Category Archives: Lịch sử

Công bố Video cực hiếm Phát Biểu Bất Hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Trung Quốc và Mỹ với người Nhật

Advertisements

Chiến dịch Điện Biên Phủ – đỉnh cao nghệ thuật quân sự Việt Nam

Ngày 7/5/1954 đã đi vào lịch sử của dân tộc Việt Nam và thế giới với chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Đó là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới; tạo ra bước ngoặt lịch sử làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh, kết thúc 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954); buộc thực dân Pháp phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Đây cũng là sự kiện quan trọng ghi dấu sự trưởng thành, lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam. Continue reading Chiến dịch Điện Biên Phủ – đỉnh cao nghệ thuật quân sự Việt Nam

Ba nhà báo Việt Weekly gặp nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt

Bài của Ô QUAN HẠ

Image result for vo van kiệt pic

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt

Tuần qua, trong chuyến đi Việt Nam đưa tin về Hội nghị APEC 16, ba nhà báo Việt Weekly là Lê Vũ, Etcetera Nguyễn, và Vũ Hoàng Lân đã được nguyên Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt tiếp kiến và trao đổi thẳng thắn về một số vấn đề thời sự mà người dân trong nước và người Việt ở hải ngoại quan tâm. Cùng dự buổi tiếp còn có một số nhà báo trong nước.

Đánh giá về tình hình Việt Nam hiện nay, ông Võ Văn Kiệt nói rằng, sự việc Việt Nam gia nhập WTO và Hội nghị APEC vừa diễn ra ở Việt Nam là hai sự kiện lớn, “thể hiện sự đồng thuận cả trong và ngoài nước” đối với tiến trình đổi mới ở Việt Nam, là “cột mốc quan trọng đối với vị thế của Việt Nam”. Ông cho rằng, nếu không có đổi mới thì không có hai sự kiện đó và hai sự kiện đó cũng chứng tỏ đổi mới “chỉ có tiến không có lùi”.
Việt Weekly đặt vấn đề: “Nhiều người cho rằng Việt Nam đi theo con đường đổi mới của Trung Quốc, điều này có đúng không? Hay là có những yếu tố đặc thù nào của Việt Nam?” Ông Võ Văn Kiệt nói, khi bắt đầu đổi mới Việt Nam không chỉ học kinh nghiệm của Trung Quốc mà còn học kinh nghiệm của nhiều nước khác. “Kinh nghiệm của các nước khác cũng thú vị, đặc biệt như Thái Lan, Malaysia, rồi Hàn Quốc… Hàn Quốc cũng chiến tranh kịch liệt như thế, cũng nghèo, tài nguyên cũng không có gì. Chúng tôi cũng tìm hiểu Đài Loan, họ cũng có cách đi lên…” Ông khẳng định: “Khi mà mình vững vàng đi trên hai chân của mình sẽ được tôn trọng, tức là phải độc lập tự chủ suy nghĩ làm sao cho phù hợp. Nếu cứ đồ theo người ta thì có nhiều điều sẽ thất bại.”
Việt Weekly: “Ông có đề cập rằng, về đối ngoại, Việt Nam muốn làm bạn với các nước trên thế giới, và có lẽ hiện giờ Việt Nam có tư thế rất thuận lợi để làm điều đó. Nhưng trên thế giới có những quốc gia yếu và có những cường quốc, vì thế có những quan hệ mang tầm vóc đặc biệt hơn, trong đó có quan hệ với Trung Quốc và Mỹ. Có thể đây là một bài toán tương đối khó khăn đối với Việt Nam, vì dường như Trung Quốc và Mỹ đang đi đến một cuộc đối đầu với nhau, cạnh tranh với nhau trong thế kỷ 21. Vai trò của Việt Nam vô cùng đặc biệt ở ngã ba này. Suy nghĩ của giới lãnh đạo, xu hướng đối ngoại trong tam giác này như thế nào?” Ông Võ Văn Kiệt: “Việt Nam rất là nhẹ nhàng, không theo ông lớn ông nhỏ nào, không dựa vào ai, tức là ai cũng có thể được đối xử sòng phẳng. Việt Nam và Trung Quốc cũng quan hệ với nhau, một bên cải cách, một bên đổi mới. Quan hệ Việt Nam-Trung Quốc vẫn là đồng chí với nhau nhưng không hẳn là đồng minh mà là quan hệ láng giềng hợp tác, cùng nhau phát triển. Trung Quốc cũng là xã hội chủ nghĩa. Còn xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam theo tôi hiểu, dân tộc là trên hết. Trung Quốc cũng đặt lợi ích của dân tộc họ lên trước. Giúp đỡ nhưng mà không phải giúp đỡ với mức mà lợi ích dân tộc thấp hơn. Cho nên, Việt Nam đi theo con đường hòa nhập vào thế giới. Tức là Việt Nam chủ trương không dựa bất cứ vào một anh lớn nào cả, và cũng không có anh nhỏ nào cả. Như bây giờ trong bốn nước có tầm cỡ trong quan hệ với Việt Nam như Nhật, Nga, Mỹ, Trung Quốc, mỗi nước có một vị trí nhất định. Việt Nam cố gắng làm sao giữ vững được đường lối đó không dựa vào ai, nhưng đồng thời tranh thủ những quan hệ vừa có lợi cho mình vừa có lợi cho đối tác.”
Việt Weekly: “Hướng đi đó có khó khăn không? Tại vì bình thường cường quốc nào cũng cấu kết phe cánh, đòi hỏi các nước yếu hơn phải theo phe mình, chịu một số điều kiện nào đó?” Ông Võ Văn Kiệt: “Tôi có nhận xét là hai nước Mỹ và Hàn Quốc, họ coi nhau như là bạn, thân thiện lắm nhưng mà tôi thấy tính độc lập tự chủ, ý chí dân tộc, lòng tự tôn dân tộc của họ cũng cao lắm. Là bạn thân đó, nhưng không phải vì lợi ích của phe, để cho dân tộc không phải là trên hết. Chính vì thế Việt Nam coi dân tộc là trên hết. Không phải chơi với Mỹ để chống Trung Quốc, mà cũng không phải quan hệ với Trung Quốc để chống Mỹ. Tức là mình tạo cho mình lợi thế cân bằng được. Nhiều nước cũng đi theo con đường này, ví dụ như, Malaysia chơi với Trung Quốc cũng sòng phẳng, chơi với Mỹ cũng sòng phẳng. Tôi thấy đường lối của Việt Nam đi như thế nhẹ nhàng, không làm hạ thấp vị trí của Việt Nam. Cứ xem các nước Bắc Âu, cũng là những nước không lớn nhưng tiếng nói của họ cũng rất nặng ký.”
Việt Weekly: “Dĩ nhiên các nước như Đại Hàn, Nhật Bản họ có chủ nghĩa dân tộc và họ không hy sinh dân tộc vì quyền lợi của nước khác, nhưng họ đã chọn thế đứng về phe của Mỹ. Điều đó giúp quốc gia họ được đầu tư phát triển và thừa hưởng những lợi ích trong cuộc tranh đua giữa hai khối tư bản và cộng sản trong cuộc chiến tranh lạnh vừa qua. Họ là những nước được sản xuất vũ khí để đánh trong trận đánh Việt Nam. Vậy thì, Việt Nam trong thời bình có thể chưa có sức ép để phải theo phe này, phe kia, nhưng nếu có khủng hoảng xảy ra trên thế giới giữa hai phe Mỹ và Trung Quốc, vai trò trung lập đôi khi trở nên nguy hiểm, ví dụ như Cambodia trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, ông Sihanouk ở thế trung lập nhưng vì quá yếu, cho nên đã bị hai phe lớn lung lạc, lũng đoạn. Chỉ khi nào Việt Nam là cường quốc, mới có thể bảo vệ được sự độc lập về chủ trương, và chính sách đối ngoại. Còn nếu vẫn còn yếu, một khi khủng hoảng xảy ra, sẽ bị ảnh hưởng theo chiều hướng như vậy, tức là tình thế sẽ bắt buộc Việt Nam phải chọn lựa. Hay là ông nghĩ rằng chủ trương độc lập đó vẫn có thể đứng vững được?” Ông Võ Văn Kiệt: “Việt Nam có cả một quá trình giữ nước. Cách chọn lựa của Việt Nam là giữ được ổn định, làm sao tránh được đối đầu, chính điều này là điều phải xác định từ bây giờ, xây dựng đất nước của mình tránh sự đối đầu trong bất cứ tình huống nào. Nếu bất đắc dĩ chúng ta bị xâm lược vì một lẽ gì đó chúng ta không có chọn lựa nào khác hơn là bảo vệ đất nước mình, nhưng chúng ta không chủ động gây sự”.
Việt Weekly: “Bây giờ nguy cơ lớn nhất của Việt Nam là gì?” Ông Võ Văn Kiệt: “Nguy cơ lớn nhất của Việt Nam là tụt hậu, nghèo nàn. Chúng ta phải làm sao bắt kịp thế giới. Nhiều anh em đặt ra nhiều nguy cơ nhưng tôi xác định một nguy cơ. Nếu nguy cơ đó mình vượt ra được, chúng ta giải quyết được tất cả những nguy cơ khác. Chúng ta phải thoát khỏi cái nghèo, rút ngắn khoảng cách giữa mình với các nước, để có được dân giàu nước mạnh”.
Việt Weekly: “Để thoát khỏi nguy cơ đó, thử thách lớn nhất là gì, cơ chế, con người, tư duy hay là tài nguyên? “ Ông Võ Văn Kiệt: “Bây giờ vấn đề càng ngày càng sáng tỏ. Phải tiếp tục đổi mới, phải thay đổi cơ chế quan liêu, tức là phải tạo môi trường sòng phẳng, cơ chế thông thoáng cùng với nền kinh tế thị trường. Trở lại với việc vào WTO, trước đây chưa vào, chưa ra trận, chưa xuống sân chơi này, thì hiểu thế này thế khác, nhưng cuối cùng, chúng tôi khẳng định nó có lợi. Nhiều nước đi theo chứ không phải một mình mình. Đây là một cuộc chơi chung chứ không phải chuyện như trước đây “cá lớn nuốt cá bé,” diệt nhau để người tồn tại, người bị mất đi. Cuộc chơi này lý thú vì nó thúc đẩy sự phát triển. Không ai đến cho không mình một cái gì, mà cũng không ai đến lấy không của mình một cái gì. Nó đòi hỏi bản lĩnh của người lãnh đạo. Nhưng chúng tôi cũng thấy rằng đây là cuộc chơi trí tuệ, đòi hỏi lãnh đạo phải có tầm, mà không chỉ ở tầm lãnh đạo mà còn là tầm trí tuệ của dân tộc. Tôi nói như thế rốt cục là nói về con người. Còn nếu nói về tài nguyên, mình không đến nỗi kém hơn so với nhiều nước. Singapore cũng là đảo nhỏ, cũng không có nhiều tài nguyên nhưng họ có trí tuệ…”
Việt Weekly: “Trong vấn đề con người đó, hiện nay quan hệ Việt Nam với cộng đồng ở hải ngoại vẫn còn khoảng cách để lại từ chiến tranh, theo sự đánh giá của ông, quan hệ đó hiện đang như thế nào?” Ông Võ Văn Kiệt: “Chúng ta phải hết sức quan tâm đến sự hòa hợp, chúng ta phải đặt dân tộc là tối thượng. Cho dù chính kiến, tôn giáo, quan điểm có khác nhau, nhưng lợi ích dân tộc phải được đặt lên trên hết. Mọi người Việt Nam phải cùng với nhau góp sức, không phân biệt chính kiến, tôn giáo. Không có lý do gì chúng ta gây ra trở ngại đó. Chúng tôi nhắc đến hội nghị APEC, chuyến thăm lần thứ hai của người đứng đầu của Mỹ. Trước có ông Bill Clinton và mới đây là ông Bush. Nếu đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, dẫu trước đây là kẻ thù của nhau vẫn có thể khép lại quá khứ để hoà bình hữu nghị, để cùng phát triển. Bởi vậy không lý nào người Việt Nam với nhau lại không thể khép lại quá khứ. Đây là vận hội, cơ hội cho sự hòa thuận. Đối với người ngoài còn bỏ qua được không lẽ người Việt Nam với nhau không bỏ qua được hay sao! Nếu cứ cố chấp với nhau, dân tộc không lớn mạnh lên được!”
Việt Weekly: “Tôi không muốn nói là tất cả người Việt ở hải ngoại đều cố chấp. Ở hải ngoại có rất nhiều khuynh hướng. Trong đó có bộ phận đồng ý với ông dân tộc là tối thượng nhưng họ cho rằng họ mới là những người coi dân tộc là tối thượng, còn những ngừơi cộng sản đặt chủ nghĩa đại đồng quốc tế lên trên quyền lợi dân tộc. Vì thế họ hoài nghi, mặc dù bây giờ họ thấy nước Việt Nam đã có nhiều thay đổi. Ông có thể nói gì với họ?” Ông Võ Văn Kiệt: “Cả quá trình đấu tranh của người cộng sản là vì đất nước, vì dân tộc là trên hết. Vì thế họ mới chịu hy sinh. Nói công bằng, cuộc chiến đấu của Việt Nam do Đảng cộng sản, do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, vì lợi ích của dân tộc nhiều hơn hay vì thiên hạ nhiều hơn? Họ đã hy sinh cho đất nước, cho dân tộc này chứ! Vậy thì ít nhất phải để cho ba triệu đảng viên phải có chỗ đứng yêu nước trong dân tộc chứ, nếu phủ nhận, thật là quá đáng. Thật ra, hồi chúng tôi mới giác ngộ đi theo cách mạng, lý tưởng thế giới đại đồng mạnh mẽ lắm. Nhưng từ khi làm cách mạng đến bây giờ, tôi tự hào là đã chiến đấu vì lợi ích dân tộc, vì lợi ích của đất nước, rồi kế đó mới là vì bạn bè. Nói ví dụ trực tiếp nhất là đối với Lào và Campuchia, bằng xương bằng máu đó, người Việt Nam đã hy sinh giúp cho Lào và Campuchia chống xâm lược, nhưng việc đó trước hết cũng là để bảo vệ đất nước mình. Đối với phe xã hội chủ nghĩa, Việt Nam góp sức không bao nhiêu, nhưng ngược lại, tranh thủ sự giúp đỡ của họ nhiều. Chúng tôi mang ơn họ nhiều lắm. Có một điều rất tiếc là vừa rồi thậm chí có một số người Việt căm thù cộng sản đến mức trông đợi làm sao cho APEC thất bại, trông đợi tổng thống Mỹ sang Việt Nam phải bắt buộc Việt Nam chấp nhận điều kiện thế này thế khác, thậm chí họ mong rằng Việt Nam tiếp tục nghèo đói, chỉ vì họ ghét những người cộng sản. Họ cứ cho là họ yêu nước mà thật ra họ làm hại cho đất nước nhất.”
Việt Weekly: “Hải ngoại có rất nhiều khuynh hướng, bênh cũng như chống, nhưng có điều ba triệu đảng viên Việt Nam là những người đang có ưu thế và đang nắm quyền lãnh đạo. Thật ra, những người bên kia chỉ nói chứ không làm gì được vì họ không có quyền hành gì hết. Họ nêu ra một điều là, nếu người cộng sản thật tâm muốn làm việc với họ, tại sao không chấp nhận một cơ cấu đa đảng hoặc cho phép họ tham gia bằng chính khả năng của họ mà được toàn dân đánh giá chứ không phải họ đòi vào được ban phát, để có ghế có chỗ gì cả. Ý kiến của ông thế nào?” Ông Võ Văn Kiệt: “Có một số người chống đối quyết liệt sinh tử với cộng sản, số đó chắc không nhiều. Đó là những người cực đoan. Tôi nghĩ một dân tộc nào, một tôn giáo, ngay cả trong đảng, lúc nào cũng có một số cực đoan vì nhiều lý do. Nếu chúng ta sòng phẳng ngồi nói chuyện với nhau vì đất nước, hoàn toàn có thể gặp nhau được. Cần đấu tranh xây dựng, đấu tranh vì lẽ phải, vì lợi ích dân tộc. Ví dụ đối với những sai trái có hại cho đất nước như tham nhũng, lãng phí, những hành vi làm tổn thương lợi ích dân tộc chúng ta có quyền phê phán để xây dựng ngôi nhà chung của mình. Bây giờ có cơ hội để anh em bên ngoài có thể có tiếng nói xây dựng. Tôi cảm thấy vui mừng vì ngày càng có nhiều người Việt Nam ở hải ngoại tham gia vào lĩnh vực này lĩnh vực khác về kinh tế, văn hóa rồi kỹ thuật, đóng góp rất lớn cho kinh tế Việt Nam. Tôi đánh giá cao việc đó. Mỗi người cần có trách nhiệm của mình, dân tộc là của chung không phải của riêng người cầm quyền hiện giờ.”
Việt Weekly: “Mấu chốt của vấn đề mà ông đưa ra là kêu gọi lương tri của người Việt đóng góp vào công việc chung của dân tộc, việc đó chắc rằng người trong và người ngoài đều đồng ý, nhưng người hải ngoại đặt vấn đề cao hơn là họ muốn thấy một cơ cấu cơ chế bảo đảm ổn định và phát triển lâu dài của dân tộc Việt Nam thay vì dựa vào một vài lãnh đạo cá nhân tốt sáng suốt của từng thời kỳ, biết lắng nghe, biết kêu gọi sự đóng góp, biết sử dụng người tài. Tại sao không xây dựng một cơ chế bảo đảm được nguồn lực nhân tài của đất nước được tham gia, có sự phân quyền để giám sát lẫn nhau để tránh việc lạm dụng, dẫn đến quyết định có thể sai lầm như đã từng xảy ra trong quá khứ. Theo ông thì như thế nào?” Ông Võ Văn Kiệt: “Tôi thấy chương trình hành động của nhiệm kỳ Đại hội 10 này có nhiều sự nỗ lực của các nhà lãnh đạo. Từ trong Đảng đến Quốc hội, Hội đồng Nhân dân và các cơ quan Nhà nước đang tiếp tục đổi mới để phát huy cho được dân chủ và minh bạch. Tôi biết là họ rất nỗ lực trong chuyện này. Trong khối tư pháp cũng phải đổi mới. Luật pháp của quốc gia, hệ thống chính trị nói chung cũng phải đổi mới để phù hợp kinh tế thị trường, với hội nhập quốc tế và sự phát triển. Tôi thấy anh em rất nỗ lực.”
Việt Weekly: “Trong điều 4 của Hiến pháp quy định chỉ có đảng cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo quốc gia. Như ông đã nói, quốc gia là quốc gia chung của 80 triệu người, vậy quy định như vậy có nghịch lý không?” Ông Võ Văn Kiệt: “Mong muốn lớn nhất của toàn xã hội là làm sao đất nước tiếp tục ổn định để tiếp tục đổi mới và phát triển, để không xảy ra rối rắm như nhiều nước khác. Điều này cũng đòi hỏi tập hợp được sức mạnh của dân tộc, phải đại đoàn kết dân tộc. Đảng cộng sản Việt Nam đã có vai trò đối với lịch sử của đất nước. Đảng vì dân tộc, vì đoàn kết của dân tộc, tất cả thể chế đều dựa vào dân và phục vụ nhân dân. Nếu như đảng cộng sản làm đầy đủ mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, mà đây là một đòi hỏi hết sức chính đáng, nếu đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục giữ được vai trò này, được sự đồng thuận của dân tộc Việt Nam, tôi nghĩ rằng đảng cầm quyền như đảng Cộng sản Việt Nam là tin cậy được. Nhưng nếu như họ không thực hiện được mục tiêu mà họ đề ra, dân tộc Việt Nam sẽ không chấp nhận. Nhưng mà nếu như họ làm đầy đủ những chuyện đó, để ổn định để phát triển, để thoát nghèo, không nhất thiết là phải đa đảng mới xây dựng đất nước của mình. Một đảng mà làm đầy đủ hết mấy điều này, tôi nghĩ là được.
Việt Weekly: “Nhưng điều đó cũng có nghĩa là đã bỏ qua một bộ phận người ở hải ngoại không phải là đảng viên. Họ sẽ không có cơ hội để tham gia. Dĩ nhiên như ông nói, họ có thể tham gia xây dựng đất nước bằng cách này hay cách khác, nhưng họ vẫn không thể tham gia ở mực độ cốt lõi trong hệ thống cầm quyền để giúp đỡ đất nước. Đó có phải là một sự mất mát cho Việt Nam hay không?” Ông Võ Văn Kiệt: “Điều này tôi nghĩ không mất mát, vì theo nghị quyết Đại hội 10, trong hệ thống quản lý nhà nước, trong cơ cấu tổ chức bây giờ không nhất thiết là ủy viên trung ương là đứng đầu. Trong quá trình thúc đẩy cho sự đổi mới phải thêm nữa, tức là người đứng đầu không nhất thiết là đảng viên. Bây giờ không nhất thiết là ủy viên trung ương, và sẽ không nhất thiết là đảng viên. Trở lại như thời chủ tịch Hồ Chí Minh trước đây, trong cơ quan của lãnh đạo nhà nước, cấp cao nhất của nhà nước nhiều người cũng không phải là đảng viên.”
Việt Weekly: “Vậy có nghĩa là, trên mặt lý thuyết, một thủ tướng có thể là một người ngoài đảng?” Ông Võ Văn Kiệt: “Theo tôi một đảng cầm quyền có thể chấp nhận điều đó. Bây giờ lẽ ra không nhất thiết là đảng viên cũng có thể đứng đầu bộ máy nhà nước. Trước đây, trong lúc đảng còn yếu, trước Cách mạng Tháng 8 và sau Cách mạng Tháng 8, kể cả trong kháng chiến chống Pháp, nhiều bộ trưởng không phải là đảng viên, họ là nhân sĩ trí thức yêu nước thôi. Điều đó Việt Nam cũng đã kinh qua rồi. Bây giờ trong xây dựng đất nước tôi cũng rất tiếc là mình chưa làm được điều này, nhưng cũng phải trở lại hướng này. Những người thật sự yêu nước, có đức có tài, không nhất định là người trong đảng cộng sản, đều có thể làm bất cứ cương vị gì trong bộ máy nhà nước.”
Việt Weekly: “Ông nói là vì nhu cầu ổn định quốc gia để tiếp tục đổi mới, và vì chiến tích kinh nghiệm cũng như khả năng của đảng cộng sản đã chứng tỏ qua một thời kỳ rất dài trong lãnh đạo quốc gia, cho nên vẫn có thể lý giải được việc đảng cộng sản tiếp tục giữ quyền lãnh đạo quốc gia, nhưng ông có nghĩ là trong tương lai ngắn hoặc dài có thể là 20 năm, 50 năm, 100 năm, hay kể cả dài hơn nữa, có khi nào điều 4 của hiến pháp sẽ được tái khẳng định để cho phép nhiều đảng phái hơn tham gia và công việc của quốc gia hay không?” Ông Võ Văn Kiệt: “Đảng phải tự đổi mới mình để thích hợp với thực tế, với bước đi của dân tộc. Trách nhiệm lãnh đạo đất nước của Đảng không phải là quyết giữ những điều trong hiến pháp, mà đòi hỏi Đảng phải làm được trong thực tế vai trò của mình đối với dân tộc để giữ trọng trách lãnh đạo đất nước, giữ được sự ủng hộ của nhân dân đối với đảng. Nếu không giữ được, không làm được đầy đủ chuyện này, dân tộc sẽ quyết định.
Việt Weekly: “Trong quan hệ của Việt Nam với Mỹ, ông có nhận xét gì?” Ông Võ Văn Kiệt: “Tôi cho rằng quan hệ với Mỹ được mức như bây giờ là do có những cố gắng rất lớn, cố gắng của Việt Nam và của cả Mỹ. Tôi thấy ông Bush trước khi đến Việt Nam cũng lo, nhưng đến Việt Nam ông thấy sự thân thiện của người Việt Nam đối với những người đứng đầu của Mỹ, cho thấy dân tộc Việt Nam thể hiện đúng theo đường lối bỏ qua quá khứ, thân thiện nghĩ đến tương lai. Trong chiến tranh cả hai là thù địch nhưng sau chiến tranh cả hai dân tộc hiểu biết nhau hơn, dù cho quá khứ không hay, nhưng đã hiểu biết nhau.”
Việt Weekly: “Ông có nhận xét gì về dân tộc Việt Nam?” Ông Võ Văn Kiệt: “Tôi thấy dân tộc mình lạ lùng lắm, rất thân thiện. Đối với Pháp trước đây cũng vậy mà Mỹ sau này cũng vậy. Dân tộc Việt Nam là dân tộc nhân ái, một dân tộc hiếu hòa. Kể cả lịch sử đối với Trung Quốc cũng kinh lắm chứ, nhưng sau là bạn. Sau này khi nối lại quan hệ bình thường, hai bên thân thiện trở lại. Về vấn đề tôn giáo, người Việt Nam có thể theo bất cứ tôn giáo nào, họ sống rất hòa hợp với nhau”.
Việt Weekly: “Đối với những người Việt chống đối, nếu ông được gặp họ, ông sẽ nói điều gì?” Ông Võ Văn Kiệt: “Nếu gặp họ, tôi sẽ nói với họ rằng, dân tộc và đất nước là của chung, không riêng gì của ai cả. Vấn đề tôn giáo, ai muốn tham gia đạo nào cũng được, cứ hòa hợp với nhau đi. Ở chung một xóm, người Phật giáo với người Công giáo, không thấy ai đố kỵ ai. Anh muốn vô đạo nào, Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Công giáo, Tin Lành… không có vấn đề gì cả.”
Cuộc gặp gỡ giữa nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt với ba nhà báo Việt Weekly diễn ra rất cởi mở, ông Võ Văn Kiệt đã trả lời tất cả những vấn đề do Việt Weekly đặt ra.

BBC phỏng vấn ông Võ văn Kiệt

(KBCHN) – Bài viết cũ năm 2009 nhưng vẫn mới với hôm nay: Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có ý kiến chính thức với lãnh đạo đất nước là nên đối thoại với những người bất đồng chính kiến

Image result for vo van kiệt pic

Cố thủ tướng Võ Văn Kiệt 

 

Continue reading BBC phỏng vấn ông Võ văn Kiệt

Nghị quyết 36: “Cơ hội vàng” cho CNTT Việt Nam phát triển

Continue reading Nghị quyết 36: “Cơ hội vàng” cho CNTT Việt Nam phát triển

Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài

(KBCHN) – Nghị quyết được Bộ Chính trị ban hành ngày 26/3/2004. Dưới đây là toàn văn Nghị quyết.

Nghị quyết được Bộ Chính trị ban hành ngày 26/3/2004. Dưới đây là toàn văn Nghị quyết.

I- Tình hình và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài thời gian qua.

1- Hiện nay có khoảng 2,7 triệu người Việt Nam đang sinh sống ở gần 90 nước và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 80% ở các nước công nghiệp phát triển, phần đông bà con ngày càng ổn định cuộc sống và hòa nhập vào xã hội nơi cư trú, có vị trí nhất định trong đời sống kinh tế, chính trị – xã hội ở nước sở tại, có tác động ở mức độ khác nhau tới mối quan hệ giữa các nước đó với Việt Nam. Bên cạnh đó, trong những năm qua hàng trăm nghìn người Việt Nam đã ra nước ngoài lao động, học tập, tu nghiệp, đoàn tụ gia đình, hình thành các cộng đồng người Việt Nam tại một số địa bàn mới.

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có tiềm lực kinh tế nhất định, có mối quan hệ với nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoài và quốc tế, có khả năng tìm kiếm đối tác và làm cầu nối với các doanh nghiệp, tổ chức trong nước. Nhiều trí thức có trình độ học vấn và chuyên môn cao; một số người giữ vị trí quan trọng trong các cơ quan, cơ sở nghiên cứu, đào tạo, các công ty và tổ chức quốc tế, có khả năng tạo dựng quan hệ với các cơ sở kinh tế, khoa học ở nước sở tại.

Mặc dù sống xa Tổ quốc, đồng bào luôn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống văn hóa và hướng về cội nguồn, dòng tộc, gắn bó với gia đình, quê hương. Nhiều người đã có những đóng góp về tinh thần, vật chất và cả xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Thành tựu to lớn của nhân dân ta trong sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữ vững sự ổn định chính trị – xã hội và không ngừng nâng cao vị thế quốc tế của đất nước càng củng cố thêm niềm tự hào dân tộc và tinh thần yêu nước của người Việt Nam ở nước ngoài. Đông đảo bà con hoan nghênh công cuộc đổi mới và chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước, mong muốn đất nước cường thịnh, sánh vai với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới; nhiều người đã về thăm gia đình, quê hương, tham gia các hoạt động đầu tư, kinh doanh, hợp tác khoa học, công nghệ, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, nhân đạo, từ thiện… Tình hình trên là xu thế chủ yếu trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Tuy nhiên, người Việt Nam ở một số nước còn khó khăn trong việc ổn định cuộc sống, chưa được hưởng quy chế rõ ràng, thậm chí ở một số nơi còn bị kỳ thị. Một bộ phận đồng bào do chưa có dịp về thăm đất nước để tận mắt thấy được những thành tựu của công cuộc đổi mới hoặc do thành kiến, mặc cảm, nên chưa hiểu đúng về tình hình đất nước. Một số ít người đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở tại với Việt Nam. Tính liên kết cộng đồng, sự gắn bó giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng chưa cao. Còn thiếu các biện pháp duy trì, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; việc giữ gìn tiếng Việt và bản sắc dân tộc trong thế hệ trẻ còn khó khăn. Nhu cầu giao lưu văn hóa giữa cộng đồng với đất nước, giữ gìn và phát triển tiếng Việt trong cộng đồng là rất lớn và trở nên bức thiết song chưa được đáp ứng. Sự đóng góp của bà con vào công cuộc xây dựng đất nước, nhất là về tri thức, chưa tương xứng với tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

2- Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách rộng mở và biện pháp cụ thể nhằm tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho đồng bào về thăm đất nước, người thân, đầu tư, kinh doanh, hợp tác khoa học – công nghệ, hoạt động văn hóa – nghệ thuật. Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã được đổi mới và đạt được những kết quả đáng kể cả ở trong và ngoài nước. Công tác thông tin, văn hóa phục vụ cộng đồng từng bước được tăng cường, nhất là trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình và qua mạng Internet. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chính quyền địa phương và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã có chuyển biến tích cực.

Tuy nhiên, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người Việt Nam ở nước ngoài chưa được quán triệt sâu sắc, thực hiện đầy đủ. Công tác nghiên cứu, tham mưu về chính sách chưa theo kịp những chuyển biến mới. Công tác bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài chưa được quan tâm đúng mức. Các chính sách đã ban hành chưa đồng bộ và chưa thể hiện đầy đủ tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc; chưa khuyến khích mạnh mẽ người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, đóng góp cho công cuộc phát triển đất nước. Chưa có hình thức thỏa đáng để cung cấp kịp thời và đầy đủ thông tin cho đồng bào về tình hình đất nước và chính sách của Đảng và Nhà nước. Hình thức vận động cộng đồng còn chưa thực sự đổi mới, đa dạng và linh hoạt để có thể quy tụ, động viên đông đảo bà con tham gia các hoạt động có ích cho cộng đồng và quê hương. Việc phát hiện, bồi dưỡng những nhân tố tích cực, việc khen thưởng, động viên những người có thành tích ít được chú trọng.

Nguyên nhân chủ yếu của những yếu kém trên là các cấp, các ngành, các đoàn thể nhân dân chưa nhận thức thật sự đầy đủ và sâu sắc các quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, nhiều cấp ủy Đảng và lãnh đạo chính quyền các cấp chưa quan tâm đúng mức và chưa thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công tác này. Sự phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan, giữa Trung ương và địa phương, giữa trong và ngoài nước còn thiếu chặt chẽ, các cơ quan trực tiếp làm công tác về người Việt Nam ở nước ngoài chưa được kiện toàn đủ mạnh, kinh phí còn hạn chế.

II- Chủ trương và phương hướng công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài thời gian tới

1- Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần thể hiện đầy đủ truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc. Cơ sở của sự đoàn kết là ý thức dân tộc và lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và mục tiêu chung của mọi người Việt Nam là giữ vững nền độc lập dân tộc, thống nhất của Tổ quốc, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

2- Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng  cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước. Nhà nước có trách nhiệm thỏa thuận với các nước hữu quan về khuôn khổ pháp lý để đồng bào ổn định cuộc sống và bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài theo luật pháp, công ước và thông lệ quốc tế.

Đảng và Nhà nước mong muốn, khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp nước sở tại, chăm lo xây dựng cuộc sống, làm ăn thành đạt, nêu cao tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc Việt Nam, đoàn kết đùm bọc, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước bà con sinh sống với nước nhà, tùy theo khả năng và điều kiện của mỗi người góp phần xây dựng quê hương đất nước, chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc.

3- Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần mang tính đồng bộ, kết hợp việc xây dựng cơ chế, chính sách với công tác vận động, kết hợp các hoạt động trong nước với các hoạt động ở nước ngoài và phải được tiến hành thông qua nhiều loại hình hoạt động và biện pháp phù hợp với các đối tượng và địa bàn khác nhau, trên cơ sở tự nguyện và không trái với pháp luật, phong tục, tập quán của nước sở tại.

4- Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân. Các tổ chức đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, các ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương, ở trong nước và ngoài nước và toàn dân ta cần coi đây là một nhiệm vụ quan trọng nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

III – Nhiệm vụ chủ yếu

1- Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi và hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, yên tâm làm ăn sinh sống, hội nhập vào đời sống xã hội nước sở tại, đồng thời duy trì quan hệ gắn bó với quê hương, đất nước.

Thông qua các hoạt động ngoại giao tích cực vận động chính quyền nước sở tại tạo thuận lợi cho kiều bào có điều kiện làm ăn sinh sống bình thường; chủ động tiến hành đàm phán và ký kết các thỏa thuận cần thiết với các nước, trong đó có các hiệp định lãnh sự, hiệp định tư pháp, bảo vệ lợi ích chính đáng của bà con, chống các biểu hiện kỳ thị, các hành động chống lại người Việt Nam ở nước ngoài. Giải quyết nhanh chóng, thỏa đáng yêu cầu của người Việt Nam ở nước ngoài liên quan đến vấn đề quốc tịch.

Tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài về thăm quê hương, thân nhân, thờ cúng tổ tiên. Cụ thể hóa và hoàn thiện hơn nữa các quy định về xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại ở trong nước của người Việt Nam ở nước ngoài theo hướng thông thoáng, thuận tiện và đơn giản thủ tục. Giải quyết thuận lợi, nhanh chóng thủ tục cho người Việt Nam ở nước ngoài hồi hương hoặc về làm ăn, sinh sống có thời hạn ở trong nước; tiếp tục giải quyết những vấn đề tồn tại về mua nhà ở trong nước, thừa kế, hôn nhân gia đình, nhận con nuôi… liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài. Dành cho người Việt Nam ở nước ngoài giá dịch vụ như công dân trong nước.

Có hình thức thích hợp tổ chức thu thập ý kiến của đồng bào ở nước ngoài trước khi ban hành các văn bản pháp quy, chính sách có liên quan nhiều tới người Việt Nam ở nước ngoài.

2- Hoàn chỉnh và xây dựng mới hệ thống chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức kiều bào vào công cuộc phát triển đất nước. Xây dựng chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với những chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ chuyên môn cao, có khả năng tư vấn về quản lý, điều hành, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cao cho đất nước, góp phần phát triển nền văn hóa, nghệ thuật của nước nhà.

Xây dựng và hoàn thiện các chính sách tạo thuận lợi và khuyến khích các ngành, các trung tâm nghiên cứu khoa học – công nghệ, văn hóa nghệ thuật, giáo dục – đào tạo, y tế, thể dục – thể thao, các cơ sở sản xuất, dịch vụ… ở trong nước mở rộng hợp tác, thu hút sử dụng chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tham gia công việc ở trong nước, làm việc cho các chương trình, dự án hợp tác đa phương và song phương của Việt Nam với nước ngoài hoặc trong các tổ chức quốc tế có chỉ tiêu dành cho người Việt Nam và tư vấn trong các quan hệ giữa Việt Nam với đối tác nước ngoài.

Tranh thủ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tiến hành hoạt động vận động, tư vấn về pháp lý trong quan hệ với nước bà con làm ăn sinh sống.

3- Hoàn chỉnh và xây dựng mới các chính sách thu hút người Việt Nam ở nước ngoài hoạt động đầu tư, kinh doanh ở trong nước. Coi trọng các hình thức đầu tư, kinh doanh quy mô vừa và nhỏ do người Việt Nam ở nước ngoài trực tiếp thực hiện hoặc thông qua người thân trong nước thực hiện. Mở rộng và tạo thuận lợi hơn nữa chính sách kiều hối. Phát huy khả năng của người Việt Nam ở nước ngoài làm dịch vụ, thiết lập và mở rộng kênh tiêu thụ hàng hóa Việt Nam, các quan hệ hợp tác và đầu tư với các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân nước ngoài.

Thiết lập cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc giải quyết các vụ việc liên quan đến doanh nghiệp do người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư vào trong nước, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của các doanh nghiệp, xử lý các vi phạm theo đúng pháp luật, góp phần tạo môi trường pháp lý ổn định, làm cho người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư, hợp tác với trong nước yên tâm, tin tưởng.

4- Đổi mới và đa dạng hóa các phương thức vận động, các hình thức tập hợp với mục đích đoàn kết người Việt Nam ở nước ngoài quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, khuyến khích những hoạt động hướng về Tổ quốc của bà con, nhất là của thế hệ trẻ trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với pháp luật và phong tục tập quán nước sở tại. Hỗ trợ các dự án của người Việt Nam ở nước ngoài nhằm mục tiêu trên. Chủ động mở rộng tiếp xúc với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, kể cả với những người còn có định kiến, mặc cảm với Nhà nước và chế độ ta.

5- Tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ. Xây dựng và hoàn chỉnh sách giáo khoa tiếng Việt cho kiều bào, cải tiến các chương trình dạy tiếng Việt trên vô tuyến truyền hình, đài phát thanh và qua mạng Internet. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể để giúp bà con học tiếng Việt. Tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh, thiếu niên người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổ chức cho các đoàn nghệ thuật, nhất là các đoàn nghệ thuật dân tộc ra nước ngoài biểu diễn phục vụ cộng đồng. Tạo điều kiện cho các nghệ sĩ, vận động viên là người Việt Nam ở nước ngoài về nước biểu diễn, thi đấu, tham gia các đoàn Việt Nam đi biểu diễn và thi đấu quốc tế. Thường xuyên tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật, triển lãm, hội thảo, du lịch về cội nguồn.

6- Đổi mới mạnh mẽ và toàn diện công tác thông tin, tuyên truyền, giúp cho người Việt Nam ở nước ngoài hiểu đúng tình hình đất nước và chính sách của Đảng và Nhà nước. Đầu tư cho các chương trình dành cho người Việt Nam ở nước ngoài của đài phát thanh, truyền hình và Internet; chú trọng đổi mới nội dung, hình thức và kỹ thuật của các chương trình này. Hỗ trợ việc ra báo viết, mở đài phát thanh, truyền hình ở ngoài nước. Xây dựng thư viện trên mạng Internet để phục vụ cho người Việt Nam sống xa Tổ quốc. Hỗ trợ kinh phí vận chuyển và đơn giản hóa thủ tục đối với việc gửi sách báo, văn hóa phẩm ra ngoài phục vụ cộng đồng.

7- Hoàn chỉnh chính sách khen thưởng đối với người Việt Nam ở nước ngoài, đưa vào nền nếp việc khen thưởng các tổ chức và cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài có thành tích trong vận động xây dựng cộng đồng, đóng góp xây dựng đất nước, tổ chức và cá nhân trong nước có thành tích trong công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài. Giải quyết có tình, có lý và trên cơ sở đạo lý Việt Nam các vấn đề nhân đạo do lịch sử để lại nhằm thực hiện chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời có biện pháp phù hợp đấu tranh với những biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích dân tộc, phá hoại quan hệ giữa các nước có đông người Việt Nam sinh sống với Việt Nam hoặc gây chia rẽ trong cộng đồng người Việt Nam ở nước sở tại.

8- Các tổ chức Đảng, các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức và đoàn thể nhân dân theo chức năng, nhiệm vụ của mình tham gia tích cực vào công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài với các cơ quan hữu quan, với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, giữa trong nước với ngoài nước. Củng  cố và phát triển các tổ chức xã hội làm công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài, như Hội liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài, các hội thân nhân kiều bào và các hình thức tập hợp chính đáng khác, phù hợp với ý nguyện và đặc điểm của cộng đồng ở địa bàn cư trú.

Các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài có trách nhiệm coi công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là một nhiệm vụ chính trị quan trọng đẩy mạnh công tác bảo hộ công dân và bảo vệ những quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài; tích cực, chủ động tăng  cường tiếp xúc vận động, tuyên truyền phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tới bà con.

9- Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài cần được kiện toàn với cơ cấu tổ chức, biên chế và phương tiện hoạt động đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới. Tăng cường cán bộ chuyên trách về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài tại cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở những nơi có đông người Việt Nam sinh sống. Một số bộ, ngành và một số tỉnh, thành phố có quan hệ nhiều với người Việt Nam ở nước ngoài cần có bộ phận giúp cơ quan lãnh đạo trong công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Bổ sung kinh phí cho công tác này.

IV – Tổ chức thực hiện

1- Ban cán sự đảng Bộ Ngoại giao phối hợp với Ban cán sự đảng ngoài nước và các ban, ngành liên quan, UBTƯ MTTQ Việt Nam, các tổ chức và đoàn thể nhân dân tổ chức phổ biến rộng rãi nghị quyết này đến cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân trong nước và đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

2- Ban cán sự đảng Chính phủ cụ thể hóa nội dung nghị quyết thành chương trình hành động, các cơ chế, chính sách, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương thực hiện.

3- Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự Đảng Chính phủ căn cứ vào nội dung Nghị quyết, xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp quy có liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài.

4- Các tỉnh ủy,  thành ủy, các ban cán sự Đảng, Đảng đoàn, Đảng ủy trực thuộc Trung ương, các ban Trung ương Đảng có kế hoạch thực hiện Nghị quyết. Ban cán sự đảng Bộ Ngoại giao chủ trì cùng Ban cán sự Đảng ngoài nước giúp Ban Bí thư và Bộ Chính trị theo dõi việc thực hiện Nghị quyết. Ban Bí thư tổ chức kiểm tra, định kỳ nghe báo cáo về tình hình và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài./

Continue reading Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài

Nghị quyết 36-NQ/TW công tác người Việt Nam ở nước ngoài

Thiên Hạ Sự – Hi vọng bộ trưởng Trương Minh Tuấn không quên NQ36

06/05/2018 02:11

(KBCHN) – Nghị quyết 36

BỘ CHÍNH TRỊ
—–

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
——-

Số: 36-NQ/TW

Hà Nội, ngày 26 tháng 03 năm 2004

Continue reading Nghị quyết 36-NQ/TW công tác người Việt Nam ở nước ngoài

Hiệp định Genève, 1954

https://vi.wikipedia.org/wiki/Hiệp_định_Genève,_1954

 Hội nghị Genève.

Hiệp định Genève 1954 (tiếng ViệtHiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954) là hiệp định đình chiến được ký kết tại thành phố Genève, Thụy Sĩ để khôi phục hòa bình ở Đông Dương. Hiệp định dẫn đến chấm dứt sự hiện diện của quân đội Pháp trên bán đảo Đông Dương, chính thức chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương.

Continue reading Hiệp định Genève, 1954

Đội mật vụ bí ẩn tháp tùng ông Kim Jong-un: 1 phút hạ được 8 người trong phạm vi 100m

Lực lượng mật vụ Triều Tiên được coi là đội “ngự lâm quân”, là đội quân tinh nhuệ nhất, là tuyến phòng thủ cuối cùng của lãnh đạo Kim Jong-un. Sáng 27/4, nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un đã lần đầu tiên đặt chân sang biên giới Hàn Quốc tham dự hội nghị thượng đỉnh liên Triều dưới sự bảo vệ nghiêm ngặt của các mật vụ nước này.

Đội mật vụ tháp tùng ông Kim Jong un trong phiên họp sáng nay với ngoại hình sáng, mặc sơ mi trắng, khoác ngoài bộ vest đen lịch sự và đeo huy hiệu đảng bên ngực trái. Họ luôn theo sát ông Kim cũng như vây quanh, chạy theo đảm bảo an ninh, hộ tống xe của ông khi đến Bàn Môn Điếm cũng như lúc trở lại Triều Tiên. Được biết, mật vụ Triều Tiền trực thuộc Tổng cục an ninh quốc thường được được mệnh danh là đội “ngự lâm quân” của các nhà lãnh đạo Bình Nhưỡng, là đội quân tinh nhuệ nhất trong trong các đội quân tinh nhuệ của quân đội Triều Tiên, là tuyến phòng thủ cuối cùng của nhà lãnh đạo Kim Jong-un. Lực lượng này cũng là một trong những cơ quan bí ẩn nhất Triều Tiên.

Theo sát lãnh đạo như hình với bóng Đơn vị mật vụ bảo vệ ông Kim Jong-un thường tuân theo một điều lệ tiên quyết: “Bắt buộc bảo mật triệt để mọi hoạt động theo tiểu đội, trung đội”, thậm chí không được công khai thông tin với cha mẹ và người thân. Lực lượng đặc vụ thuộc Tổng cục an ninh Triều Tiên lần đầu tiên công khai trong hội nghị cấp cao liên Triều ngày 15/6/2000. Khi đó, công tác an ninh được đảm bảo vô cùng chặt chẽ, các mật vụ Triều Tiên theo sát lãnh đạo bấy giờ là ông Kim Jong-il. Thời điểm đó, khác với các sĩ quan quân đội bình thường của Triều Tiên, mật vụ nước này thường đeo thắt lưng da lệch trên vai cùng một khẩu súng ngắn giắt ở ngang eo và gắn một quốc huy 5 sao trên quân phục.

Đáng chú ý, quân hàm của các mật vụ này đều là Đại tá hoặc Thượng tá, trong đó, vệ sĩ đảm bảo an ninh cho lãnh đạo tối cao thường có quân hàm Thượng tướng. Người này nắm toàn quyền phụ trách an ninh nên còn được coi là “trưởng nhóm an ninh”. Công nghệ cao cũng bị làm khó So với các quốc gia khác, mật vụ Triều Tiên không dùng các thiết bị liên lạc vô tuyến do họ sợ bị tiết lộ vị trí. Một cựu đặc vụ Hàn Quốc cho biết, mật vụ Triều Tiên thường chỉ dựa vào năng lực cá nhân cũng có thể đảm bảo công tác kiểm an ninh, họ làm việc vô cùng hiệu quả trong các chuyến thị sát địa phương của lãnh đạo tối cao.

Theo đánh giá, công tác bảo mật của đặc vụ Triều Tiên khiến cơ quan tình báo số 1 của Mỹ, Hàn cũng phải “bó tay”. Từng có thời gian, tình báo Mỹ-Triều đã cố gắng sử dụng các loại thiết bị trinh sát như vệ tinh hay máy bay trinh sát U-2 để theo dõi “hành tung” của ông Kim Jong-il nhưng trong thời gian dài các thiết bị công nghệ cao cũng “bất lực”. Không chỉ trong các chuyến thăm quốc tế, tình báo nước ngoài cũng rất khó để theo dõi vị trí của ông Kim Jong-il trong các chuyến khảo sát địa phương bằng tàu hỏa. Do đó, sau khi ông Kim Jong-il qua đời vào tháng 12/2011, phải đến hơn hai ngày sau, tình báo Mỹ-Hàn mới nhận được thông tin. 1 phút hạ gục được 8 người Để có thể nhận được nhiệm vụ bảo vệ lãnh đạo tối cao, mật vụ Triều Tiên đã phải trả qua rất nhiều khóa huấn luyện kỹ năng gian khổ.

Truyền thông Hàn Quốc từng tiết lộ: “Tổng cục an ninh yêu cầu các nhân viên bắt buộc phải có bản lĩnh “bách phát bách trúng”. Ví dụ, trong 1 phút với phạm vi 100m, 1 mật vụ cần bắn hạ trúng 8 người mới đạt 90 điểm; trong khi đó nếu lái xe moto hoặc ngồi thuyền nhắm bắn các mục tiêu di động cũng buộc phải đạt tỷ lệ bắn trúng rất cao. Đối với các tân binh, mỗi tuần phải vác 25kg hàng hóa hành quân trong 100km, trong 7 ngày phải bơi 4km”. Nhân viên của Tổng cục an ninh Triều Tiên được tuyển chọn từ các học sinh trung học cùng quá trình điều tra lý lịch vô cùng chặt chẽ với lối sống thiết quân luật trong đơn vị nhưng lại được hưởng đãi ngộ cao, trong thời gian công tác, họ được trang bị những thiết bị tối tân nhất của quân đội Triều Tiên, các kỳ lễ tết còn có thể nhận được quà từ các lãnh đạo.

Biểu tượng tinh thần của mật vụ Triều Tiên Ngày 1/3/1946, khi ông Kim Nhật Thành tham gia một hội nghị ở Bình Nhưỡng, một quả lựu đạn đã được ném lên khán đài phía ông này. Tuy nhiên, Trung úy Liên Xô Yakov Novichenko đã chạy lên phía trước và tóm lấy quả lựu đạn. Novichenko khi đó đã bị thương dẫn tới mất một cánh tay nhưng sau đã được Triều Tiên phong tặng danh hiệu anh hùng. Novichenko cũng vì thế đã trở thành biểu tượng tinh thần của các mật vụ Triều Tiên. Các mật vụ Triều Tiên cũng được thấm nhuần tư tưởng: “Là vệ sĩ của lãnh đạo tối cao nên trong mắt chỉ có một người là Ủy viên trưởng”. “Các hoạt động ngoài trời có ông Kim Jong-il tham gia đều được coi là “hành động số 1″, hành động tuyệt mật”, một cựu đặc vụ Triều Tiên chia sẻ. Theo đó, Tổng cục an ninh Triều Tiên tổ chức rất chặt chẽ với phân công chi tiết, trong đó, Bộ tham mưu có 3 Cục 1, 2,3; trong Cục 1 lại có ba đơn vị đặc vụ 1,2,3.