vực Lạng Sơn chuẩn bị cho trận chiến đánh chiếm thị xã này. Sau khi thị sát chiến trường, Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam đề xuất điều động một quân đoàn từ Campuchia cùng một tiểu đoàn pháo phản lực BM-21 vừa được Liên Xô viện trợ về Lạng Sơn. Đồng thời tổ chức và huy động lại các đơn vị và các phân đội, biên chế lại một sư đoàn vừa rút lui từ chiến trường, tiến hành các hoạt động tác chiến vào sâu trong hậu phương địch.

Phi đoàn máy bay vận tải An-12 của Liên Xô đã tiến hành không vận Quân đoàn 2, Quân đội Nhân dân Việt Nam từ Campuchia về Lạng Sơn.

Ngày 25 tháng 2, tại Mai SaoQuân đoàn 14 thuộc Quân khu 1, Quân đội Nhân dân Việt Nam cùng Bộ Chỉ huy thống nhất Lạng Sơn được thành lập, lực lượng bao gồm các Sư đoàn 3, 327, 338, 337 (đang từ Quân khu 4 ra) và sau này có thêm Sư đoàn 347 cùng các đơn vị trực thuộc khác.

Trong giai đoạn đầu đến ngày 28 tháng 2 năm 1979, quân Trung Quốc chiếm được các thị xã Lào Cai, Cao Bằng và một số thị trấn. Các cơ sở vật chất, kinh tế ở những nơi này bị phá hủy triệt để. Tuy nhiên, do vấp phải sự phòng ngự có hiệu quả của Việt Nam cũng như có chiến thuật lạc hậu so với phía Việt Nam nên quân Trung Quốc tiến rất chậm và bị thiệt hại nặng. Quân Việt Nam còn phản kích đánh cả vào hai thị trấn biên giới Ninh Minh (Quảng Tây) và Malipo (Vân Nam) của Trung Quốc, nhưng chỉ có ý nghĩa quấy rối.

Giai đoạn 2

Bài chi tiết: Trận Lạng Sơn

Giai đoạn 2 bắt đầu từ ngày 27 tháng 2. Chiến sự tập trung tại Lạng Sơn tuy giao tranh tại Lào CaiCao Bằng và Móng Cái vẫn tiếp diễn. Trận đánh chiếm thị xã Lạng Sơn bắt đầu lúc 6 giờ sáng cùng ngày. Trung Quốc điều tới đây thêm 2 sư đoàn từ Đồng Đăng và Lộc Bình (phía đông nam Lạng Sơn), tiếp tục đưa thêm quân mới từ Trung Quốc thâm nhập Việt Nam để tăng viện. Tại Lạng Sơn, các Sư đoàn 3, 337 của Việt Nam đã tổ chức phòng thủ chu đáo và phản ứng mãnh liệt trước các đợt tấn công lớn của quân Trung Quốc. Từ ngày 2 tháng 3, Sư đoàn 337 trụ tại khu vực cầu Khánh Khê. Sư đoàn 3 chống trả 3 sư đoàn bộ binh 160, 161, 129 cùng nhiều tăng, pháo, tiến công trên một chiều dài 20 km từ xã Hồng Phong huyện Văn Lãng đến xã Cao Lâu huyện Cao Lộc. Suốt ngày 27, ở hướng Cao Lộc, sư đoàn 129 Trung Quốc không phá nổi trận địa phòng thủ của trung đoàn 141; ở hướng đường 1B, sư đoàn 161 bị trung đoàn 12 ghìm chân; ở hướng đường 1A, trung đoàn 2 vừa chặn đánh sư đoàn 160 từ phía bắc vừa chống lại cánh quân vu hồi của sư đoàn 161 từ hướng tây bắc thọc sang. Nhưng 14 giờ ngày hôm đó, 1 tiểu đoàn Trung Quốc bí mật luồn qua phía sau bất ngờ đánh chiếm điểm cao 800, nơi đặt đài quan sát pháo binh của sư đoàn 3 Sao Vàng. Mất điểm cao 800, thế trận phòng ngự của Việt Nam ở phía tây đường 1A từ Cốc Chủ đến điểm cao 417 bị chọc thủng. Chiếm được điểm cao 800 và Tam Lung, nhưng trong suốt các ngày từ 28 tháng 2 đến 2 tháng 3, quân Trung Quốc vẫn không vượt qua được đoạn đường 4 km để vào thị xã Lạng Sơn, tuy đã dùng cho hướng tiến công này gần 5 sư đoàn bộ binh. Sau nhiều trận đánh đẫm máu giành giật các điểm cao quanh Lạng Sơn, mà có trận quân phòng thủ Việt Nam đánh đến viên đạn cuối cùng, quân Trung Quốc bắt đầu bao vây thị xã Lạng Sơn ngày 2 tháng 3 sử dụng thêm sư đoàn 162 dự bị chiến dịch của quân đoàn 54 và dùng 6 sư đoàn tấn công đồng loạt trên nhiều hướng. Chiều ngày 4, một cánh quân Trung Quốc đã vượt sông Kỳ Cùng, chiếm điểm cao 340 và vào tới thị xã Lạng Sơn, một cánh quân khác của sư đoàn 128 Trung Quốc cũng chiếm sân bay Mai Pha, điểm cao 391 ở phía tây nam thị xã.

Đến đây, phía Việt Nam đã điều động các sư đoàn chủ lực có xe tăng, pháo binh, không quân hỗ trợ áp sát mặt trận, chuẩn bị phản công giải phóng các khu vực bị chiếm đóng. Quân đoàn 14 với các sư đoàn 337, 327, 338 hầu như còn nguyên vẹn đang bố trí quân quanh thị xã Lạng Sơn. Ngày 27 tháng.2, Quân đoàn 2 – Binh đoàn Hương Giang đang làm nhiệm vụ truy quét Khmer Đỏ tại Kampot, Kampong Som (Campuchia) cũng được lệnh cơ động gấp toàn bộ lực lượng về nước, tập kết sau lưng Quân đoàn 14.

Ngày 3 tháng 3Quân đoàn 1 – Binh đoàn Quyết Thắng nhận lệnh cho Sư đoàn bộ binh 320B (sau này đổi thành 390 – đoàn Đồng Bằng, gồm Trung đoàn bộ binh 27, 48, 64 và Trung đoàn pháo binh 54) được tăng cường Trung đoàn bộ binh 209 (đoàn Sông Lô) thuộc Sư đoàn bộ binh 312 (đoàn Chiến Thắng) và tiểu đoàn pháo tầm xa 130mm của Lữ đoàn pháo binh 45 (đoàn Tất Thắng) cấp tốc hành quân lên Lạng Sơn.

Trung Quốc rút quân

Những tù binh Trung Quốc bị canh giữ bởi nữ dân quân Việt Nam.

Tối ngày 4 tháng 3, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 5 thông qua và bắt đầu triển khai phương án mở chiến dịch phản công. Cùng thời điểm này lực lượng tăng cường của Quân đoàn 1 cũng đã hoàn tất triển khai vào vị trí chiến đấu trên tuyến Chi Lăng-Đồng Mỏ-Hữu Kiên phía nam thị xã. Trung đoàn pháo binh 204 với 3 hệ thống (36 dàn phóng) tiễn bắn loạt 40 nòng BM-21 đã tập kết và lấy phần tử sẵn sàng khai hỏa. Quân đoàn 2 cũng thực hiện chuyển quân thần tốc bằng cả đường biển, đường bộ, đường sắt và đường không bắt đầu từ ngày 6 tháng 3, đến ngày 11 tháng 3 những đơn vị đầu tiên của quân đoàn gồm Sư đoàn bộ binh 304 (đoàn Vinh Quang), Lữ đoàn pháo binh 164 (đoàn Bến Hải), Lữ đoàn phòng không 673, tiểu đoàn trinh sát… đã về tới Hà Nội.

Các phi đội thuộc Trung đoàn không quân 917 (đoàn Đồng Tháp), 935 (đoàn Đồng Nai) và 937 (đoàn Hậu Giang) gồm 10 trực thăng UH-1, 3 máy bay trinh sát U-17, 10 máy bay cường kích A-37, 10 máy bay tiêm kích bom F-5 lần lượt được triển khai ở căn cứ Hòa Lạc, Kép, Bạch Mai và Nội Bài, cùng với các phi đội tiêm kích MiG-17MiG-21 của Sư đoàn không quân 371 (đoàn Thăng Long) đặt trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao độ. Ở phía Nam, trực thăng và máy bay vận tải của Trung đoàn không quân 916 (đoàn Ba Vì), 918 và Đoàn bay 919 Tổng cục Hàng không Dân dụng phối hợp với không quân Liên Xô vận chuyển Quân đoàn 2 ra Bắc. Đoàn bay 919 còn sử dụng máy bay vận tải IL-14 (có MiG-21 yểm hộ) bay nhiều chuyến thả dù tiếp tế cho lực lượng vũ trang Việt Nam ở khu vực xã Canh Tân-Minh Khai, Thạch An (Cao Bằng).

Ngày 5 tháng 3 năm 1979Việt Nam ra lệnh tổng động viên toàn quốc. Trưa cùng ngày, Bắc Kinh tuyên bố đã “hoàn thành mục tiêu chiến tranh”, “chiến thắng” và bắt đầu rút quân. Ngày hôm sau quân Trung Quốc rút về phía bắc sông Kỳ Cùng.

Ngày 6 tháng 3 năm 1979, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Chỉ thị số 69, nhận định về tình hình và đưa ra chủ trương trong điều kiện Trung Quốc rút quân. Chỉ thị này khẳng định: “”Trong khi chấp nhận cho địch rút quân, chúng ta luôn luôn phải nâng cao cảnh giác, tăng cường quốc phòng, sẵn sàng giáng trả địch đích đáng, nếu chúng lật lọng, trở lại xâm lược nước ta lần nữa (…) Không được một chút mơ hồ nào đối với âm mưu cơ bản của bọn phản động Trung Quốc là thôn tính nước ta, khuất phục nhân dân ta (…) luôn luôn sẵn sàng chuẩn bị chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, đập tan bọn xâm lược (…) cần giương cao chính nghĩa của ta, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc và bảo vệ hòa bình, xúc tiến việc hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ, bảo vệ Việt Nam”. Ngày 7 tháng 3, Việt Nam tuyên bố rằng để thể hiện “thiện chí hòa bình”, Việt Nam sẽ cho phép Trung Quốc rút quân. Bộ Quốc phòng Việt Nam quyết định cho dừng chiến dịch phản công.

Mặc dù Trung Quốc tuyên bố rút quân, chiến sự vẫn tiếp diễn ở một số nơi. Dân thường Việt Nam vẫn tiếp tục bị giết, chẳng hạn như vụ thảm sát ngày 9 tháng 3 tại thôn Đổng Chúc, xã Hưng Đạo, huyện Hòa AnCao Bằng, khi quân Trung Quốc đã dùng búa và dao giết 43 người, gồm 21 phụ nữ và 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai, rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc rồi vứt hai bên bờ suối. Trong thời gian chuẩn bị rút quân, Trung Quốc còn phá hủy một cách có hệ thống toàn bộ các công trình xây dựng, từ nhà dân hay cột điện, tại các thị xã, thị trấn SapaĐồng ĐăngLạng Sơn,…

Sư đoàn 337 của Việt Nam, lên tham chiến từ ngày 2 tháng 3 tại khu vực cầu Khánh Khê ở Lạng Sơn để chi viện cho các đơn vị đang chặn đánh quân Trung Quốc. Sư đoàn này đến nơi quá muộn để thay đổi cục diện trận đánh tại Lạng Sơn, nhưng đã cùng sư đoàn 338 tổ chức phản kích đánh vào quân Trung Quốc rút lui qua ngả Chi Mã.

Ngày 16 tháng 3 năm 1979Trung Quốc tuyên bố hoàn tất việc rút quân khỏi Việt Nam.

Việt Nam phản kích

Phía Quân đội Việt Nam để trả đũa cũng đã phản kích đánh vào hai thành phố biên giới của Trung Quốc là Ma Lật PhaBằng TườngNinh MinhHà Khẩu và Đông Hưng. Sau đó rút quân về biên giới để phòng thủ.[18] Ngày 1 tháng 3 năm 1979, AFP và Tân Hoa Xã đều xác nhận có một cuộc đột kích “cảm tử” vào phi trường Ninh Minh trong tỉnh Quảng Tây, cách xa biên giới 40 km.

Diễn biến liên quan

Chiến dịch dân vận của Trung Quốc

Theo truyền thống, Trung Quốc đề cao việc tuyên truyền chính trị cho binh sĩ và dân chúng của mình về chính nghĩa của họ trong việc cần thiết tiến hành cuộc chiến trừng phạt Việt Nam. Ngay từ trước khi quân Trung Quốc vượt biên giới đánh vào Việt Nam, cả hai bên đã lớn tiếng cáo buộc nhau có các hành vi gây hấn trên tuyến biên giới. Theo phía Trung Quốc, quân Việt Nam đã tiến hành hơn 1100 vụ xâm nhập trên biên giới. Đối lại, Việt Nam cho biết việc quân Trung Quốc tiến hành khiêu khích diễn ra hàng ngày. Cùng với việc quan hệ chính trị trở nên căng thẳng, số vụ xung đột vũ trang tại biên giới cũng tăng lên, từ khoảng 100 vụ năm 1974 lên tới hơn 900 vụ năm 1976. Việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa năm 1974 cũng như việc Việt Nam đưa quân tiếp quản Trường Sa cũng góp phần khiến nguyên nhân bất đồng giữa hai phía trở nên sâu sắc.

Trung Quốc tuyên truyền trong nhân dân rằng đây là cuộc chiến phản công chống Việt Nam để bảo vệ lãnh thổ quốc gia; tuyên truyền với quân đội rằng chiến dịch quân sự này được tiến hành để trừng phạt nhà cầm quyền Việt Nam, cụ thể là “bè lũ Lê Duẩn“, và rằng quân đội cần giành được sự ủng hộ của nhân dân Việt Nam. Chiến dịch vận động quần chúng của Trung Quốc tỏ ra có kết quả với dân chúng và cán bộ Trung Quốc tại vùng biên, khiến họ có thể huy động hàng chục vạn dân công tham gia các hoạt động bảo đảm an ninh và tiếp tế cho quân đội. Hiện tại sau 34 năm vẫn có tới trên 90% người dân Trung Quốc quan niệm rằng, năm 1979 Quân đội Nhân dân Việt Nam đã vượt biên giới sang tấn công Trung Quốc và bắt buộc Trung Quốc phải tự vệ đánh trả, cuộc chiến 1979 chỉ là cuộc phản công trước sự xâm lược của Việt Nam.

Đối với dân thường Việt NamTrung Quốc bỏ ra nhiều công sức tuyên truyền lôi kéo người dân vùng biên, đặc biệt là với các dân tộc thiểu số sống vắt qua biên giới hai nước như TàyNùng (ở Trung Quốc gọi là dân tộc Choang), DaoHmong và các nhóm người thiểu số gốc Hoa. Kết quả là trong ngày đầu của cuộc chiến, có nơi, quân Trung Quốc đã được dẫn vòng qua đồn biên phòng tiến sâu vào đất Việt Nam mà không bị phát hiện. Phục vụ công tác dân vận tại các khu vực chiến sự, Trung Quốc còn thành lập các đơn vị đặc biệt mà nhiệm vụ chủ yếu là tổ chức cũng như kiểm tra hoạt động của các đội vận động quần chúng trong tất cả các đơn vị quân. Theo đó, quân Trung Quốc tiến sang Việt Nam phải giảm tối thiểu những hành động gây xáo trộn, phiền hà đến dân chúng, tôn trọng phong tục tập quán, tài sản, cung cấp gạo, muối, dầu thắp, thuốc chữa bệnh… cho dân cư bản địa. Chính sách này được một số đơn vị Trung Quốc ở vùng Lào Cai thực hiện.

Chiến dịch hỗ trợ của Liên Xô cho Việt Nam

Vào năm 1979, trước việc Trung Quốc tấn công Việt NamLiên Xô đã khẳng định kiên quyết: Quân đội và nhân dân Xô Viết sẵn sàng sử dụng các giải pháp cuối cùng để thực hiện nghĩa vụ quốc tế của mình với đồng minh Việt Nam.

Ngày 18 tháng 2 năm 1979, Liên Xô ra tuyên bố ủng hộ cuộc chiến đấu của Việt Nam“Nhân dân Việt Nam anh hùng, lại vừa trở thành nạn nhân của cuộc xâm lược hôm nay, có đủ khả năng để quật khởi cho chính họ một lần nữa, và hơn thế họ có những người bạn tin cậy được. Liên Xô sẽ nghiêm chỉnh tôn trọng những cam kết theo Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác giữa Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

Ý định bảo vệ Việt Nam của Liên Xô là hết sức nghiêm túc nhưng nếu cuộc tấn công của Trung Quốc vẫn nằm trong phạm vi đối phó của Việt Nam thì Liên Xô sẽ không can thiệp quân sự, chỉ khi Trung Quốc tiếp tục leo thang chiến tranh, ví dụ như uy hiếp Hà Nội và Hải Phòng, hoặc đồn trú lâu dài trên những vùng đất chiếm được, thì Liên Xô mới tham gia giải quyết xung đột. Mặc dù không có một tuyên bố chính thức nào đưa ra, nhưng Việt Nam sẽ không nhờ Liên Xô can thiệp quân sự trực tiếp, bởi truyền thống lịch sử của Việt Nam chưa bao giờ cầu viện bất cứ nước nào giúp đánh đuổi ngoại xâm. Tinh thần tự tôn của Việt Nam là một yếu tố quan trọng khiến Liên Xô không can thiệp quân sự nếu cuộc chiến vẫn nằm trong phạm vi kiểm soát được, họ sẽ chỉ can thiệp trực tiếp nếu Việt Nam không còn khả năng chống trả (ví dụ như nếu Trung Quốc sử dụng vũ khí hạt nhân để hủy diệt lãnh thổ Việt Nam.).

Liên Xô đã cung cấp cho Việt Nam một số thông tin quân sự thu được từ vệ tinh do thám. Ngày 19 tháng 2 năm 1979, một nhóm các cố vấn quân sự của Liên Xô do đại tướng Gennady Obaturov dẫn đầu tới Hà Nội.

Ngay sau khi chiến tranh biên giới Trung – Việt bùng nổ, Liên Xô đã viện trợ khẩn cấp cho phòng không và lục quân Việt Nam. Trong giai đoạn từ khi cuộc xung đột bắt đầu (giữa tháng 2) đến cuối tháng 3 năm 1979, bằng đường thủy, Liên Xô đã hỗ trợ cho Việt Nam 400 tổ hợp tên lửa phòng không vác vai SA-7 “Strela-2M”, 30 tổ hợp phòng không tự hành ZSU-23-4 Shilka, 50 máy bay tiêm kích MiG-21bis, 50 dàn phóng pháo phản lực 40 nòng cỡ 122mm BM-21, hơn 100 cỗ pháo cao xạ, 800 súng chống tăng bộ binh. Trong thời gian diễn ra xung đột, các tàu vận tải Liên Xô và các nước XHCN khác liên tục cập cảng Hải Phòng để dỡ hàng quân sự cho Việt Nam. Trong giai đoạn từ năm 1979 đến 1982Liên Xô đã viện trợ 14 tổ hợp tên lửa phòng không S-75M “Volga” và 526 quả tên lửa V-755 (B-755). Từ năm 1984 đến năm 1987, Liên Xô chuyển giao tiếp 14 biến thể tổ hợp tên lửa phòng không hiện đại hơn là S-75M3 cùng 866 quả đạn V-759 (B-759). Liên Xô cũng viện trợ 40 tổ hợp tên lửa S-125 “Pẹchora” và 1.788 quả tên lửa V-601 PD (В-601ПД) cùng trong giai đoạn nói trên.

Từ ngày 12 đến ngày 26 tháng 3, với mục đích tạo áp lực quân sự lên Trung Quốc theo quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, trên tất cả các quân khu vùng biên giới phía Đông, trên lãnh thổ Mông Cổ và trên Thái Bình Dương đã tiến hành cuộc diễn tập hiệp đồng quân binh chủng và diễn tập hải quân có sử dụng đạn thật. Trong cuộc diễn tập lớn nhất lịch sử quân sự có sử dụng lực lượng của 20 sư đoàn binh chủng hợp thành và không quân với 200 nghìn quân nhân, 2.600 xe tăng, 900 máy bay và 80 chiến hạm. Kế hoạch diễn tập đã tiến hành tổ chức các cụm chủ lực không quân công kích trên các quân khu gần biên giới Trung Quốc.

Sư đoàn đổ bộ đường không từ Tula được vận chuyển vào khu vực Chita trên quãng đường dài 5.500 km bằng máy bay vận tải quân sự một đợt bay trong thời gian 2 ngày. Các trung đoàn máy bay chiến đấu từ lãnh thổ của Ucraina và Belarusia được cơ động trực tiếp đường không đến các sân bay của Mông Cổ. Trên các vùng biển phía Đông và Nam Trung Quốc, gần 50 chiến hạm của Liên Xô, trong đó có 6 tàu ngầm, tiến hành các hoạt động sẵn sàng chiến đấu và đồng loạt triển khai diễn tập các hoạt động tác chiến nhằm tiêu diệt lực lượng hải quân đối phương. Riêng vùng biển Primorie tiến hành diễn tập đổ bộ đường biển.

Trong tiến trình diễn tập, có những khoảng thời gian có tới 10 trung đoàn không quân tuyến 1 (đội hình chiến đấu) hoạt động. Các kíp bay đã bay tổng cộng 5.000 giờ, đã sử dụng tới 1.000 quả bom và tên lửa trong diễn tập bắn đạn thật. Những đợt diễn tập lớn nhất được thực hiện tại Mông Cổ, với sự tham gia của 6 sư đoàn Bộ binh cơ giới và tăng-thiết giáp, 3 trong số các đơn vị được điều động từ Siberia và Zabaikalia.

Hai hoạt động trợ giúp quân sự đáng kể nhất của Liên Xô là giúp hỗ trợ vận chuyển hàng không quân đội Việt Nam từ biên giới Tây Nam về phía Bắc và triển khai một số tàu chiến ngăn chặn tàu Mỹ ở Biển Đông vào những tuần đầu tháng 3. Trong không đầy một tháng, Liên Xô đã tiến hành cơ động 20 nghìn quân của Việt Nam, hơn 1.000 đơn vị trang thiết bị chiến đấu, 20 máy bay quân sự và máy bay trực thăng, hơn 3 nghìn tấn vũ khí trang bị, đạn và cơ sở vật chất phục vụ chiến tranh từ Campuchia trở về miền Bắc Việt Nam. Trong giai đoạn đầu tiên của cuộc xung đột đến tháng 3 năm 1979, theo đường vận tải biển, Liên Xô đã chuyển đến Việt Nam hơn 400 xe tăng và xe thiết giáp, xe bộ binh cơ giới, 400 khẩu pháo và súng cối, 50 tổ hợp pháo phản lực Grad BM-21, hơn 100 khẩu pháo phòng không, 400 tổ hợp tên lửa phòng không vác vai và hàng nghìn tên lửa, 800 súng chống tăng RPG-7, 20 máy bay tiêm kích.

Trữ lượng xăng dầu tiêu hao trong thời gian thực hiện các hoạt động diễn tập và giúp đỡ Việt Nam, Bộ quốc phòng Liên Xô đã phải mất hai năm để phục hồi lại dự trữ. Trong báo cáo tổng kết ghi nhận “Quân đội Liên bang Xô viết đã chứng minh được khả năng sẵn sàng chiến đấu cao nhất, đáp ứng được những yêu cầu tác chiến hiện đại và sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”.

Phản ứng quốc tế

Đặng Tiểu Bình (bên trái) và Tổng thống Mỹ Jimmy Carter trong một buổi lễ ngày 31 tháng 1 năm 1979.

Ngay khi cuộc chiến nổ ra, Hoa Kỳ tuyên bố giữ vị trí trung lập và kêu gọi “sự rút quân lập tức của Việt Nam khỏi Campuchia và Trung Quốc khỏi Việt Nam”, nói rằng “việc Trung Quốc xâm lược Việt Nam là sự tiếp nối của việc Việt Nam xâm lược Campuchia”. Nhưng theo đánh giá của Nayan Chanda, Hoa Kỳ đã là quốc gia phương Tây duy nhất gần như ủng hộ cuộc xâm lược Việt Nam của Trung Quốc; trái với lời lên án việc Việt Nam tiến đánh Khmer Đỏ là “một mối đe dọa cho hòa bình và ổn định trong khu vực”, tuyên bố của Mỹ về cuộc tấn công của Trung Quốc có hàm ý bào chữa rằng “việc Trung Quốc thâm nhập biên giới Việt Nam là kết quả của việc Việt Nam xâm lược Campuchia”. Ngoài Hoa Kỳ thì đa số các quốc gia phương Tây phản đối mạnh mẽ hành động quân sự của phía Trung Quốc, sự cô lập này đã ảnh hưởng khá lớn tới chính sách ngoại giao bước đầu mở cửa của Bắc Kinh khi đó.

Ngày 18 tháng 2, Chính phủ Liên Xô ra tuyên bố lên án Trung Quốc xâm lược Việt Nam: “Việc Trung Quốc tiến công xâm lược Việt Nam chứng tỏ một lần nữa rằng, Bắc Kinh có thái độ vô trách nhiệm biết nhường nào đối với vận mệnh của hòa bình và Ban Lãnh đạo Trung Quốc sử dụng vũ khí một cách tùy tiện, đầy tội ác biết nhường nào!… Những hành động xâm lược đó trái với những nguyên tắc của Liên Hợp Quốc, chà đạp thô bạo luật pháp quốc tế, càng vạch trần trước toàn thế giới chính sách bành trướng của Bắc Kinh ở Đông Nam Á. Liên Xô viện dẫn hiệp định ký với Việt Nam, thúc giục Trung Quốc “ngừng trước khi quá muộn” và đòi Trung Quốc rút quân lập tức và toàn bộ. Trong thời gian xảy ra cuộc chiến, Liên Xô đã lên án cuộc tấn công của Trung Quốc là “hành động man rợ bất chấp đạo lý của kẻ cướp”, đòi Trung Quốc lập tức chấm dứt “cuộc chiến tranh xâm lược”, và cảnh báo Trung Quốc về lòng trung thành của Liên Xô đối với Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Liên Xô – Việt Nam. Ngoài ra, Liên Xô không có hành động can thiệp quân sự mà chỉ hỗ trợ vận chuyển bằng hàng không, triển khai hải quân ngoài bờ biển Việt Nam và tăng cường gửi cố vấn và chuyên gia quân sự sang Việt Nam nhằm tránh đổ vỡ quan hệ vốn đã căng thẳng với Trung Quốc. Liên Xô cũng cảnh báo Trung Quốc về việc đặt các lực lượng vũ trang Xô Viết ở Siberi vào tình trạng sẵn sàng chiến đấu số 1 đồng thời cung cấp cho Việt Nam các thông tin quân sự thu được từ vệ tinh do thám. Bản thân chính quyền Hà Nội, vốn giữ chiến thuật phòng thủ trong cuộc chiến, cũng từ chối sự tham gia của các phi công Liên Xô vào các trận đánh. Do không tham gia về quân sự, ngày 10 tháng 3, Liên Xô hứa sẽ tăng viện trợ quân sự cho Việt Nam.

Đêm hôm Trung Quốc tuyên bố rút quân, Cuba cảnh báo Trung Quốc là nước này sẽ hỗ trợ Việt Nam, kể cả việc đưa quân đến nếu cần. Sau khi biết tin Trung Quốc rút quân, nhật báo Pravda của Liên Xô cũng đưa ra bình luận rằng “Liên Xô hiểu được dã tâm của Bắc Kinh vì vậy đã không đáp lại những khiêu khích quân sự của Trung Quốc với mục đích duy nhất là làm leo thang căng thẳng giữa Liên Xô và Hoa Kỳ“.

Tại Liên Hiệp Quốc, tranh cãi kịch liệt xảy ra xung quanh vấn đề an ninh ở Đông Nam Á. Hai sự kiện Việt Nam đánh vào Campuchia lật đổ chế độ Khmer Đỏ và Trung Quốc đánh vào Việt Nam cùng được đưa ra bàn luận. Hội đồng Bảo an bị chia rẽ sâu sắc sau các cuộc họp vào các ngày cuối tháng 2. Các nước ASEAN muốn tất cả các lực lượng quân sự nước ngoài rút quân về nước. Mỹ ủng hộ lập trường này. Liên Xô tuyên bố không ủng hộ bất cứ nghị quyết nào không lên án Trung Quốc và đòi Trung Quốc rút quân. Ngày 23 tháng 2, Liên Xô cùng Tiệp Khắc đưa dự thảo nghị quyết trong đó lên án Trung Quốc xâm lược, đòi Trung Quốc rút quân và bồi thường chiến tranh cho Việt Nam, và kêu gọi cấm vận vũ khí đối với Trung Quốc. Còn Trung Quốc thì chỉ trích Liên Xô “khuyến khích Việt Nam tấn công Trung Quốc và xâm lược Campuchia”. Ngày 24 tháng 2, Trung Quốc đưa dự thảo nghị quyết đòi Việt Nam “lập tức rút quân hoàn toàn khỏi Campuchia”. Cuối cùng, Liên Hợp Quốc không đi đến được một nghị quyết nào.

Lên án Trung Quốc, hỗ trợ Việt Nam:

Lấy làm tiếc và yêu cầu Trung Quốc rút quân:

Phản đối hành động quân sự của Việt Nam và Trung Quốc:

Yêu cầu Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam, Việt Nam rút quân khỏi Campuchia:

Lấy làm tiếc với Việt Nam và Trung Quốc, hy vọng Việt Nam và Campuchia có thể được tự quyết định vận mệnh của mình:

Kêu gọi thương lượng:

Không tuyên bố công khai:

Hỗ trợ Trung Quốc:

Kết quả cuộc chiến

Tuy Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chiến thắng trong cuộc chiến nhưng cả hai bên đều phải chịu thiệt hại nặng nề về người và của. Cuộc chiến đặc biệt để lại nhiều tác hại lớn cho phía Việt Nam, đặc biệt là nền kinh tế. Ngoài các thương vong về con người, tổn thất cụ thể về cơ sở vật chất hạ tầng ở 6 tỉnh biên giới bị phá hủy do trận chiến, Việt Nam còn phải gánh chịu nhiều khó khăn, thiệt hại do thái độ và chính sách thù địch, vây hãm mà Trung Quốc và đồng minh của Trung Quốc gây ra trên các mặt trận quân sự, kinh tế, ngoại giao,…

Thương vong và thiệt hại

Tướng Ngũ Tu Quyền (伍修权), Phó Tổng Tư lệnh Quân Giải phóng Trung Quốc, tuyên bố rằng số quân Việt Nam bị chết và bị thương là 50.000, trong khi con số tương ứng của Trung Quốc là 20.000. Một nguồn khác của Trung Quốc thống kê tổn thất của quân Trung Quốc là 8.531 chết và khoảng 21.000 bị thương.

Theo nhà sử học Gilles Férier thì có khoảng 25.000 lính Trung Quốc thiệt mạng và gần 500 xe bọc thép hoặc pháo bị phá hủy, con số này phía Việt Nam cũng là gần tương tự nhưng thấp hơn một chút. Russell D. Howard cho rằng quân Trung Quốc thương vong 60.000 người, trong đó số chết là 26.000, một số nguồn khác cũng đồng ý với con số thương vong ít nhất khoảng 50.000 của phía Trung Quốc. Nguồn của King Chen nói rằng riêng tại các bệnh viện lớn ở Quảng Tây đã có ít nhất 30.000 thương binh Trung Quốc.

Tháng 4 năm 1979Báo Quân đội Nhân dân của Việt Nam ước lượng tổng thương vong của quân Trung Quốc là 62.500 người. Phía Việt Nam có hàng nghìn dân thường chết và bị thương, theo tạp chí Time thì có khoảng dưới 10.000 lính Việt Nam thiệt mạng (con số này phía Trung Quốc là trên 20.000). Phía Trung Quốc bắt được khoảng 1.600 tù binh trong tổng số hơn 50.000 quân Việt Nam tham chiến tại mặt trận Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn.

Theo tuyên bố của Việt Nam, kết quả chiến đấu của họ như sau:

  • Mặt trận Lạng Sơn: diệt 19.000 lính Trung Quốc, phá hủy 76 xe tăng, xe thiết giáp và 52 xe quân sự, 95 khẩu pháo cối và giàn phóng hỏa tiễn, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn, 4 tiểu đoàn (có hơi khác biệt so với ký sự Sư đoàn Sao Vàng). Về phía Việt Nam tại mặt trận này, sư đoàn 3 bị tổn thất khoảng 660 chết và 840 bị thương, sư đoàn 337 tổn thất khoảng 650 tử trận, sư đoàn 338 tổn thất khoảng 260 tử trận, sư đoàn 327 chưa có số liệu. 20 cá nhân và 14 đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, Quân đoàn 5 được mang danh hiệu “Binh đoàn Chi Lăng”, Sư đoàn 337 được tặng danh hiệu “Sư đoàn Khánh Khê”.
  • Mặt trận Cao Bằng: diệt 18.000 lính Trung Quốc, phá hủy 134 xe tăng, thiết giáp và 23 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 7 tiểu đoàn. 5 cá nhân và 17 đơn vị đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân. Sư đoàn 311 được mang danh hiệu “Sư đoàn Đông Khê”; Trung đoàn 567 được nhân dân địa phương tặng danh hiệu “Trung đoàn Khâu Chỉa”, “Trung đoàn Phục Hòa”.
  • Mặt trận Hoàng Liên Sơn (Lào Cai): diệt 11.500 lính Trung Quốc, phá hủy 66 xe tăng, thiết giáp và 189 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 4 tiểu đoàn. 12 cá nhân và 6 đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân.
  • Mặt trận Quảng NinhLai Châu và Hà Tuyên: diệt 14.000 lính Trung Quốc, phá hủy 4 xe tăng, thiết giáp, 6 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn. 11 cá nhân và 6 đơn vị chiến đấu trên hướng Lai Châu, 2 cá nhân và 5 đơn vị chiến đấu trên hướng Quảng Ninh, 1 cá nhân và 1 đơn vị công an biên phòng tại Hà Tuyên được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân.

Theo nguồn của Trung Quốc, tại mặt trận Lạng Sơn, họ bị tổn thất 1 271 lính tử trận và 3 779 lính bị thương. Tại mặt trận Lào Cai, họ bị tổn thất 7 886 lính (bao gồm 2.812 tử trận). Chưa có thống kê chi tiết của Trung Quốc về thương vong tại mặt trận Cao BằngĐông Khê và Móng Cái.

Cuộc chiến cũng đã gây ra những thiệt hại nặng nề về kinh tế cho Việt Nam: các thị xã Lạng SơnCao Bằng, thị trấn Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn, 320/320 xã, 735/904 trường học, 428/430 bệnh viện, bệnh xá, 41/41 nông trường, 38/42 lâm trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 80.000 ha hoa màu bị tàn phá, 400.000 gia súc bị giết và bị cướp. Khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân bị mất nhà cửa, tài sản và phương tiện sinh sống. Để được Liên Xô tăng cường viện trợ, từ 27 tháng 3 năm 1979, Việt Nam quyết định cho tàu quân sự Liên Xô đóng ở cảng Cam Ranh. Về phía Trung Quốc, cuộc chiến ngắn ngày đã tiêu tốn của nước này khoảng 1,3 tỷ USD và làm ảnh hưởng lớn tới quá trình cải tổ kinh tế.

Về lâu dài, cuộc chiến mở đầu cho hơn 10 năm căng thẳng trong quan hệ và xung đột vũ trang dọc biên giới giữa hai quốc gia, buộc Việt Nam phải thường xuyên duy trì một lực lượng quân sự khổng lồ dọc biên giới, gây hậu quả xấu đến nền kinh tế. Sinh hoạt và sản xuất của người dân vùng biên giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngoài ra, nhiều cột mốc biên giới cũng bị quân Trung Quốc phá hủy, gây khó khăn cho việc hoạch định biên giới sau này.

Đánh giá

Cả Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chiến thắng.

  • Phía Việt Nam: Lời nói đầu Hiến pháp Việt Nam năm 1980 khẳng định “Vừa trải qua ba mươi năm chiến tranh giải phóng, đồng bào ta thiết tha mong muốn có hoà bình để xây dựng Tổ quốc, nhưng lại phải đương đầu với bọn bá quyền Trung Quốc xâm lược cùng bè lũ tay sai của chúng ở Cam-pu-chia. Phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, quân và dân ta đã giành được thắng lợi oanh liệt trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống bọn phản động Cam-pu-chia ở biên giới Tây Nam và chống bọn bá quyền Trung Quốc ở biên giới phía Bắc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mình”.
  • Phía Trung QuốcĐặng Tiểu Bình khẳng định mặc dù có nhiều thất bại về quân sự nhưng Trung Quốc “đã đạt được chiến thắng về chính trị và chiến thắng chung cuộc”. Ông còn khẳng định quân Trung Quốc “đã có thể tiến thẳng tới Hà Nội nếu muốn”. Quan điểm ít phổ biến hơn là của Trần Vân (Phó Thủ tướng, một trong 5 nhân vật quan trọng nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc cùng với Mao Trạch ĐôngLưu Thiếu KỳChu Ân Lai và Chu Đức) rằng việc chiếm được Hà Nội không phục vụ được mục đích gì, cuộc chiến sẽ có chi phí nặng nề quá sức chịu đựng nếu kéo dài thêm 6 tháng nữa, và vì lý do tài chính không nên lặp lại một cuộc chiến không phân thắng bại như vậy.

Trong bài phát biểu của Đặng Tiểu Bình tại hội nghị quân chính nội bộ ngày 16-3-1979 (sau khi rút quân về nước 1 tháng), Đặng Tiểu Bình chỉ trích gay gắt các quan chức chính quyền và các lãnh đạo quân đội về những sai lầm trong chiến dịch: “Đánh lần này vũ khí, quân số đều gấp mấy lần Việt Nam. Chiến đấu ở Cao Bằng chí ít là 5 đánh 1, 6 đánh 1. Chiến đấu ở Lạng SơnLào Cai cũng đều gấp mấy lần, thậm chí 6 đánh 1, 7 đánh 1…” nhưng “…thương vong của chúng ta gấp 4 lần so với Việt Nam. Thần thoại của chúng ta đã bị hủy diệt” (ý nói về uy thế của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc).

Tướng Trương Chấn – Chủ nhiệm Tổng bộ Hậu cần nhớ lại rằng, vấn đề tồi tệ nhất gặp phải trong giai đoạn Trung Quốc chuẩn bị chiến đấu là sự thiếu đạn dược và chất lượng kém. Kiểm tra ban đầu cho thấy rằng không ít đạn pháo xịt, và 1/3 số lựu đạn lép. Trong cuộc chiến, trung bình mỗi ngày quân Trung Quốc tiêu thụ đạn dược và nhiên liệu là 700 tấn cho mỗi loại. Tính tổng cộng cả cuộc chiến, Trung Quốc đã sử dụng tới 1,06 triệu quả đạn pháo, 23,8 ngàn tấn đạn, 55 triệu viên đạn cá nhân và nhiều loại trang bị cá nhân. Với một số lượng đáng kể các thiết bị kỹ thuật quân sự, Trung Quốc bị thiếu kỹ sư bảo trì. Do thiếu xe vận tải và đường sá kém, Trung Quốc phải huy động hàng chục vạn dân công nhưng vẫn không vận chuyển kịp hàng hóa, hệ thống cung cấp luôn trong tình trạng quá tải, làm giảm đáng kể hiệu quả chiến đấu của binh lính và vũ khí trên chiến trường.

H. Kissinger đánh giá về cuộc chiến tranh này: “Yếu tố ý thức hệ đã biến mất khỏi xung đột. Các trung tâm quyền lực của phong trào cộng sản cuối cùng đã tiến hành chiến tranh giành thế cân bằng quyền lực không phải căn cứ vào ý thức hệ mà hoàn toàn xuất phát từ lợi ích dân tộc”.

Theo đánh giá của tác giả King C. Chen, quân Trung Quốc có lẽ đã đạt được 50 – 55% các mục tiêu có giới hạn của mình. Bên cạnh thành công trong việc bám theo được khá sát các kế hoạch tiến quân và rút quân, quân Trung Quốc đã không đạt được kết quả như các mục tiêu đã công bố: họ đã không tiêu diệt được sư đoàn nào của Việt Nam; không chấm dứt được xung đột có vũ trang tại vùng biên giới; không buộc được Việt Nam rút quân khỏi Campuchia; không gây được ảnh hưởng lên chính phủ Việt Nam trong vấn đề Hoa kiều.

Điểm yếu của quân Trung Quốc là vũ khí và phương tiện lạc hậu. Ngoài ra, họ đánh giá thấp sức mạnh quân sự của Việt Nam. Cuối tháng 12 năm 1978, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc Túc Dụ (粟裕) báo cáo tại Kì họp thứ ba của Đảng Cộng sản Trung Quốc rằng chỉ cần dùng một phần lực lượng của các quân khu Quảng Châu và Côn Minh là đủ để đánh chiếm Hà Nội trong vòng 1 tuần. Trong thực tế, quân Trung Quốc đã cần tới 16 ngày với 10 sư đoàn từ 6 quân khu (lực lượng bằng tổng hai quân khu Quảng Châu và Côn Minh) để đánh chiếm thị xã Lạng Sơn, một thị xã chỉ cách biên giới 15 km và còn cách xa Hà Nội tới 135 km. Trung bình mỗi ngày quân Trung Quốc chỉ tiến được 0,9 km và họ đã mất 16 ngày chỉ để chiếm được 1/10 quãng đường tới Hà Nội Sự thiếu kinh nghiệm chiến đấu và tinh thần kém cũng nằm trong các điểm yếu của quân Trung Quốc.

Về quân sự, tác giả Edward C. O’Dowd đánh giá rằng quân Trung Quốc đã thể hiện trình độ chiến đấu kém trong cuộc chiến. Tại Lạng Sơn, 2 quân đoàn Trung Quốc đã bị một trung đoàn Việt Nam cầm chân trong 1 tuần, một quân đoàn khác cần đến 10 ngày để lấy Lào Cai và Cam Đường – hai đô thị cách biên giới không đến 15 km. Trung Quốc chiếm Cao Bằng vất vả đến mức cần ít nhất 2 quân đoàn để tiếp tục tấn công một thị xã mà Trung Quốc tuyên bố đã chiếm được. Tại Quảng Ninh, một trung đội Việt Nam đã cầm chân 5 tiếng đồng hồ một trung đoàn Trung Quốc đang trên đường chiếm núi Cao Ba Lanh giáp biên giới, gây thương vong cho 360 trong quân số 2.800 của trung đoàn này. Những tổn thất nhân mạng như vậy lặp lại trên toàn mặt trận và đem lại ít hiệu quả. Quân Trung Quốc đã không sử dụng được số quân đông một cách hiệu quả bằng các chiến thuật thích hợp và do đó không thể đạt được tốc độ hành binh như mong muốn của chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” (速战速决 tốc chiến tốc quyết). Đây là hậu quả của sự lạc hậu về chiến thuật tác chiến của quân đội Trung Quốc vốn gần như không được cải thiện kể từ sau chiến thuật biển người ở chiến tranh Triều Tiên những năm 1950. Thất bại về mặt chiến thuật đã buộc Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đẩy mạnh quá trình hiện đại hóa quân đội nước này.

Trên phương diện quan hệ quốc tế, cuộc chiến Việt-Trung cho thấy rằng Trung Quốc, với sự ủng hộ từ phía Hoa Kỳ, sẵn sàng can thiệp quân sự vào Việt Nam – một quốc gia cộng sản từng là đồng minh trong nhiều năm, kết quả chiến tranh cũng cho thấy Việt Nam đủ sức chống lại sự can thiệp quân sự đó mà không phải điều động quân chủ lực từ biên giới Tây Nam và miền Nam Việt Nam. Những sự kiện từ cuộc chiến cho thấy mối quan hệ ngoại giao phức tạp Liên Xô – Trung Quốc – Việt Nam với kết quả là Trung Quốc không thể tung toàn bộ lực lượng vào cuộc chiến nhằm “dạy cho Việt Nam một bài học” vì chịu sức ép từ phía Liên Xô, đồng thời Liên Xô cũng không sẵn sàng tung quân đội vào tham chiến bảo vệ đồng minh mà chỉ tập trung viện trợ kinh tế, quân sự. Điều này đã khiến cho rất nhiều người Việt Nam sau đó nghi ngờ về đồng minh Liên Xô cũng như đối với Liên Xô thật sự là một sự thất bại về uy tín. Kết quả cuộc chiến cũng cho thấy Trung Quốc bất lực trong việc hỗ trợ đồng minh Khmer Đỏ trong cuộc chiến với Việt Nam và thất bại trong việc điều chỉnh quan hệ ngoại giao để tăng cường ảnh hưởng ở khu vực Đông Nam Á.

Nhiều quan điểm khác cho rằng Trung Quốc đã thất bại về quân sự nhưng lại đạt được một số thành công về chiến lược, trong đó có việc chứng tỏ cho các nước Đông Nam Á rằng họ sẵn sàng dùng vũ lực nếu vị thế và uy lực của mình bị thách thức.

Tiến sĩ Trương Hiểu Minh (Xiaoming Zhang), từ trường Air War College, Hoa Kỳ, là tác giả cuốn sách Deng Xiaoping’s Long War: The Military Conflict between China and Vietnam 1979 – 1991, ra mắt năm 2015 đánh giá “Đối với Đặng, dạy Việt Nam “bài học” là thông điệp không chỉ gửi cho Việt Nam mà cả cho Liên Xô, Mỹ và các nước phương Tây. Phản ứng của Việt Nam trước cuộc xâm lược là phòng thủ biên giới phía bắc, tiếp tục chính sách thù địch với Trung Quốc, dựa vào Liên Xô để có hỗ trợ tài chính và kinh tế. Để đáp lại, Mỹ và phương Tây từ 1979 có vẻ quan tâm hơn việc cung cấp hỗ trợ tài chính và công nghệ giúp Trung Quốc cải cách kinh tế. Mỹ không còn nghĩ Trung Quốc là đe dọa, tuy chưa phải là đồng minh. Vì thế Mỹ có thể dốc toàn lực để đánh bại Liên Xô trong thập niên cuối cùng của Chiến tranh Lạnh. Bên trong Trung Quốc, Đặng không chỉ củng cố được quyền lực chính trị mà cũng thực hiện cả nghị trình cải tổ kinh tế. Liên Xô ở trong tình thế nhiều khó khăn trong thập niên cuối của Chiến tranh Lạnh. Vừa phải cạnh tranh với Mỹ trên toàn cầu, Moskva cũng đối diện thách thức của Trung Quốc ở châu Á. Từ góc nhìn chiến lược, cả Việt Nam và Liên Xô đều gặp khó khăn hơn Trung Quốc. Vì thế Liên Xô rốt cuộc nhận ra họ không thể tiếp tục hỗ trợ Việt Nam vào cuối thập niên 1980. Việt Nam phải tìm đến Trung Quốc, thừa nhận sai lầm chính sách từ 1978. Rốt cuộc, Trung Quốc đã vượt mặt Việt Nam cả về chính trị và chiến lược”.

Báo Nhân dân trích lại quan điểm của một người nghiên cứu Chủ nghĩa Xã hội tại Campuchia khi đó: “Thế là rõ cả. Có người cách mạng nào trên thế giới đến nay còn phân vân những người lãnh đạo Trung Quốc có còn là cách mạng không? Tiến công Việt Nam, chúng nó vứt hết mọi mặt nạ giả dối, hiện ra nguyên hình là bọn đế quốc mới, bọn phản cách mạng, và cái chế độ Xã hội Chủ nghĩa của chúng chỉ là giả hiệu!” 

Hậu chiến

Bài chi tiết: Xung đột biên giới Việt Nam-Trung Quốc 1979-1990 và Vấn đề lãnh thổ biên giới Việt Nam-Trung Quốc

Khi quân Trung Quốc rút khỏi Việt Nam tháng 3 năm 1979, Trung Quốc tuyên bố họ không tham vọng dù “chỉ một tấc đất lãnh thổ Việt Nam“. Trên thực tế, quân Trung Quốc chiếm đóng khoảng 60 km2 lãnh thổ có tranh chấp mà Việt Nam kiểm soát trước khi chiến sự nổ ra. Tại một số nơi như khu vực quanh Hữu Nghị Quan gần Lạng Sơn, quân Trung Quốc chiếm đóng các lãnh thổ không có giá trị quân sự nhưng có giá trị biểu tượng quan trọng. Tại các nơi khác, quân Trung Quốc chiếm giữ các vị trí chiến lược quân sự làm bàn đạp để từ đó có thể tiến đánh Việt Nam.

Sau khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam và Trung Quốc nối lại đàm phán về vấn đề biên giới. Cuộc đàm phán Việt – Trung lần ba diễn ra vào năm 1979 với hai vòng đàm phán. Trong vòng đàm phán thứ nhất phía Việt Nam cho rằng, trước hết cần vãn hồi hòa bình, tạo không khí thuận lợi để giải quyết những vấn đề khác. Đoàn Việt Nam đưa ra phương án ba điểm để giải quyết vấn đề biên giới: chấm dứt chiến sự, phi quân sự hóa biên giới; khôi phục giao thông, vận tải bình thường trên “cơ sở tôn trọng đường biên giới lịch sử mà các Hiệp định Trung – Pháp năm 1887 và 1895 đã thiết lập”. Phía Trung Quốc kiên quyết từ chối những đề nghị của Việt Nam, đưa ra đề nghị tám điểm của mình, bác bỏ việc phi quân sự hóa biên giới, đề nghị giải quyết các vấn đề lãnh thổ trên “cơ sở những công ước Trung – Pháp” chứ không phải trên cơ sở đường ranh giới thực tế do các Hiệp định đó đưa lại. Trung Quốc cũng đòi Việt Nam thừa nhận các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là “một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Trung Quốc”; Việt Nam phải rút quân ra khỏi Trường Sa, thay đổi chính sách với Lào và Campuchia, giải quyết vấn đề Campuchia. Trung Quốc cũng yêu cầu Việt Nam nhận lại những người Hoa đã ra đi. Trong quan hệ với các nước khác: “Không bên nào sẽ tham gia bất cứ khối quân sự nào chống bên kia, cung cấp căn cứ quân sự hoặc dùng lãnh thổ và các căn cứ các nước khác chống lại phía bên kia”; “Việt Nam không tìm kiếm bá quyền ở Đông Dương hay ở bất cứ nơi nào” làm điều kiện để tiến hành thương lượng.

Vòng đàm phán thứ hai được tổ chức tại Bắc Kinh từ ngày 8 tháng 6 năm 1979. Đoàn đại biểu Việt Nam đề nghị hai bên cam kết không tiến hành các hoạt động thám báo và trinh sát dưới mọi hình thức trên lãnh thổ của nhau; không tiến hành bất cứ hoạt động tiến công, khiêu khích vũ trang nào, không nổ súng từ lãnh thổ bên này sang bên kia, cả trên bộ, trên không, trên biển; không có bất cứ hành động gì uy hiếp an ninh của nhau. Việt Nam cũng đưa ra những quan điểm của mình về “chống bá quyền” với ba nội dung chính: Không bành trướng lãnh thổ dưới bất cứ hình thức nào, chấm dứt ngay việc chiếm đoạt đất đai của nước kia, không xâm lược, không dùng vũ lực để “trừng phạt” hoặc để “dạy bài học”; không can thiệp vào quan hệ của một nước với nước khác, không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, không áp đặt tư tưởng, quan điểm, đường lối của mình cho nước khác; không liên minh với các thế lực phản động khác chống lại hòa bình, độc lập dân tộc. Trong vòng đàm phán này, Trung Quốc chủ yếu chỉ trích Việt Nam về việc “buộc” Trung Quốc phải thực hiện “chiến tranh tự vệ”, đề cập đến một số vấn đề liên quan đến quan hệ hai nước và lập trường tại khu vực, không tập trung giải quyết thực chất vấn đề biên giới. Đầu năm 1980, Trung Quốc đơn phương đình chỉ vòng ba, không nối lại đàm phán. Việt Nam liên tiếp gửi công hàm yêu cầu họp tiếp vòng ba, nhưng Trung Quốc làm ngơ. Trong những năm 1979 – 1982, Việt Nam nhiều lần đề nghị nối lại các cuộc đàm phán đã bị Trung Quốc đơn phương bỏ dở, nhưng Trung Quốc vẫn một mực khước từ.

Từ tháng 3 năm 1979 đến hết tháng 9 năm 1983, Trung Quốc đã cho lực lượng vũ trang xâm nhập biên giới Việt Nam 48.974 vụ, trong đó xâm nhập biên giới trên bộ 7 322 vụ có nổ súng, khiêu khích; xâm nhập vùng biển 28 967 vụ; xâm nhập vùng trời biên giới 12 705 vụ (với hơn 2.000 tốp máy bay).

Trung Quốc bắn pháo thường xuyên vào các vùng dân cư, tiếp tục lấn chiếm đất đai, xâm canh, xâm cư, di chuyển, đập phá cột mốc, dựng bia, chôn mộ trong đất Việt Nam. Tính đến tháng 3 năm 1983, Trung Quốc còn chiếm giữ 89 điểm của Việt Nam. Việc Trung Quốc chiếm đóng các lãnh thổ biên giới làm cho Việt Nam căm giận, và giữa hai phía nổ ra một loạt trận giao tranh nhằm giành quyền kiểm soát các khu vực đó. Xung đột biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn tiếp diễn cho đến năm 1988, lên cao vào các năm 1984-1985. Trong tháng 5 – tháng 6 năm 1981, quân Trung Quốc mở cuộc tấn công vào đồi 400 (mà Trung Quốc gọi là Pháp Tạp Sơn – 法卡山) ở huyện Cao Lộc, Lạng Sơn, xa hơn về phía tây, quân Trung Quốc cũng vượt biên giới đánh vào các vị trí quanh đồi 1688 ở tỉnh Hà Tuyên. Giao tranh diễn ra hết sức đẫm máu với hàng trăm người thuộc cả hai bên thiệt mạng. Ngày 1 tháng 2 năm 1984, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Diệu Bang cùng đoàn cán bộ cao cấp đã đến thăm cao điểm 400 (mà Trung Quốc đặt tên là Pakhason) để động viên quân đội. Tới năm 1984, quân Trung Quốc lại dùng nhiều tiểu đoàn mở các đợt tấn công lớn vào Lạng Sơn. Đặc biệt tại Hà Tuyên, trong tháng 4 – tháng 7 năm 1984, quân Trung Quốc đánh vào dải đồi thuộc huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn. Quân Trung Quốc chiếm một số ngọn đồi thuộc dải đồi này, giao tranh kéo dài dằng dai, nhưng không có nơi nào quân Trung Quốc tiến vào lãnh thổ Việt Nam quá 5 km, dù quân đông hơn nhiều.

Các nhà quan sát nước ngoài ghi nhận từ tháng 7 năm 1980 đến tháng 8 năm 1987, dọc biên giới Việt Nam – Trung Quốc đã xảy ra 6 cuộc xung đột vũ trang lớn vào các tháng 7 năm 1980, tháng 5 năm 1981, tháng 4 năm 1983, tháng 6 năm 1985, tháng 12 năm 1986 và tháng 1 năm 1987. Theo tuyên bố của Ngoại trưởng Trung Quốc Ngô Ngọc Khiêm trong buổi họp báo ở Singapore ngày 29 tháng 1 năm 1985, trong năm 1985, Trung Quốc đã điều thêm 8 sư đoàn bộ binh cùng gần 20 sư đoàn tại chỗ, áp sát biên giới Việt – Trung; đồng thời, triển khai hơn 650 máy bay chiến đấu, ném bom các sân bay gần biên giới. Còn theo báo Nhật Bản Sankei Shimbun ra ngày 14 1 năm 1985, Trung Quốc đã đưa số máy bay đến gần biên giới Việt – Trung lên gần 1.000 chiếc. Đài BBC ngày 6 tháng 2 năm 1985 cho biết: Trung Quốc có 400.000 quân đóng dọc biên giới Việt – Trung. Tạp chí Nghiên cứu vấn đề quốc tế của Trung Quốc số 2/1982 lý giải mục đích của việc bố trí một lực lượng lớn quân đội ở sát biên giới với Việt Nam “là để kìm giữ một phần binh lực của Việt Nam ở tuyến biên giới phía Bắc, do đó làm lợi cho cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhân dân Campuchia. Trung Quốc cũng thường xuyên khiêu khích vũ trang, lấn chiếm, phá hoại phòng tuyến bảo vệ biên giới, tung gián điệp, thám báo, biệt kích vào nội địa, kích động các dân tộc thiểu số dọc biên giới Việt – Trung ly khai, xây dựng cơ sở vũ trang, gây phỉ. Từ cuối năm 1980, Trung Quốc hỗ trợ Fulro và tàn quân Pol Pot, lập căn cứ ở Đông Bắc Campuchia, lập hành lang Tây Nguyên – Campuchia – Thái Lan.

Trong các ngày 22 tháng 2 năm 1980, ngày 27 tháng 2 năm 1980 và ngày 2 tháng 3 năm 1980 tại vùng biển Tây Nam quần đảo Hoàng SaHải quân Trung Quốc bắt giữ một số thuyền đánh cá của ngư dân hai tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng và Nghĩa Bình. Từ năm 1979 đến năm 1982 diễn ra các sự kiện đáng chú ý như Tổng cục Hàng không Dân dụng Trung Quốc công bố một thông cáo quy định “bốn vùng nguy hiểm” ở Tây Nam đảo Hải Nam, trong đó có vùng trời của quần đảo Hoàng Sa và buộc máy bay dân dụng của các nước khác phải bay qua đây vào những giờ do Trung Quốc quy định; thành lập lữ đoàn Hải quân đầu tiên ở đảo Hải Nam (tháng 12 năm 1979); cho máy bay ném bom H-6 của Hải quân Trung Quốc thực hiện cuộc tuần tra trên không đầu tiên ở quần đảo Trường Sa (1 năm 1980); năm 1982, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Trung Quốc Dương Đắc Chí viếng thăm quần đảo Hoàng Sa và tàu hải quân của Trung Quốc, Việt Nam đã đụng độ ở ngoài khơi quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 15 tháng 4 năm 1987, Trung Quốc đã ra tuyên bố lên án quân đội Việt Nam chiếm đóng đảo đá Ba Tiêu thuộc quần đảo Trường Sa. Trung Quốc cho rằng mục đích của Việt Nam khi triển khai quân đội một cách bất hợp pháp ở đảo Ba Tiêu là để chiếm hữu thềm lục địa gần đó và mở đường cho việc khai thác dầu trong tương lai. Trung Quốc yêu cầu Việt Nam rút khỏi Ba Tiêu và 9 hòn đảo khác, bảo lưu quyền thu hồi các đảo này vào một thời điểm thích hợp. Từ ngày 15 tháng 5 đến ngày 6 tháng 6 năm 1987, Hải quân Trung Quốc diễn tập lớn và tổ chức các cuộc nghiên cứu hải dương học ở khu vực quần đảo Trường Sa. Tháng 1 năm 1988, một lực lượng lớn tàu chiến của Trung Quốc hoạt động xâm chiếm tại bãi đá Chữ Thập và Châu Viên, xây nhà, cắm cờ Trung Quốc trên hai đảo này. Ngày 26 tháng 2 năm 1987, lực lượng của Trung Quốc đã đổ bộ lên hai đảo san hô trong quần đảo Trường Sa. Ngày 14 tháng 3 năm 1988 xảy ra Hải chiến Trường Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc gần cụm đảo Sinh Tồn, khiến 3 tàu vận tải của Việt Nam bị bắn chìm, 20 người chết và 74 người khác bị mất tích. Trong năm 1988, Trung Quốc chiếm 6 điểm trên quần đảo Trường Sa, xây dựng hệ thống nhà giàn. Tháng 5 năm 1988, tờ Nhật báo Quân đội Nhân dân thuộc quân đội Trung Quốc có bài viết, trong đó tuyên bố: Hiện nay Hải quân Trung Quốc có thể bảo vệ lãnh hải gần bờ Trung Quốc, cả chủ quyền trên quần đảo Trường Sa và biển khơi xa lục địa hàng trăm hải lý.

Các ngày 17 và 23, 26 tháng 3 năm 1988, Chính phủ Việt Nam đã liên tục gửi công hàm phản đối đến Bắc Kinh, đề nghị Trung Quốc cử đại diện đàm phán, thương lượng để giải quyết những bất đồng liên quan đến quần đảo Trường Sa, cũng như những vấn đề tranh chấp khác về biên giới và quần đảo Hoàng Sa; đề nghị hai bên không dùng vũ lực và tránh mọi đụng độ để không làm tình hình xấu thêm. Việt Nam cũng thông báo cho Liên Hợp Quốc về tình trạng tranh chấp giữa hai bên song phía Trung Quốc vẫn tiếp tục chiếm giữ các nơi đã chiếm được và khước từ thương lượng, giữ quan điểm về “chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với quần đảo Nam Sa (tức quần đảo Trường Sa)”.

Ngày 13 tháng 4 năm 1988, Quốc hội Trung Quốc khóa VI đã phê chuẩn thành lập Khu hành chính Hải Nam, có địa giới hành chính rộng lớn trên biển Đông, bao trùm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Tháng 4 năm 1988, Trung Quốc đặt lại tên cho các đảo, đá, bãi cạn thuộc quần đảo Hoàng SaTrường Sa và sáp nhập hai quần đảo vào địa phận Hải Nam – Trung Quốc. Từ tháng 1 năm 1989 đến tháng 9 năm 1990, Trung Quốc liên tục có các hành động như: đặt bia chủ quyền trên các đảo đã chiếm được; tập trận, khảo sát khoa học trong lãnh hải quần đảo Trường Sa.

Những năm 19821983 và 1984, tại diễn đàn đàm phán bình thường hóa quan hệ Xô – Trung ở cấp Thứ trưởng Ngoại giao, Trung Quốc nêu vấn đề quân đội Việt Nam ở Campuchia, đề nghị Liên Xô phải thúc đẩy Việt Nam rút quân ra khỏi Campuchia, coi việc Liên Xô tiếp tục ủng hộ quân đội Việt Nam tại Campuchia là trở ngại lớn nhất cho việc bình thường hóa quan hệ Trung – Xô.

Cuộc chiến năm 1979 cho Trung Quốc thấy sự lạc hậu của vũ khí cũng như chiến thuật mà quân đội nước này sử dụng, do đó, sau cuộc chiến là bắt đầu của một cuộc cải cách và hiện đại hóa mạnh đối với Quân Giải phóng Trung Quốc, ngày nay công cuộc hiện đại hóa này vẫn tiếp tục. Ảnh hưởng trực tiếp có thể thấy là ngân sách dành cho Quốc phòng của Trung Quốc tăng từ 15% năm 1978 lên 18% năm 1979.

Quan hệ xấu với Trung Quốc đã làm Việt Nam đã phải trả một cái giá rất đắt. Việc Trung Quốc duy trì áp lực quân sự tại vùng biên giới trong suốt mười năm sau đó buộc Việt Nam cũng phải duy trì lực lượng phòng thủ lớn ở biên giới và miền Bắc. Cùng với việc bị sa lầy với chiến sự dai dẳng ở Campuchia mà Trung Quốc muốn kéo dài, Việt Nam bị cô lập trong mười năm đó trên trường quốc tế. Nền kinh tế yếu kém và bị Mỹ cấm vận phải căng ra duy trì một lực lượng quân đội lớn, và phải phụ thuộc vào sự giúp đỡ của Liên Xô. Sau năm 1979, tình hình kinh tế miền Bắc Việt Nam tệ hại đi rất nhiều so với thời kỳ trước đó. Trong khi đó, Trung Quốc phát triển mạnh từ năm 1978 do công cuộc cải tổ kinh tế của Đặng Tiểu Bình. 7 năm sau chiến tranh biên giới, Việt Nam bắt đầu thời kì Đổi Mới. Sau khi Liên Xô tan rã và Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, đến năm 1992 quan hệ giữa hai nước chính thức được bình thường hóa.

Từ khi quan hệ ngoại giao giữa hai nước được cải thiện, cuộc chiến hầu như không còn được nhắc đến trong các phương tiện truyền thông đại chúng, không được nói đến trong sách giáo khoa lịch sử ở Trung Quốc và một cách hạn chế tại sách giáo khoa của Việt Nam. Tại Trung Quốc, các phương tiện truyền thông gần như lãng quên nó, các tuyển tập bài hát không còn in các ca khúc nói về cuộc chiến, sách nghiên cứu viết về cuộc chiến bị từ chối xuất bản, đa số cựu chiến binh từng tham gia cuộc chiến không muốn nhắc đến nó. Ở Việt Nam, một số ca khúc có nội dung về cuộc chiến, ví dụ Chiến đấu vì độc lập tự do của Phạm Tuyên, không còn được lưu hành trên các phương tiện truyền thông chính thống; đó là theo một thỏa thuận giữa Việt Nam và Trung Quốc nhằm bình thường hóa hoàn toàn quan hệ giữa hai nước. Chính phủ Việt Nam để ý chặt chẽ các nội dung báo chí liên quan đến quan hệ Việt – Trung, và báo chí hầu như không nhắc đến cuộc chiến. Theo giải thích của ông Dương Danh Dy, cựu Bí thư Thứ nhất Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh, thì Việt Nam “không nói lại chuyện cũ là vì nghĩa lớn, chứ không phải vì chúng ta không có lý, không phải vì người Việt Nam sợ hãi hay chóng quên”. Khi được hỏi về cuộc chiến từ 30 năm trước, Phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng từ nhiều năm trước lãnh đạo hai nước đã “thỏa thuận gác lại quá khứ và mở ra tương lai”. Năm 2014, nhân kỷ niệm 35 năm Chiến tranh biên giới Việt – Trung, nhiều báo tại Việt Nam có bài viết về đề tài này.

Năm 2009, 30 năm sau cuộc chiến, Việt Nam và Trung Quốc hoàn thành việc cắm 1971 mốc phân định biên giới sau khi hai chính phủ ký kết hiệp định biên giới, kết thúc đàm phán về các khu vực tranh chấp dọc biên giới.

Tưởng niệm hàng năm

Trong hội nghị bàn về quy chế phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc và Chính phủ năm 2014, khi một số đại biểu đề cập tới cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trả lời: “Đảng, Nhà nước không bao giờ quên công lao của đồng bào chiến đấu, hy sinh để giành thắng lợi trong cuộc chiến chống xâm lược ngày 17/2/1979”Thủ tướng cho biết, tất cả chiến sĩ hy sinh đều nằm ở nghĩa trang, được nhang khói và nhấn mạnh: “Chúng ta làm gì cũng phải tính lợi ích cao nhất của đất nước”.[147] Chính sách cho cán bộ, chiến sĩ tham gia bảo vệ biên giới phía Bắc được hưởng theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg, năm 2011 của Thủ tướng và Nghị định 23/2012/NĐ-CP của Chính phủ.

Tiếp tục chuyến công tác tại các tỉnh biên giới phía Bắc, sáng 17/2/2016, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng đoàn công tác Trung ương đã đến dâng hương tại nghĩa trang liệt sĩ huyện Trà Lĩnh – nơi yên nghỉ của hơn 300 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh ngay trong những ngày đầu nổ súng của cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979. Để ghi nhớ công lao và bày tỏ tấm lòng biết ơn vô hạn đến các anh hùng liệt sĩ, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và các thành viên trong đoàn đã thắp hương từng ngôi mộ. Hiện nay, Nghĩa trang huyện Trà Lĩnh được các đơn vị bộ đội biên phòng, chính quyền địa phương, thân nhân các liệt sĩ và các tổ chức xã hội như Đoàn Thanh niên, Phụ nữ, Cựu chiến binh thường xuyên chăm sóc, hương khói. Một số tỉnh phía Bắc và Bộ Quốc phòng đang xây dựng đề án tiếp tục tìm kiếm và quy tập hài cốt các liệt sĩ trong các cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc giai đoạn 1979-1988.

Năm 2017, vài chục người tập trung lại tại tượng đài vua Lý Thái Tổ ở Hà Nội để tưởng niệm Chiến tranh Biên giới Việt – Trung 1979 trong sự hiện diện của rất đông cảnh sát, công an, an ninh… Nhà cầm quyền đã dùng loa đề nghị đám đông giải tán. Theo báo điện tử BBC tiếng Việt, khoảng một chục người, trong đó có các nhà hoạt động và văn nghệ sĩ, cáo buộc đã bị câu lưu trong lễ tưởng niệm cuộc chiến biên giới Việt – Trung 17/2/1979 tại Hà Nội và TP. HCM. Bên cạnh đó là cáo buộc xảy ra tình trạng phá đám, bắt cóc người trái pháp luật, phá rối những người đi tưởng niệm. Theo trang web của Quốc hội Việt Nam, một số hoạt động tưởng niệm đã bị một số đối tượng xấu lợi dụng để tổ chức biểu tình trái phép, gây rối trật tự. Cũng trong ngày 17/02/2017, đoàn Cựu chiến binh Hà Nội từng tham chiến ở chiến trường phía Bắc do Trung tướng Nguyễn Như Hoạt- Anh hùng LLVT, nguyên Tư lệnh Quân khu Thủ đô, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3 dẫn đầu đã lên tận Nghĩa trang Cao Lộc (huyện Cao Lộc), nghĩa trang Hoàng Đồng (TP Lạng Sơn) để thắp hương và cầu nguyện cho những đồng đội đã hy sinh trong cuộc chiến.[155] Theo AP, không có hoạt động chính thức của chính phủ đánh dấu sự kiện này, nhưng thông tin về cuộc chiến đã được tường thuật rộng rãi trong các phương tiện truyền thông nhà nước. Báo Asia Times cho rằng việc nhiều hãng tin Việt Nam, do nhà nước kiểm soát, những năm gần đây nhắc lại chiến tranh biên giới năm 1979, cho đến bây giờ vẫn là một chủ đề cấm kỵ, có thể là tín hiệu Đảng Cộng sản cầm quyền Việt Nam cuối cùng cũng đã nới lỏng sự kiểm duyệt tin tức về cuộc xung đột quân sự này.

Phản ánh trong văn nghệ

Việt Nam

Chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 đã được nhắc tới trong hai bộ phim Đất mẹ (1980) của đạo diễn Hải Ninh và Thị xã trong tầm tay (1982) của đạo diễn Đặng Nhật Minh.[157][158][159] Với câu chuyện về chuyến đi của một phóng viên lên Lạng Sơn tìm người yêu trong thời gian chiến tranh biên giới nổ ra, Thị xã trong tầm tay – tác phẩm đầu tay của đạo diễn Đặng Nhật Minh đã giành giải Bông sen vàng tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 6, và nằm trong cụm tác phẩm của ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt III năm 2005. Năm 1982, một bộ phim tài liệu với tựa đề Hoa đưa hương nơi đất anh nằm do Trường Thanh thực hiện để nói về một nhà báo người Nhật chết trong thời gian đưa tin chiến tranh biên giới, bộ phim này sau đó đã được đánh giá cao ở Nhật Bản.[161] Trong thời gian chiến tranh biên giới nổ ra và những năm sau đó, hàng loạt bài hát Việt Nam về đề tài chiến tranh và bảo vệ tổ quốc cũng ra đời như Chiến đấu vì độc lập tự do của nhạc sĩ Phạm TuyênLời tạm biệt lúc lên đường của nhạc sĩ Vũ Trọng HốiBốn mươi thế kỷ cùng ra trận của nhạc sĩ Hồng ĐăngNhững đôi mắt mang hình viên đạn của nhạc sĩ Trần Tiến và Hát về anh của nhạc sĩ Thế Hiển.

Về văn học có tiểu thuyết Đêm tháng Hai (1979) của Chu Lai và Chân dung người hàng xóm (1979) của Dương Thu Hương. Tiểu thuyết Mình và họ của nhà văn Nguyễn Bình Phương do Nhà Xuất bản Trẻ phát hành đã giành giải thưởng ở Hạng mục Văn xuôi. Tác phẩm này được thực hiện trong khoảng thời gian 2007-2010. Một trong các tác phẩm nổi bật trong những năm đầu Thế kỷ XXI về chủ đề Chiến tranh biên giới phía Bắc là “Xác phàm” của nhà văn quân đội Nguyễn Đình Tú. Tác phẩm mô tả hình ảnh kiên cường của những người lính Việt Nam trên chiến trường. Đặc biệt, hình ảnh những người lính pháo binh ở Đồng ĐăngLạng Sơn chiến đấu tới hơi thở cuối cùng đã gây nhiều ấn tượng cho người đọc.[163] Về âm nhạc, một trong các tác phẩm gây nhiều ấn tượng là “Về đây đồng đội ơi” của cựu binh Trương Quý Hải. Tác phẩm kể về tình cảm của người còn sống với những chiến sĩ Việt Nam đã hy sinh trong trận Vị Xuyên (1984).

Ma chiến hữu, một tác phẩm đề cập đến lính Trung Quốc hy sinh trong cuộc chiến này của nhà văn Mạc Ngôn, do Trần Trung Hỷ dịch, đã được in và phát hành tại Việt Nam năm 2009. Trong tác phẩm, nhà văn Mạc Ngôn đã mô tả sự vô nghĩa của cuộc chiến tranh đối với Trung Quốc. Tác phẩm đã đặt ra một câu hỏi lớn đối với cái được gọi là “chủ nghĩa anh hùng của Trung Quốc”. Mạc Ngôn đã mô tả về tâm trạng bàng hoàng, cay đắng của hàng ngàn hồn ma lính Trung Quốc.

Xây đài tưởng niệm và đặt tên đường

Bà Phạm Thị Hải Chuyền, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, trong một cuộc nói chuyện với báo Tuổi Trẻ đã tán đồng đề nghị của các Cựu chiến binh Sư đoàn 356, qua kiến nghị đưa lên Chủ tịch nước, về việc xây dựng một đài tưởng niệm vinh danh các chiến sĩ đã hi sinh trong cuộc chiến chống Trung Quốc.

Một khu phố mới của khu đô thị mới Lào Cai – Cam Đường nằm trên đường N11 nối với đại lộ Trần Hưng Đạo thuộc địa bàn của phường Bắc Cườngthành phố Lào Cai được đặt theo tên liệt sĩ Quách Văn Rạng, Trung đội phó đồn Biên phòng 125 (Lào Cai) đã hy sinh trong trận chiến với quân Trung Quốc ngày 17/2/1979.

Chiến tranh Đông Dương lần 3

THS-2018: Hôm nay 17/2/2020 tại Việt Nam và khắp nơi trên thế giới, tất cả chúng ta toàn dân Việt Nam đều tưởng nhớ ngày Bắc quân xâm lặng dưới chiêu bài “dạy Việt Nam” bài học. Ai dậy ai và ai học ai? Dân quân miền Bắc đặc biệt 6 tỉnh biên giới xảy ra cuộc chiến xâm lăng nói riêng và toàn cõi Việt Nam nói chung chúng ta đã dạy cho đế quốc xâm lược Bắc Kinh một bài học đích đáng.

Chúng ta mỗi người tùy tôn giáo, hoàn cảnh dù trong tình trạng CoVid-19 nhưng cùng thắp nén hương lòng để tưởng niệm các chiến sĩ dân quân Biên Phòng đã dạy cho chúng một bài học ô nhục thế nào là tinh thần yêu nước. Dân Quân biên giới và các chiến sĩ, bộ đội, công an, đặc công đã chịu những mất mát đau thương ngoài ý muốn nhưng các bạn đã viết lên 1 hình ảnh hào hùng để tô điểm cho trang sử Việt những ánh thép sáng ngời của chính nghĩa. Máu các bạn là mực, xương các bạn bút và tinh thần quả cảm quyết chiến thắng của các bạn đã tô hồng trang sử Dựng Nước – Cứu Nước.

Người viết xin gửi đến những giọt nước mắt trong khi viết nhỏ xuống bàn phím thay cho khăn tang cho mỗi người đã nằm xuống vì đất nước vì dân tộc vì tư do – dân chủ và độc lập. Tôi muốn hô to “Việt Nam Muôn Năm.” Xin kính ghi ơn khắc dạ ngày 3/2/1930 và 17/2/1979 tháng 2 của lịch sử hào hùng dân tộc Việt.

Dân tộc Việt Nam không gây chiến không hận thù, không thực dân, không ôm mộng bá quyền xâm lăng nhưng khi Tổ Quốc cần – Tôi Lên Tiếng.

Lịch sử thế giới đã thêm trang để viết về thất bại của 3 cường quốc Pháp – Mỹ và Trung Quốc, tất cả đều đã chuốc sự thất bại thê thảm. 13 ngàn tù binh Điện Biên Phủ (Pháp); Cờ Hoa không kịp làm lễ thu hồi khi rút lui (Mỹ); Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã khoan hồng cho đoàn quân đi bộ tự tại trên đường rút lui để không bị nhục “chui ống đồng (Thoát Hoan)”.

Những chiến công Thủy – Bộ – Không – Pháo từ Bạch Đằng Giang đến không chiến trên bầu trời Bắc Việt qua bộ binh tại 6 tỉnh biên giới, QĐND Việt Nam đã cho thế giới thấy một ý chí thép trong trái tim nóng và một bộ óc quốc phòng siêu việt của người Việt Nam.

Từ một hố sâu chiến tranh 1 ngàn năm độ hộ giặc Tàu, 100 năm thực dân đến 20 năm Mỹ ngụy để vinh quang được làm chủ tịch khối Đông Nam Á và chủ tịch Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc ngày nay chúng ta những người Việt Nam kiêu hãnh có thể hãnh diện hô to: “TÔI LÀ NGƯỜI VIỆT NAM”.

FIDEL CASTRO NÓI GÌ SAU SỰ KIỆN 17/2/1979

Trong hình ảnh có thể có: 5 người, mọi người đang cười, mọi người đang đứng

Ảnh tư liệu: Fidel đến Việt Nam năm 1973
Từ trái sang phải: Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Fidel, Lê Duẩn


(Toàn văn phát biểu của Fidel tại La Habana ngày 21/02/1979. Một tư liệu quý, rất đáng đọc và suy ngẫm)

“Kính thưa đồng bào!
Tôi đã không dự định phát biểu tại cuộc mít tinh này. Tôi đến đây giống như các bạn, để bày tỏ tình đoàn kết của cá nhân tôi đối với nhân dân Việt Nam(vỗ tay).
Đồng chí Jaime Crombet đã có bài phát biểu rất tốt (vỗ tay). Nhưng vì tôi đã được ngồi trên khán đài này – mà tôi nghĩ là do quyết định của người phụ trách lễ tân – tôi sẽ nói một vài điều.
Sự thực là thời điểm chúng ta đang sống không phải là một thời điểm bình thường. Chúng ta đã nhiều lần tham dự mít tinh. Có quá nhiều vấn đề trên thế giới thời gian gần đây. Nhưng sự việc này chắc chắn là một trong những điều nghiêm trọng, nếu không muốn nói là nghiêm trọng nhất trong thời gian gần đây, và đòi hỏi mọi người phải suy nghĩ và đánh giá thật thấu đáo.
Dĩ nhiên, một trong những hành vi ghê tởm nhất, hèn hạ nhất, khốn nạn nhất mà chúng ta chưa từng chứng kiến – và nó sẽ khó lòng bị vượt qua bởi kẻ khác – là cuộc xâm lược này chống Việt Nam. Nếu như tội ác hay những tội ác trước đây là nghiêm trọng thì đây là tội ác nghiêm trọng nhất, bời vì tội ác này không còn là của những tên thực dân, của đế quốc Nhật, hay thực dân Pháp, hay đế quốc Mỹ, mà là của một quốc gia vài năm trước đây còn được coi là một thành trì của phong trào cách mạng thế giới, được xem là một nước xã hội chủ nghĩa, một nước chống đế quốc, một nước thân thiện với các phong trào cách mạng, một quốc gia – như chúng ta đã nói trước đây – đã thực hiện một cuộc cách mạng đem lại niềm hy vọng cho tất cả các dân tộc trên thế giới và tất cả các lực lượng tiến bộ trên thế giới.
Chúng ta đã biết chủ nghĩa đế quốc. Chúng ta cũng đã biết chủ nghĩa thực dân. Nhưng một vài năm trước đây chúng ta không bao giờ nghĩ điều này lại có thể xảy ra. Đây là sự phản bội kinh tởm nhất đối với phong trào cách mạng trong suốt lịch sử nhân loại.
Tất nhiên, chúng ta sẽ không nói rằng nhân dân Trung Quốc đã gây ra sự phản bội này. Không phải nhân dân Trung Quốc, không thể là nhân dân Trung Quốc, mà là một lũ tội phạm, một lũ phát xít, những kẻ đã tiếm quyền lãnh đạo nhân dân Trung Quốc (vỗ tay). Chúng ta thực sự không tin rằng nhân dân Trung Quốc có thể làm điều đó, chúng ta không tin! nhất là nhân dân Trung Quốc là một dân tôc có những phẩm chất và tinh thần cách mạng. Họ thậm chí không biết điều gì đang xảy ra tại thời điểm này. Họ không biết rằng lúc này Việt Nam đang bị tấn công, Việt Nam đang bị xâm lược. Nhân dân Trung Quốc đang bị lừa dối cay độc thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, phát thanh, truyền hình, báo chí trong tay của bè lũ phản động. Nhưng đâu có thể dễ dàng qua mắt cả một dân tộc!
Và vì vậy, tôi tự hỏi tại sao cho đến lúc này các nhà lãnh đạo Trung Quốc không nói với nhân dân về cuộc chiến tranh xâm lược, sự xâm lược trắng trợn họ đang tiến hành chống lại nhân dân Việt Nam? Họ nói về sự xâm lược của Việt Nam chống lại Trung Quốc, một sự xâm lược của Việt Nam chống lại Trung Quốc. Họ nói về sự phản kích tự vệ của Trung Quốc.
Vâng, những điều đó không hề là cường điệu mà chính xác là những gì mà chính phủ Trung Quốc đang làm. Cũng cần phải nói, chúng ta không biết những gì đang xảy ra bên trong Trung Quốc. Chúng ta không biết những vấn đề, những chia rẽ mà họ đang có, phe phái nào đang chiếm ưu thế vào lúc này, và những ai chịu trách nhiệm, phe phái nào chịu trách nhiệm về cuộc chiến và cuộc phiêu lưu không thể tin nổi này, mặc dù rõ ràng, rõ ràng, kẻ đang cầm đầu bè lũ khốn kiếp đó, kẻ chủ mưu của tội ác này, có lẽ là tên trơ tráo (cười), là con rối, là kẻ không biết xấu hổ này là Đặng Tiểu Bình, kẻ đã bị thanh trừng rồi được phục hồi, rồi lại bị thanh trừng, lại được phục hồi, và vào ngày nào đó có thể lại bị thanh trừng lần nữa. Điều đó có thể xảy ra. Chúng ta chưa biết được. Các phe phái đã thanh trừng nhau trong nhiều năm. Thanh trừng rồi lại phục hồi, và cứ tiếp tục thanh trừng và phục hồi cho đến khi nhân dân Trung Quốc thanh tẩy tất cả chúng cùng một lúc (Vỗ tay). A, nhưng chúng nguy hiểm, rất nguy hiểm!
Điều báo “Granma” từng đề cập đã được đồng chí Jaime chỉ ra tối nay, về những cách thức, những phương pháp (mà Trung Quốc sử dụng chống Việt Nam) gợi nhớ y chang các phương pháp của phát xít, các phương pháp của Hitler, và sự kiện này làm cho chúng ta nhớ đến một sự kiện giống hệt, bắt đầu bằng một cuộc phiêu lưu quân sự tương tự và kết thúc bằng một cuộc chiến tranh thế giới: cuộc xâm lược Ba Lan của quân đội Hitler vào tháng 9 năm 1939. Một trường hợp y chang .
Sau này, người ta đã biết về các tài liệu, những ai đã tham gia, những ai đã lên kế hoạch cho cuộc phiêu lưu đó, thậm chí có cả những bộ phim giải thích cách thức sự kiện đó đã xảy ra, cách thức phát xít Đức đã dùng các thường phạm từ các nhà tù, cho họ mặc đồng phục của Ba Lan và tấn công một đài phát thanh Đức, và ngay lập tức kích hoạt cuộc xâm lược như thế nào.
Những hành vi quấy rối của Trung Quốc đối với Việt Nam đã được thực hiện trong một thời gian dài. Còn ai mà không biết người Việt Nam! Khôn ngoan, thận trọng và thông minh, đó là người Việt Nam (vỗ tay). Ai có thể tưởng tượng rằng Việt Nam lại hứng thú với một cuộc xung đột với Trung Quốc? Tuy nhiên, hàng trăm hành vi quấy rối của người Trung Quốc đã diễn ra trên biên giới.
Nhưng kế hoạch này không phải chỉ mới có đây. Kế hoạch này đã được ấp ủ trong một thời gian dài. Và bây giờ nó cho chúng ta thấy tại sao lại có những buổi đánh bóng bàn giữa người Trung Quốc và người Mỹ, những chuyến đi của từ Kissinger đến Nixon tới Bắc Kinh, trong khi vừa tăng cường cuộc chiến xâm lược của đế quốc đối với Việt Nam. Đó là một kế hoạch và mưu mô toàn diện. Người Trung Quốc thực sự không quan tâm đến một nước Việt Nam độc lập, một Việt Nam thống nhất và cách mạng. Họ chẳng hề quan tâm điều đó.
Chúng ta hãy nhớ lại, Khi còn Mỹ ở miền Nam Việt Nam, họ đã không tấn công một cù lao nào của Nam Việt Nam. Nhưng khi Mỹ đã rút đi họ đã chiếm các đảo, bởi vì có đánh giá là các đảo này rất giầu tài nguyên, có thể có dầu lửa, v.v…Nghĩa là khi miền Nam chưa được giải phóng nhưng Mỹ đã rút thì họ đã tấn công và chiếm các đảo của Việt Nam. Rồi sau đó, tập trung can thiệp vào Campuchia dưới chiêu bài ủng hộ cách mạng Camphuchia. Họ thâm nhập vào Campuchia và kiểm soát được phong trào bằng các phần tử ủng hộ họ vô điều kiện, một số là gốc Hoa, một số có quan hệ với người Hoa, là họ hàng, kết hôn với người Hoa. Và như vậy, họ đã nắm quyền lãnh đạo phong trào cách mạng ở Camphuchia.
Vậy họ đã làm gì ở đó? Vâng, nhân danh cách mạng, nhân danh chủ nghĩa xã hội, họ đã dựng lên một trong những chế độ tàn ác nhất đã được biết đến trong thời gian gần đây: đuổi người dân ra khỏi các thành phố bằng mũi lưỡi lê. Điều này không có nghĩa là một thành phố không cần thiết phải sơ tán trong một thời điểm, một tình huống hay một nhu cầu nào đó. Một phương pháp cách mạng là thuyết phục người dân, quần chúng, khi có nhu cầu thực sự về quân sự hoặc bất kỳ tình huống bất khả kháng nào khác. Nhưng họ lại sơ tán các thành phố bằng lưỡi lê. Họ tách các thành viên gia đình khỏi nhau, tổ chức các trại tập trung khổng lồ. Họ thậm chí đã đi quá xa đến mức thiết lập các cuộc hôn nhân bằng cách … Tôi không rõ liệu nó có phải là bằng sắc luật hay không. Không, không, nó lạ lắm, những thứ rất kỳ lạ. Họ nói với những người kết hôn rằng cuộc hôn nhân là bắt buộc. Mặt khác, họ tách những người đàn ông khỏi phụ nữ, trẻ em khỏi gia đình, và hầu hết các nhà chuyên môn của đất nước đã bị giết chết, thực hiện thảm sát một cách không thể tưởng tượng. Mọi người đều biết điều đó. Đó không phải là mới, đến mức mà người ta nói rằng 3 triệu người đã chết trong hai năm rưỡi hoặc ba năm. Đó là chủ nghĩa Mao trên thực tế, đó là chủ nghĩa Mao, một thứ chủ nghĩa Mao mà người Trung Quốc thậm chí không thực hiện ở Trung Quốc nhưng lại thực hiện ở Campuchia. Đó là một cuộc diệt chủng thực sự. Không có chính phủ nào có thể tồn tại trên những nền tảng như vậy. Đó là điều hoàn toàn không thể. Đó là một chính sách một mặt là hủy diệt, một mặt là bao vây Việt Nam. Họ đã xúi giục những kẻ phát xít Campuchia tiến hành xâm lược chống lại Việt Nam. Việc xâm lược đã bắt đầu ở phía Nam từ biên giới Campuchia. Có những phim tài liệu về các vụ thảm sát hàng chục ngàn người Việt Nam: đàn ông, phụ nữ, trẻ em. Đó là một trong những chế độ diệt chủng tàn bạo nhất từng được biết đến.
Chế độ đó phải sụp đổ vào một ngày nào đó, và nó đã sụp đổ. Điều đó không thể được tồn tại ở Campuchia hay bất cứ nơi nào trên thế giới.Và tôi nghĩ rằng một trong những điều tốt đẹp nhất đã từng xảy ra là đã lật đổ nhóm phát xít diệt chủng này ở Campuchia (vỗ tay), vẫn được biết đến với cái tên bè lũ Pol Pot – Ieng Sary, bởi sức mạnh của nhân dân. Bè lũ đó đã bị kéo sập giống như một ngôi nhà làm từ nhữnglá bài.Và điều này không chỉ có nghĩa là Campuchia đã được giải phóng, một dân tộc không thể tiếp tục sống trong những điều kiện như vậy đã được giải phóng, mà còn đồng nghĩa với một thất bại chính trị to lớn đối với chính phủ Trung Quốc.
Đế quốc Mỹ đã từng là bậc thầy về sự giả tạo và đạo đức giả – tôi nói họ “đã từng” bởi vì bây giờ đã có kẻ khác giỏi hơn họ nhiều – bắt đầu la toáng lên, bởi vì, tất nhiên Trung Quốc và Mỹ xích lại gần nhau, quan hệ với nhau là do cả hai chế độ đều muốn bao vây Việt Nam. Chính phủ Mỹ đã từng nói về nhân quyền, và ngay cả trong Thượng viện Mỹ đã đề xuất một sự can thiệp quốc tế nhằm chấm dứt nạn diệt chủng đang diễn ra tại Campuchia. Ngay cả báo chí thế giới và báo chí Mỹ đã không biết bao nhiêu lần nói về những gì đang diễn ra ở đó.
Vậy mà, ngay sau khi chế độ diệt chủng đó bị lật đổ, họ đã phát động một chiến dịch toàn cầu mạnh mẽ chống lại Việt Nam, vì sự đoàn kết của Việt Nam với phong trào cách mạng Campuchia, ra sức trình diện Việt Nam trước dư luận quốc tế như một kẻ xâm lược, một quốc gia đã xâm phạm độc lập của dân tộc khác, để phủ nhận một thực tế là chế độ đó không thể bền vững và không thể duy trì. Tất cả điều này, tôi nhắc lại, là một cú đánh cực mạnh vào tập đoàn lãnh đạo Trung Quốc. Và từ thời điểm đó, những vụ xâm lấn và quấy nhiễu chống lại Việt Nam liên tục xảy ra ở biên giới, đồng thời với việc tập trung lực lượng quân sự. Mọi người đều đã biết rằng chính phủ Trung Quốc khi ấy đang tập trung quân trên biên giới với Việt Nam.
Trong bối cảnh đó, Đặng Tiểu Bình đến thăm Mỹ, và ở đó kẻ cực trơ tráo ấy đã tuyên bố rằng phải trừng phạt Việt Nam và Cuba. Đó là điều hắn đã nói, rằng phải trừng phạt Việt Nam và Cuba. Hắn đã nói với bọn Mỹ: các vị hãy trừng phạt Cuba! Các vị hãy xem chúng tôi đã đi đến đâu rồi.
Chính phủ của của một nước đã từng huấn luyện trẻ con, đội viên thiếu niên dùng lưỡi lê đâm vào hình nộm Nixon, Mỹ, đế quốc, đúng, đích thị là Nixon, đâm vào bụng hình nôm Nixon, đúng, đúng như thế, lũ đội viên đâm vào bụng hình nộm Nixon, bây giờ đã quay ngoắt mặt như vậy.
Đất nước đó đã từng gửi đi biết bao bức điện tới khắp nơi trên thế giới, tới những người cách mạng nói rằng một tỷ người Trung Hoa – à không, thời kỳ ấy là 800 triệu – 800 triệu nhân dân Trung Quốc ủng hộ các đồng chí, rằng hãy tin vào tình đoàn kết của 800 triệu người Trung Hoa. Họ phô bầy 800 triệu, sau đó là 900 triệu và theo kiểu như vậy.
Tất nhiên, từ rất sớm chúng ta đã thấy một số điều kỳ lạ trong ban lãnh đạo Trung Quốc. Ví dụ, trong cuộc khủng hoảng tháng Mười, khi thế giới đang trên bờ vực của chiến tranh. Trong tình hình rất nghiêm trọng như vậy, người Trung Quốc đã ngậm miệng và chú tâm tiến hành một cuộc chiến tranh chống lại Ấn Độ, tước đoạt một mảnh lãnh thổ Ấn Độ.Trong suốt thời kỳ khủng hoảng tháng Mười họ không lề lên tiếng, dù chỉ một lời.
Một thời gian sau đó, họ bắt đầu ra tuyên bố, cáo buộc và ra sức âm mưu trục lợi về tất cả những vấn đề của cuộc khủng hoảng tháng Mười.
Nhưng có ai ngờ rằng rằng đất nước đó, rằng chính phủ của nước đó cuối cùng lại nói với bọn Mỹ: phải trừng phạt Cuba, và phải trừng phạt Việt Nam. Đó chính là những phát biểu của Đặng Tiểu Bình tại Hoa Kỳ. Và sau đó ở Nhật Bản, hắn đã lặp lại về Việt Nam: phải trừng phạt Việt Nam.
Và rất nhanh… như hôm nay đã rõ, nhờ một bản tin nội bộ về những cuộc gặp đó đã lọt vào tay một nhà báo nước ngoài và đã được công bố. Một ngày sau khi Đặng Tiểu Bình trở về nước, ông ta đã họp Ủy ban Quân sự Trung Ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc mà ông ta chỉ đạo, trong suốt ba hoặc bốn ngày, và chính tại cuộc họp đó đã quyết định khẩn trương bổ sung một lượng lớn quân đội tới biên giới với Việt Nam, và tấn công Việt Nam. Ngay lập tức sau khi vừa từ Mỹ về .
Đặng Tiểu Bình đã nói gì với Brzezinski? Đặng Tiểu Bình đã nói chuyện gì với Carter? Liệu chính phủ Mỹ có biết hay không biết kế hoạch của Trung Quốc gây hấn và xâm lược Việt Nam? Đó là một câu hỏi rất quan trọng. Bạn giải thích ra sao về việc khi vừa từ Mỹ trở về, ông ta đã vội họp Quân ủy và ra lệnh xâm lược Việt Nam?
Thực tế là chính phủ Mỹ đã liên kết về chính trị với cuộc xâm lược Việt Nam, liên kết về chính trị. Còn hơn nữa, một thượng nghị sĩ Mỹ gần đây đã tuyên bố rằng Brzezinski đã nói với ông ta là bây giờ Việt Nam sẽ phải rút khỏi Campuchia. Đó là một lời tuyên bố. Và chính phủ Mỹ, chắc chắn là đã biết trước và ủng hộ cuộc phiêu lưu quân sự này của Bắc Kinh, nói rằng Việt Nam phải rút khỏi Campuchia để đổi lại việc Trung Quốc rút khỏi Việt Nam. Đế quốc Mỹ và giới lãnh đạo Trung Quốc đã cùng hội cùng thuyền trong cuộc xâm lược này. Chúng là cùng hội cùng thuyền trong cuộc phiêu lưu quân sự phi lý và điên rồ này. Đó là dấu hiệu cho thấy cả Mỹ và Trung Quốc đang tìm cách tái lập chế độ diệt chủng PolPot – Ieng Sary ở Campuchia. Đây là mục tiêu chính trị: tấn công Việt Nam chính là để Việt Nam chấm dứt tất cả sự hợp tác và tất cả sự đoàn kết với chính quyền cách mạng Campuchia, để thiết lập lại chế độ diệt chủng và từ đó lại bao vây Việt Nam từ hai phía, từ phía Nam và từ phía Bắc. Đây là chính sách của Mỹ mặc dù họ làm như là kẻ ngoài cuộc.
Và bây giờ, thật là trơ tráo, cách mà họ nói với thế giới, cách mà Trung Quốc đã diễn giải : họ đã bị Việt Nam xâm lược, và họ phải phản kích.
Nhưng này, họ chỉ là kẻ học việc tồi tệ của Hitler. Bởi vì, có thể nói, Đặng Tiểu Bình với những gì đã làm đã gần như, hầu như trở thành, không phải là một Hitler mà là một loại bản sao khôi hài của Hitler. Bởi vì người ta đã biết nhờ thông tin được công bố từ bản báo cáo nội bộ, trong đó nói rõ về: thời gian tấn công, đã tấn công bất ngờ như thế nào, thực hiện pháo kích và không kích thế nào vào lúc 3:00 sáng, đã bắt đầu cuộc xâm lược ra sao… Trong bản báo cáo họ cũng không che giấu về thương vong. Không thể che giấu được. Họ đã nói điều đó trong báo cáo. Có hai điều thú vị, hai điều đáng quan tâm. Đó là: họ đã có khoảng 3.000 trường hợp thương vong. Con số này khớp với con số mà phía Việt Nam đã công bố đến thời điểm đó. Tất nhiên, họ đã không nói về việc đã mất hàng chục xe tăng. Họ cũng không nói về việc họ phải gánh chịu một số thất bại nghiêm trọng. Điều duy nhất đã nói trong bản báo cáo là đã không có sự phối hợp tốt giữa các binh chủng, giữa không quân và bộ binh, và vì thế, đã có khó khăn trong việc tiến quân. Nghĩa là, trong khi một mặt họ nói rằng họ đã bị tấn công và hành động của họ là phản kích, mặt khác họ lại làm một bản thông tin nội bộ lưu hành hạn chế, giải thích tất cả những gì đang diễn ra.
Thật là trơ tráo, thật là vô liêm sỉ! Sao mà lại giống, lại giống hệt đến mức khó tin những phương pháp của Hitler! cả trong việc xâm lược ồ ạt và tàn bạo một nước nhỏ, cũng như trong cách trình bày vấn đề này với thế giới.
Lúc này đây, một tình huống rất nguy hiểm đã được tạo ra. Đúng là vậy. Họ đã thực hiện một cú nhảy vào khoảng không. Ý định của họ là gì? Họ có thể đi được bao xa? Cuộc khủng hoảng này sẽ tiếp diễn như thế nào? Bao lâu nữa cuộc khủng hoảng này có thể kết thúc? Bởi vì họ đã lao vào một cuộc phiêu lưu phi lý, thực sự điên rồ và nguy hiểm.
Tình đoàn kết của chúng ta với Việt Nam, sự động viên tất cả các lực lượng cách mạng, cùng nhân dân tiến bộ và yêu chuộng hòa bình trên thế giới (ủng hộ Việt Nam) càng không phải là vô ích. Nếu chúng ta đã nhiều lần tham gia các hoạt động đoàn kết, thì tôi tin chắc rằng không có hoạt động nào có ý nghĩa toàn cầu hơn và quan trọng hơn, không có hoạt động nào cần thiết hơn là cuộc mít tinh đoàn kết tối nay (vỗ tay).
Các lực lượng tiến bộ, các dân tộc trên thế giới cần phải chung tay để chặn đứng cuộc phiêu lưu này, để chặn đứng mối nguy hiểm này, để chặn đứng sự điên rồ này, bởi vì cả thế giới có thể sẽ bị cuốn vào tình huống này. Hậu quả của kiểu phiêu lưu này, không hề phóng đại, có thể là khủng khiếp đối với thế giới. Bởi vì Việt Nam không thể bị hủy diệt như thế này, trong im lặng. Không thể như thế! Và như vậy, những tên quan ngông cuồng, kiêu ngạo ấy sẽ không có lựa chọn nào khác là phải rút chạy, chúng sẽ không có sự lựa chọn nào khác là bị đánh bại. Dư luận thế giới cần thiết phải lên tiếng để tác động, để chặn đứng một cuộc phiêu lưu có thể đưa thế giới vào một cuộc chiến thảm khốc.
Và đây chính là lúc để chứng tỏ mình, đối với tất cả những ai trên thế giới tự coi là người cách mạng, là người tiến bộ (vỗ tay), là người yêu chuộng hòa bình. Bởi vì, đây không phải là lúc có thể dao động, có thể nhập nhằng, đây không phải là lúc có thể lưỡng lự, không phải là lúc có thể xem Việt Nam và Trung Quốc ai cũng như ai đối với cả thế giới này. Đây là lúc để xác định anh là ai, anh là ai (vỗ tay). Bởi vì, không một người yêu chuộng hòa bình nào, không một người tiến bộ nào, không một người cách mạng, hoặc tự coi mình là người cách mạng nào trên thế giới lại không thể lên án một cách mạnh mẽ nhất, kịch liệt nhất, cuộc phiêu lưu đầy tội ác này của chính phủ Trung Quốc (vỗ tay).
Tuy nhiên, cần phải bình tĩnh. Chính trong những lúc nguy hiểm lớn nhất đối với thế giới thì cần phải hành động với sự bình tĩnh tối đa và sự lạnh lùng hết mức. Và, một trách nhiệm của tất cả các nước xã hội chủ nghĩa, của các dân tộc tiến bộ trên thế giới là phải hành động với sự bình tĩnh tối đa và bằng cái đầu lạnh. Đây không phải là lúc để mất kiểm soát hay mất bình tĩnh, bởi vì, một số hành động nào đó, sau khi được thực hiện, có thể sẽ không thể đảo ngược được.
Cuộc phiêu lưu này, sự điên rồ này dứt khoát phải bị đập tan. Bởi vì, phải đánh bại nó, phải đánh bại nó! (vỗ tay và tiếng hò reo: “Fidel, Fidel, Fidel”). Hãy ngăn chặn những tên tân phát xít mất trí này, bè lũ điên khùng này, đúng vậy, một bè lũ điên loạn, những kẻ tân phát xít hiện thời đang cầm quyền ở Trung Quốc thực hiện ý đồ của chúng kéo thế giới vào một cuộc chiến tranh hạt nhân. Nhất thiết phải làm cho chúng thất bại và ngăn cản chúng thực hiện ý đồ.
Chúng ta phải quan sát kỹ càng các chuyển biến của tình hình, phải cập nhật mọi thông tin, tất cả các thông tin đến từ Việt Nam.
Chúng ta không nên đánh giá quá cao sức mạnh của Trung Quốc. Đừng đánh giá quá cao họ. Chúng ta cũng không nên coi thường sức mạnh của Việt Nam (vỗ tay). Về mặt kỹ thuật, trên giác độ quân sự, sau tất cả những sự điên rồ của họ và cuộc “cách mạng văn hóa” của họ, những cuộc thanh trừng nối tiếp thanh trừng, phục hồi rồi lại phục hồi, quân đội Trung Quốc vẫn duy trì vũ khí kỹ thuật lạc hậu. Một chiếc xe tăng của Trung Quốc không thể sánh với một chiếc xe tăng Việt Nam (vỗ tay và hò reo). Một tên lửa phòng không Trung Quốc không thể sánh với một tên lửa phòng không Việt Nam. Vũ khí phòng không của Trung Quốc không thể sánh được với vũ khí phòng không của Việt Nam (vỗ tay và la hét). Pháo binh Trung Quốc cũng không thể sánh với pháo binh Việt Nam.
Họ có thể mạnh miệng để nói về dân số hàng trăm triệu và thậm chí một tỷ người, nhưng chẳng hề dễ dàng đưa một dân tộc đến lò sát sinh. Không hề dễ đâu. Ngoài ra, người lính cần một động lực. Chẳng có gì phải nghi ngờ là khi chiến đấu chống lại các lực lượng phản động trong cuộc chiến tranh giải phóng trước đây, người lính Trung Quốc là một người lính xuất sắc, một người lính dũng cảm. Chẳng có gì phải nghi ngờ là khi chiến đấu chống lại quân Mỹ tại Triều Tiên trước đây, người lính Trung Quốc là một người lính xuất sắc, một người lính dũng cảm. Họ đã có một động lực. Họ đã đối mặt với chủ nghĩa đế quốc và đã có một động lực cách mạng sâu sắc (vỗ tay).Tôi tự hỏi: những kẻ phát xít sẽ cho người lính Trung Quốc động lực gì để họ có thể coi thường cái chết? Và, nếu những người lính Trung Quốc có thể được truyền cảm hứng để chiến đấu giống như một tên lính chì, giết chóc phụ nữ và trẻ em Việt Nam, triệt hạ các gia đình Việt Nam, thực hiện hành vi diệt chủng thì loại huấn luyện viên nào có thể khuyến khích đội quân ấy hiện những tội ác đó? Và tôi nghi ngờ tinh thần chiến đấu của những người lính Trung Quốc đang xâm lược Việt Nam, cho dù người ta đã cố gắng nhiều thế nào để lừa bịp họ. Hơn nữa, một Việt Nam sẽ không ngồi khoanh tay, một Việt Nam có một kinh nghiệm chiến đấu phi thường (vỗ tay), một Việt Nam sở hữu những vũ khí tuyệt vời, và một Việt Nam không đơn độc (vỗ tay và reo hò: “Không!”)
Thật là một tội ác quái đản chống lại dân tộc đó! Họ đã lập nên biết bao nhiêu chiến công, thể hiện biết bao nhiêu khí phách anh hùng trong vài thập kỷ qua! Đầu tiên là những tên xâm lược Nhật Bản, sau đó, là những tên xâm lược của đội quân viễn chinh của thực dân Pháp, rồi đến bọn xâm lược Mỹ. Và bây giờ, mới nhất: quân xâm lược Trung Quốc. Trải qua những cuộc chiến đấu đó, người Việt Nam đã gặt hái được rất nhiều kinh nghiệm. Không có dân tộc nào trên thế giới tinh thông hơn dân tộc Viêt Nam về chiến thuật và chiến lược trong các cuộc chiến tranh giải phóng (vỗ tay), bởi vì họ đã phải liên tục đối mặt với những kẻ thù rất mạnh. Và người Việt Nam hiểu biết về chiến thuật và chiến lược hơn người Trung Quốc (vỗ tay). Và, một cuộc chiến tranh cách mạng không phải là điều tương tự như một cuộc chiến tranh diệt chủng. Không hề có sự giống nhau giữa một cuộc chiến tranh cách mạng như cuộc chiến tranh Trung Quốc đã tiến hành chống lại quân chiếm đóng Nhật và chống lại các lực lượng phản động, với một cuộc chiến tranh diệt chủng, tội ác chống lại một dân tộc dũng cảm đang bảo vệ sự nghiệp của họ, quê hương của họ, cuộc cách mạng của họ, độc lập của họ, sự tồn tại của họ, như nhân dân Việt Nam đang bảo vệ ngày hôm nay (vỗ tay).
Ngoài ra, người Việt Nam rất khôn ngoan, họ biết những gì họ làm rất tốt, và họ có thể để cho kẻ thù tiến vào đến đâu, rồi đánh lại nó thế nào và khi nào, bằng cách nào. Họ biết những gì họ làm. Và tôi nói với các bạn rằng tôi có một niềm tin vô hạn đối với những phẩm chất của người Việt Nam (vỗ tay). Và mặc dù lũ phát xít mới đang cầm quyền ở Trung Quốc luôn mồm nói về dân số một tỷ người, tôi cũng không hề ngạc nhiên là chúng sẽ phải chịu một thất bại to lớn ở Việt Nam, không có gì lạ cả ( vỗ tay).
Và đó là lý do tại sao tôi nói rằng những tên tội phạm ấy đã lao vào một cuộc phiêu lưu man rợ, vào một đường hầm không lối thoát. Và, vì vậy mà tình hình này nguy hiểm. Thật sự là một tình hình nguy hiểm, một tình hình phức tạp, đòi hỏi phải có một sự bình tĩnh tối đa, một cái đầu cực lạnh. Nhưng, đồng thời đòi hỏi phải có sự đoàn kết lớn nhất, sự hỗ trợ tối đa cho Việt Nam và sự quyết tâm cực điểm (vỗ tay).
Niềm tin của chúng ta ư? Người Việt Nam đã đánh bại người Nhật Bản, người Việt Nam đã đánh bại người Pháp, người Việt Nam đánh bại người Mỹ, những kẻ thù mạnh hơn rất nhiều, mạnh hơn rất nhiều mà bọn phát xít Trung Quốc không thể so sánh (vỗ tay); kể cả khi Mỹ bao vây Việt Nam với những tàu sân bay cùng hàng ngàn chiến đấu cơ và máy bay ném bom chiến lược, chúng vẫn bị đánh bại. Niềm tin của chúng ta là người Việt Nam sẽ đánh bại cuộc chiến tranh của những kẻ phát xít Trung Quốc (vỗ tay). Đó là niềm tin của chúng ta! Chúng vào sâu 10 hoặc 15km, hoặc nhiều hơn một chút hoặc ít hơn một chút, không quan trọng. Nhiều kẻ khác cũng đã vào. Và, các bạn đã biết chúng đã phải ra đi như thế nào.
Nhân dân ta phải theo dõi chặt chẽ, tôi nhắc lại, từng sự kiện, phải rất chú ý tới mọi thông tin. Báo chí của chúng ta, truyền hình của chúng ta, đài phát thanh của chúng ta, phải phấn đấu để cung cấp cho nhân dân ta càng nhiều thông tin càng tốt để nhận định. Và, nhân dân ta phải chuẩn bị sẵn sàng cho mọi thứ, cho tất cả mọi thứ! (vỗ tay).
Các cuộc khủng hoảng không phải là mới đối với chúng ta. Chúng ta đã từng trải qua, ít năm trước đây, cuộc khủng hoảng tháng Mười, khi nhiều tên lửa hạt nhân chĩa vào chúng ta, và chẳng có ai ở đây phải mất ngủ. Tôi không hề biết bất cứ ai như vậy cả. Thậm chí, tôi cho rằng trong những ngày đó, người dân đã ngủ ngon hơn bao giờ hết (vỗ tay). Và bây giờ cũng như vậy: phải chuẩn bị sẵn sàng cho mọi thứ. Chúng ta không biết cuộc khủng hoảng này sẽ kéo dài bao lâu. Hiện tại, không ai có thể dự đoán tương lai của nó. Hãy sẵn sàng cho tất cả mọi điều, sẵn sàng cho tất cả mọi thứ! (vỗ tay).
Hãy tăng cường sự đoàn kết của chúng ta! Hãy làm giàu thêm hiểu biết và lương tâm của chúng ta! Nhưng không để mất đi sự bình tĩnh và đừng mất ngủ. Hãy cùng hô vang với sự cảm nhận sâu sắc hơn và quyết tâm hơn bao giờ hết:
Chủ nghĩa Quốc tế vô sản muôn năm! (đồng thanh hô “Muôn năm!”)
Nhân dân Việt Nam nghìn lần anh hùng muôn năm! (đồng thanh hô “Muôn năm!”)
Tổ quốc hay là chết!
Chúng ta nhất định thắng!
(Nguồn st: Fb của cố nhà báo Nguyễn Đức Hy)

Sòng phẳng với lịch sử không phải là kích động hận thù

https://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Song-phang-voi-lich-su-khong-phai-la-kich-dong-han-thu-post195264.gd

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình (GDVN)- Nhiều người dân Trung Quốc hiểu sai cơ bản về cuộc chiến tranh biên giới. Nhưng tính chính nghĩa của Việt Nam trong cuộc chiến đó là sự thật không thể chối cãi.

LTS: Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết của bà Nguyễn Thị Bình – nguyên Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 của quân và dân ta.

Tòa soạn trân trọng gửi đến độc giả.

Chiến tranh biên giới phía Bắc là một câu chuyện buồn trong lịch sử, một câu chuyện buồn trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc.

Dẫu vậy, nó vẫn là lịch sử.

Và đã là lịch sử thì phải nhìn nhận nó với sự thật đầy đủ.

Sẽ không thể không nhắc đến ngày 17/2/1979, ngày mà cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc đã nổ ra; ngày mà hàng ngàn con em chúng ta đã hy sinh để bảo vệ biên cương của Tổ quốc.

Nhắc để dân ta nhớ, biết ơn và tôn vinh những chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh để bảo vệ biên cương Tổ quốc, như chúng ta đã và sẽ vẫn tôn vinh bao nhiêu anh hùng liệt sĩ trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

Không những dân ta cần hiểu, mà nhân dân Trung Quốc cũng như nhân dân các nước cũng phải hiểu đúng: đâu là sự thật, đâu là lẽ phải và coi đó là bài học. Không thể quên lãng nó.

Nhiều người dân Trung Quốc đã hiểu sai cơ bản về cuộc chiến tranh biên giới đó. Nhưng tính chính nghĩa của Việt Nam trong cuộc chiến đó là sự thật không thể chối cãi.

Ảnh tư liệu: TTXVN

Có thể nào nghĩ rằng Việt Nam vừa ra khỏi cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt kéo dài 30 năm, đang tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh và đứng trước vô vàn khó khăn lại có thể khiêu khích Trung Quốc, một nước lớn, một nước xã hội chủ nghĩa đã ủng hộ và giúp đỡ mình trong cuộc chiến tranh cứu nước vừa qua?

Thực tế là quân dân Việt Nam khi đó đã phải chống lại một cuộc chiến tranh biên giới to lớn để bảo vệ biên cương Tổ quốc.

Theo tôi, không chỉ đưa vào sách giáo khoa những sự thật lịch sử về Hoàng Sa, Trường Sa mà ngay cả cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc cũng cần được nhắc đến đầy đủ.

Con em chúng ta cần biết và có quyền biết lịch sử, biết những gì mà ông cha đã làm, để tự hào và tiếp nối truyền thống.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng: Ta tôn trọng lịch sử, sòng phẳng với lịch sử không có nghĩa là chúng ta kích động hận thù.

Chúng ta biết sự thật, để hiểu đâu là lẽ phải và để rút ra bài học cho các mối quan hệ quốc tế trong bối cảnh phức tạp ngày nay.

Chiến tranh Biên giới 1979: Khúc bi tráng trên đỉnh Pò Hèn

Tôi ủng hộ con đường ngoại giao khôn ngoan, mềm mỏng, tôn trọng các nguyên tắc quốc tế.

Kinh nghiệm trong đấu tranh, né tránh hay im lặng đều không có lợi, vì như vậy chúng ta không làm rõ được sự thật, phải trái, đúng sai, có khi còn khuyến khích đối phương, khiến họ cho rằng ta yếu thế và ngày càng lấn tới.

Tuy nhiên không bình tĩnh cân nhắc trong ứng xử cũng sẽ khiến cho tình hình thêm phức tạp, không có lợi cho sự nghiệp.

Vậy bài học rút ra từ quá khứ mất mát của chúng ta là gì đây? Việt Nam là một dân tộc hòa hiếu.

Xưa đến nay, ta rất chú trọng xây dựng quan hệ láng giềng tốt với Trung Quốc dù trong lịch sử hai nước đã có bao lần xung đột.

Bộ Giáo dục sẽ đưa cuộc chiến tranh biên giới, hải đảo vào sách giáo khoa

Trong tình hình hiện nay, chúng ta cần một môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước và cần những bạn bè tốt để hợp tác nên Việt Nam càng coi trọng quan hệ hữu nghị với Trung Quốc – một nước lớn đang có những bước phát triển thần kỳ.

Nhưng như bất cứ dân tộc nào, chủ quyền quốc gia đối với Việt Nam là thiêng liêng và chúng ta sẽ kiên quyết bảo vệ bằng mọi giá, đồng thời chúng ta chủ trương mọi tranh chấp lãnh thổ được giải quyết bằng phương pháp hòa bình, có sự tôn trọng lẫn nhau.

Trong đấu tranh, chúng ta đã làm đúng theo lời dạy của Bác Hồ: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, luôn giữ vững lập trường nguyên tắc độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, nhưng vẫn linh hoạt, mềm dẻo trong sách lược.

Tôi tin vào sức mạnh của chính nghĩa, của lẽ phải, tin vào sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân và tin ở sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới.

Ta cần hành động theo tinh thần đó.

Nhưng tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng sẽ khó để bảo vệ chủ quyền nếu đất nước không có nội lực, không có nền tảng vững chắc về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng với đoàn kết dân tộc mạnh mẽ.

Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất mà chúng ta cần phấn đấu.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình

Chống bành trướng ở biên giới phía Bắc sẽ có đầy đủ trong sách giáo khoa mới

https://giaoduc.net.vn/gdvn-post195619.gd

Thùy Linh (ghi) (GDVN) – Theo Giáo sư Phạm Hồng Tung, cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới phía Bắc năm 1979 sẽ có đầy đủ ở sách giáo khoa mới.

TIN LIÊN QUAN

Mới đây, Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam có đăng tải bài viết “Sòng phẳng với lịch sử không phải là kích động hận thù” của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, trong đó bà đề xuất:
 
Theo tôi, không chỉ đưa vào sách giáo khoa những sự thật lịch sử về Hoàng Sa, Trường Sa mà ngay cả cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc cũng cần được nhắc đến đầy đủ.
 
Con em chúng ta cần biết và có quyền biết lịch sử, biết những gì mà ông cha đã làm, để tự hào và tiếp nối truyền thống
…”.
 
Trước ý kiến này, phóng viên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam có liên hệ với Giáo sư Sử học Phạm Hồng Tung, Chủ biên chương trình Lịch sử trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể để lắng nghe ý kiến của ông về vấn đề mà nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình nếu ra.

Tòa soạn trân trọng gửi tới độc giả cuộc trao đổi này. 
 
Phóng viên: Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, nội dung cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới phía Bắc năm 1979 có được đưa vào hay không? Nếu có thì được đưa vào như thế nào, thưa ông?
 
Giáo sư Sử học Phạm Hồng Tung: Trước khi nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đề xuất thì những người biên soạn chương trình giáo dục lịch sử bao gồm môn học tích hợp Lịch sử và Địa lí ở cấp Tiểu học và Trung học cơ sở, môn Lịch sử ở cấp Trung học phổ thông đã đưa nội dung chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới phía Bắc vào chương trình giáo dục phổ thông mới.
 
Khi đã đưa vào chương trình thì có nghĩa nội dung trong sách giáo khoa phải có, tuy nhiên với chủ trương “một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa” thì mỗi tác giả viết sách sẽ có cách trình bày riêng của họ mà thôi.

Giáo sư sử học Phạm Hồng Tung cho biết, theo các nhà giáo và các nhà sử học, trong sách giáo khoa hiện hành hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở các vùng biên giới Tây Nam và phía Bắc được trình bày chưa hoàn toàn tương xứng. (Ảnh Giáo sư Phạm Hồng Tung cung cấp)

Tuy nhiên, tôi cũng phải nói thêm rằng, ở cấp Tiểu học, giáo dục lịch sử nằm trong môn học tích hợp Lịch sử và Địa lí, bắt đầu được tổ chức dạy và học ở các lớp 4 và 5.

Các vấn đề liên quan đến hai cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới Tây Nam và vùng biên giới phía Bắc chưa được đề cập đến vì nội dung này quá khó đối với học sinh tiểu học.
 
Ở cấp Trung học cơ sở, nội dung giáo dục lịch sử cũng nằm trong môn học tích hợp  Lịch sử và Địa lí, được tổ chức dạy và học từ lớp 6 đến lớp 9.
 
Ở cấp học này, nội dung về hai cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc ở các vùng biên giới Tây Nam và phía Bắc sẽ được trình bày ở lớp 9, trong mạch nội dung “Việt Nam trong những năm 1975 – 1991”.

Sòng phẳng với lịch sử không phải là kích động hận thù

Đến cấp trung học phổ thông, Lịch sử được tổ chức dạy và học là một môn học độc lập. Các nội dung giáo dục sẽ được tổ chức thành những chủ đề và chuyên đề.
 
Riêng hai cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc ở các vùng biên giới Tây Nam và phía Bắc sẽ tiếp tục được trình bày trong khuôn khổ của chủ đề “Cách mạng tháng Tám năm 1945, chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc từ 1945 đến nay)”.
 
Như vậy, lịch sử hai cuộc chiến đấu này được đặt trong một mạch nội dung xuyên suốt giống với cuộc Kháng chiến chống thực dân Pháp và cuộc Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
 
Cách đặt vấn đề như vậy sẽ giúp cho học sinh có cái nhìn xuyên suốt và trên cơ sở đó có nhận thức tìm ra những quy luật, bài học lịch sử về bảo vệ Tổ quốc là gì đồng thời cho thấy việc tìm hiểu về các cuộc chiến tranh này không phải “vấn đề nhạy cảm.”
 
Ngoài ra, lịch sử cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải và lợi ích quốc gia ở vùng biên giới phía Bắc và ở Biển Đông sẽ được trình bày kĩ hơn trong ba chủ đề: “Lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông” (lớp 11) và “Công cuộc Đổi mới ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay” và “Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam” (lớp 12).
 
Như vậy, nội dung chiến tranh bảo vệ Tổ quốc được nhắc đi nhắc lại 3 lần với 3 góc nhìn khác nhau để học sinh có cơ hội tìm hiểu sự kiện này một cách thấu đáo, toàn diện, sâu sắc.
 
Theo ông, hiện nay nhận thức về hai cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới trong sách giáo khoa hiện hành đã đầy đủ và đúng chưa?
 
Giáo sư Sử học Phạm Hồng Tung: Trước tiên, tôi phải khẳng định rằng chương trình, sách giáo khoa hiện hành có tính lịch sử của nó, do vậy khi đưa ra quan điểm là để chúng ta làm tốt hơn chứ không phải trách móc những người tiền nhiệm.

Hai cuộc chiến xâm lược Việt Nam có chung một kịch bản

Trong sách giáo khoa hiện hành, theo các nhà giáo và các nhà sử học thì hai cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc ở các vùng biên giới Tây Nam và phía Bắc được trình bày còn sơ sài, chưa đáp ứng giáo dục lịch sử khi chỉ được đề cập từ trang 205-207, riêng cuộc chiến chống bành trướng, bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới phía Bắc năm 1979 chỉ được đề cập đến với 4 câu, 11 dòng tại sách giáo khoa Lịch sử lớp 12.  

Tôi khẳng định lại một lần nữa, đây là cuộc chiến đấu chống bành trướng bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 và các nội dung của sự kiện này sẽ được phản ánh đầy đủ trong sách giáo khoa mới.

Trân trọng cảm ơn Giáo sư Phạm Hồng Tung.

Thùy Linh (ghi)

Danh-Sách 74 Anh-Hùng Tử-Sĩ Hoàng-Sa

Xin Quý Vị giúp cho tài-liệu để chúng tôi nhật-tu. Chân-thành cảm ơn trước.

Anh-Hùng Tử-Sĩ đã hy sinh Hoàng-Sa trong khi bảo vệ Tổ Quốc, chống trả lại sự xâm lăng của ngoại bang xâm lược, cần thiết phải được vinh danh. Hình ảnh chân dung của họ là những di vật quý hoá muôn đời sau.

Xin chân-thành cảm ơn Ông Vũ Đình Thiện (Email 19-1-2012). Chúng tôi xin sửa chữa tên một vị thuộc HQ-5: anh-hùng tử-sĩ Vũ-Đình-Quang, SQ: 62A700 710.

Xin chân-thành cảm ơn Cháu Lương Nguyễn Trãi (Email 21-8-2012). Chúng tôi xin sửa chữa tên một vị thuộc HQ-10: anh-hùng tử-sĩ Lương Thanh Thú, SQ: 70A/700.494.

Xin chân-thành cảm ơn Cháu Nguyễn Lê Bội Liên. Chúng tôi xin sửa chữa tên một vị thuộc HQ-5: anh-hùng tử-sĩ Nguyễn Phú Hảo.

Xin chân-thành cảm ơn gia đình trung sĩ Phạm Ngọc Đa (thân mẫu còn sống tại Long Xuyên), Chúng tôi xin sửa chữa tên họ một vị thuộc HQ-10: anh-hùng tử-sĩ Phạm Ngọc Đa, SQ: 71A/703.001.

vuhuusan@yahoo.com 

HQ.10 &Tường-Trình  Ủy-Khúc / Tài liệu Họ Tên Số Quân 
1  Sách “LượcSử HQVNCH”    HQ.Th/TáNgụy-VănThà63A/700.824HT
2     121BTL/HmĐHQ.Đ/UýNguyễn-ThànhTrí61A702.714HP
3   Sách “LượcSử HQVNCH”  ThS.1/TPNguyễn-HồngChâu59A700126 QNT
4     121BTL/HmĐTS./GLVươngThương64A700.777 
5     121BTL/HmĐTS./VChPham-NgọcĐa71A703.001 
6     121BTL/HmĐTS./TPVõ-VănNam71A705.697 
7     121BTL/HmĐThS./ĐTTrần-VănThọ71A706.845 
8     121BTL/HmĐTS./QKNguyễn-VănTuấn71A700.206 
9     157BTL/HmĐHQ.Tr/UýVũ-VănBang66A/702.337 
10   157BTL/HmĐHQ.Tr/UýPhạm-VănĐồng67A/701.990 
11   157BTL/HmĐHQ.Tr/UýHuỳnh-DuyThạch63A/702.639CKT
12   157BTL/HmĐHQ.Tr/UýNgô-ChíThành68A/702.453 
13   157BTL/HmĐHQ.Tr/UýVũ-ĐìnhHuân69A/703.058 
14   157BTL/HmĐTHS.1/CKPhan-TânLiêng56A/700.190 
15   157BTL/HmĐTHS.1/ĐKVõ-ThếKiệt61A/700.579 
16   157BTL/HmĐTHS./VCHoàng-Ngọc53A/700.030 
17   157BTL/HmĐTRS.1/VTPhan-TiếnChung66A/701.539 
18   157BTL/HmĐTRS./TPHuỳnh-KimSang70A/702.678 
19   157BTL/HmĐTRS./TXLê-AnhDũng70A/700.820 
20   157BTL/HmĐTRS./ĐKLai-ViếtLuận69A/700.599 
21   157BTL/HmĐTRS./VChNgô-TấnSơn71A/705.471 
22   157BTL/HmĐTRS./GLNgô-VănƠn69A/701.695 
23   157BTL/HmĐTRS./TPNguyễn-ThànhTrong72A/700.861 
24   157BTL/HmĐTRS./TPNguyễn-VinhXuân70A/703.062 
25   157BTL/HmĐTRS./CKPhạm-VănQuý71A/703.502 
26   157BTL/HmĐTRS./CKNguyễn-Tấn66A/701.761 
27   157BTL/HmĐTRS./CKTrần-VănBa65A/700.365 
28   157BTL/HmĐTRS./ĐTNguyễn-QuangXuân70A/703.755 
29   157BTL/HmĐTRS./BTTrần-VănĐảm64A/701.108 
30   157BTL/HmĐHS.1/VChLê-VănTây68A/700.434 
31   157BTL/HmĐHS.1/VChLương-ThanhThú70A/700.494 
32   157BTL/HmĐHS.1/TPNguyễn-QuangMén65A/702.384 
33   157BTL/HmĐHS.1/VChNgôSáu68A/700.546 
34   157BTL/HmĐHS.1/CKĐinh-HoàngMai70A/700.729 
35   157BTL/HmĐHS.1/CKTrần-VănMộng71A/703.890 
36   157BTL/HmĐHS.1/DVTrần-VănĐịnh69A/700.627 
37   157BTL/HmĐHS./VChTrương-HồngĐào71A/704.001 
38   157BTL/HmĐHS./VChHuỳnh-CôngTrứ71A/701.671 
39   157BTL/HmĐHS./GLNguyễn-XuânCường71A/700.550 
40   157BTL/HmĐHS./GLNguyễn-VănHoàng72A/702.678 
41   157BTL/HmĐHS./TPPhan-VănHùng71A/706.091 
42   157BTL/HmĐHS./TPNguyễn-VănThân71A/702.606 
43   157BTL/HmĐHS./TPNguyễn-VănLợi62A/700.162 
44   157BTL/HmĐHS./CKTrần-VănBảy68A/701.244 
45   157BTL/HmĐHS./CKNguyễn-VănĐông71A/703.792 
46   157BTL/HmĐHS./PTTrần-VănThêm61A/701.842 
47   157BTL/HmĐHS./CKPhạm-VănBa71A/702.200 
48   157BTL/HmĐHS./DKNguyễn-NgọcHoà71A/705.756 
49   157BTL/HmĐHS./DKTrần-VănCường72A/701.122 
50   157BTL/HmĐHS./PTNguyễn-VănPhương71A/705.951 
51   157BTL/HmĐHS./PTPhan-VănThép70A/703.166 
52   157BTL/HmĐTT.1/TPNguyễn-VănNghĩa72A/703.928 
53   157BTL/HmĐTT.1/TPNguyễn-VănĐức73A/701.604 
54   157BTL/HmĐTT.1/TPThi-VănSinh72A/703.039 
55   157BTL/HmĐTT.1/TPLý-PhùngQuí71A/704.165 
56   157BTL/HmĐTT.1/VTPhạm-VănThu70A/702.198 
57   157BTL/HmĐTT.1/PTNguyễn-HữuPhương73A/702.542 
58   157BTL/HmĐTT.1/TXPhạm-VănLèo73A/702.651 
59   157BTL/HmĐTT.1/CKDương-VănLợi73A/701.643 
60   157BTL/HmĐTT.1/CKChâu-TuỳTuấn73A/702.206 
61   157BTL/HmĐTT.1/DTĐinh-VănThục71A/704.487 
62   157BTL/HmĐTT /VChNguyễn-VănLai71A/703.668 
     
HQ. 4     
Sách “TàiLiệu HảiChiến HSa”HQ Th/UýNguyễn-Phúc Tr. Khẩu 20
Sách “TàiLiệu HảiChiến HSa”HS1/VCBùi-QuốcDanh Xạ Thủ
Sách “TàiLiệu HảiChiến HSa”Biệt-HảiNguyễn-VănVượngXung-phongTiếp Đạn
     
 HQ.5      
   Sách “LượcSử HQVNCH”HQ Tr/UýNguyễn-VănĐồng Tr. Khẩu 127 
   Sách “LượcSử HQVNCH”ThSI/ĐTNguyễn-PhúHảo  
   Sách “LượcSử HQVNCH”TS1TPVũ-ĐìnhQuang62A700 710  
     
HQ.16     
    Sách “LượcSử HQVNCH”TSI/ĐK Trần VănXuân68A/701.074 
    Sách “LượcSử HQVNCH”HS/QKNguyễn-VănDuyên  
     
Người-Nhái     
    Sách “LượcSử HQVNCH”Tr/Uý NNLê-VănĐơn Tr. Toán
    Sách “LượcSử HQVNCH”TS/NNĐinh-KhắcTừ  
    Sách “LượcSử HQVNCH”HS/NNĐỗ-VănLong  
    Sách “LượcSử HQVNCH”NNNguyễn-VănTiến  

Phụ-Chú:

– Tử sĩ của HQ-4, HQ-5, HQ-16 và Người Nhái được các Đơn Vị Trưởng liên hệ đang sinh sống tại Hoa Kỳ xác nhận.  

– Tử sĩ của HQ-10 là 7 SQ + 23 HSQ + 32 ĐV = 62 người (Hải-Sử Tuyển-Tập, HQVN. 2004, trang 310).

– Cùng với danh tính của vị Hạm-Trưởng Nguỵ Văn Thà và Quản Nội Trưởng Nguyễn Hồng Châu, số 60 Tử-Sĩ của HQ-10 được xác nhận với đầy đủ: Cấp bậc, Họ Tên, Quân Số; bởi 2 bản:

(1)- Tường-Trình Ủy-Khúc # 121/BTL/HmĐ/NV/TTUK/K ngày 16-2-1974: (6 người) &

(2)- Tường-Trình Ủy-Khúc # 157/BTL/HmĐ/NV/TTUK/K ngày 02-3-1974 (54 người), do Hải-Quân Đại-Tá Nguyễn-Xuân-Sơn, Tư-Lệnh Hạm-Đội, ký tên & đóng dấu.

– Sách “Lược Sử Hải Quân VNCH”, Tác-giả Vũ Hữu San, 2009, tái bản 2012.

 # 121/BTL/HmĐ/NV/TTUK/K ngày 16-2-1974 &

– Sách “Lược Sử Hải Quân VNCH”, Tác-giả Vũ Hữu San, 2009, tái bản 2012.

– Cố HQ Chuẩn-Uý Vũ-Văn-Ấn, Sĩ-Quan Nhân-Viên Hạm-Đội, trước khi qua đời, có nhắn lại là:

(1) Ông đã viết các bản Tường-Trình Ủy-Khúc khác nữa cho HQ-4, HQ-5, HQ-16

(2) Có một Đoàn-Viên trong Danh-Sách Tường-Trình Ủy-Khúc # 157 về trình-diện Hạm-Đội sau ngày 02-3-1974. Rất tiếc, Ông không còn nhớ ra danh-tính Đoàn-Viên này sau 30-4-1975,

vì kinh qua nhiều ngày trốn-tránh, tù tội, vất vả, gian-truân, vượt biên, xin tị-nạn, làm lại cuộc đời mới tại Canada, rồi bệnh-hoạn…

  http://biendong.freetzi.com/HinhAnhHaiChien/TTUK121.jpg   http://biendong.freetzi.com/HinhAnhHaiChien/TTUK001.jpg   http://biendong.freetzi.com/HinhAnhHaiChien/TTUK002.jpg   http://biendong.freetzi.com/HinhAnhHaiChien/TTUK003.jpg     http://biendong.freetzi.com/HinhAnhHaiChien/TuSiHoangSa-30Nguoi.jpg

Nguyễn Văn Thiệu (Kỳ 1): Chuyện ly kỳ về lá số tử vi

http://danviet.vn/dong-tay-kim-co/nguyen-van-thieu-ky-1-chuyen-ly-ky-ve-la-so-tu-vi-1036259.html

Dường như số phận của cả một chế độ cũng ứng nghiệm hoàn toàn với lá số tử vi của người đứng đầu chế độ – ít nhất là trên những…giai thoại!

Đề cập đến sự sụp đổ hoàn toàn của chính quyền Sài Gòn, người ta lại thường gắn nó với vai trò của Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống thứ 3 nếu đếm ngược từ dưới lên. Hai người đi sau, Trần Văn Hương và Dương Văn Minh, thời gian làm “chủ nhân ông” tại Phủ Đầu Rồng chỉ tính bằng ngày, bằng giờ. Khi họ lên làm Tổng thống, miền Nam đã trong cơn hấp hối và không còn cơ hội để cứu vãn sự sụp đổ. Đó là “di sản” cay đắng mà họ được người tiền nhiệm Nguyễn Văn Thiệu miễn cưỡng trao lại.

Thật thú vị, dường như số phận của cả một chế độ cũng ứng nghiệm hoàn toàn với lá số tử vi của người đứng đầu chế độ – ít nhất là trên  những…giai thoại!

nguyen van thieu (ky 1): chuyen ly ky ve la so tu vi hinh anh 1

 Nguyễn Văn Thiệu trong lễ duyệt binh 19/6/1966 kỷ niệm 1 năm Chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ.

Ngày 29/9/2001, tại TP Boston, bang Massachusetts, Mỹ, cựu Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu  đã hóa người thiên cổ. Đến dự đám tang của ông có nhiều cựu quan chức, tướng lĩnh quân đội Sài Gòn, trong  đó có Ngô Quang Trưởng, Phạm Quốc Thuần, Lê Minh Đảo, Đào Duy Ân, Mạch Văn Trường, Phan Hòa Hiệp, Lâm Ngươn Tánh, Trần Bá Di, Văn Thành Cao…, những người không chỉ là thuộc cấp mà còn từng là đồng ngũ lâu năm, hiểu Nguyễn Văn Thiệu rất rõ. Họ đã hết sức ngạc nhiên vì trong cáo phó do gia đình soạn, ông Thiệu cầm tinh Quý Hợi, sinh ngày 5/4/1923. Điều này ngược hẳn với hiểu biết của họ, và cũng là hiểu  biết của số đông dân chúng miền Nam, rằng ông Thiệu cầm tinh Giáp Tý, sinh ngày 24/12/1924. Lá tử vi “tam trùng quý số” gồm sinh giờ Tý, tháng Tý và năm Tý của ông Thiệu một thời đã từng là đề tài tốn không ít  giấy mực của báo chí miền Nam.

Nếu ngày sinh tháng đẻ này không đúng, sinh thời không được ông Thiệu công nhận, uống mật gấu cũng chẳng có “cao thủ”  nào trong giới bốc phệ, giới nhâm cầm độn toán hay anh ký giả ti toe nào dám công khai lên báo bàn tán nhăng cuội. Và nếu không đúng, chẳng lẽ suốt 10 năm ngự trị trên cương vị lãnh đạo chóp bu của miền Nam (1965-1975), ông Thiệu lại không hề đính chính, mặc cho thiên hạ bàn tán đủ  kiểu? Chưa hết, khai xuân năm Nhâm Tý 1972, ông Thiệu còn cho phép ba thầy Huỳnh Liên, Minh Nguyệt và Khánh Sơn – những cao thủ trong nghề chiêm tinh, tử vi đẩu số và bói toán mà ông tin tưởng và ưu ái nhất lên đài truyền hình nói trước dân chúng về vận mạng quốc gia. Lá tử vi quý số “tam Tý” của  vị tổng thống đương nhiệm lại được ba thầy tranh nhau nhắc đến, gắn “chân mạng đế vương” của người đứng đầu thể chế với “một nền hòa bình và vĩnh cửu, cho dân chúng miền Nam, đang đến rất gần”. Nếu thế, cái tuổi Quý Hợi 1923 ghi trong cáo phó là lấy ở đâu ra?

Người ngoài có thể nhầm nhưng người thân trong gia đình của ông Thiệu thì tuyệt đối không thể nhầm. Đã có hơn một lần, vị cựu Tổng thống chính quyền Sài Gòn đã từng giải thích điều này. Trong hồi ký “Từ Tòa Bạch Ốc đến Dinh Độc Lập” xuất bản năm 1988, đã được in và phát hành trong nước, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, nguyên phụ tá kinh tế của Nguyễn Văn Thiệu thuật lại: Ông Thiệu cho biết, ngày sinh của ông là 5/4/1923. Khi ghi danh đi học, phải khai  giấy tờ, ông Thiệu không nhớ, lại không có người lớn trong gia đình ở bên cạnh để hỏi nên ông đã khai đại thành 24/12/1924, vì biết đó là ngày đẹp “Tý trùng”, cộng với việc ông sinh giờ Tý để thành “Tam trùng” – “tam tý vi vương”. Khai xong, ông mới có điều kiện hỏi lại để biết chính xác ngày sinh tháng đẻ của mình.

Nếu những gì viên tiến sĩ phụ tá nhớ lại là sự thật thì sự thật này chỉ hợp lý có… một nửa. Không như đa số người nghèo ở miền Trung hồi đầu thế kỷ XX, con  em sinh ra ít khi nhớ rõ ngày tháng thật, ông Thiệu sinh ra  trong một gia đình theo truyền thống Nho học. Nhà Thiệu ở làng Tri Thủy, xã Tri Hải, quận Thanh Hải, nhưng quê thì ở thôn Dư Khánh, xã Khánh Hải, (cách nhau một cửa biển hẹp), nay là thị trấn Khánh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, một vùng có cảnh quan khá đẹp. Ông Nguyễn Văn Chung, thân sinh của Nguyễn Văn Thiệu là một nhân sĩ Nho học. Hai người anh lớn Nguyễn Văn Hiếu và Nguyễn Văn Kiểu cũng là trí thức, từng dạy học. Do đó, việc ông Thiệu có ngày  sinh tháng đẻ chính xác, có lá số tử vi chính xác là điều dễ hiểu và hợp lý. Tuy nhiên, ở tuổi học trò tiểu học, khó có thể tin là cậu bé Nguyễn Văn Thiệu đủ tri thức chọn một ngày sinh “quý số tam trùng” để “khai đại” cho đời mình. Nếu thế, ông Thiệu có thể được coi là một thầy tử vi đại tài, năng khiếu phát lộ từ tấm bé!

nguyen van thieu (ky 1): chuyen ly ky ve la so tu vi hinh anh 2

 Nguyễn Văn Thiệu và Nixon trong cuộc gặp trên đảo Midway ngày 8/6/1969.

Ngày sinh 5/4/1923 chẳng ăn nhập gì đến yếu tố Tý, chính xác rơi vào ngày Mậu Thân, tháng Ất Mão, năm Quý Hợi. Người có lá số  này  “tuổi thơ nghèo khổ, ít học, nhưng khôn ngoan và ương ngạnh. Tuy háo sắc nhưng rất kín đáo để che giấu tình cảm. Là người có vóc dáng thanh tú, điềm đạm, thông minh, mưu trí và nhất là biết chụp thời cơ. Có khiếu về văn nghệ và ngoại ngữ, lấy vợ sớm và phải có người mai mối”. Về tính cách, “đây là người ôn hòa, mềm mỏng, đa nghi, có nhiều mưu trí. Suốt cả cuộc đời đều được yên thân và hưởng giàu có sau 33 tuổi. Khuyết điểm của người tuổi này là: chủ quan, liều lĩnh, thô bạo, nóng nảy…”.

Tử vi Tây phương cho tuổi Quý Hợi (1923) xác định ông Thiệu tuổi Miên Dương (Aries), mang các đặc điểm: “Mạng Hỏa tinh (Mars, thần Chiến tranh),  là người nghị lực, rất can cường, tự tin, cá tính độc lập, có tài lãnh đạo nhưng độc tài, hiếu thắng và liều lĩnh. Mạng hỏa  nên rất có uy quyền, óc sáng tạo, có tài ngoại giao nhờ ăn nói bặt thiệp. Người tuổi này hợp với việc điều binh, khiển tướng…”.

Quả thật, ông Thiệu mồ côi cha từ năm 11 tuổi, tuổi thơ khá vất vả. Học xong lớp 9, Nguyễn Văn Thiệu rời quê vào Sài Gòn, tá túc tại nhà người anh cả là Nguyễn Văn Hiếu (thời đệ nhị Cộng hòa là đại sứ VNCH tại Italia) để học nghề ở Trường Kỹ thuật Đỗ Hữu Vị. Sau đó, ông Thiệu được người anh này giúp đưa vào học trường dòng của Pellerin của Pháp tại Huế. Sau năm 1945, ông  vào Sài Gòn nhờ ông Nguyễn Văn Hiếu xin cho học trường Hàng hải.

Nguyễn Văn Thiệu quả thật có duyên với đường binh nghiệp và thăng tiến rất nhanh. Pháp chủ trương “Việt Nam hóa chiến tranh”, hà hơi tiếp sức cho Bảo Đại lập nên cái gọi là Quân đội Quốc gia Việt Nam, Thiệu ghi tên vào học khóa sĩ quan khinh quân đầu tiên và trở thành thiếu úy trong Quân đội Liên hiệp Pháp vào năm 1949.

Năm 1955, Quân đội VNCH được thành lập, Nguyễn Văn Thiệu đã đeo lon trung tá, giữ chức Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Đà Lạt. Lúc này ông Thiệu 33 tuổi, theo tuổi âm. Không lâu sau đó, ông ta lại được Ngô Đình Diệm thăng hàm đại tá, cất nhắc vào vị trí Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh, thay cho Đại tá Woòng A Sáng, một tay chỉ huy thiện chiến nhưng bất trị mà Diệm luôn nghi ngại.

Năm 1951, Thiệu cưới vợ, bà Nguyễn Thị Mai Anh, con gái một gia đình Công giáo toàn tòng ở Mỹ Tho, Tiền Giang. Do đó, năm 1957, Nguyễn Văn Thiệu được rửa tội và trở thành tín đồ Thiên Chúa giáo. Mai mối cho cuộc hôn nhân là Đặng Văn Quang, một người  bạn đồng ngũ. Bà Mai Anh là cháu họ của Đặng Văn Quang. Khi Nguyễn Văn Thiệu làm Tổng thống, Đặng Văn Quang đeo lon trung tướng, được Thiệu mời làm Cố vấn Tổng thống về quân sự, Phụ tá An ninh và Tình báo Quốc gia, Tổng thư ký Hội đồng An ninh Quốc gia, trở thành người có quyền lực hàng thứ 4 trong hàng  ngũ quyền lực cao nhất  ở  miền Nam.

Nguyễn Văn Thiệu quả thật  rất có  khiếu ngoại ngữ. Thời đi học, vốn tiếng Pháp của ông không tồi. Tiếng Anh, ông ta chỉ học qua các phụ tá của  mình, không theo lớp nhưng rất giỏi. Trong hồi ký “Từ Tòa Bạch Ốc đến Dinh Độc lập”, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng có đề cập đến chuyện  ngày 8/6/1969, trong cuộc gặp thượng đỉnh với Tổng thống Mỹ R. Nixon tại đảo Midway ở Thái Bình Dương để bàn về vấn đề Việt Nam hóa chiến tranh, Nguyễn Văn Thiệu đã tranh luận trực tiếp bằng tiếng Anh trong 8 giờ liền mà không cần phiên dịch.

Riêng về chuyện “háo sắc nhưng rất kín đáo để che giấu tình cảm” của ông thì trước năm 1975, báo chí đối  lập đã phanh phui khá nhiều, với người dân miền Nam thời đó đã không còn là chuyện lạ. Ngoài ra, ông còn là người có  năng khiếu văn nghệ, từng tham gia thủ trống biểu diễn trong một cuộc giao lưu với Hướng đạo sinh tại Suối Tiên vào năm 1972…

Tuy nhiên, Đại tá Đỗ Mậu, nguyên Giám đốc Nha An ninh Quân đội thì luôn tin rằng Nguyễn Văn Thiệu sinh vào nửa đêm (giờ Tý) ngày 24/12/1924, tức ngày 28/11 âm lịch, nhằm vào ngày Đinh Sửu, tháng Bính Tý của năm Giáp Tý. Đỗ Mậu là  người rất am tường khoa “Tử vi đẩu số”. Theo ông, Nguyễn Văn Thiệu không chỉ “trùng tam Tý” mà còn “trùng tứ Tý”.  Trong hồi ký “Việt Nam máu lửa quê hương tôi” (được in  trong nước dưới tựa “Tâm sự tướng lưu vong” – NXB Công an nhân dân 1994), ông viết: “Thiệu sinh tuổi Giáp Tý (1924), sinh vào giờ Tý (nửa đêm), tháng Tý (tháng 11 Âm lịch) và cung Mệnh Viên cũng nằm ở Tý.

Lại nữa, mệnh của Thiệu là mệnh Kim mà lại nằm vào cung Thủy là đắc cách. Năm 1965, khi Thiệu đúng 41 tuổi đi vào cung Thổ, mà Thổ lại sinh Kim, lại gặp Khoa, Quyền, Lộc, Binh, Hình, Tướng, Ấn hội chiếu là thượng cách, vì thế Thiệu giữ chức Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, rồi sau đó lên chức Tổng thống. Vì cung Phúc Đức là gốc của lá số cho nên tuy hết làm Tổng thống mà Thiệu vẫn được thụ hưởng giàu sang, an nhàn cho đến năm 1985, nghĩa là vào hạn Chính Hòa ở cung Ngọ”.

Khi nhóm tướng lĩnh âm mưu đảo chính anh em Ngô Đình Diệm, Sư đoàn 5 do Thiệu chỉ huy vẫn đóng ở Biên Hòa.  Khi có sự cố, đó chính là đơn vị có thể điều quân cơ động, nhanh chóng nhất về Sài Gòn, cho dù là để tấn công hay phòng thủ, giải vây. Nhóm tướng lĩnh đảo chính đã tìm đủ cách để lôi kéo Nguyễn Văn Thiệu tham gia vào âm mưu, chí ít cũng là án binh bất động không can thiệp, để đề phòng bất trắc. Đại tá Đỗ Mậu, một trong những “công trình sư” chủ chốt của âm mưu  đảo chính anh em Diệm – Nhu đã trực tiếp đứng ra lo liệu việc lôi kéo Nguyễn Văn Thiệu.

Biết viên tư lệnh trẻ là người nặng đầu óc mê tín, rất tin vào tướng số, Đỗ Mậu đã đút tiền cho thầy chiêm tinh Huỳnh Liên trên đường Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần), người được mệnh danh là Quỷ Cốc tiên sinh để tay này “vẽ bùa”  Nguyễn Văn Thiệu, do chính Đỗ Mậu dắt tới. Quỷ Cốc tại thế phán: “Thầy cầm tinh Giáp Tý, năm Quý Mão (1963) tất gặp chông gai. Thầy phải đích thân đứng ra đẩy bật tảng đá chắn đường mình đi, nếu không thì mạng vận của thầy sẽ bị tảng đá này đè nát”.

Thiệu tin sái cổ. Quỷ Cốc tiên sinh còn phán thêm: “Số phần đã vạch, thầy chớ có nhị tâm mà rước họa vào thân, chết không toàn mạng”. Theo yêu cầu của thầy tướng số – mà kỳ thực là yêu cầu của chính Đỗ Mậu – Nguyễn Văn Thiệu đã líu ríu thề độc sẽ theo phe đảo chính, chính thức ký tên vào danh sách những kẻ sẽ nhúng tay vào máu anh em Ngô Đình Diệm.

Một nguồn thông tin khác lại cho rằng, tuổi “Tý trùng” của Nguyễn Văn Thiệu hoàn toàn là bịp bợm. Người ngụy tạo ra nó là một bác sĩ, nhân viên tình báo thời đệ nhất Cộng hòa tên là Trần Đại Sỹ, ông này từng sắm vai ký giả, ký bút danh Trần Hoàng Quân, từng là trưởng nhóm nghiên cứu Tử Vi Đông A. Việc ngụy tạo được tiến hành theo đơn đặt hàng của dược sĩ Nguyễn Cao Thăng trước khi đảo chính anh em Diệm nổ ra.

Sau này, sống lưu vong tại Pháp, ông Trần Đại Sỹ có xuất bản cuốn “Tử Vi cho tuổi Tý”, không tiếc lời mạt sát lá số thật của Nguyễn Văn Thiệu. Ông ta cũng xin lỗi các “cao thủ” khác trong nghề “xủ quẻ” và thú nhận thời trẻ nông nổi, ham danh lợi nên ông ta đã làm bậy, nhắm mắt chấm cho Nguyễn Văn Thiệu một lá số có mạng đế vương!

Điều kỳ lạ là sau này, Nguyễn Văn Thiệu lại tuyệt đối tin rằng ông ta có chân mạng “tứ Tý quý trùng”, nhất nhất xây dựng cơ đồ quyền lực trên nền tảng của một trò bịp bợm!

(Còn nữa…)Theo PV (An ninh Thế giới)

Nguyễn Văn Thiệu (Kỳ 2): Mạng “tứ Tý quý trùng”

http://danviet.vn/dong-tay-kim-co/nguyen-van-thieu-ky-2-mang-tu-ty-quy-trung-1036263.html

Đầu năm 1975, Quân Giải phóng đã đánh chiếm Phước Long, “Giáp Tý Kị Ất Mão” như lời thầy tử vi phán cho đời Thiệu bắt đầu.

Những kẻ từng ca tụng Nguyễn Văn Thiệu lên mây như một Tổng thống chống Cộng khét tiếng chắc sẽ bật ngửa khi biết xuất phát điểm, gia đình Thiệu lại có cảm tình và từng… ủng hộ Cộng Sản.

Người từng nêu ra và xác nhận quan điểm này là ông Nguyễn Văn Hoàng, tức nhà tình báo lỗi lạc Hoàng Đạo, người nổi tiếng với chiến công tình báo nổ mìn phá hỏng Thông báo hạm Amyot d’Inville của Pháp trên biển Sầm Sơn, Thanh Hóa (1950). Cuối  năm 1933, ông Nguyễn Văn Hoàng đã được Đảng Cộng sản cử từ depot xe lửa Dĩ An ra depot xe lửa Tháp Chàm chỉ huy phong trào đình công của công nhân đường sắt. Mật thám Pháp chờ sẵn, bắt Nguyễn Văn Hoàng tại depot Tháp Chàm và đưa lên giam giữ tại nhà thương Phan Rang, định từ đó đưa về Sài Gòn xét xử.

Tin liên quan

nguyen van thieu (ky 2): mang “tu ty quy trung” hinh anh 1

Nguyễn Văn Thiệu (Kỳ 1): Chuyện ly kỳ về lá số tử vi

Cuộc biểu tình của công nhân đường sắt đòi thả Nguyễn Văn Hoàng đã được quần chúng nhân dân nhiều ngành nghề khác ủng hộ, biến thành một cuộc đấu tranh lớn. Mật thám nhượng bộ, phải thả, Nguyễn Văn Hoàng được hàng ngàn dân chúng hộ tống, đã quay lại Tháp Chàm tổ chức một cuộc diễn thuyết hô hào đấu tranh tại cầu Bảo, ngay trước Biệt điện Bảo Đại.

Trong  số các nhân sĩ, trí thức các tổng An Sơn, Ninh Hải, An Phước (tỉnh Ninh Thuận) đến dự có ông Nguyễn Văn Chung, cha của Nguyễn Văn Thiệu. Khi đi nghe diễn thuyết, ông Chung có cõng theo cậu con trai Nguyễn Văn Thiệu, lúc đó mới 10 tuổi.

Lương thực dự trữ cho công nhân đấu tranh cạn dần, ông chủ hãng buôn Hiệp Thạnh Võ Văn Vi ở Phan Rang và ông Nguyễn Văn Chung ở Tri Thủy đã tặng cho công nhân đấu tranh một số tiền đủ mua 600 kg gạo. Cô chủ nhà máy xay Cầu Bảo cũng “học tập”, không những không lấy tiền xay xát mà còn góp thêm cho anh em công nhân một số gạo để cho tròn 1 tấn.

Một người anh ruột của Nguyễn Văn Thiệu là Giáo sư Nguyễn Văn Kiểu (sau này làm Đại sứ VNCH tại Đài Loan), khi còn dạy học tại khu vực chợ Bàn Cờ cũng thường xuyên tham gia phong trào đấu tranh, bãi thị, bãi khóa và biểu tình của sinh viên – học sinh nhằm đuổi tàu chiến Mỹ ra khỏi cảng Sài Gòn (1-1950).

Riêng Nguyễn Văn Thiệu, ngay từ bé đã tỏ ra là một người đa nghi, thận trọng. Năm 1949, Thiệu trở thành một sĩ quan trong quân đội Liên hiệp Pháp, chống lại Việt Minh, đứng hẳn sang bên kia chiến tuyến với những người Cộng sản. Chọn quan lộ, Thiệu đã rời bỏ truyền thống và khuynh hướng của gia đình.

Cựu Đại tướng VNCH Cao Văn Viên từng nhận xét: “Ông Thiệu có phẩm chất  của một mưu sĩ”. Nghĩa là ông ta thức thời, biết nắm bắt và khai  thác cơ hội để thăng tiến nhanh, vì thế  Nguyễn Văn Thiệu đã phải vứt bỏ yếu tố đạo đức sang một bên.

Chọn Nguyễn Văn Thiệu để trao chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 5, chứng tỏ Ngô Đình Diệm rất tin cậy và ưu ái đối với viên sĩ quan trẻ tuổi này. Đáp lại ân sủng, ngày 1/11/1963, Nguyễn Văn Thiệu đã đưa Sư đoàn 5… bao vây và tấn công Dinh Gia Long để buộc anh em Ngô Đình Diệm – Ngô Đình Nhu phải đầu hàng. Sau này, Thiệu lấp  liếm rằng ông ta chỉ ra lệnh  bắn vào Dinh Gia Long khi đã biết chắc Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu đã thoát ra ngoài!

nguyen van thieu (ky 2): mang “tu ty quy trung” hinh anh 2

 Nguyễn Văn Thiệu và Kissinger tại Dinh Độc Lập.

Sau đảo chính, Thiệu được phong hàm Thiếu tướng. Chỉ hơn một năm sau, năm 1965, Thiệu lại được gắn lon Trung tướng.  Nhờ có sự hậu thuẫn của nhóm tướng trẻ, Thiệu đã được bầu làm Chủ tịch Hội đồng lãnh đạo Quốc gia, trở thành Quốc trưởng của miền Nam. Trên cương vị này, ngày 31/10/1966, Nguyễn Văn Thiệu đã đứng chủ tọa, cắt băng khánh thành Dinh Độc Lập. Nguyên thủy, nó là Dinh Norodom, bị 2 phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc lái 2 máy bay AD6 ném bom đánh sập vào ngày 27/2/1962.

Đầu tháng 7/1962, Ngô Đình Diệm quyết định xây dựng lại dinh còn bản thân ông và gia đình người em Ngô Đình Nhu thì dọn sang sống tạm bên Dinh Gia Long (nay là Bảo tàng Tp HCM). Ngô Đình Diệm đã không bao giờ còn cơ hội quay lại chốn quyền lực cũ.

Ám ảnh về sự trả thù và lo sợ bị đảo chính, Nguyễn Văn Thiệu đã hai lần tổ chức cầu siêu theo nghi lễ Thiên Chúa giáo cho anh em cố Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Vẫn chưa yên, năm 1967, ông ta lại cho triệu một thầy địa lý người Hoa vào Dinh Độc Lập yểm bùa. Thầy phán: “Dinh được xây trên long mạch, trấn ngay vị trí đầu rồng. Đuôi rồng nằm cách đó non 1km, rơi vào vị trí Công trường Chiến Sĩ. Cần phải dùng một con rùa lớn yểm đuôi rồng lại, sự nghiệp của Tổng thống mới mong bền vững”.

Nguyễn Văn Thiệu tin theo, cho xây hồ nước tại công trường thành hình bát giác, từ trên cao nhìn xuống giống hệt ô bát giác trên mai rùa. Vị trí của hồ được đặt ngay chính vị trí cửa Khảm Khuyết của thành Gia Định xưa (còn gọi là thành Bát quái hay thành Qui). Giữa trung tâm hồ nước là một đài tưởng niệm, trên có đúc một con rùa lớn bằng kim loại đội bia ở trên lưng và một cột cao có hình cánh hoa xòe ở phía trên, xem như một chiếc đinh đóng xuống giữa hồ để ghim đuôi rồng lại! Năm 1972, Công trường Chiến sĩ được đổi tên thành Công trường Quốc tế, dân Sài Gòn vẫn quen gọi đó là hồ Con Rùa.

Bày trò bầu cử độc diễn, ngày 6/3/1971, Thiệu tuyên bố tái đắc cử ghế Tổng thống với tỉ lệ 94,36% số phiếu và được Tối cao Pháp viện Sài Gòn công nhận kết quả vào ngày 22/10/1971. Để tạ ơn, Thiệu đã đưa gia đình về quê thắp hương mộ tổ. Ông cho gom mồ mả của dòng họ cải táng về một nghĩa trang lập riêng sau Trường tiểu học Dư Khánh và lệnh cho tỉnh trưởng Ninh Thuận phải thường xuyên cắt hai lính bảo an ôm súng đứng gác.

Ông cũng cho sửa sang lại Trùng Sơn tự trên đỉnh núi và Văn Thánh miếu ở lưng chừng núi Đá Chồng nằm giữa hai xã Khánh Hải và Văn Hải. Trùng Sơn tự là nơi mẹ của Tổng thống chọn làm nơi quy y cửa Phật lúc xế chiều. Còn Văn Thánh miếu, đó là nơi thờ tự, lễ lạt của những thành viên Hội Khổng học Ninh Thuận. Ông muốn chứng tỏ, dù đã cải sang đạo Thiên Chúa, mang tên Thánh Martino Nguyễn Văn Thiệu, ông vẫn chưa hề quên truyền thống Nho học của gia đình.

Mục đích chính, Nguyễn Văn Thiệu muốn đưa thầy địa lý theo chấm, trấn, yểm long mạch trên núi Đá Chồng, nhằm bảo vệ sự vững bền cho ngôi vị Tổng thống. Chóp phía bắc ngọn núi  Đá Chồng có một tảng đá rất lớn, hình lưỡi dao, gọi  là Hòn Đá Dao, được thầy phán là vật “yểm mệnh” của Tổng thống. Ngọn Đá Dao đứng chênh vênh nhìn về phía đông bắc, hướng thôn Dư Khánh, quê Thiệu. Ngay trước mặt nó còn có 3 tảng đá lớn chồng lên nhau, dân gian gọi là tảng đá Mặt Quỷ.

Để “ém” long mạch ngay phía trước mặt hai tảng Đá Dao và Mặt Quỷ, Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho tỉnh trưởng tỉnh Ninh Thuận điều một trung đội Công binh gấp rút xây lại Văn Thánh miếu thành 3 ngôi nhà lớn tạo hình chữ Công (I),  án chóp phía bắc núi Đá Chồng, sau đó làm gấp một con đường trải nhựa chạy thành hình vòng cung từ dưới tỉnh lộ lên đến Văn Thánh miếu. Công trình hoàn tất, một trung đội Biệt động quân đã được điều về để ngày đêm bảo vệ.

Âm dương bài bố đầy đủ, Nguyễn Văn Thiệu yên tâm, hứng khởi và tin tưởng đến mức gửi trọn tiền đồ quốc gia cho những phán truyền sấp ngửa. Đầu xuân năm 1972, theo lệnh của Nguyễn Văn Thiệu, Đại tá Trần Văn Lâm Giám đốc Việt Tấn xã đã long trọng mời 3 ông thầy Huỳnh Liên, Minh Nguyệt và Khánh Sơn – lên đài truyền hình nói trước dân chúng về vận mạng quốc gia. Cả 3 thầy đều thao thao bất tuyệt về “một nền hòa bình vĩnh cửu đang đến rất gần”, về “quốc gia may mắn có một vị tổng thống anh minh và sáng suốt, có chân mạng đế vương tất sẽ lãnh đạo binh sĩ và dân chúng giành thắng lợi tuyệt đối trước Cộng sản”.

Đầu năm 1975, Quân Giải phóng đã đánh chiếm Phước Long, “Giáp Tý Kị Ất Mão” như lời thầy tử vi phán cho đời Thiệu bắt đầu. Nhưng trên mặt báo vẫn còn có những kẻ xu nịnh ca tụng “quý số” và tài năng của ông Thiệu hết lời, đại loại như: “Người lãnh tụ phải biết trị quốc. Cụ Ngô Đình Diệm cầm quyền 9 năm bị 2 lần đảo chánh, vậy không biết trị quốc và quá tin người nên chết thảm. Đại tướng Dương Văn Minh cầm quyền 3 tháng bị 1 lần đảo chánh, vì không biết trị quốc nên thân bại danh liệt. Nguyễn Khánh cầm quyền 13 tháng, Phan Huy Quát 5 tháng, Nguyễn Cao Kỳ 2 năm, tất cả đều bị lật đổ, vậy không biết trị quốc nên sự nghiệp tiêu tùng. Riêng ông Nguyễn Văn Thiệu cầm quyền 10 năm không một lần đảo chánh, vậy là người biết trị quốc – xứng danh là lãnh tụ” (!)

Đùng một phát, từ lưng chừng núi, ngọn Đá Dao – linh vật giữ vận mạng đời Thiệu như lời thầy phán bị vỡ đôi lăn lông lốc xuống, đánh vỡ ba hòn đá Mặt Quỷ và lăn xuống chân núi giữa một chiều không mưa, trời quang mây  tạnh…

Đại tá Võ Thứ, hiện nay là Trưởng Công an TP Phan Rang – Tháp Chàm, Ninh Thuận thuật lại: Tiết Kinh trập (sâu nở) mùa xuân năm 1975, toàn vùng Văn Sơn, Bình Sơn, Khánh Hải, Ninh Chữ đột nhiên xảy ra một trận thiên địch lớn chưa từng thấy. Hàng đàn sâu các loại xuất hiện dày đặc, quét hết đợt này, đợt khác lại xuất hiện. Tại núi Đá Chồng, trong các hốc đá của hòn Đá Dao bị vỡ, sâu và bọ hung cũng xuất hiện lũ lượt. Chúng túa ra, bò hàng đàn qua lộ và nối nhau mất hút ra phía biển. Dân chúng kháo nhau: vận ông Thiệu đã hết.

Ngày 2/4/1975, Nha Trang giải phóng. Các sắc lính VNCH cuống cuồng kéo nhau theo Quốc lộ 1 chạy về phía Phan Rang. Theo đề xuất của tướng Feredrich C.Weyand – Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ, đến Sài Gòn ngày 28/3/1975, Nguyễn Văn Thiệu quyết định lập phòng tuyến Phan Rang để chặn bước tiến của Quân Giải phóng. Thiệu ra lệnh sáp nhập 2 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận của Quân khu II vào Quân khu III, lập Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn III, cử Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi làm Tư lệnh, đại bản doanh đặt tại Sân bay Thành Sơn, Phan Rang. Trên khắp mặt trận mới mở thuộc hai tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Thiệu đã ném vào canh bạc cuối cùng hơn 75.000 quân các loại.

Nhưng chỉ hai tuần sau đó, sức tiến công vũ bão của Quân Giải phóng đã đập nát tuyến phòng thủ Phan Rang, bắt sống 1.665 binh sĩ VNCH, 11 xe tăng, thiết giáp và 51 máy bay nguyên vẹn. Ngày 16/4/1975, tại xóm Dừa, phường Đô Vinh (Tháp Chàm) Bộ Tư lệnh tiền phương của Quân đoàn III VNCH gồm Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang và toàn bộ sĩ quan tùy tùng đã bị bắt gọn trên 3 chiếc xe bọc thép. Trước đó, ngày 13/4/1975, trung đội lính bảo vệ núi Đá Chồng đã bắn chết người cai quản Văn Thánh miếu, rồi xô vào đập nát các bệ thờ, cạy cả mái ngói để “tìm vàng ông Thiệu giấu”.

Ngày 21/4/1975, Nguyễn Văn Thiệu đã phải ngậm ngùi lên đài đọc lời từ chức, thú nhận sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn và chính bản thân ông ta, để rồi sau đó chạy ra nước ngoài sống hết những năm còn lại trong kiếp lưu vong không Tổ quốc.

Thầy số Huỳnh Liên – nhân vật nắm chặt tử vi của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu số  phận còn bi thảm hơn. Không chỉ đoán sai bét vận mệnh “quý tướng” của ngài Tổng thống, ông thầy “đại tài” còn mù tịt, chẳng đoán được tí gì về số phận của chính bản thân. Quân giải phóng làm chủ Sài Gòn, thầy đoán không ra nên không kịp di tản để tháo thân. Ở lại không lâu, nhâm cầm độn toán trật lất, thầy rước hai gã thợ điện về sửa nhà (ở Sông Bé) mà không hay đó là hai thằng kẻ cướp giả dạng. Thánh không vật tội một đời bịp bợm, nhưng thầy lại bị hai thằng cướp đè ra siết cổ bằng dây điện cho đến khi lè lưỡi chết thẳng cổ ngay giữa ban ngày!

Theo PV (An Ninh Thế Giới)