Category Archives: Thế Giới

Hải chiến với Pol Pot trên đảo Thổ Chu: Chuyện bây giờ mới kể

Ngày 10/5/1975, Khmer Đỏ dùng tàu đổ bộ LSM và 3 tàu tuần tra PCF đưa quân đánh chiếm đảo Thổ Chu, dồn hơn 500 người dân Việt Nam trên đảo đưa về Campuchia và tàn sát toàn bộ.

Hải chiến với Pol Pot trên đảo Thổ Chu: Chuyện bây giờ mới kể - ảnh 1
Sơ đồ (phỏng đoán) trận đánh giải phóng đảo Thổ Chu của lực lượng hỗn hợp HQNDVN và Quân khu 9 (24-27/5/1975)

Một số người dân trên đảo dùng xuồng máy chạy trốn vào bờ và báo tin cho chính quyền. Không thể nhún nhường được nữa, Việt Nam quyết định dùng sức mạnh quân sự để tái chiếm lại đảo Thổ Chu.

Lúc bấy giờ, lực lượng hải quân ta còn gặp rất nhiều khó khăn. Tám ngày sau khi Khmer Đỏ đánh chiếm đảo Thổ Chu, căn cứ hải quân An Thới, Phú Quốc mới được Quân khu 9 bàn giao cho Quân chủng Hải quân. Nhưng với quyết tâm bằng bất cứ giá nào cũng phải bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, Đoàn Hải quân Phú Quốc vẫn dốc toàn bộ lực lượng, phối hợp cùng bộ binh của Quân khu 9 tiến hành giành lại đảo Thổ Chu, trả nợ máu cho hàng trăm đồng bào bị quân Khmer Đỏ tàn sát.

Các tàu thuyền của chế độ cũ được nhanh chóng sửa chữa để sẵn sàng tham gia chiến đấu. Cũng trong ngày 18/5/1975, hội nghị quân sự Phú Quốc được tiến hành, hạ quyết tâm giành lại đảo Thổ Chu bằng sức mạnh quân sự.

Quần đảo Thổ Chu cách bờ trên 200km, gồm 8 đảo, trong đó Thổ Chu là đảo lớn nhất, rộng khoảng 10km2, các đảo còn lại có diện tích khoảng 1km2.

Lúc bấy giờ, thông tin về lực lượng địch còn rất sơ lược, chủ yếu thông qua những người dân trốn thoát về cho biết: Trên đảo Thổ Chu có khoảng 1 tiểu đoàn địch được tăng cường hỏa lực mạnh, có 3 trọng liên 12,7mm, 3 súng cối 60, 81 và 82mm, 1 khẩu ĐKZ 75mm và 1 khẩu ĐKZ 106,7mm.

Ở bãi Ngự phía tây nam đảo Thổ Chu có 1 trung đội địch, ở bãi Mun và bãi Giang phía đông nam đảo có 1 trung đội, ở bãi Cao và Hòn Từ có 2 trung đội.

19 giờ 35 phút ngày 23-5-1975, lực lượng tham gia chiến đấu tái chiếm đảo Thổ Chu đã tập hợp đội hình ở Bãi Cao Cát – chuẩn bị xuất phát đổ bộ. Hải quân Nhân dân Việt Nam tung vào trận 2 tàu vận tải (T-643 và T-657) của Đoàn 125, chở theo một phân đội đặc công 39 người, cùng với đó là 3 tàu tuần tiễu PCF (lượng giãn nước 16 tấn, trang bị trọng liên 12,7mm và súng cối 81mm). 

Lực lượng đổ bộ là 2 đại đội (140 người) của tiểu đoàn bộ binh 410, trung đoàn 95, Quân khu 9, cùng 1 trung đội địa phương (25 người) của đảo Phú Quốc và 11 cán bộ và dân địa phương đi cùng để dẫn đường. Lực lượng này được chở trên hai tàu đổ bộ cơ giới LCM-8 (lượng giãn nước 113 tấn, trang bị 2 trọng liên 12,7mm) của Rạch Giá. Do các tàu PCF, tàu LCM-8 mới tiếp thu được của chế độ cũ, nên ta phải sử dụng lái tàu và pháo thủ của Hải quân VNCH trước đây. 

Trên mỗi tàu tuần tiễu PCF có 4 lính chế độ cũ và 3 chiến sĩ đặc công đi kèm. Theo kế hoạch, quân ta sẽ bí mật đổ bộ lên đảo, sau đó đồng loạt nổ súng tấn công các vị trí phòng ngự của quân Khmer Đỏ, dưới sự yểm hộ của hỏa lực trên tàu chiến.

21 giờ 15 phút, tàu vận tải T-643 bắt đầu tiến vào bờ biển phía đông bắc đảo Thổ Chu, đưa phân đội đặc công lên chiếm bãi đổ bộ. 15 phút sau, đặc công chiếm bãi đổ bộ  thành công, 2 tàu đổ bộ LCM-8 bắt đầu đưa bộ binh tiến vào. Sau 45 phút, các phân đội bộ binh đổ bộ xong. Tuân thủ kế hoạch đã được vạch ra, phân đội đặc công sẽ tiến công bãi Mun, trung đội địa phương Phú Quốc sẽ chiếm bãi Giang, còn tiểu đoàn 410 sẽ giải quyết hai mục tiêu là bãi Ngự và bãi Nhất.

Hải chiến với Pol Pot trên đảo Thổ Chu: Chuyện bây giờ mới kể - ảnh 2
Biên đội tàu tuần tiễu K-62 của HQNDVN

3 giờ 45 phút sáng 24-5-1975, Sở Chỉ huy lệnh cho 2 tàu đổ bộ LCM-8 ở lại cảnh giới phía bắc đảo Thổ Chu, cách bãi đổ bộ chừng 1 hải lí. 3 tàu tuần tiễu PCF vòng qua hướng tây, dừng lại ở Hòn Khô, sẵn sàng chi viện cho mũi tiến công bãi Ngự. 2 tàu vận tải quân sự vòng qua hòn Cao Cát sang phía đông nam.

5 giờ 15 phút sáng 24-5-1975, tiểu đoàn 410 nổ súng đánh chiếm bãi Ngự. Các mũi khác cũng đồng loạt nổ súng theo hợp đồng. Ba tàu tuần tiễu PCF tiến vào trước bãi Ngự, dùng hỏa lực trên tàu chi viện cho bộ binh tiến công địch. Từ trên bờ, quân Khmer Đỏ bắn trả tàu hải quân ta bằng súng cối và ĐKZ, song hỏa lực không mạnh.

Ngay từ những phút đầu trận đánh, phân đội đặc công đã làm chủ bãi Mun. Đến 7 giờ sáng, trung đội địa phương đảo Phú Quốc cũng đã làm chủ được một phần bãi Đông, buộc địch phải co cụm trong công sự chống trả.

7 giờ 15 phút sáng, hai tàu LCM-8 cảnh giới ở phía bắc đảo phát hiện thấy một tàu lạ tiến tới. Lập tức, 3 tàu tuần tiễu PCF được lệnh vòng lên phía bắc để kiểm tra, nắm tình hình, sẵn sàng đánh địch. Từ hướng đông nam, tàu T-643 cũng chở theo một tổ đặc công đến chi viện. 3 tàu PCF tăng tốc tiếp cận và báo cáo: Trên tàu lạ có nhiều người, có vũ khí và treo cờ đỏ. Hải quân ta lập tức tổ chức vây bắt. Dưới sự yểm hộ của đồng đội, tàu T-643 và một tàu LCM-8 cập sát tàu lạ, bắt sống tàu cùng 40 tên địch. Tàu T-657 tiến về bãi Đông cũng phát hiện một thuyền máy của địch đi từ hòn Từ sang, lập tức nổ súng tiêu diệt. Đến 8 giờ 30 phút sáng, quân ta làm chủ bãi Đông. Nhưng cuộc chiến đấu vẫn diễn ra rất quyết liệt ở bãi Ngự trong suốt buổi sáng 24-5-1975. Quân địch dựa vào hai điểm tựa ở phía bắc và phía đông nam bãi Ngự để chống trả bộ đội ta.

14 giờ 30 phút chiều, tàu T-643 và 3 tàu tuần tiễu PCF bắt đầu nổ súng chi viện hỏa lực cho tiểu đoàn 410 trên bãi Ngự. Quân địch vẫn ngoan cố bắn trả tàu ta bằng súng cối và ĐKZ. Đến 16 giờ chiều, để nhanh chóng giải quyết trận đánh, Sở Chỉ huy tăng viện thêm cho lực lượng tái chiếm đảo 2 tàu tuần tiễu K-62 (lượng giãn nước 135 tấn, trang bị 2 pháo 37mm 2 nòng và 2 pháo 25mm 2 nòng). Tàu T-657 lập tức đi đón hai tàu tuần tiễu.

9 giờ sáng 25-5-1975, quân ta tiếp tục tấn công bãi Ngự. Được tăng cường thêm hai tàu tuẫn tiễu, hỏa lực yểm hộ bộ binh mạnh lên rõ rệt. Hải quân ta kiên quyết dùng pháo 37mm khống chế cao điểm đông nam bãi Ngự, và dùng 25mm bắn bộ binh địch. Kinh hoàng trước hỏa lực của tàu ta, quân Khmer Đỏ nhanh chóng tan rã. Điểm tựa phía bắc bãi Ngự bị chiếm, hơn 100 tên địch ra hàng. Đến 12 giờ trưa, điểm tựa phía đông nam cũng bị hạ, 56 tên địch ra hàng. 18 tên khác chạy ra bãi Mun cũng đã phải đầu hàng bộ đội đặc công ta ở đây. Quân ta giành lại đảo Thổ Chu, và sau đó triển khai đánh chiếm nốt các đảo còn lại. Đến ngày 27-5-1975, trận đánh kết thúc.

Như vậy, sau 3 ngày chiến đấu, lực lượng hỗn hợp của Hải quân Nhân dân Việt Nam và Quân khu 9 đã loại khỏi vòng chiến 1 tiểu đoàn tăng cường của địch, thu toàn bộ vũ khí, khí tài và trang thiết bị. Phía ta hi sinh 4 người, bị thương 14 người. 

Trong hoàn cảnh vừa hoàn thành giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mới tiếp quản các tàu chiến, căn cứ hải quân của chế độ cũ, nhưng Quân đội Nhân dân Việt Nam đã thể hiện tinh thần kiên quyết tiến công, thực hiện hàng loạt các trận đánh tái chiếm các đảo trên vùng biển Tây Nam, bước đầu làm thất bại âm mưu xâm lược của bè lũ diệt chủng Polpot – Khmer Đỏ.

Thanh Hoa

Tài liệu tuyệt mật của CIA về vụ thảm sát Thiên An Môn 1989.

Đội quân tiên phong bị giải thể trong Chương trình Cải cách Quân đội của Đảng Cộng sản TC là Quân đoàn 27, sự kiện gây chú ý vì đây là đội quân chính gây ra vụ thảm sát Thiên An Môn ngày 4/6/1989.


Trang tin Next Magazine ở Hồng Kông gần đây đã đăng bài viết tiết lộ nguồn tin về hồ sơ mật của Tòa Bạch Ốc, Mỹ, theo đó Tình báo Washington từng thu thập được tài liệu của nội bộ Trung Nam Hải đánh giá về số thương vong trong sự kiện thảm sát Thiên An Môn lên đến 40 nghìn người, trong đó có 10.454 người bị giết.

Thảm sát tại Thiên An Môn ngày 4/6/1989

Thảm sát tại Thiên An Môn ngày 4/6/1989.
  Trong cuộc thảm sát này, Quân đoàn 27 là thủ phạm chính. Sau vụ thảm sát,  Giang Trạch Dân được  Đặng Tiểu Bình tín nhiệm, và cho thay thế  Triệu Tử Dương.  Họ Giang được chọn là vì đã thẳng tay trừng phạt và biết nghe lời Lãnh đạo ra tay đàn áp phong trào dân chủ tại Thiên An Môn.
Trong “Nhật ký Lý Bằng” cũng khẳng định: Họ Giang là “kẻ Lãnh đạo và quyết định” đàn áp tại Quảng trường Thiên An Môn.

Khác biệt về số lượng thương vong trong tài liệu mật:

Có nhiều số liệu khác nhau liên quan đến số người thương vong trong sự kiện Thiên An Môn. Theo số liệu của Hội Hồng  Thập Tự TC: số người chết từ 2.600 ~ 3.000 người.
Vào ngày 16/6 năm đó, Tổng Lãnh sự quán Mỹ trú tại Hồng Kông đã chia sẻ một nguồn tin có được từ tài liệu nội bộ của chính quyền Đảng CS TC, theo số liệu này thì từ ngày 3 – 4/6, tại Thiên An Môn và phố Trường An có 8.726 người bị giết; từ ngày 3 – 9/6, vùng ngoại vi Thiên An Môn thuộc nội thành Bắc Kinh có 1.728 người bị giết.

Vụ thảm sát Thiên An Môn

Vụ thảm sát Thiên An Môn. 
Như vậy, tổng số người chết là 10.454 người, còn số người bị thương thì lên đến 28.796 người. Người Mỹ khẳng định: Nguồn tin tình báo của họ đáng tin cậy, cho dù hiện không có cách nào kiểm chứng được nguồn tin trong tài liệu gốc này.

Theo truyền thông Hồng Kông, tài liệu nội bộ của Trung Nam Hải đánh giá về số thương vong trong sự kiện thảm sát Thiên An Môn và những chi tiết liên quan đến Quân đoàn 27 gây tội ác thảm sát, mà người Mỹ thu thập được là chưa từng được biết đến.

Theo Next Magazine, tin Tình báo của Mỹ có được qua tài liệu nội bộ của Trung Nam Hải đánh giá về số người thương vong trong sự kiện thảm sát Thiên An Môn lên đến 40 nghìn người, trong đó 10.454 người bị giết.

Chứng cứ này trái ngược hoàn toàn với công bố công khai của chính quyền Đảng CS TC với cộng đồng quốc tế rằng: “Không có người chết trong Sự kiện Thiên An Môn 1989.”

Quân đoàn 27 gây ra vụ thảm sát là đội quân mù chữ:

Tối ngày 9/2 năm nay, chương trình “Tin tức Quân sự” của Đài Truyền hình Trung ương TC đưa tin, Quân đoàn 27 đã từ Thạch Gia Trang chuyển tới Sơn Tây.
Vào tháng 12 năm ngoái, tờ Minh Báo của Hồng Kông đưa tin: Quân đoàn 27 thuộc Quân khu Bắc Kinh bị giải thể, vào tối ngày 29/12 đã chuyển một bộ phận quân đến doanh trại xe tăng tại quận Giao, thuộc Thái Nguyên – Sơn Tây, đổi tên Sư Lục Quân đoàn 27, Tổng bộ trú tại Thạch Gia Trang – Hà Bắc được chuyển đến Ban Lục quân Chiến khu Trung phần.

Vụ thảm sát Thiên An Môn

Vụ thảm sát Thiên An Môn Next Magazine chia sẻ thông tin theo hồ sơ mật của Washington, Quân đoàn 27 là đội quân chính ra tay thảm sát, khiến nhiều người thiệt mạng tại Quảng trường Thiên An Môn ngày 4/6.Vào sáng sớm ngày 4/6, đội quân này mang theo vũ khí tiến vào Quảng trường Thiên An Môn thực hiện cuộc thảm sát, trong những người bị giết hại có cả lính của những đơn vị khác, vì thế mà tại đây còn xảy ra một cuộc chiến trong nội bộ lực lượng quân đội Trung Cộng.Theo lời của Gián điệp Mỹ, Quân đoàn 27 là đội quân được tín nhiệm và luôn biết phục tùng, Tướng chỉ huy là Yang Jianhua, em trai cựu Chủ tịch nước Dương Thượng Côn, còn Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị khi đó là con của Tướng Dương Bạch Băng, còn gọi là Dương Thượng Chính.Nhưng nhân vật bí ẩn này không thấy có bất cứ tài liệu nào nhắc đến, không thể tìm được tên gốc bằng tiếng Trung Cộng. Theo nguồn tin, Quân đoàn 27 là đội quân đặc biệt được tuyển từ những nông dân vùng hẻo lánh, có đến 60% là mù chữ.
Doanh trại Quân đoàn 27 ở Thạch Gia Trang, cách Bắc Kinh TC khoảng 4 tiếng chạy xe, trước ngày vào thành Bắc Kinh họ được thông báo tới Bắc Kinh TC để huấn luyện. Trên đường đi vào thành Bắc Kinh, lại được thông báo được cho đi thăm viếng, ai nấy đều thích thú.

Vụ thảm sát Thiên An Môn

Vụ thảm sát Thiên An Môn. 

Vào ngày 20/5, sau khi Bắc Kinh TC thực thi lệnh giới nghiêm, họ mới biết “có lực lượng làm loạn.” Khi đó tiến vào Bắc Kinh còn có đội quân của Thẩm Dương và Thành Đô, nhưng chỉ có Quân đoàn 27 mang theo vũ khí chiến đấu, bao gồm: xe tăng, xe thiết giáp, súng ống đạn dược… Hồ sơ nhắc đến vụ thảm sát diễn ra vào sáng ngày 4/6, vụ thảm sát xảy ra tại Lục Bộ Khẩu (Liubukou) ở phía Tây Trung Nam Hải. Khi người dân cản trở đường đi của quân nhân, đội quân mù chữ Quân đoàn 27 đã chạy xe tăng lao thẳng vào các quân nhân và người đi đường, những họng súng cũng nhắm thẳng vào người dân khai hỏa. Quân đoàn 27 đã nhận được mệnh lệnh: “Không được cho bất cứ ai chạy thoát, không được cho bất cứ ai sống sót !.” Khi xe bọc thép chạy vào Quảng trường Thiên An Môn đã chuyển sang lao vào các học sinh, Sinh viên, phụ nữ và trẻ em, giết đến đâu thì dùng máy ủi gom thi thể đến đó, và dùng lửa hỏa thiêu.
Bọn lính man rợ được thông báo có khoảng 1000 học sinh trốn ở gần khách sạn Bắc Kinh TC, khu đường Chính Nghĩa, khi những học sinh này vừa kéo vào thì bị lính mai phục chờ sẵn và nổ súng càn quét. Ngay cả xe cấp cứu của Quân đoàn 27 đến Thiên An Môn chi viện cũng bị chính những tên đồng đội điên cuồng này xả súng vào.
Gián điệp của Mỹ nằm trong Quân đoàn 27 còn cho biết: Bọn chúng ra tay khủng khiếp như thế là hoàn toàn là phục tùng mệnh lệnh của cấp trên.
Nhưng hồ sơ của Tòa Bạch Ốc còn kể lại tình hình nội bộ trong quân đội TC khi đó, ví dụ như một quan chức trong đội quân ở Thẩm Dương sau khi biết tin bạn mình bị Quân đoàn 27 giết hại liền đến trước xe bọc thép của Quân đoàn 27 chửi mắng, và lập tức bị một phát súng vào đùi; một quân nhân Thẩm Dương về quê nhà lấy vũ khí rồi trở lại Bắc Kinh TC liều chết với Quân đoàn 27.

Vụ thảm sát Thiên An Môn

Vụ thảm sát Thiên An Môn.

  Quân đội ở Tân Cương, Giang Tây, Sơn Đông cũng đến Bắc Kinh TC đối đầu với Quân đoàn 27.Giang Trạch Dân được chọn vì “công lao” tắm máu người dân tại Quảng trường Thiên An Môn.
Nhiều người đều biết,  Giang Trạch Dân được lên nắm quyền lực tối cao sau sự kiện Thiên An Môn. Hồ sơ mật của Tòa Bạch Ốc cũng đề cập, Bí thư Thành ủy CS Thượng Hải đương nhiệm Giang Trạch Dân được xem là kẻ được lợi nhiều nhất nhờ công tắm máu tại Thiên An Môn.
Năm 1989,  họ Giang là Bí thư CS Thành ủy Thượng Hải, vào trung tuần tháng 5/1989 làn sóng dân vận lan tới Thượng Hải, mũi nhọn dân chúng chĩa vào hắn ta, thời điểm đó báo Kinh tế Thế giới ở Thượng Hải là tờ báo ủng hộ cải cách, vì đăng bài viết tưởng nhớ  Hồ Diệu Bang nên đã bị họ Giang đến chỉnh đốn và bị đình bản.
Sau sự kiện Thiên An Môn, người Mỹ mới biết rằng: Khi thực hiện lệnh giới nghiêm vào ngày 20/5 tại Bắc Kinh TC,  họ Giang đã được Đặng Tiểu Bình hứa sẽ cho lên thay  Triệu Tử Dương. Họ Giang được chọn là vì mạnh tay xử lý Báo Kinh tế Thế giới, và hùa theo bài Xã luận 426 trên Nhân dân Nhật báo.
Trong đó, sự kiện của Báo Kinh tế Thế giới là tâm điểm dẫn đến Phong trào Dân chủ Học sinh Sinh viên năm 1989.
Trong “Nhật ký Lý Bằng” viết, trong đêm xảy sự kiện Thiên An Môn,  Giang Trạch Dân ở ngay gần Thiên An Môn để chỉ huy “chiến trường”.
Cuốn Nhật ký còn nêu ra: Ngày 3/6/1989,  Đặng Tiểu Bình đã phê chuẩn phương cách đàn áp phong trào vào tối hôm đó, họ Giang “trú tại lầu 4 tòa nhà của lực lượng Cảnh vệ, có thể quan sát mọi hành động  tại Quảng trường Thiên An Môn qua cửa sổ.”

Giang Trạch Dân bước lên đỉnh quyền lực sau sự kiện Thiên An Môn

Giang Trạch Dân bước lên đỉnh quyền lực sau sự kiện Thiên An Môn. 

Tháng 1/2011, nhà Đấu tranh nhân quyền Ngụy Kinh Sinh sống lưu vong ở ngoài Trung Cộng Đại Lục đã có bài viết tiết lộ, nhiều người không biết, trước sự kiện Thiên An Môn ngày 4/6/1989,  Giang Trạch Dân đã được xem như là Tổng Bí thư CS, vì thế mới có thể vào thành Bắc Kinh TC chỉ huy cuộc tàn sát. Tội ác của họ Giang trong vụ thảm sát này là rõ như ban ngày Cùng với việc họ Giang lên nắm quyền,  Triệu Tử Dương vì phản đối đàn áp phong trào dân chủ Thiên An Môn 1989 nên đã bị mất chức, sau đó bị giam lỏng tại số 6 Hồ Đồng, Phú Cường, Bắc Kinh TC, đến năm 2005 thì qua đời ở tuổi 85.

Vào năm 2002, khi họ Giang mãn nhiệm kỳ Tổng Bí thư CS và Chủ tịch nước CS, hắn ta đã đưa ra một số quy định cho các Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị CS, trong đó có quy định là “không được lật lại vụ án tại Quảng trường Thiên An Môn.”
Nguyên nhân của Quy định này là vì chính hắn ta là nhân vật chủ mưu, và cũng là kẻ giành được lợi ích nhiều nhất.

Tổng thống Trump: Nếu Tehran tấn công, đấy sẽ là dấu chấm hết cho Iran

Tổng thống Donald Trump vào hôm qua đã đưa ra một cảnh báo đáng ngại cho Iran rằng nếu nước cộng hòa Hồi giáo tấn công lợi ích của Mỹ, thì đấy cũng sẽ là dấu chấm hết cho nước này.

Tổng thống Trump “đau đầu” với mọi điểm nóng thế giớiVideo: Iran dọa chiến tranh, Mỹ tung “siêu bom” khiến mọi kẻ thù khiếp sợDoạ chiến tranh với Mỹ, Iran “vừa đấm vừa xoa”!
tong thong trump neu tehran tan cong day se la dau cham het cho iran

“Nếu Iran muốn tham chiến, đó sẽ là sự kết thúc chính thức của Iran. Đừng bao giờ đe dọa Mỹ nữa”, ông Trump viết trong một tweet trên trang Twitter ngày 19/5.

Căng thẳng giữa Washington và Tehran đã gia tăng khi Hoa Kỳ đã triển khai một nhóm tàu ​​sân bay và máy bay B-52 tới khu vực Trung Đông để đối phó những gì mà Washington gọi là “mối đe dọa” của Iran.

Mới đây Tướng Qassem Suleimani – Tư lệnh lực lượng đặc nhiệm Quds thuộc Vệ binh Cách mạng Iran, đã triệu tập lực lượng dân quân tại Iraq trong bối cảnh căng thẳng khu vực ngày càng leo thang, theo nguồn tin của tờ Guardian.

Ngày 18/5, phát biểu với hãng thông tấn IRNA trước khi kết thúc chuyến thăm Bắc Kinh, Trung Quốc, Ngoại trưởng Zarif nêu rõ sẽ không có chiến tranh bởi Iran không muốn chiến tranh và cũng không có nước nào có ý định đối đầu quân sự với Tehran tại khu vực này.

“Chúng tôi chắc chắn… sẽ không có chiến tranh vì chúng tôi không muốn chiến tranh cũng như không ai có thể đối đầu với Iran trong khu vực”, ông Zarif nói.

Tối Chủ nhật (19/5), một quả tên lửa Katyusha đã rơi xuống giữa khu vực Vùng Xanh gần đại sứ quán Mỹ ở Baghdad. Các nguồn tin cho biết, lực lượng an ninh Iraq đã được tăng cường quanh Vùng Xanh, nơi đặt trụ sở của các cơ quan chính phủ và đại sứ quán các nước sau vụ tai nạn.

Cơ quan an ninh Iraq tiếp tục điều tra vụ việc để xác định nguồn gốc của vụ phóng tên lửa, trong khi chưa có ai nhận trách nhiệm về vụ tấn công.

Theo các phương tiện truyền thông Hoa Kỳ, cố vấn an ninh quốc gia lâu năm của Tổng thống Trump John Bolton đang thúc đẩy một đường lối cứng rắn đối với Iran, nhưng kế hoạch này vẫn chưa nhận được sự chấp thuận.

Vào Chủ nhật, Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) đã tổ chức khẩn cấp các cuộc đàm phán khu vực để thảo luận về căng thẳng vùng Vịnh. Nước này cho biết họ không muốn chiến tranh với Iran nhưng sẵn sàng tự vệ. Tuyên bố này được đưa ra sau khi các vụ tấn công nhằm vào 4 tàu chở hàng tại ngoài khơi bờ biển Fujairah của UAE hồi cuối tuần trước, trong đó có 2 tàu chở dầu của Saudi Arabia, và vụ tấn công nhằm tuyến đường ống dẫn dầu quan trọng cũng của nước này. Vụ tấn công được cho là được thực hiện bởi phiến quân Yemen, hành động theo lệnh của Iran.

Tổng thống Trump “đau đầu” với mọi điểm nóng thế giới
Từ điểm nóng Iran và Venezuela đến đàm phán thất bại với Trung Quốc và Triều Tiên, đều đang khiến Tổng thống Mỹ Donald Trump …
Video: Iran dọa chiến tranh, Mỹ tung “siêu bom” khiến mọi kẻ thù khiếp sợ
Không quân Mỹ đã công bố đoạn clip ghi lại cảnh oanh tạc cơ tàng hình B-2 thả liên tiếp hai quả bom xuyên phá …

Doạ chiến tranh với Mỹ, Iran “vừa đấm vừa xoa”!
Iran doạ tên lửa tầm ngắn nước này có thể “dễ dàng” bắn trúng các tàu chiến Mỹ ở vùng Vịnh, nhưng mặt khác cũng …

An NhiAFP

Tướng Vịnh nói về chiến tranh Biên giới Tây Nam: “Kẻ thù buộc ta ôm cây súng!”

Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh

© AFP 2018 / Roslan RahmanQ

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh chia sẻ trên Infonet: ‘Khi đã xác định không thể tránh khỏi chiến tranh – nói cách khác, ngồi yên là tự sát, Việt Nam đã hạ quyết tâm: Đánh! Đánh để bảo vệ nhân dân, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc! Đánh để có cuộc hồi sinh của cả dân tộc Campuchia anh em! Đánh để có hòa bình’.

“Dù rằng đời ta thích hoa hồng…Kẻ thù buộc ta ôm cây súng…”.

Nhìn lại suốt chiều dài của lịch sử đất nước trong thế kỷ 20, có lẽ hiếm có câu hát nào thể hiện được một cách đúng nhất tâm tư, suy nghĩ của những người Việt Nam về ký ức chiến tranh, về một thời gian khó, đặc biệt là với những người lính “ra đi từ mái tranh nghèo” như những câu hát này trong bài hát của nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền.

Những người lính trong Chiến tranh Việt Nam

© AFP 2018 / XINHUAĐại tướng Phạm Văn Trà: ‘Pol Pot chống phá Việt Nam từ năm 1972’

Với nhiều người, chiến tranh đã chấm dứt trên mảnh đất hình chữ S kể từ sau ngày 30/4/1975 nhưng thực tế, phải hơn 15 năm sau chúng ta mới được sống những ngày tháng hòa bình đúng nghĩa. Một dân tộc vừa bước ra khỏi 2 cuộc chiến tranh với 2 đế quốc lớn là Pháp và Mỹ, dù đã cố gắng hết sức để có thể tránh một cuộc chiến tranh nữa nhưng không được.

Biên giới Tây Nam của Tổ quốc bị xâm phạm, nhân dân Việt Nam liên tục bị tập đoàn diệt chủng Polpot sát hại. Và rồi, chúng ta lại buộc lòng phải bước vào một cuộc chiến tranh hoàn toàn không mong muốn và hoàn toàn mới mẻ, hoàn toàn khác biệt với những cuộc chiến vừa trải qua.

Đúng 40 năm trước, những ngày cuối năm 1978, những người lính tình nguyện Việt Nam bắt đầu cuộc chiến đấu giúp đỡ nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Polpot — Khơ me đỏ. Ngày 07/01/1979, thủ đô Phnom Penh được giải phóng, đánh dấu ngày tàn của chế độ Khơ me đỏ.

Nhân kỷ niệm 40 năm ngày chiến thắng Polpot, giải phóng thủ đô Phnom Penh và đất nước Campuchia khỏi thảm họa diệt chủng, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng về những câu chuyện xoay quanh chủ đề này.

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng

© ẢNH: VIETNAMNETThượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng

Phần 1: Dù rằng đời ta thích hoa hồng

Xin Thượng tướng cho biết vai trò của Việt Nam nói chung và của Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng đối với sự kiện ngày 7/1 của Campuchia?

Chiều 7/12/2018, tại Văn phòng Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tiếp Thủ tướng Vương quốc Campuchia Samdech Hun Sen đang thăm chính thức Việt Nam.

© ẢNH : PHƯƠNG HOA – TTXVNViệt Nam và Campuchia: Bác bỏ thông tin xuyên tạc, phá hoạiThượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: Nói đến sự kiện ngày 7 tháng Giêng, ngày giải phóng thủ đô Phnom Penh của Campuchia khỏi chế độ diệt chủng Polpot — Khơ me đỏ, trước hết ta phải nói đến tính chính nghĩa của hành động tự vệ chính đáng của nhân dân và quân đội Việt Nam.

Có một điều trùng hợp là cách đây chừng khoảng một tháng, sau hơn 20 năm đấu tranh pháp lý bền bỉ, Tòa án quốc tế đã chính thức ra tuyên án về tội ác của chế độ Khơ me đỏ.

Đây chính là câu trả lời cuối cùng về tính chính nghĩa của việc Việt Nam đưa quân sang Campuchia năm 1979. Phán quyết ấy có một nội dung rất quan trọng: Chế độ Khơ me đỏ đã phạm tội ác diệt chủng đối với nhân dân Việt Nam và bản thân nhân dân Campuchia. Đây là tội ác chống lại loài người.

Với phán quyết ấy, sau 40 năm, cộng đồng quốc tế đã thừa nhận chế độ Khơ me đỏ là một chế độ diệt chủng và mặc nhiên thừa nhận việc ta đưa quân sang Campuchia là một hành động chính nghĩa để bảo vệ Tổ quốc mình, nhân dân mình và cứu nhân dân Campuchia khỏi thảm họa diệt chủng. Không có một đánh giá nào cao hơn như vậy.

Vừa qua, Quốc vương Campuchia, theo đề nghị của Thủ tướng Hun Sen đã công nhận 3 ngày lễ lớn ở Campuchia gồm:

Ngày tìm đường cứu nước (21/6/1977) — ngày Hun Sen cùng một số đồng đội chạy sang Việt Nam đề nghị giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng; Ngày Giải phóng (07/01/1979) — người giải phóng là bộ đội Việt Nam cùng với quân đội Campuchia; Ngày Hòa bình (29/12/1999) — ngày mà Khơ me đỏ bị xóa sổ với tư cách là một tổ chức chính trị- quân sự đã từng tồn tại thực tế trên lãnh thổ Campuchia cho đến tận thời điểm đó.

Nếu nhìn lại, những ngày lễ quan trọng này đều thể hiện sự giúp đỡ to lớn của Việt Nam đối với nhân dân Campuchia.

Nuon Chea

© REUTERS / EXTRAORDINARY CHAMBERS IN THE COURTS OF CAMBODIAPhán quyết lịch sử: Cựu thủ lĩnh Khmer Đỏ lần đầu tiên bị tuyên án diệt chủngĐến giờ này chúng ta có thể tự hào mà nói rằng cả cộng đồng quốc tế cũng như nhân dân Campuchia đã thừa nhận một cách mạnh mẽ về tính chính nghĩa của chúng ta trong việc đưa quân sang Campuchia, ở lại 10 năm để giúp bạn và sau khi rút quân vẫn tiếp tục giúp bạn ổn định tình hình đất nước, đi đến giải giáp Khơ me đỏ và ổn định, phát triển cho đến ngày hôm nay.

Bây giờ, khi nhìn lại toàn bộ diễn biến của cả một giai đoạn, Có thể thấy những hành động của Khơ me đỏ hoàn toàn không phải là nhất thời mà là một âm mưu với sự chuẩn bị có hệ thống từ nhiều năm. Liệu Việt Nam có bị bất ngờ hay không trong cuộc chiến này?

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: Như tôi vừa nói, từ ngày 21/6/1977, Hun Sen đã cùng các đồng đội chạy sang Việt Nam, nói hết với ta những gì đang xảy ra ở Campuchia. Sớm hơn thế nữa, từ những năm 1975-1976 Khơ me đỏ đã có những động thái đưa quân áp sát biên giới, tiến hành những trận đánh thăm dò ở biên giới Tây Nam. Chúng ta đều biết cả.

Xa hơn nữa, là sự thỏa hiệp giữa các nước lớn sau khi Mỹ thua ở Việt Nam về việc sẽ cùng ủng hộ Khơ me đỏ để chống Việt Nam, chúng ta cũng đã biết. Thậm chí trước nữa, từ năm 1972, chúng ta đã hiểu được nhiều vấn đề khi mà Khơ me đỏ tấn công một số đơn vị của quân đội ta ở Campuchia.

Tất cả đều diễn ra mang tính hệ thống và mật độ xảy ra của các sự kiện mỗi ngày một dày lên. Và không chỉ có vậy, hàng ngàn người dân Campuchia chạy sang Việt Nam trong thời gian đó đã mô tả về một cuộc thảm sát, về một chiến dịch diệt chủng mang tầm quốc gia chưa hề có trong lịch sử nhân loại đang diễn ra ở Campuchia từng ngày, từng giờ.

Bộ đội Việt Nam tại khu vực biên giới năm 1975

© ẢNH: ẢNH TƯ LIỆU/VIETTIMESBộ đội Việt Nam tại khu vực biên giới năm 1975

Số người chết đã lên đến con số hàng triệu. Chúng ta đau xót trước thảm họa của cả một dân tộc láng giềng, anh em. Rồi chính nhân dân ta ở nhiều nơi trên tuyến biên giới Việt Nam — Campuchia cũng bị quân Khơ me đỏ tràn sang, thảm sát ghê rợn.

Chiến tranh Việt Nam

© SPUTNIK /Nỗi đau chiến tranh và “sự bù đắp” của người Mỹ cho Việt Nam?Bọn diệt chủng Polpot — Ieng Sary đã dìm cả dân tộc Campuchia vào biển máu và máu của nhân dân ta cũng đã chảy thành sông…

Có thể khẳng định chúng ta không hề bất ngờ về bản chất của Khơ me đỏ, về sự phản bội của Khơ me đỏ, trước hết là phản bội nhân dân Campuchia và sau đó là phản bội Việt Nam.

Khi một chế độ đã phản bội chính nhân dân của mình thì không gì có thể ngăn cản chúng phản bội lại một quốc gia khác như Việt Nam. Cho nên, trong cuộc chiến này, chúng ta không bị bất ngờ.

Vết máu của dân thường bị quân Khmer Đỏ thảm sát tại chùa Phi Lai, Ba Chúc. Vụ thảm sát Ba Chúc là một tội ác chiến tranh gây ra bởi chính quyền Khmer Đỏ. Vụ việc xảy ra tại xã Ba Chúc (nay là thị trấn Ba Chúc), huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Ngày 18/4/1978, quân Khmer Đỏ tràn vào Ba Chúc, thẳng tay chém giết những dân thường vô tội. Nhiều người chạy tới chùa Phi Lai và Tam Bửu và chạy lên núi Tượng nhằm ẩn náu, song cũng bị quân Khmer Đỏ tàn sát dã man. Trong suốt 12 ngày chiếm đóng từ 18 đến 30 tháng 4 năm 1978, quân Khmer Đỏ đã giết chết 3.157 dân thường. Chỉ có ba người sống sót sau vụ thảm sát.

© ẢNH: TRÍ THỨC TRẺVết máu của dân thường bị quân Khmer Đỏ thảm sát tại chùa Phi Lai, Ba Chúc. Vụ thảm sát Ba Chúc là một tội ác chiến tranh gây ra bởi chính quyền Khmer Đỏ. Vụ việc xảy ra tại xã Ba Chúc (nay là thị trấn Ba Chúc), huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Ngày 18/4/1978, quân Khmer Đỏ tràn vào Ba Chúc, thẳng tay chém giết những dân thường vô tội. Nhiều người chạy tới chùa Phi Lai và Tam Bửu và chạy lên núi Tượng nhằm ẩn náu, song cũng bị quân Khmer Đỏ tàn sát dã man. Trong suốt 12 ngày chiếm đóng từ 18 đến 30 tháng 4 năm 1978, quân Khmer Đỏ đã giết chết 3.157 dân thường. Chỉ có ba người sống sót sau vụ thảm sát.

Chúng ta đã nhận ra bộ mặt của Khơ me đỏ từ sớm nhưng mãi đến đầu năm 1979 mới quyết định đưa quân sang Campuchia và giải phóng thủ đô PnomPenh. Vậy tại sao chúng ta không làm việc này sớm hơn, thưa Thượng tướng?

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: Vì sao mãi đến đầu năm 1979 ta mới đưa quân sang Campuchia và giải quyết chiến trường trong một thời gian rất ngắn, theo tôi có 2 lý do:

Lý do quan trọng nhất, bao trùm lên tất cả là chúng ta đã làm tất cả những gì có thể để không xảy ra chiến tranh. Còn một chút gì hy vọng để có thể giải quyết vấn đề Campuchia bằng biện pháp hòa bình thì chúng ta cũng đã làm.

APEC 2017: Lễ tiễn chính thức Thủ tướng Campuchia Samdech Hun Sen

© ẢNH: TTXVNSự giúp đỡ trong sáng của Việt Nam giúp Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủngKhi đó chúng ta cũng biết một điều, khi “dưới chân” mà lạnh thì “trên đầu” cũng coi chừng, tức là khi Tây Nam có biến thì phía Bắc cũng có vấn đề.

Mình biết chứ! Chính vì biết ai đứng đằng sau Khơ me đỏ, thấy rõ sự nguy hiểm của tình thế nên chúng ta vẫn kiềm chế, cố làm mọi cách để có thể tránh chiến tranh.

Trong suốt những năm đó, đã có biết bao nhiêu công hàm, bao nhiêu hoạt động ngoại giao, bao nhiêu nỗ lực của chúng ta để bảo vệ biên giới, bảo vệ nhân dân đồng thời giao thiệp với Khơ me đỏ để tìm giải pháp hòa bình.

Thời kỳ đó, mỗi khi Polpot đưa quân sang tàn sát người dân Việt Nam, chúng ta chỉ đánh chúng lui trở về chứ chưa đưa quân sang, kể cả sau những vụ thảm sát thường dân đẫm máu. Chúng ta hiểu rằng, chiến tranh là một đại sự của cả dân tộc cho nên đã phải làm mọi việc, mọi khả năng có thể, tận dụng mọi tia hy vọng nhỏ nhất để mong rằng không phải dùng đến chiến tranh.

Lý do thứ hai cũng rất quan trọng — quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là không “xuất khẩu cách mạng”. Cách mạng là không làm hộ. Cách mạng của nước nào phải do chính người nước ấy, chính lực lượng của nước ấy tự giải phóng dân tộc mình.

Campuchia

© FLICKR/ DENNIS JARVISNghĩa tình Việt Nam với người dân khu vực Biển Hồ CampuchiaNhư thế mới chính nghĩa và như thế mới giữ được chính quyền. Nếu không phải do chính nhân dân nước ấy thực hiện cuộc cách mạng thì dù có đánh thắng cũng không thể “giữ hộ” Campuchia mãi được và chúng ta cũng không hề có ý định “thôn tính” Campuchia.

Chính vì thế Việt Nam phải chuẩn bị một điều kiện nữa là giúp Bạn xây dựng lực lượng cách mạng Campuchia.

Khi lực lượng cách mạng này ra đời thì cách mạng Campuchia đã có những “nhân tố bên trong” do chính các nhà cách mạng Campuchia như Hun Sen, Heng Somrin, Chia Xim… tập hợp lại thành Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia (02/12/1978), do Việt Nam giúp đỡ tổ chức, xây dựng, huấn luyện….

Khi đã xác định không thể tránh khỏi chiến tranh — nói cách khác, ngồi yên là tự sát — và đã có phong trào cách mạng của nhân dân Campuchia, Việt Nam đã hạ quyết tâm: Đánh! Đánh để bảo vệ nhân dân, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc! Đánh để có cuộc hồi sinh của cả dân tộc Campuchia anh em! Đánh để có hòa bình!

Bí Mật Chiến Tranh Biên Giới Việt Nam – Trung Quốc 1979

BÍ MẬT CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI VIỆT NAM- TRUNG QUỐC 1979

 Lịch sử Trung Quốc tiến công xâm lược Việt Nam tính đến nay ít nhất 14 lần và lần thứ 14 là chiến tranh biên giới năm 1979. Đây là trận chiến được sách vở, tài liệu rất ít nhắc đến, có chăng thì cũng chỉ từ năm 2013 trở lại đây. Để mọi người có cái nhìn toàn diện hơn, chúng tôi cung cấp 1 số câu chuyện kể về chiến tranh biên giới 1979 vẫn trong màn bí mật.

Continue reading Bí Mật Chiến Tranh Biên Giới Việt Nam – Trung Quốc 1979