Category Archives: Lịch sử

Thảm sát Gạc Ma 1988: Khúc bi tráng của người lính Hải quân

(VTC News) – Hơn 30 năm ngày các chiến sĩ Gạc Ma hy sinh vì Tổ quốc, đồng đội luôn nhắc nhớ máu xương các anh đã đổ xuống vì đất mẹ.

Tham sat Gac Ma 1988: Khuc bi trang cua nguoi linh Hai quan hinh anh 1
 
Tham sat Gac Ma 1988: Khuc bi trang cua nguoi linh Hai quan hinh anh 2
 

Năm 1988, lúc này, cuộc khủng hoảng kinh tế trong nước đang ở thời kỳ “đỉnh điểm của sự khó khăn”. Sau gần 10 năm xung đột biên giới kéo dài, nhân lực, vật lực của nước ta tổn hao lớn. Liên Xô – nước ủng hộ Việt Nam – cũng đang rơi vào tình trạng khó khăn, cải tổ.

Nhận định được tình hình đó, Trung Quốc quyết định tiến hành hàng loạt hành động quân sự ở Trường Sa.

Đầu năm 1988, Trung Quốc cho quân chiếm đóng trái phép các bãi đá Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Subi, Huy Gơ thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Để ngăn chặn việc Trung Quốc mở rộng phạm vi chiếm đóng, tại các đảo Tiên Nữ, Đá Lát, Đá Lớn, Đá Đông, Tốc Tan, hải quân Việt Nam xây dựng thế trận phòng thủ. Bộ Tư lệnh Hải quân lệnh cho các tàu gấp rút đưa bộ đội, công binh ra xây dựng đảo, tiến hành chiến dịch Bảo vệ chủ quyền 1988 (CQ-88).

Thường vụ Đảng ủy Quân chủng Hải quân họp nhận định, Trung Quốc sẽ chiếm thêm một số bãi cạn xung quanh cụm đảo Sinh Tồn, Nam Yết và Đông kinh tuyến 1150.

Trong đó, Gạc Ma là cái tên chắc chắn sẽ nằm trong danh sách đánh chiếm của Trung Quốc nhằm gây thanh thế ở khu vực Trường Sa và trên Biển Đông.

Đảo đá Gạc Ma cách Cô Lin 3,6 hải lý, cách Len Đao 6 hải lý giữ vị trí quan trọng, đánh dấu đầu mút phía Tây Nam cụm đảo Sinh Tồn. Trung Quốc muốn có một pháo đài ở trung tâm biển Đông và Gạc Ma là lựa chọn số 1.

Bãi đá Gạc Ma gần như nằm ở giữa Việt Nam và Philippines, ở vị trí đó Việt Nam muốn lấy lại cũng rất khó khăn vì xa bờ. Trung Quốc muốn ở một vị trí an toàn và với việc chiếm được Hoàng Sa, họ có được thế gọng kìm tam giác, từ Hải Nam xuống Hoàng Sa và Gạc Ma để khống chế biển Đông. Thời điểm đó Việt Nam cũng không có tàu chiến hiện đại và đủ sức lấy lại được.

Tham sat Gac Ma 1988: Khuc bi trang cua nguoi linh Hai quan hinh anh 3
 

Cần phải nhắc lại rằng kể từ đó trận chiến cách đây hơn 3 thập kỷ, Trung Quốc tiếp tục thực hiện từng bước để hiện thực hóa dã tâm của mình tại Biển Đông.

Theo cây viết Alexander Vuving của National Interest, nếu xem Biển Đông như một bàn cờ thì Trung Quốc đang chơi cờ vây trên bàn cờ đó.

Giống như tên gọi của nó, cờ vây – trò chơi truyền thống có ảnh hưởng lớn tới tư duy của các nhà cầm quân Trung Quốc trong quá khứ là một trò chơi bao vây.

Trong cờ vây, không có vua, cũng chẳng có hoàng hậu, chỉ có những quân cờ giống hệt nhau mà sức mạnh của chúng phụ thuộc vị trí chúng nắm giữ trên bàn cờ.

Trong khi với cờ vua, người chơi cờ tìm cách tiêu diệt sức mạnh của kẻ thù, thì ở cờ vây, người chơi tìm cách thao túng các vị trí chiến lược.

Trung Quốc chính xác là đang dùng sách lược như vậy tại Biển Đông. Họ thèm muốn kiểm soát toàn bộ vùng biển này nhưng không phải bằng các trận đánh lớn mà thông qua chiến lược “cắt lát salami”- chiếm đóng các bãi cạn và đảo nhỏ để củng cố tuyên bố chủ quyền của mình hay chính sách “cây gậy nhỏ” – sử dụng các tàu tuần tra không có vũ khí hoặc tàu bán quân sự như ngư chính để kiểm soát Biển Đông. Trung Quốc dựa vào đó để thay đổi thực trạng trong khu vực theo hướng có lợi cho mình. 

Tham sat Gac Ma 1988: Khuc bi trang cua nguoi linh Hai quan hinh anh 4
(Nguồn: VTC Now)

Chiến lược này đòi hỏi một số các yêu cầu bắt buộc. Thứ nhất, tránh các cuộc đụng độ công khai càng nhiều càng tốt, một vài xung đột nhỏ có thể khởi phát nhưng chỉ trong tình huống có lợi cho Trung Quốc.

Lịch sử cho thấy Trung Quốc theo sát tôn chỉ trong các cuộc tranh chấp trên Biển Đông. Trong suốt 6 thập kỷ qua, Trung Quốc chỉ tham gia vào 2 cuộc xung đột vũ trang nhưng cả 2 cuộc đụng độ này, bao gồm trận hải chiến Hoàng Sa tháng 1/1974 và trận Gạc Ma tháng 3/1988 đều hết sức đẫm máu và cho thấy độ ngang ngược, hiếu chiến của Trung Quốc. 2 cuộc xung đột đều xảy ra vào thời điểm tồn tại một khoảng trống quyền lực trong khu vực khi Mỹ và Liên Xô lần lượt hạn chế hiện diện.

Thứ 2, kiểm soát các vị trí chiến lược nhất trên biển, nếu chưa sở hữu thì có thể chiếm đóng một cách lén lút hoặc bằng các cuộc xung đột giới hạn nếu cần thiết. Điều này được phản ảnh rõ nét qua những điểm mà Trung Quốc chọn lựa chiếm đóng.

Trong trận chiến tại Trường Sa năm 1988, Trung Quốc quyết định chọn chất thay số lượng. Họ chiếm 5 trong tổng số 11 đảo nhưng các đảo này bao gồm Đá Chữ Thập, đá Subi, đá Gaven, đá Gạc Ma và đá Châu Viên đều nắm giữ vị trí chiến lược quan trọng.

Thứ 3, phát triển các vị trí này thành các điểm kiểm soát lớn, các trung tâm hậu cần lớn mạnh và căn cứ có thể giúp phô diễn quyền lực.

Cuối năm 1994, đầu năm 1995, Trung Quốc lén lút chiếm đóng trái phép đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa. 8 năm sau, bãi cạn Scarborough, nơi Trung Quốc có tranh chấp với Philippines cũng bị Trung Quốc lấn chiếm nhờ chính sách ngoại giao 2 mặt. 

Với việc chiếm đóng trái phép các thực thể ở quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và bãi cạn Scarborough, Trung Quốc nắm giữ lợi thế trong việc kiểm soát cái mà theo Robert Kaplan, nhà phân tích địa chính trị hàng đầu của Strafor là yết hầu của các tuyến đường biển toàn cầu.

Đơn cử như đảo Phú Lâm (đảo lớn nhất tại quân đảo Hoàng Sa), đá Chữ Thập, đá Vành Khăn cùng bãi cạn Scarborough tạo thành một chòm sao 4 điểm với bán kính 250 hải lý có thể theo dõi sát sao các động tĩnh ở Biển Đông.

Từ những thứ mà mình chiếm đóng phi pháp, Trung Quốc phát triển chúng thành những căn cứ hỗ trợ hậu cần cho tàu cá, tàu chính phủ, tàu ngầm, máy bay nhằm mục tiêu thống trị vùng trời, vùng biển trong khu vực.

Tham sat Gac Ma 1988: Khuc bi trang cua nguoi linh Hai quan hinh anh 5
 

Về thăm gia đình chưa được bao lâu, ngày mồng 10 tháng Giêng năm 1988, chàng trai trẻ Trần Văn Phương lại lên đường trở lại đơn vị. Lúc ấy, Phương vừa tròn 23 tuổi.

Trước lúc ra đi, chàng trai trẻ gọi mẹ vào và dặn dò kỹ lưỡng: “Ở nhà ba mẹ nhớ cắt toóc (thân cây lúa) phơi khô” và hứa: “Đến lúc con về phép sẽ cùng ba chẻ tre, kẹp tranh để sửa lại mái nhà bếp, chứ giờ mưa dột khổ ba mẹ lắm”.

Nhưng lời hứa của chàng lính trẻ mãi không trở thành sự thật. Đó cũng là lần cuối mẹ Hồ Thị Đức (SN 1931, trú thôn Đơn Sa, phường Quảng Phúc, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình) được nghe thấy giọng của cậu con trai yêu quý.

Ngồi tựa lưng vào cửa nhà, nhìn ra xa xăm, người mẹ già lấy tay lau đi lau lại bức thư cuối cùng con trai gửi về trước lúc hy sinh.

Khi nào cũng vậy, trong những lần nói chuyện, mỗi khi nhắc đến liệt sỹ Phương thì mắt của mẹ Đức lại ngấn lệ. Mẹ Đức bảo, mẹ khóc phần vì thương nhớ con nhưng cũng tự hào bởi máu của con mẹ góp phần bảo vệ biển đảo quê hương.

Tham sat Gac Ma 1988: Khuc bi trang cua nguoi linh Hai quan hinh anh 6
 

Mẹ Đức sinh cả thảy được 3 người con trai và Trần Văn Phương là con trai đầu lòng. Từ lúc Phương sinh ra cho đến khi lớn và đi bộ đội thì nhà mẹ Đức nghèo lắm, nghèo đến mức cơm không có mà ăn.

Thế nhưng, có lẽ thấu hiểu cảnh nghèo của gia đình và là con trai trưởng trong nhà nên ngay từ nhỏ Phương đã bộc lộ là người con hiếu thảo, chăm ngoan và học giỏi. Ngoài những giờ đi học, khi về nhà Phương đều chăm chỉ giúp bố mẹ cáng đáng việc nhà. Hầu như mọi công việc nặng nhọc trong nhà đều đến tay Phương.

Học xong lớp 10, Trần Văn Phương nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc. Nhập ngũ, Phương được cử đi học lớp kế toán trinh sát pháo binh của Quân chủng Hải quân Việt Nam.

Tháng 1/1984 – khi mới chỉ 19 tuổi, Trần Văn Phương được bổ sung về làm Khẩu đội trưởng pháo thuộc Tiểu đoàn 562, Lữ đoàn 146, Vùng 4 Hải quân. Cuối năm 1985, Trần Văn Phương được cử đi học trường Quân chính Quân khu 7.

Tháng 1/1986, anh được bổ nhiệm chức vụ Trung đội trưởng và đề bạt quân hàm Thiếu úy. Tháng 3/1988 Thiếu úy Trần Văn Phương trở thành Phó chỉ huy trưởng đảo Gạc Ma (thuộc cụm đảo Sinh Tồn của quần đảo Trường Sa).

Trước khi lên đường ra Gạc Ma, Phương được cho nghỉ phép về thăm nhà. Về nhà nhưng trong túi chàng trai trẻ lại không có một đồng đi đường. May mắn, anh xin đi nhờ xe về đến cầu Giang rồi cuốc bộ về nhà.

“Thời đó gia đình nghèo lắm, toàn phải nhịn đói nên lúc nó về chẳng có gì ăn. Nó nói với tôi: Má ơi có khoai vằm (khoai lang, thái nhỏ, phơi nắng) thì nấu cho con ăn với. Tôi nghe mà cảm thấy tội, đi bộ đội được ăn cơm còn về nhà không có gì ăn đành xin mẹ ăn khoai”, mẹ Đức kể.

Có lẽ mẹ Đức cũng không ngờ rằng đây là lần cuối cùng Phương về thăm nhà và “bữa khoai vằm thay cơm” cũng là bữa ăn cuối cùng mẹ được ăn cùng đứa con trai đầu lòng…

Tham sat Gac Ma 1988: Khuc bi trang cua nguoi linh Hai quan hinh anh 7
 

Tháng 3/1988, sau một lần phải trở về do gặp bão, đêm 11/3, tàu HQ 604 lặng lẽ ra khơi. Điểm đến là đảo đá Gạc Ma. Đây là một rạn đá ngầm được bao quanh bởi vành đai san hô trắng. Khi nước triều xuống, hòn đảo như một vệt đá trải dài giữa biển.

Thiếu úy Trần Văn Phương lúc ấy được bổ nhiệm làm Phó Chỉ huy đá Gạc Ma đi trên tàu HQ 604 có nhiệm vụ cùng với Nguyễn Mậu Phong, Đậu Xuân Tư, Lê Hữu Thảo và Hoàng Văn Chúc chịu trách nhiệm đổ bộ từ tàu lên đảo chìm, cắm quốc kỳ và giữ cờ chủ quyền trên đá Gạc Ma.

Trong khi đó, ra đảo khi con chưa đầy 2 tuổi, cựu binh Gạc Ma Trần Thiên Phụng (Quảng Trị) vẫn nhớ tinh thần nhiệt huyết của ông và các đồng đội ngày ấy: “Tâm thế của tôi chỉ là tình yêu Tổ quốc, muốn bảo vệ và xây dựng biển đảo quê hương trong hòa bình – hữu nghị”.

Nhưng có những dự cảm không lành sau 30 năm, anh Phụng mới tiết lộ.

“Khi nhận lệnh ra Gạc Ma xây dựng đảo, tôi và người bạn thân Hoàng Ánh Đông được ở chung một đơn vị. Trên đường đi chúng tôi nói rất nhiều câu chuyện và như linh tính chẳng lành, anh Đông nói với tôi câu: “Phụng ơi, lỡ ngày mai chiến sự  xảy ra, nếu tau chết thì mi về báo gia đình tau là chết rồi. Trong trường hợp mi chết mà tau còn sống thì tau sẽ báo cho gia đình mi là mi chết rồi”.

Tối 13/3, trên chuyến tàu ra Gạc Ma, anh Hoàng Ánh Đông còn đem đàn ghita ra gảy và ngân nga bài hát: “Lạy Mẹ Con đi”. Lúc anh hát xong thì anh em trên tàu ai cũng nổi da gà”, cựu binh Trần Thiên Phụng nhớ lại.

Đúng như dự cảm không lành, mọi chuyện sau đó diễn ra theo hướng hoàn toàn khác so với kế hoạch ban đầu.

Tham sat Gac Ma 1988: Khuc bi trang cua nguoi linh Hai quan hinh anh 8
 Tương quan lực lượng (Nguồn: VTC Now)

Rạng sáng 13/3, tàu HQ 604 đến điểm thả neo cách đảo Gạc Ma chừng 100 mét. Tuy nhiên, các tàu Trung Quốc lập tức vây quanh và bắc loa yêu cầu bộ đội Việt Nam rời khỏi cụm đảo.

Rạng sáng 14/3, tổ bảo vệ cờ do Thiếu úy Trần Văn Phương đổ bộ lên đảo chìm để cắm cờ. Cùng lúc đó, nhóm công binh của Trung đoàn công binh 83 cũng vận chuyển vật liệu đưa xuống xuồng vào đảo Gạc Ma để làm nhà cao chân.

Tuy nhiên, Trung Quốc ngay lập tức đều động 4 xuồng máy chở khoảng hơn 50 lính vũ trang, đổ bộ lên đảo, dùng vũ lực nhổ cờ Việt Nam.

Khi quân Trung Quốc xông vào cướp cờ, Trần Văn Phương cùng các chiến sĩ thuộc quyền lao vào giành giật lại. Các chiến sĩ công binh hỗ trợ với cuốc, xẻng, gạch đá giao chiến để tránh gây cớ bùng nổ xung đột vũ trang.

Trong lúc giành giật, lính Trung Quốc nổ súng, bắn chết Thiếu úy Trần Văn Phương và 2 chiến sĩ Nguyễn Mậu Phong, Đậu Xuân Tư.

Sau đó, các tàu Trung Quốc nã đạn bắn chết và trọng thương các chiến sĩ trên đá Gạc Ma. Tàu HQ 604 tìm cách tiếp cận đảo cũng bị tàu Trung Quốc bắn chìm. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và chỉ huy trưởng cụm đảo Sinh Tồn Trần Đức Thông cùng một số thủy thủ hy sinh theo tàu.

Trước lúc hy sinh, Thiếu úy Trần Văn Phương hô vang: “Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo. Hãy để máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân Việt Nam anh hùng”.

Nói xong, anh gục xuống, tay vẫn giữa chặt lá cờ Tổ quốc thẫm đẫm máu của mình và đồng đội. Lúc hy sinh, Thiếu úy Phương vẫn chưa biết vợ mình đã mang thai hơn 1 tháng.

Nắm rõ mọi diễn biến ở Trường Sa trong thời điểm xảy ra trận chiến ở Gạc Ma 1988, Chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm – nguyên Giám đốc Học viện Hải quân Việt Nam, Tham mưu phó phụ trách tác chiến của Quân chủng Hải quân giận dữ nói: “Đã từ lâu, tôi khẳng định đây là cuộc thảm sát của hải quân Trung Quốc đối với một bộ phận cán bộ chiến sỹ của hải quân Việt Nam trên bãi cạn Gạc Ma. Hiện nay, người ta cũng công nhận điều đó là sự thật”.

Chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm khẳng định không nên dùng từ cuộc chiến, bởi hải quân Việt Nam chưa hề có kế hoạch đánh nhau với hải quân Trung Quốc.

“Chúng ta cũng không có kế hoạch tranh chấp ở Gạc Ma, ta chỉ bảo vệ chủ quyền”, Chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm khẳng định.

Tham sat Gac Ma 1988: Khuc bi trang cua nguoi linh Hai quan hinh anh 9
 

TS Trần Công Trục, Nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ vạch trần bộ mặt thật của Trung Quốc khi chiếm đảo Gạc Ma.

Ông Trục cho rằng, trước đó Trung Quốc đã đẩy mạnh nhiều hoạt động xuống vùng biển phía Nam. Bởi từ lâu, Trung Quốc đã âm mưu muốn chiếm những đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa để thực hiện “đường lưỡi bò” được vẽ ra từ những năm 1944-1945 dưới thời Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch.

Cuối năm 1986, giả danh các tàu đánh cá, tàu nghiên cứu, Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động xuống phía Nam, tăng số lần tàu chiến, tàu vận tải hoạt động trinh sát, thăm dò ở khu vực Trường Sa.

Đặc biệt, từ ngày 24 đến 30/12/1986, máy bay và tàu chiến của Trung Quốc tiến hành các hoạt động trinh sát từ đảo Song Tử Tây đến đảo Thuyền Chài, gây căng thẳng trên vùng biển của Việt Nam.

Đầu năm 1987, Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao và tăng cường đưa tàu chiến đi lại gần khu vực đảo Thuyền Chài. Họ đã đưa tàu Hải Dương 4 tiến hành trinh sát phần lớn các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, trong đó có cả những đảo ta đang chốt giữ; tăng cường số lượt tàu qua lại khu vực các đảo An Bang, Thuyền Chài, Trường Sa, Trường Sa Đông, Song Tử Tây, có lúc chỉ cách khoảng một hải lý để thị uy.

Tham sat Gac Ma 1988: Khuc bi trang cua nguoi linh Hai quan hinh anh 10
(Nguồn: VTC Now) 

Ngày 22/1/1988, Trung Quốc đưa 1 tàu hộ vệ tên lửa, 1 tàu tuần dương, 1 tàu dầu, 1 tàu đổ bộ và một số tàu chiến khác đến chiếm đóng bất hợp pháp bãi đá Chữ Thập. Tiếp đó, họ đã đưa một lực lượng lớn gồm 2 tàu hộ vệ tên lửa, 2 khu trục tên lửa, 4 tàu bảo đảm đậu xung quanh đảo, khống chế không cho tàu thuyền nước ta qua lại để bảo vệ đảo Chữ Thập.

Trước tình hình trên, Quân chủng Hải quân đã tăng cường lực lượng củng cố, giữ vững các đảo đang chốt giữ, tăng cường thế phòng thủ các đảo theo từng cụm, từng khu vực, bảo đảm khi có chiến sự xảy ra có thể chi viện hỗ trợ kịp thời giữ vững đảo.

“Thời điểm đó, ta cũng rất tích cực triển khai các lực lượng, nhưng do phương tiện, tàu thuyền của ta lúc đó vừa cũ, vừa thiếu, máy móc rất cũ và hư hỏng, chúng ta triển khai thực hiện nhiệm vụ của Tư lệnh hải quân không trọn vẹn. Ta chỉ đóng được 2 điểm đảo là Đá Tây và Tiên Nữ còn Chữ Thập và Châu Viên đã bị Trung Quốc chiếm trước.

Đến ngày 14/3/1988 ta triển khai kế hoạch đóng Gạc Ma, bởi vì sau khi Trung Quốc đã chiếm Chữ Thập, nếu chúng ta không nhanh chóng đóng ở Gạc Ma thì sẽ ảnh hưởng đến những đảo phía trong của cụm đảo phía Đông”, ông Trần Công Trục phân tích.

Là nhân chứng lịch sử, cựu binh Nguyễn Văn Thống (Quảng Bình) khẳng định, kể cả trong mơ anh vẫn luôn nhớ về ngày kinh hoàng 14/3/1988.

“Hình ảnh lính Trung Quốc xả súng sát hại 64 đồng đội của tôi mãi ăn sâu vào trí nhớ mà có lẽ đến chết vẫn chưa thể quên. Với tôi, hành động xả súng của quân Trung Quốc khiến 64 đồng đội nằm lại trong biển sâu là một cuộc thảm sát hèn hạ”, anh Thống giận dữ.

Tham sat Gac Ma 1988: Khuc bi trang cua nguoi linh Hai quan hinh anh 11
 

Đã hơn 30 trôi qua, nhưng từng sự kiện trên đảo Gạc Ma ngày đó là nỗi ám ảnh, là ký ức kinh hoàng mà cựu binh Nguyễn Văn Thống “muốn quên cũng không thể nào quên”.

Trầm tư, nhìn về phía xa, anh Thống kể: “Đúng 7h30 ngày 14/3/1988, tàu HQ. 604 bị quân Trung Quốc bắn chìm khiến nhiều người lính Hải quân của ta trên tàu hy sinh.

Chỉ sau vài phút, tàu chìm sâu, tôi cố gắng lấy hơi và bơi lên khỏi mặt nước. Sau đó tôi bám vào được một thanh gỗ, trôi nổi trên biển, cùng một số đồng đội. Một lúc sau chúng tôi phát hiện một chiếc thuyền nhỏ của Trung Quốc chạy trên biển nhưng hễ cứ thấy người lính nào của ta nổi lên là bắn.

Trong lúc trôi lênh đênh ở biển, tôi gặp được anh Đông (cựu binh Gạc Ma 1988 Lê Văn Đông), cũng là người Quảng Bình. Hai chúng tôi lênh đênh trên biển thì gặp tàu Trung Quốc, chúng đưa dây lôi chúng tôi lên tàu và bắt làm tù binh. Ngâm nước nhiều giờ đồng hồ, vết thương nặng và mất máu nhiều, khi lên tàu Trung Quốc, tôi bất tỉnh”.

Sau đó, Nguyễn Văn Thống và 8 đồng đội khác bị thương được đưa đến bệnh viện của Hạm đội Hải Nam để chăm sóc và băng bó vết thương. Kể từ đây, thay vì đấu tranh trên biển, các chiến sĩ phải đấu trí với kẻ thù trong nhà giam. Quân Trung Quốc tìm mọi cách tách các chiến sĩ ra, đưa về những phòng biệt giam để hỏi cung, khai thác thông tin.

Tham sat Gac Ma 1988: Khuc bi trang cua nguoi linh Hai quan hinh anh 12
 

Những năm tháng phải sống trong tù ngục ở Trung Quốc có lẽ là khoảng thời gian “sống mà như chết” của những người lính Việt Nam.

Nhiều ngày mê man bất tỉnh, vết thương của Nguyễn Văn Thống nhiễm trùng và bốc mùi hôi thối khiến lính Trung Quốc phải đưa anh vào khu vực cách ly.

“Tỉnh dậy, tôi được một bác sĩ đề nghị phải cắt bỏ tay chân thì mới giữ được mạng sống. Nghe xong tôi đáp “chết thì chết, đồng đội đã hy sinh còn thân xác này sống trong bộ dạng đó làm gì”. Bác sĩ Trung Quốc đổi thuốc điều trị và sát trùng vết thương cho tôi. 4 ngày sau, họ thông báo tôi không phải cắt bỏ tay chân”, cựu binh Gạc Ma kể.

Bị thương nặng nên mọi sinh hoạt của Nguyễn Văn Thống đều trông chờ vào đồng đội tận tình hỗ trợ. Nửa năm sau, ông mới bình phục hoàn toàn.

Trong suốt thời gian bị giam cầm, ông và các đồng đội thường xuyên bị lính Trung Quốc gây gổ và xảy ra xô xát. Họ đều cho rằng không sớm thì muộn cũng sẽ chết nơi đất khách quê người.

“Những ngày sống bị giam lỏng là chuỗi ngày buồn bã, từng diễn biến xảy ra, nỗi nhớ gia đình tôi đều gửi gắm vào những trang bút. Tiếc thay, sau nhiều năm chúng đã bị thất lạc”, ông kể.

Trong những năm đầu, lính Việt bị quân Trung Quốc mang đi hỏi cung để tìm hiểu về những người giữ chức vụ quan trọng trong quân đội Hải quân. Hàng trăm bài báo xuyên tạc bằng tiếng Việt “của những người phản quốc” được đưa vào phòng giam của các chiến sĩ.

“Nhận những bài báo ấy, chúng tôi không đọc, thậm chí là xé toạc hoặc đốt trước mặt cai ngục. Mình như cá nằm trên thớt rồi nên chúng tôi không còn sợ gì nữa. Có đồng đội còn đánh cai ngục, cãi nhau với thông dịch viên của Trung Quốc”, ông Thống kể lại.

Còn cựu binh Trần Thiên Phụng vẫn nhớ một phiên dịch viên luôn tuyên truyền rằng Gạc Ma là của Trung Quốc và quân đội Việt Nam đến xâm chiếm nên họ buộc phải bắn trả. Bởi vậy, cuộc chiến trong tù Trung Quốc không chỉ chống lại đòn roi mà còn là cuộc “đấu trí với cai ngục”.

Cuối năm 1990, đầu năm 1991 Hội chữ thập đỏ Quốc tế biết tin nên tìm đến nhà tù tại bán đảo Lôi Châu để thăm hỏi các chiến sĩ của ta đang bị giam giữ.

Lúc này những người lính Gạc Ma bị Trung Quốc bắt giam mới có thể liên lạc được với gia đình. Bức thư đầu tiên họ được gửi về gia đình ngắn ngủi và bị phía Trung Quốc kiểm soát nghiêm ngặt. Mỗi người chỉ được viết không quá 25 chữ trên tờ giấy chỉ vỏn vẹn bằng bàn tay.

Ngày 2/9/1991, lính Việt Nam mới được phía Trung Quốc trả tự do, rời nhà giam ở bán đảo Lôi Châu về Việt Nam đoàn tụ với gia đình qua cửa khẩu Hữu Nghị.

Sau hơn 1.200 ngày trong nhà tù Trung Quốc, những người lính Gạc Ma luôn đau đáu ước mong trở về quê hương. Chỉ biết về lệnh trao trả trước hai ngày, anh Thống nhớ lại cảm xúc khi đó: “Anh em mừng lắm. Đêm đó chúng tôi không ngủ, chỉ mong trời sáng để trở về”.

Tham sat Gac Ma 1988: Khuc bi trang cua nguoi linh Hai quan hinh anh 13
 

Ông Thống cũng như 8 đồng đội của mình không hề biết rằng ở quê nhà cha mẹ và người thân đã nhận giấy báo tử. Ngày bị bắt, đồng đội ngỡ Nguyễn Văn Thống đã hy sinh nên làm giấy báo tử gửi về gia đình. Sau đó, gia đình tổ chức ma chay và lập bàn thờ cho ông.

“Mãi sau này, khi được Hội Chữ thập đỏ Quốc tế đến thăm và giúp gửi thư về thì gia đình mới biết chúng tôi còn sống và đang bị bắt làm tù binh tại Trung Quốc”, anh Thống cho hay.

Nhớ lại ngày về nước, anh Thống khóe mắt rưng rưng nước: “Trở về trong bộ dạng là một người thương binh nặng tôi buồn lắm, không biết phải làm gì để báo hiếu với bố mẹ.

Ngày đó, đồng đội được về sum họp với gia đình sớm còn tôi phải ở lại điều trị ở bệnh viện dành cho lính Hải quân tại Hạ Long. Phải mất gần 3 tháng sau tôi mới được về với gia đình. Ngày về tôi được dân làng ra đón đông lắm. Nước mắt tôi tuôn trào khi được ôm chầm lấy bố mẹ”.

Tham sat Gac Ma 1988: Khuc bi trang cua nguoi linh Hai quan hinh anh 14
 

Cuộc thảm sát ở Gạc Ma không chỉ cướp đi sinh mạng hàng chục chiến sĩ, khiến nhiều người bị giam cầm, mà còn để lại bài học lớn đối với Việt Nam trong quá trình gìn giữ nguyên vẹn chủ quyền, lãnh thổ đất nước.

Chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm khẳng định chúng ta phải đầu từ xây dựng lực lượng hải quân và không quân đánh biển đủ mạnh, song song với việc phát triển kinh tế. Như vậy, chúng ta mới bảo vệ được quyền lợi, những lực lượng sản xuất vận tải trên biển.

Ông dẫn chứng Mỹ hiện có 6 hạm đội, 10 cụm tàu sân bay. Nga có 5 hạm đội và cũng có tàu sân bay. Trung Quốc đang phát triển các hạm đội và tàu sân bay như mua tàu của Ukraina rồi biến thành Liêu Ninh. Điều đó chứng tỏ khi muốn trở thành cường quốc biển, tiềm lực kinh tế của đất nước đến đâu phải phát triển đến đó.

Chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm nhấn mạnh yếu tố con người trong công cuộc giữ gìn chủ quyền biển đảo. Theo ông, ta phải làm cho nhân dân ven biển, đặc biệt là ngư dân có lòng yêu biển, yêu đảo, yêu quyền lợi của đất nước ở trên biển và phải quan tâm đến lực lượng này.

Đây là lực lượng luôn có trên biển và khi cần thiết chúng ta có thể động viên họ trở thành những chiến sỹ hải quân thực thụ. Hiện tại, Việt Nam có 3.000 hòn đảo gần và xa bờ, vì vậy, lực lượng này rất đông đảo và phải được quan tâm nhiều hơn.

Đã 31 năm nay, năm nào mẹ Đức cũng nhờ con cháu đọc lá thư cuối cùng của anh liệt sĩ Trần Văn Phương.

“Tình hình ngoài này hiện nay rất nghiêm trọng, Trung Quốc đưa nhiều tàu và quân đội đến để chiếm đảo… Tối nay hoặc tối mai con lại đi tiếp. Đối với con, nhiệm vụ lên đường đi bảo vệ Tổ quốc, dù có hy sinh con cũng không sợ…”, lá thư viết.

Nghe nhiều nên đến giờ không cần nhìn mẹ Đức có thể nhớ từng câu từng chữ, từng dấu chấm phẩy trong bức thứ. Lá thư ấy, mẹ cũng mang đi ép plastic và bảo quản như báu vật của cuộc đời.

Còn với mẹ Lê Thị Muộn (trú phường Hòa Cường Nam, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng), những ngày này hơn 30 năm trước, họng súng kẻ thù đã cướp đi tính mạng của đứa con trai tên Phan Văn Sự, mới 21 tuổi.

Nghe tin con trai hy sinh ở đảo Gạc Ma, cha anh đang điều trị bệnh phổi suy sụp và qua đời. Từ đó đến nay, cứ đến ngày này, mẹ lại làm cơm thắp hương cho chồng và con trai của mình.

“Chiến tranh thì phải có đau thương, mất mát. Nếu bây giờ cho tôi lựa chọn lại, tôi vẫn quyết định để nó theo đường binh nghiệp để bảo vệ non sông”, mẹ Muộn nói.

Video: Ký ức Gạc Ma trong vị thuyền trưởng kiên trung giữ đảo

Hơn 30 năm đã trôi qua, nỗi đau vẫn còn hiện hữu với những người ở lại. Dù vậy, khi nhớ về 64 cán bộ chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam đã nằm lại biển sâu để bảo vệ Gạc Ma, những người ở lại không chỉ nghĩ đến sự mất mát mà còn có niềm tự hào, kiêu hãnh. Nhiều người con của các liệt sĩ Gạc Ma đang đi tiếp con đường của cha, cống hiến sức mình cho sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ Quốc.

Trung úy Trần Thị Thủy, công tác tại Lữ đoàn 146, BTL vùng 4 Hải quân – con gái của anh hùng, liệt sĩ Trần Văn Phương đang tiếp nối truyền thống của gia đình.

Cô nhớ lại: “Lần đầu tôi được ra đến nơi cha và đồng đội ngã xuống, một cảm giác rất linh thiêng. Tôi nhìn thấy cha đứng từ phía Gạc Ma và giơ tay vẫy tôi. Lúc đó tôi òa khóc và gọi điện cho mẹ. Ngay trên tàu, trong chuyến đi ấy, tôi đã viết đơn tình nguyện vào quân ngũ, từ đó ước mơ của tôi đã thành hiện thực”. 

Thuyền trưởng tàu 633, hải đội 413, BTL vùng 4 Hải quân, Thượng úy Nguyễn Tiến Xuân là con trai của liệt sỹ Nguyễn Mậu Phong (Chỉ huy trưởng khung giữ đảo Gạc Ma), cũng đang làm vẻ vang truyền thống của cha anh.

Thượng úy Nguyễn Tiến Xuân tâm sự: “Bố hy sinh khi tôi mới được 3 tháng tuổi. Lớn lên bằng tình yêu của mẹ, nhưng câu chuyện về người cha anh hùng của mình như ngọn đèn sáng luôn soi rọi cho hai anh em trưởng thành. Ngay từ nhỏ, tôi đã ước mơ trở thành người chiến sĩ hải quân để tiếp nối con đường của bố”.

Câu chuyện về những người lính Gạc Ma anh hùng năm ấy cứ dài mãi, miên man theo những lời kể của các nhân vật.

Hơn 30 năm ngày các chiến sĩ hy sinh vì Tổ quốc, những người đồng đội luôn nhắc nhớ những máu xương các anh đã đã đổ xuống vì đất mẹ. Các anh hãy yên nghỉ, hình ảnh các anh sẽ không bao giờ bị lãng quên.

Ký ức Gạc Ma trong vị thuyền trưởng kiên trung giữ đảo

Ký ức Gạc Ma trong vị thuyền trưởng kiên trung giữ đảo
Trong thời khắc sinh tử, thuyền trưởng Vũ Huy Lễ hạ lệnh mở hết tốc lực, tàu HQ 505 phi thẳng lên đảo, trở thành pháo đài kiên cố bảo vệ đảo. 

Thảm sát ở Gạc Ma 1988: Cả thế giới cần biết đầy đủ, chính xác hành động xâm lược tàn bạo của Trung Quốc

Thảm sát ở Gạc Ma 1988: Cả thế giới cần biết đầy đủ, chính xác hành động xâm lược tàn bạo của Trung Quốc
Nhắc lại sự kiện Gạc Ma để cả thế giới biết đầy đủ, chính xác những hành động tàn bạo của Hải quân Trung Quốc, nhắc nhở thế hệ trẻ không quên nỗi đau, trân trọng hòa bình,…

 (Thiết kế: Phạm Hiển)

Advertisements

Gạc Ma ơi, mãi không quên các anh

TTO – ‘Gạc Ma ơi, trong nỗi đau nước Việt/Có linh hồn, xương thịt của Gạc Ma’… Dù thời gian, năm tháng trôi, những trái tim Việt vẫn không quên sự hi sinh anh dũng, kiên cường của những người lính hải quân Việt Nam.

Gạc Ma ơi, mãi không quên các anh - Ảnh 1.

Người dân tham quan khu trưng bày tại khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma – Ảnh: THÁI THỊNH

GẠC MA, ƠI GẠC MA

Những làn đạn 31 năm về trước
Vẫn tươi nguyên và máu chảy ròng ròng
Sách chưa ghi nhưng lòng người đã tạc
64 tên Người vào gấm vóc non sông
Gạc Ma ơi, trong nỗi đau nước Việt
Có linh hồn, xương thịt của Gạc Ma
Người ngã xuống để tươi xanh trỗi dậy
Tỏa bóng chở che cho Tổ quốc ta
Xin hòa mình vào mênh mông biển cả
Hát ru Người yên giấc ngủ ngàn thu
64 người nhắm mắt để triệu người choàng tỉnh
Trái tim đập dồn về phía Trường Sa
Đất nước ơi bao thân người đã ngã
Máu của người thăm thẳm tím biển Đông
Ta quỳ xuống nâng trên tay giọt biển
Nghe trên môi tiếng Việt rực hồng

Nghiêng mình tưởng nhớ các chiến sĩ Gạc Ma (14-3-1988 – 14-3-2019)
NGUYỄN PHAN QUẾ MA

Trận Ban Mê Thuột tháng 3-1975 khúc quanh lịch sử

Bài viết phản ánh góc nhìn của một sĩ quan VNCH

image016

Mặt trận Ban Mê Thuột ngày 10/3/1975

Trọng Đạt

Sau ngày ký Hiệp định Paris, miền Nam Việt Nam mạnh hơn miền Bắc. Tháng 11 năm 1972 TT Nixon vội cho chuyên chở tới VNCH gần 600 máy bay các loại gồm:  208 máy bay phản lực gồm chiến đấu và oanh tạc cơ  loại nhẹ và khoảng 360 trực thăng các loại, 23 phi cơ thám thính, ba tiểu đoàn pháo binh 175mm, hai tiểu đoàn thiết  giáp M-48 (Nixon No More Vietnams trang 170-171).

Trong khi ấy BV bị thiệt hại nặng và thảm bại trong trận muà hè đỏ lửa, tính tới tháng 9/1972 có vào khoảng từ 70 ngàn cho tới 100 ngàn cán binh CS bị giết, khoảng 700 chiến xa bị phá hủy (Nguyễn đức Phương, Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập trang 587), ngoài ra trận oanh tạc dữ dội Giáng sinh 1972 bằng B-52 đã gây thiệt hại rất nặng cho hạ tầng cơ sở BV như kho hàng, đường xe lửa, nhà máy điện, phi trường….

     Mặc dù mạnh hơn miền Bắc rất nhiều nhưng miền Nam không được phép đánh ra Bắc mà chỉ được ở yên trong thế tự vệ chờ địch tới, điều này ai cũng biết cả. Khoảng gần một năm sau tình hình bắt đầu thay đổi, cán cân quân sự  nghiêng về phía BV. Ngay sau khi ký Hiệp định Paris, CSBV vẫn tiếp tục vi phạm Hiệp định, chiến tranh vẫn tiếp diễn, trong khi miền Nam  VN bị cắt quân viện dần dần , miền Bắc vẫn được CS quốc tế tiếp viện dồi dào, về chi tiết tôi sẽ nói sau. Cuộc chiến tranh giữa hai miền là một cuộc chiến viện trợ  tiếp liệu, cả hai bên đều không tự sản xuất được vũ khí đạn dược mà phải tùy thuộc vào quân viện bên ngoài, bên nào nhiều tiếp liệu, vũ khí đạn dược thì bên đó thắng.

     Tình hình chung hai bên

phuthieu_tiec.jpg

     Năm 1973 có thể chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn từ Hiệp Định Ba Lê 28/1 cho tới tháng 10/1973 và giai đoạn bạo lực cách mạng sau tháng 10/1973.

    Từ sau ngày ký Hiệp Định Ba Lê đến tháng 10/1973 tình hình tương đối yên tĩnh. Tháng 6/1973 Quốc hội Mỹ biểu quyết cắt ngân khoản cho tất cả các hoạt động quân sự Mỹ tại Đông Dương Việt, Miên, Lào. Ngày 1/7/1973 Nixon ký thành đạo luật áp dụng từ giữa tháng 8/1973 cấm hoạt động quân sự trên toàn cõi Đông Dương. Tháng 10/1973 Quốc Hội ra đạo luật hạn chế quyền Tổng Thống về chiến tranh (War Powers Act), Tổng Thống phải tham khảo ý kiến Quốc Hội trước khi gửi quân đi tham chiến.

    Thấy thời cơ thuận lợi đã tới, Bắc Việt bèn thay đổi đường lối đấu tranh từ chính trị sang quân sự bạo lực. Đại Hội 21 của Bộ Chính Trị tại Hà Nội trong tháng 10 quyết định đấu tranh quân sự, trước hết tiến đánh các đồn bót lẻ tẻ, phát triển tuyến đường xa lộ Đông Trường Sơn

   Theo Henry Kissinger (Years of Renewal trang 478) sau khi ký Hiệp định Paris, BV bắt đầu cho xây hệ thống đường xâm nhập tiếp liệu chằng chịt dài tổng cộng 20 ngàn km từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây, rộng 8m, hàng ngàn km ông dẫn dầu cung cấp cho hàng chục ngàn xe vận tải.

     Sau Hiệp định khoảng gần một năm, Quốc hội Mỹ cắt giảm quân viện xương tủy VNCH mỗi năm 50%, từ 2,1 tỷ tài khóa  1973 xuống còn một tỷ tài khóa 1974 và xuống còn 700 triệu tài khoá 1975, con số này thực ra chỉ bằng 500 triệu vì dầu thô lên giá, tiền mất giá (theo Henry Kissinger, Years of Renewal trang 471). Dưới thời TT Nixon, chính phủ đã đề nghị Quốc hội cấp 1 tỷ 4 viện trợ quân sự cho miền nam VN năm 1975, Ủy ban quốc phòng Thượng viện do Nghị sĩ John Stennis làm chủ tịch cắt bớt còn 1 tỷ, nay dưới thời TT Ford Ủy ban chuẩn chi Thượng viện do Nghị sĩ John McClellan làm chủ tịch cắt 300 triệu còn 700 triệu (Years of Renewal trang 472).

     Quốc hội Mỹ cắt giảm quân viện khiến cho VNCH suy yếu rõ rệt: 35% xe tăng, 50% thiết giáp, máy bay thiếu cơ phận thay thế phải nằm ụ, vì bị cúp nhiên liệu, khả năng lưu động vận chuyển của quân đội không còn (Nixon, No More Vietnams tr. 187). Từ giữa năm 1974 hỏa lực giảm từ 60 tới 70% , tháng  3 -1975 đạn dược chỉ còn đủ xử dụng trong một tháng, giữa tháng 4-1975 chỉ còn đủ cho xài khoảng 10 ngày (Cao Văn Viên Những ngày cuối của VNCH trang 91, 92). Hơn hai ngàn máy bay đủ loại nay phần vì thiếu cơ phận thay thế, và vì không có săng để cất cánh nên đã nằm ụ nhiều, sự sụp đổ của VNCH đã gần kề.

     Theo bản tin của BBC.com ngày 10/5/2006 một buổi hội thảo qui mô tổng kết cuộc chiến tranh Việt Nam đã được tổ chức tại Sài Gòn trong hai ngày 14 và 15/4/2006. Trong số các bài đọc ở hội thảo, tác giả Trần Tiến Hoạt và Lê Quang Lạng thuộc Viện Lịch sử Quân sự Cộng sản Việt Nam có bài tham luận về nguồn chi viện của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa dành cho miền Bắc trong cuộc chiến. Giai đoạn 1969-1972 BV được Nga, Trung Cộng viện trợ 684,666 tấn vũ khí trang bị kỹ thuật. Giai đoạn 1972-1975 họ nhận được 649,246 tấn hàng vũ khí. Như vậy số lượng hàng viện trợ của hai giai đoạn tương đương nhau.

      Theo Kissinger (Years of Renewal trang 481) Hà nội đã xin được viện trợ của Sô viết tăng gấp bội. Thàng 12- 1974, một viên chức cao cấp Nga viếng Hà Nội lần đầu tiên kể từ sau ngày ký Hiệp định Paris. Tổng tham mưu trưởng Nga Viktor Kulikov tới tham dự họp chiến lược với Bộ chính trị BV, nay họ bãi bỏ hạn chế trước đây. Sô Viết đã chở vũ khí viện trợ quân sự cho Hà Nội tăng gấp 4 lần trong những tháng sau đó. Nga khuyến khích BV gây hấn

     Đánh hơi thấy Mỹ quẳng miếng xương Đông Dương, CS quốc tế và CSVN nhanh tay ra vồ ngay lấy. Cuối tháng 10/1974 Bộ Chính Trị Hà Nội quyết định kế hoạch tác chiến năm 1975, tranh thủ bất ngờ, tấn công lớn và rộng khắp, tạo điều kiện để năm 1976 tiến hành Tổng công kích. Trong giai đoạn 1969-1972 sự vận chuyển súng đạn của CS vào Nam gặp nhiều khó khăn  vì bị không quân Việt-Mỹ ném bom, bắn phá nhưng kể từ sau ngày ký Hiệp Định Paris 1/1973, BV đã dùng 16 ngàn xe vận tải chở súng đạn qua xa lộ Đông trường Sơn hay đường mòn Hồ Chí Minh một cách tự do thoải mái nên  giai đoạn 1973-1975  Hà Nội  đã đem được nhiều vũ khí đạn dược vào Nam gấp mấy lần giai đoạn trước ( 1969-1972)

     Trong khi ấy Tổng Thống Thiệu không có một nhận định nào rõ ràng về lực lượng cũng như kế hoạch sắp tới của CS. Ngày 9/12/1974 , khoảng một tuần trước khi BV tấn công Phước Long, tại dinh Độc Lập trong một phiên họp cao cấp quân sự gồm Hội đồng Tướng lãnh và các vị Tư lệnh Quân khu, ông Thiệu cho biết trong năm 1975 BV có thể đánh với qui mô lớn nhưng không bằng năm 1968 và 1972,  địch chưa có đủ khả năng đánh vào các thị xã lớn, dù đánh cũng không giữ được! BV chỉ đánh các thị xã nhỏ như Phước Long, Gia Nghĩa. Về điểm này Frank Snepp,  trong Decent Interval, Tướng BV Văn Tiến Dũng và ông Cao Văn Viên đã ghi nhận gần giống nhau như vậy, ông Thiệu lạc quan cho rằng BV chưa phục hồi sau trận mùa hè đỏ lửa 1973.

     Từ tháng 10 năm 1974 Bộ Tổng Tham Mưu Bắc Việt đã trình bày kế hoạch tác chiến lên Bộ Chính Trị và Quân uỷ Trung ương, họ đã chọn chiến trường Cao Nguyên làm chủ yếu, Văn Tiến Dũng đã ghi nhận trong hồi ký.

     “Tháng 10 năm 1974, trời cuối thu bắt đầu lạnh, gợi cho các cán bộ quân sự chúng tôi nhớ đến mùa chiến dịch sắp đến. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp nghe Bộ Tổng tham mưu trình bày kế hoạch tác chiến chiến lược. . . . …

      .    .    .   .   .                 .    .    .     . 

    Hội nghị nhất trí thông qua phương án của Bộ Tổng tham mưu, chọn chiến trường Tây nguyên làm hướng chiến trường chủ yếu trong cuộc tổng tiến công lớn và rộng khắp năm 1975

    (Đại thắng mùa xuân trang 24)

      BV  cho rằng TT Thiệu đã bố trí lực lượng mạnh ở hai đầu, tại Quân khu 1 và 3 thì bố trí nhiều đơn vị chủ lực, nhiều chiến xa, đại bác và  máy bay chiến đấu, còn tại Quân khu II ta chỉ để 2 Sư đoàn 22 BB và 23 BB. Quân khu II rộng nhất toàn quốc gồm 12 tỉnh, VNCH phải trải quân giữ đất nhiều nên khả năng phòng thủ yếu. Bộ chính trị CSBV đã đồng ý kế hoạch nêu trên và chọn Tây nguyên để làm hướng chiến trường chủ yếu trong cuộc tiến công năm 1975.  Hà Nội đã chọn chiến trường Tây Nguyên (Quân khu II) làm chủ yếu vì tại đây lực lượng VNCH yếu hơn ba quân khu I, II, IV.

     Đại tá Phạm Bá Hoa nói hồi ông học tại trường Đại Học Quân Sự năm 1960 có được đọc một tài liệu nói “Trong chiến tranh Việt Nam, ai chiếm được cao nguyên miền Trung thì người đó sẽ nắm phần chiến thắng”, Cộng Sản cũng nói ai làm chủ Tây Nguyên thì làm chủ chiến trường. Bắc Việt chủ trương tấn công Quân khu II trước phần vì VNCH phòng thủ yếu tại đây vả nó là vị trí yết hầu. Một phần vì ông Thiệu không chủ trương giữ Quân khu II, một vùng cao nguyên cẵn cỗi mà trong thâm tâm đã có ý tưởng bỏ vùng núi rừng miền Trung rút quân về vùng đất mầu mỡ Quân khu III và IV, trên thực tế  lãnh thổ quá rộng, không đủ lực lượng trừ bị để tăng cường

      Sau khi lựa chọn chiến trường Tây Nguyên, Bắc Việt lựa chọn địa điểm tấn công, tại buổi họp của Quân Uỷ Trung Ương Bắc Việt ngày 9/11/1974  Lê Đức Thọ tay trùm CSBV tham dự để nâng cao quyết tâm chiếm cho được Ban Mê Thuột, Thọ nói

   “Phải đăt vấn đề dứt khoát là giải phóng Buôn Ma Thuột. Ta có gần 5 sư đoàn ở Tây Nguyên mà không đánh được Buôn Ma Thuột là thế nào?”

(Sách đã dẫn Trang 31)

      Bắc Việt đã chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột từ bốn tháng trước ngày tấn công trong khi ta chưa có tin tức tình báo rõ rệt. Chiến dịch Tây nguyên được mang mật danh 275.

     Ngày 13/12/1974 Bắc Việt đưa gần ba Sư đoàn tấn công Phước Long, đến ngày 7/1 tỉnh này hoàn toàn lọt vào tay địch. Tổng số 4,500 binh sĩ, sĩ quan chỉ còn 850 người sống sót. Tỉnh trưởng Phươc Long. Quận trưởng Phước Bình mất tích, 3,000 trong số 30 ngàn  dân trốn thoát, một số viên chức hành chánh bị CS hành quyết, thất bại tại Phước Long là đương nhiên vì một Tiểu đoàn bộ binh và 5 Tiểu đoàn địa phương quân không thể chống lại 3 Sư đoàn CS.

     Chính phủ VNCH không tăng viện cho Phước Long vì không đủ khả năng thực hiện tiếp tế, cứu viện bằng trực thăng vận từ Biên Hoà. Nói về mặt kinh tế chính trị Phước Long kém quan trọng hơn Tây Ninh, Pleiku, Huế… Hà Nội cho đánh Phước Long để thăm dò Mỹ, khi thấy Mỹ chỉ phản đối xuông thì họ làm tới.

      Sau trận Phước Long TT Thiệu biết chắc Cộng Sản sẽ đánh lớn tại Cao Nguyên đầu năm 1975 nhưng chưa biết chắc chỗ nào vì địch nghi binh tối đa. Phía VNCH không đoán được ý định của họ, theo Tướng Hoàng Lạc trước khi Văn Tiến Dũng vào Nam, Giáp đã dặn dò Dũng phải nghi binh tối đa để đánh lạc hướng Nguỵ.

     Tình hình chính trị quân sự VNCH năm 1975 rất là bi đát. Năm 1967 quân phí tại Việt Nam là 20 tỷ Mỹ Kim, năm 1968 lên 26 tỷ, năm 1969 lên  29 tỷ, hai năm 1970, 1971 rút xuống còn 12 tỷ mỗi năm vì Mỹ đang rút quân. Khi nửa triệu quân đồng minh đã rút đi, VNCH phải một mình gánh vác tất cả chiến trường với tiền viện trợ bị cắt giảm từ cuối 1973 mỗi năm 50%.

     Việc cắt giảm đưa tới tình trạng thê thảm, theo tiết lộ của cựu Đại tướng Cao Văn Viên, trong cuốn Những Ngày Cuối Của VNCH (NNCCVNCH)   trang 86, 87. Hậu quả là năm 1974 không quân đã phải cho hơn 200 phi cơ ngưng bay vì thiếu nhiên liệu, giảm số giờ bay yểm trợ, huấn luyện 50%, thám thính giảm 58%, phi vụ trực thăng giảm 70%.  Hải quân cũng cắt giảm hoạt động 50%, 600 giang thuyền các loại nằm ụ .

      Đạn dược chỉ còn đủ đánh tới tháng 4 /1975, năm 1972 ta xử dụng trên 69 ngàn tấn đạn một tháng, từ tháng 7/1974 đến tháng 3/1975 ta chỉ còn xử dụng khoảng 19 ngàn tấn một tháng hoả lực giảm 70%. Tháng 2/1975 chỉ còn đủ đạn tất cả các loại súng cho 30  ngày, tháng 4/1975 chỉ còn đủ đạn đánh trong khoảng hai tuần (Sách đã dẫn trang 92)

     Theo sử gia Bill Laurie, cấp số đạn súng lớn như đại bác 105 ly, 155 ly, 175 ly.. năm 1975 đã bị cắt giảm trên 90% . Theo Tướng Cao Văn Viên vì thiếu cơ phận thay thế, xe tăng, giang thuyền, máy bay …nằm  ụ chờ rỉ sét. Thiếu thuốc men, số tử vong tăng cao, tinh thần xuống thấp.

     Không quân VNCH năm 1975 có  2075 máy bay các  loại, đứng thứ tư trên thế giới về số lượng. Binh chủng Thiết giáp có 2,200 chiến xa và thiết xa các loại. Pháo binh có khoảng 1,500 khẩu đại bác . Hải quân có 1,600 tầu chiến và giang thuyền các loại. Đây chỉ là con số lý thuyết, trên thực tế nhiều máy bay, xe tăng.. hư hỏng thiếu cơ phận thay thế phải nằm ụ.  Lục quân VNCH có hơn một triệu quân trong đó 40% là chủ lực quân vào khoảng 400 ngàn người gồm những lực lượng tác chiến và yểm trợ,  50% là ĐPQ , Không quân, Hải quân, Cảnh sát. Quân đội VNCH được tổ chức theo lối Mỹ, một người lính tác chiến có năm người yểm trợ như hành chánh tài chánh, quân y, quân trang, quân dụng. Trên thực tế lực lượng chiến đấu chỉ vào khoảng từ 170 cho tới 180 ngàn người. Lính nhà nghề chỉ có 13 Sư đoàn chủ lực và 17 Liên đoàn Biệt động quân tương đương khoảng hơn 2 Sư đoàn (trên thực tế một Liên đoàn có hơn 1000 người). Tổng cộng ta có vào khoảng 15 Sư đoàn chính qui (nếu kể cả BĐQ). Lực lượng được bố trí toàn quốc như sau.

     Quân khu Một: 5 Sư đoàn (1, 2, 3, Nhẩy Dù, TQLC), 4 Liên đoàn BĐQ.

     Quân khu Hai: 2 Sư đoàn (22, 23), 7 Liên đoàn BĐQ

     Quân khu Ba: 3 Sư đoàn (5, 18, 25), 4 Liên đoàn BĐQ

     Quân khu Bốn: 3 Sư đoàn (7, 9, 21)

      Địa phương quân VNCH năm 1975 có khoảng 325 ngàn người,

     Tổng cộng VNCH có 15 Sư đoàn chủ lực (nếu kể cả BĐQ) tức 45 trung đoàn, đem chia cho 44 tỉnh toàn quốc thì trung bình mỗi tỉnh chỉ có một Trung đoàn chính qui bảo vệ trong khi BV có khả năng tập trung hằng chục Trung đoàn để tấn công một địa điểm vì họ không phải trải quân giữ đất như Miền Nam. Theo ông Cao Văn Viên trên thực tế quân số VNCH thiếu hụt do nạn đào ngũ, mỗi năm mất khoảng một phần tư (1/4) quân số, ngoài ra ta cũng phải kể nạn lính ma lính kiểng. (NNCVNCH trang 79)

      Lực lương chính qui Bắc Việt năm 1975 gồm 4 Quân đoàn và Đoàn 232 (tương đương một Quân đoàn). Mỗi quân đoàn gồm 3 sư đoàn và các lữ đoàn phòng không, pháo binh, thiết giáp, công binh.. Tổng cộng họ có 15 sư đoàn bộ binh, khoảng 6 trung đoàn đặc công và hơn 10 trung đoàn độc lập. Toàn bộ lực lượng tương đương với 20 Sư  đoàn bộ binh chưa kể các đơn vụi cơ giới, yểm trợ

      So về lực lượng chính qui, nhân lực thì quân đội BV đã nhiều hơn quân đội VNCH , họ không phải phòng thủ, mỗi khi tấn công họ dồn lại tạo một mũi dùi mạnh. Trong khi đó Quân đội chủ lực VNCH đã ít hơn lại phải trải rộng từ Cà Mâu ra Bến Hải để giữ đất, như đã nói trên ta có 13 sư đoàn, kể cả 15 liên đoàn Biệt động quân thì có tương đương 15 sư đoàn hay 45 trung đoàn, miền nam có 44 tỉnh, trung bình một tỉnh chỉ có một trung đoàn bảo vệ. Theo hồi ký Văn tiến Dũng tại Cao nguyên về bộ binh BV đông hơn VNCH 5 lần, pháo binh gấp 2 VNCH (sách đã dẫn trang 49) vì họ tập trung

      Khoảng 80% chủ lực quân CSBV đã có mặt tại miền Nam đầu năm 1975, họ để lại Quân đoàn 1 (gồm 3 Sư đoàn) tại miền Bắc làm lực lượng tổng trừ bị. Sau khi Quân khu II và I của VNCH sụp đổ, Bắc Việt đưa hết cả 3 Sư đoàn trừ bị vào Nam. Trong giai đoạn 1973-1975 Hà Nội cho chuyên chở vũ khí vào Nam thoải mái vì không bị oanh kích nên số lượng vũ khí đạn dược năm 1975 của họ tại miền Nam nhiều gấp hai hoặc gấp ba lần năm 1972.

      Pháo binh và Thiết giáp BV đưa vào Nam được ước lượng không chính xác khoảng hơn 500 khẩu trọng pháo và hơn 500 xe tăng.

image006.gif

       So sánh với tình hình năm 1972 ta thấy năm 1975 quả là bi đát, năm 1975 Quân khu II gồm 12 tỉnh, diện tích rộng lớn nhất, bằng nửa Việt Nam Cộng Hoà mà chỉ có 2 Sư đoàn bộ binh (22 và 23) và 7 Liên đoàn Biệt động quân bảo vệ, toàn bộ lực lượng chưa tới ba Sư đoàn là nơi yếu thế nhất đã được BV chiếu cố tấn công. Quân khu II dân số trên 3 triệu gồm các tỉnh Cao nguyên Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột, Lâm Đồng, Quảng Đức, Phú Bổn, Tuyên Đức, phía Đông là các tỉnh duyên hải gồm Bình định, Khánh Hoà, Bình Thuận… có 3 thành phố chính là Nha Trang, Qui Nhơn, Tuy Hòa, dân số tại đây thưa thớt hơn các quân khu khác. Sư đoàn 23 BB bảo vệ Cao nguyên, sư đoàn 22BB chịu trách nhiệm các tỉnh duyên hải

     Diễn tiến trận đánh

image023.jpg

     Tư Lệnh Quân đoàn II Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh phó Quân đoàn Chuẩn Tướng Trần Văn Cẩm, Tư Lệnh phó Quân khu Chuẩn Tướng Lê Văn Thân, Tham mưu trưởng Đại tá Lê Khắc Lý. Tại Ban Mê Thuột chủ lực quân của VNCH gồm 2 Tiểu đoàn (1, 3) thuộc Trung đoàn 53 đóng tại phi trường Phụng Dực (có nhân chứng nói  chỉ có một tiểu đoàn) và ba Tiểu đoàn Địa phương quân. Theo Bút ký của Nguyễn Định, Ban Mê Thuột như một thành phố bỏ hoang, các đơn vị chủ lực đã được đưa tăng cường cho Pleiku và các nơi khác. Cũng theo ông này lực lượng của ta tại đây kể cả Nghĩa quân, Cán bộ xây dựng nông thôn, Nhân dân tự vệ cũng không quá 2,000 người. Con số Nguyễn Định đưa ra có lẽ quá thấp vì quân số tại các tỉnh nhỏ như Phước Long, Bình Long đã vào khoảng trên dưới 3,000 người, lực lượng VNCH tại Ban Mê Thuột chắc hẳn không dưới 3,000 hoặc 4,000  người vì đó là một tỉnh lớn.

          Lực Lượng CS tại Quân khu II theo tài liệu Bắc Việt như sau:

         “Lực lượng ta tham gia chiến dịch gồm: 5 sư đoàn (10, 320A, 316, 968, 3) và 4 trung đoàn bộ binh (25, 271, 95A, 95B), trung đoàn đặc công (14, 27), trung đoàn xe tăng- thiết giáp 273, 2 trung đoàn pháo binh (40, 675), 3 trung đoàn phòng không (232, 234, 593), 2 trung đoàn công binh (7, 575), trung đoàn thông tin 29, 6 tiểu đoàn vận tải, nhiều đơn vị bảo đảm của Bộ và  lực lượng vũ trang địa phương các tỉnh diễn ra chiến dịch. Riêng lực lượng Mặt trận Tây Nguyên tham gia chiến dịch gồm 36 tiểu đoàn bộ binh, 5 tiểu đoàn đặc công, 13 tiểu đoàn pháo mặt đất, 18 tiểu đoàn phòng không, 3 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp với tổng số quân 44.900 người.

        Về vũ khí trang bị: có 88 pháo lớn, 1.561 súng chống tăng và hàng vạn súng bộ binh, 6 cơ cấu bắn B-72, 343 súng phòng không, 32 xe tăng, 25 xe bọc thép, 679 xe ô tô các loại. Ngoài ra còn có 21.800 cán bộ chiến sĩ làm lực lượng dự bị ở phía sau và hoạt động ở các hướng khác.

        Bộ tư lệnh chiến dịch gồm: Hoàng Minh Thảo (Tư lệnh), Đặng Vũ Hiệp (Chính uỷ).

         (Trich trong: Dương Đình Lập, Trần Minh Cao, Cuộc Tổng Tiến Công Và Nổi Dậy Mùa Xuân 1975, trang 90, 91.)

      Như thế lực lượng CS tại Cao nguyên gồm 5 Sư đoàn BB và 4 Trung đoàn độc lập tương đương với 6 Sư đoàn, gấp hơn hai lần chủ lực quân VNCH, tổng số nhân lực kể cả lực lượng dự bị là 66,700 người. Bắc Việt đã được Nga, Tầu viện trợ cho nhiều vũ khí tối tân, ngoài ra họ còn được trang bị nhiều hoả tiễn tầm nhiệt hiện đại. Theo nhận định của phía CS, họ  tập trung lực lượng tại khu vực chủ yếu nên tại đây bộ binh BV đông hơn VNCH gấp 5 lần, xe tăng coi như ngang nhau, pháo binh gấp 2. (Hồi ký ĐTMX Văn tiến Dũng trang 49)

      Ngày 5/2/1975 Văn Tiến Dũng từ phi trường Gia Lâm đáp máy bay xuống  Đồng Hới rồi vào Quảng Trị, tới sông  Bến Hải, y đi xuồng máy tới Bộ chỉ huy chiến dịch tại phía Tây Gio Linh để chỉ đạo toàn bộ chiến dịch.

      Ban Mê Thuột là tỉnh lỵ của Darlac, dân số 250,000 người gồm Kinh, thượng, Tầu và các chủ đồn điền Pháp và Ý, (cũng có tài liệu nói dân số 150,000 người), thị xã gồm 60,000 người. Tỉnh có nhiều đồn điền cà phê, cao su, nhiều thắng cảnh đẹp, nhiều gỗ quí, dân chúng đa số sống bằng nghề trồng trọt, làm đồn điền. Ban Mê Thuột có vị trí chiến lược quan trọng, phía bắc nối liền Pleiku, Kontum, Phú Bổn.. phía Nam đi Quảng Đức, Phước Long, phía Đông nối liền Nha Trang.

     Trước khi mặt trận diễn ra, theo Nguyễn Trọng Luật, tỉnh trưởng Ban Mê Thuột, BV đưa những tin tức giả qua điện thoại để nghi binh,  kế đó tấn công bất ngờ, đông đảo, nghi binh tối đa, họ vờ đánh Pleiku để nhử quân đội VNCH lên giải toả rồi cắt các đường dẫn đến Ban Mê Thuột, chiếm phi trường sau cùng ba mặt giáp công. Các Trung đoàn, Sư đoàn BV cắt các đường giao thông 19, 14, 21 nghi binh thu hút quân đội VNCH về phía Bắc (tức Pleiku) sau đó ồ ạt tấn công thị xã Ban Mê Thuột.

     Theo hồi ký Văn tiến Dũng BV không đóng quân sẵn ở vị trí xuất phát tấn công mà tập kết từ xa vận động đến, chuyển quân bằng xe molotova, đây là lần đầu tiên BV đánh trận bằng xe hơi. BV bỏ qua vòng ngoài bất ngờ thọc sâu vào thị xã phối hợp với lực lượng đặc công đã có sẵn trong thị xã, rồi từ đó đánh ra ngoài, họ không đánh theo lối bóc vỏ. (Sách đã dẫn trang 69)

      Ngày 1/3/1975 Sư đoàn 968 Bắc Việt chiếm đồn bót gần Thanh An, pháo kích phi trường Cù Hanh, Pleiku. Ngày 3/3 Trung đoàn 95 và Sư đoàn 3 CS ngăn chận quốc lộ 19 tại An Khê. Ngày 5/3 Trung đoàn 25 CS cắt Quốc Lộ 21 giữa Phước An và Khánh Dương, cắt đường Nha Trang-Ban Mê Thuột. Tướng Phú cho tăng cường Trung đoàn 45 tại Thanh An và cho 2 Tiểu đoàn BĐQ và thiết giáp giải toả quốc lộ 19. Ngày 7/3 Sư đoàn 320 CS chiếm Thuần Mẫn, ngày 9/3 Sư đoàn 10 CSBV tấn công Đức Lập, Quảng Đức, căn cứ núi lửa bị tràn ngập.

Buc-dien-mat-va-huyet-thu-xin-vao-chien-truong-mien-Nam-5.jpg

      BV cô lập Ban Mê Thuột cả Bắc và Nam mà Tướng Phú vẫn cho là địch sẽ đánh Pleiku, ông lại nghĩ chúng nghi binh vờ đánh Ban Mê Thuột. Tuy nhiên theo đề nghị của Bộ tư lệnh Quân đoàn ông đã cho trực thăng vận 2 tiểu đoàn BĐQ thuộc Liên đoàn 21 từ Kontum đến Buôn Hô cách 30 km ở phía Bắc Ban Mê Thuột. Sự sai lầm của Tướng Phú đã được CS khai thác triệt để, họ nghi binh tối đa để đánh lừa ông và gọi đây là cuộc chiến tranh cân não.

      Ngày 9/3 Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột đã triệu phiên họp khẩn cấp tại toà hành chánh và báo động đỏ, cắm trại 100%. Hai giờ sáng ngày 10/3 đặc công Việt cộng trong thị xã đột nhập phi trường phá huỷ một máy bay, 3 Sư đoàn CS 316, 10, 320 với ba mũi tấn công thị xã phối hợp với đặc công đã nằm bên trong. CS pháo kích ầm ầm như phong ba bão táp vào các vị trí của quân trú phòng rồi đưa xe tăng, xe kéo pháo, phòng không, quân xa.. ồ ạt tiến về thị xã từ xa, lần đầu tiên BV đánh trận bằng xe hơi.

      Trận bão lửa đã được Nguyễn Định ghi nhận .

      “…Tiếng rít của hoả tiễn và đạn đạo 130 ly khủng khiếp như xé cả không gian mà người ta thực sự chưa từng nghe thấy một lần trong đời. Những tiếng nổ cứ liên tục như những dây pháo đại không ngừng, làm vỡ tung hết các cửa kiếng và rung chuyển cả thành phố như cảnh tượng động đất được thấy trên màn bạc. . . . .  . . .

   .  .  .  . Thành phố đã như con tầu chao nghiêng trong bão tố.”

             (Ban Mê Thuột Ngày Đầu Cuộc Chiến, bút ký.)

     Theo hồi ký Văn Tiến Dũng (trang 69), trong một đêm BV đã đưa được một lực lượng đông đảo 12 Trung đoàn gồm bộ binh và các đơn vị xe tăng, pháo binh, phòng không.. khoảng ba Sư đoàn vào trận địa đúng thời gian. Họ bỏ qua các đồn bót dọc đường, tiến về thị xã, bắc phà cho cả đoàn xe vượt sông Serepok, các mũi tiến công đã tiến vào đúng thời gian. Địch chia làm 3 mũi tấn công, mũi thứ nhất đánh trại Mai Hắc Đế, cánh thứ hai đánh phi trường Phụng Dực (có 2 Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 53) tại đây 4 xe tăng bị bắn cháy, 200 tên địch bị hạ, cánh thứ ba đánh phi trường L19 để tiến vào thị xã tấn công tiểu khu, khi vào thị xã 10 xe tăng đã bị ĐPQ bắn cháy.

      Vào buổi chiều Cộng quân chiếm được một nửa thành phố, ĐPQ, nghĩa quân, cảnh sát vẫn chiến đấu anh dũng tại nhiều nơi. Tướng Phú cho trực thăng vận Liên đoàn 21 BĐQ xuống Buôn Hô từ đó hành quân vào thị xã tiến chiếm Tiểu khu Ban Mê Thuột nhưng Liên đoàn không đạt được mục tiêu vì sự điều quân vị kỷ của Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, Tư lệnh Sư đoàn 23 BB. Nhiều tài liệu và nhân chứng cho thấy ông điều động Liên đoàn 21 đưa gia đình, vợ con ông về Trung tâm huấn luyện cách Ban Mê Thuột vài cây số để ông đưa trực thăng xuống bốc đi.

     Cảnh hoang tàn ghê rợn của thành phố đã được Nguyễn Định mô tả như sau.

      “Mười sáu giờ ngày thứ hai 10 tháng 3 năm 1975, Cộng quân hoàn toàn làm chủ tình hình tại thị xã Ban Mê Thuột, ngoại trừ khu vực Bộ tư lệnh sư đoàn 23 bộ binh còn được trấn giữ.

     Trong thành phố tiếng súng nổ đã im, nhưng cảnh hoang tàn của thị xã thật không cách nào tả cho xiết. Những khu phố bị cháy không ai dập tắt. Đóm lửa, tro tàn, và bụi khói bao phủ khung trời thị xã như một màn sương đục. Mặt đường lỗ loang những dấu đạn cầy. . . . . .        

  .  . .  Rải rác trên các khu phố những vũng máu và thây người, kẻ bị thương, bị chết không ai săn sóc. Thị xã không hẳn là bãi tha ma, mà là hỗn độn của một thế giới nửa sống nửa chết.”

       (Ban Mê Thuột Ngày Đầu Cuộc Chiến, bút ký.)

       Và dưới đây lúc sáu giờ chiều.

     “Trong nội vi thị xã, cho đến 6 giờ chiều ngày 10 tháng 3 năm 1975, trận chiến được coi như kết thúc. Thành phố bây giờ như một bãi tha ma, chứa đầy tử khí. Những đống tro tàn của nhiều khu phố bị cháy, bụi khói và gạch vụn gợi cho người ta cái cảm xúc của một chiến trường tàn cuộc lạnh lẽo rợn người”.

        ( Nguyễn Định, BMTNĐCC.)

chien_dich_tay_nguyen_tr_SJXL.jpg

      Sáng 11/3 không quân oanh tạc lầm vào Bộ Chỉ Huy của Tư lệnh mặt trận Ban Mê Thuột cắt đứt liên lạc với Quân đoàn II. Bắc Việt cho tăng cường Sư đoàn 320 tiếp tục tấn công phi trường Phụng Dực, Trung đoàn 53 cầm cự đến ngày 17/3 thì chấm dứt, Phạm Huấn cho biết họ chiến đấu quả cảm tới người cuối cùng, nhưng cũng có tài liệu nói một số ít thoát ra khỏi vòng vây chạy vào rừng. Nguyễn Định nói các lực lượng trú phòng như ĐPQ, nghĩa quân, Cảnh sát đã chiến đấu hết sức mình nhưng phải chịu thua trước số đông áp đảo của địch.

      Ngày 11/3 Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 lập kế hoạch tái chiếm Ban Mê Thuột.

      -Trung đoàn 45 được trực thăng vận từ đèo Tử Sĩ đến quận Phước An để tiến vào hướng Đông thị xã.

      – Liên đoàn 7 BĐQ được không vận từ Sài Gòn ra thay trung đoàn 44, Trung đoàn này sẽ được trực thăng vận tới Phước An.

      Ngày 13/3 Trung đoàn 45 tiến về Ban Mê Thuột bị chận đánh cầm chân tại vòng đai thị xã, Liên đoàn 21 Biệt động quân bị đánh rút ra khỏi phi trường L19, cuộc trực thăng vận Trung đoàn 44 bị hủy bỏ, pháo binh chỉ còn hai khẩu 105 ở Phước An, không quân gặp nhiều khó khăn vì BV xử dụng hoả tiễn tầm nhiệt SA-7. Ngày 15/3 Tổng thống Thiệu hủy bỏ kế hoạch tái chiếm và cho lệnh rút khỏi Phước An. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 44 thất vọng nói “ không có một tia hy vọng nào giải cứu Ban Mê Thuột”. Cuộc phản công tái chiếm Ban Mê Thuột thất bại vì ta không đủ lực lượng vả lại các đường dẫn vào Ban Mê Thuột đã bị cắt hết.

     Nguyên nhân, hậu quả

     BV lấy được nhiều chiến lợi phẩm củaVNCH, Cục trưởng hậu cần BV khoe là họ đã lấy được nhiều lương thực, xe cộ, nhiều đạn trong kho Mai Hắc Đế, Ban Mê Thuột. Tác giả Nguyễn Đức Phương  đã nhận xét về diễn tiến trận đánh chiếm Ban Mê Thuột của Cộng quân như sau.

        “Do những thất lợi về phương tiện vận chuyển và yếu tố quân số của QLVNCH, kế hoạch tấn công Ban Mê Thuột của Tướng Văn Tiến Dũng khá đơn giản, bao gồm hai yếu tố  bí mật bất ngờ và tập trung đông quân số để áp đảo địch quân. Đầu tiên đánh vào một số diện tại quân khu 2 để lôi cuốn các đơn vị QLVNCH có nhiệm vụ giải toả. Sau đó cắt đứt các trục lộ giao thông chính dẫn đến mục tiêu đồng thời chiếm các phi trường để ngăn chận tiếp viện bằng đường hàng không để sau cùng cường tập tiêu diệt điểm với chiến thuật ba mũi giáp công”

         (Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập trang 716.)

      Hậu quả của trận Ban Mê Thuột không thể lường trước được.  Một ngày sau khi BV tấn công Ban Mê Thuột, Tổng Thống Thịêu mở phiên họp tại Dinh Độc Lập ngày 11/3 gồm Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên, Trung tướng Đặng Quang, Phụ tá an ninh Quốc Gia. Nội dung nói về kế hoạch di tản Quân khu I và II về giữ Quân khu III và IV và chỉ giữ một phần duyên hải Vùng II vì lãnh thổ quá rộng không đủ lực lượng bảo vệ. Ngày 14/3 trong một phiên họp tại Cam ranh với Hội Đồng Tướng Lãnh ông Thiệu quyết định di tản toàn bộ chủ lực thuộc Quân đoàn II về duyên hải qua tỉnh lộ 7.

     Trận Ban Mê thuột mở đầu cho giai đoạn chót của cuộc chiến tranh Việt Nam. BV có yếu tố bất ngờ, bảo mật, Ban Mê Thuột không thuận lợi cho việc phòng thủ. Từ tháng 2/1975, Bộ Tư lệnh Quân đoàn II đã báo cáo tin tức cho thấy BV chuẩn bị đánh Ban Mê thuột do tù binh, hồi chánh viên khai báo kế hoạch của địch. Các cuộc hành quân Phượng Hoàng của Cảnh sát, nghĩa quân, những người khai thác lâm sản… đã báo cáo cho chính quyền Ban Mê Thuột biết tin tức về địch xuất hiện gần thị xã.

     Khi Tồng thống Thiệu đến ăn Tết với Trung đoàn 44, Trung tá Trưởng phòng 2 Sư đoàn 23 đã trình lên Tổng thống, ông bèn lệnh cho Tướng Phú điều Sư đoàn 23 trở lại Ban Mê Thuột nhưng Tướng Phú tin Cộng  quân sẽ đánh Pleiku, chúng giả vờ nghi binh tại Ban Mê Thuột. Tướng Nguyễn cao Kỳ sau này cho biết chúng ta không bị bất ngờ khi CS tấn công Ban mê Thuột, ông Cao Văn Viên đã được thông báo cho biết kế hoạch đánh Ban Mê Thuột, theo ông Kỳ Tướng Viên đã bàn với Tướng Thiệu, Phú về kế hoạch phòng thủ Ban Mê thuột. Tướng Phú cứ nhất quyết ông nắm vững tình hình, địch sẽ đánh Pleiku, sự thực ông đã mắc kế nghi binh của CS, không ai cản được ông ấy. Bộ TTM của QĐVNCH đã cảnh báo Tướng Phú coi chừng BV đánh Ban Mê Thuột nhưng ông vẫn khăng khăng địch sẽ đánh Pleiku.

    Theo Đại tá Nguyễn Trọng Luật, CS biết phía VNCH hay nghe lén truyền tin của họ và họ đã đưa những tin giả để đánh lừa ta. Tướng Phú đã mắc lừa kế nghi binh của CS, theo Tướng Hoàng  Lạc trước ngày Văn Tiến Dũng lên đường vào Nam, Võ Nguyên Giáp đã dặn Dũng phải nghi binh tối đa để đánh hoả mù. Yếu tố bất ngờ của Ban Mê Thuột cũng như Tết Mậu Thân ở chỗ không ai tiên đoán được tầm mức rộng lớn của nó. Bộ Tư lệnh Quân đoàn II không thể ngờ được Bắc Việt đã đưa vào Quân Khu II đến 6 Sư đoàn vì thiếu tin tình báo, không đánh giá đúng mức lực lượng địch

     Yếu tố địa hình Ban Mê Thuột không có chướng ngại thiên nhiên như Kontum để trì hoãn sự tiến quân của CSBV, diện tích rộng hơn Kontum Pleiku nhiều. Ban Mê Thuột trên thực tế không có vòng đai phòng thủ liên tục, quá nhiều đồn điền san sát nhau, địch có thể lợi dụng ngụy trang. Những cánh rừng già phía Tây Bắc đã được công binh CS chuẩn bị sẵn.

     Tại Ban Mê Thuột tấn công bằng chiến xa rất khó, Pleiku với những đồi thoai thoải dễ hơn nhưng BV đã cho công binh dọn đường trước, họ cưa 2 phần 3 các gốc cây lớn, cây không bị đổ, máy bay thám thính ở trên cao nhìn xuống không thấy dấu hiệu gì, CS ngụy trang rất khéo ngay từ thời chiến tranh Việt Pháp 1946-1954 cũng vậy. Khi mặt trời lặn chiến xa cứ việc ủi sập cây mà tiến vào thị xã dễ dàng. Hai giờ sáng Cộng quân pháo ầm ầm vào thị xã như vũ bão để che lấp tiếng động cơ xe chạy, đến 7 giờ xe tăng địch đã vào trong thành phố.

     Tướng Phú mới lên nhậm chức Tư lệnh quân đoàn có vài tháng nên không nắm vững tình hình cho lắm, không có uy tín với Bộ Tổng tham mưu. Ông nhậm chức Tư lệnh quân khu ngày 5/11/1974 do Phó Tổng thống Trần văn Hương đề nghị thay thế Tướng Nguyễn Văn Toàn bị kết án tham nhũng, không do Tổng Tham mưu trưởng đề nghị nên trước khi ra đơn vị, lên trình diện Bộ Tổng Tham mưu đã không được Tướng Cao Văn Viên tiếp đón. Theo Phạm Huấn,  Quân đoàn II lủng củng nội bộ, nhiều sĩ quan cao cấp tại Quân đoàn vô kỷ luật, bất mãn không hợp tác với Tướng Phú, ông mới nhậm chức chưa đủ thời gian nắm vững tình hình. Ngoài ra 2 tháng trước khi sẩy ra trận Ban Mê Thuột, theo Nguyễn Đức Phương quân số Quân đoàn II không tới 70%, thiếu tiểu đội trưởng. Tham mưu trưởng với Bộ tham mưu bất hợp tác, hai Tướng phó tư lệnh hữu danh vô thực, các đơn vị chỉ phòng ngự mà không có một cuộc hành quân thăm dò nào để tìm diệt địch.

     Nhiều người qui trách nhiệm cho Tướng Phú đã để mất Ban Mê Thuột, Phạm Huấn cho rằng ông không đủ khả năng nắm giữ một Quân đoàn. Mặc dù đã có tin tức tình báo cho hay Việt Cộng sẽ đánh Ban Mê Thuột, ngay cả Tướng Viên và ông Thiệu đã nhắc nhở Tướng Phú coi chừng Việt Cộng tấn công Ban mê Thuột nhưng ông vẫn nói mình nắm vững tình hình, vẫn một mực tin rằng địch sẽ đánh Pleiku, không ai cản được ông vì đã bị mắc lừa kế nghi binh của CS.

     Dư luận chung của giới chức cao cấp quân sự và các ký giả, sử gia.. đều cho rằng Tướng Phú là người không đủ khả năng để chỉ huy một đại đơn vị nên đã để mất Ban Mê Thuột. Ông Cao Văn Viên cho rằng việc thay đổi chức vụ Tư Lệnh Quân khu II là một trong những nguyên do đưa tới sự thất thủ Ban Mê Thuột, ý ông nói cựu Tư lệnh Quân khu II Nguyễn Văn Toàn có nhiều kinh nghiệm và khả năng hơn Tướng Phú

     Ngoài ra tại Quân khu II lực lượng BV rất mạnh, họ đã đưa vào chiến dịch Tây nguyên tới gần 6 Sư đoàn trong khi ta chỉ để 2 Sư đoàn chủ lực và 7 Liên đoàn Biệt động quân lại phải trải ra phòng thủ nhiều nơi trong Quân khu. Theo Nguyễn Đức Phương dù biết trước Ban Mê Thuột bị tấn công để tăng cường yểm trợ cũng khó mà giữ được,  VNCH chỉ có thể  đưa tới mặt trận  một, hai Trung đoàn hoặc  một vài Liên đoàn biệt động quân vì không còn quân trừ bị,  cái khó nó bó cái khôn.   Nguyễn Đức Phương cho rằng qua kinh nghiệm Mùa hè đỏ lửa 1972, mặc dù đã tập trung Sư đoàn 23 BB tại Kontum nhưng việc phòng thủ khó có thể thành công nếu không có yểm trợ của máy bay chiến lược B-52, mặt trận Ban Mê Thuột chỉ có sự yểm trợ của không quân chiến lược B-52 mới có thể cứu vãn tình thế, nhưng từ nay yểm trợ của B-52 không bao giờ có được.

      Như đã nói ở trên lực lượng hai bên đã rất chênh lệch CS lại đánh lén, thì họ phải thắng. Theo Nguyễn Đức Phương  nếu biết trước và tăng cường yểm trợ để gây tổn thất nặng nề cho BV thì có thể giảm bớt áp lực địch tại các mặt trận khác hy vọng không đưa tới tình trạng hốt hoảng hỗn loạn dây chuyền đưa tới sụp đổ.

     Chúng ta có thể kết luận Ban Mê Thuột thất thủ vì.

     -Lực lượng và hỏa lực hai bên quá chênh lệch, BV đã đưa vào trận địa khoảng 3 Sư đoàn, gấp mười lần quân trú phòng trong khi VNCH chỉ có hai tiểu đoàn (1, 3) thuộc Trung đoàn BB 53, còn lại là phụ lực quân, cảnh sát. Trận giội bão lửa được Văn tiến Dũng kể lại trong hồi ký (trang 68) và Nguyễn Định trong bút ký cho thấy hỏa lực địch áp đảo của địch

     – Sự sai lầm của Tướng Phú khi cho rằng CSBV tấn công Pleiku trước, ông đã mắc lừa kế nghi binh của đối phương.

      -Lãnh thổ rộng thu hút gần hết chủ lực quân, lực lượng tổng trừ bị không còn.

      -Chủ lực quân VNCH tại quân khu II thiếu hụt không đủ để chống lại áp lực mạnh của BV

     -Thiếu tin tức tình báo.

     Nhưng phải nói rằng yếu tố chính là VNCH đã bị cắt giảm hỏa lực tới xương tủy. Trước đó vài tháng, tại  Phước Long quân đội VNCH lâm vào tình trạng kiệt quệ đạn dược.  Mấy tuần sau khi Phước Long mất, ngày 24 và 25/1/1975 TT Thiệu gửi hai bức thư cho TT Ford phản đối CSBV tấn công chiếm Phước Long vi phạm trắng trợn Hiệp định Paris. Kissinger trong Years of Renewal trang 490 nói TT Thiệu diễn tả cuộc tấn công này của địch rất qui mô hùng hậu bằng hỏa lực mạnh và thiết giáp. Trái lại quân đội miền nam VN đã phải đếm từng viên đạn pháo để tiết kiệm hầu còn đạn xử dụng

     Trận Ban Mê Thuột đã đưa tới sụp đổ Quân đoàn II và những sụp đổ kế tiếp lớn lao hơn thế, đó là một khúc quành  bi thảm trong cuộc chiến tranh dài nhất của thế Kỷ.

Tài Liệu tham khảo.

Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.

Nguyễn Đức Phương: Những Trận Đánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-1975, Đại Nam.

Cao Văn Viên: Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà, Vietnambibliography, 2003

Phạm Huấn: Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975, Cali 1988.

Phạm Huấn: Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975, Cali 1987.

Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới, Texas 1990

Trần Đông Phong: Việt Nam Cộng Hoà, 10 Ngày Cuối Cùng , Nam Việt 2006.

Văn Tiến Dũng: Đại thắng Mùa Xuân, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội 2005.

Dương Đình Lập: Cuộc Tổng Tiến Công Và Nổi dậy Mùa Xuân 1975, Nhà xuất bản Tổng Hợp T.P.H.C.M 2005.

Henry Kissinger: Years of Renewal- Simon & Schuster 1999

Richard Nixon: No More Vietnams, Arbor House, New York 1985

Lam Quang Thi: Autopsy The Death Of South Viet Nam, 1986, Sphinx Publishing.

Nguyễn Định: Ban Mê Thuột Ngày Đầu Cuộc Chiến, doanket.orgfree.com

Nguyễn Trọng Luật: Nhìn Lại Trận Đánh Ban Mê Thuột, doanket.orgfree.com

Trần Gia Lương: Một Cái Nhìn Về Tướng Phạm Văn Phú, Sài Gòn Nhỏ Dallas 2004

Nguyễn Kỳ Phong: Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam: Người Việt Dallas 21-6-2006

Nguồn bài đăng

13/03/1975: Ban Mê Thuột thất thủ

Posted on 13/03/2019 by HongLoan

Nguồn: Ban Me Thuot fallsHistory.com

Biên dịch: Lê Hồng Loan | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Vào ngày này năm 1975, Ban Mê Thuột, thủ phủ của tỉnh Đắk Lắk ở Tây Nguyên, rơi vào tay quân đội Bắc Việt.

Cuối tháng 01 năm 1975, chỉ hai năm sau khi lệnh ngừng bắn được thực hiện theo Hiệp định Hòa bình Paris, Bắc Việt đã phát động Chiến dịch 275. Mục tiêu của chiến dịch này là giành lấy Ban Mê Thuột ở Tây Nguyên. Trận chiến bắt đầu vào ngày 04 tháng 03 và Bắc Việt đã nhanh chóng bao vây thành phố với năm sư đoàn chính, cắt đứt nó khỏi sự hỗ trợ từ bên ngoài.

Khi tình hình trở nên rõ ràng rằng lực lượng cộng sản sẽ chiếm thành phố và có thể là toàn tỉnh, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu đã quyết định rút lực lượng của mình để bảo vệ các khu vực đông dân có tính chiến lược hơn ở phía nam. Theo đó, ông ra lệnh cho các lực lượng ở Tây Nguyên rút lui khỏi vị trí của họ.

Từ bỏ Pleiku và Kontum, các lực lượng Nam Việt Nam bắt đầu di chuyển ra hướng biển, nhưng điều bắt đầu như một cuộc rút quân có trật tự đã nhanh chóng biến thành hoảng loạn và các lực lượng này nhanh chóng tan rã. Bắc Việt đã thành công ở cả Tây Nguyên và xa hơn về phía bắc tại Quảng Trị, Huế và Đà Nẵng.

Quân đội Nam Việt Nam sớm sụp đổ trong vai trò là một lực lượng chiến đấu vững chắc trong khi quân Bắc Việt tiếp tục tấn công vào Sài Gòn. Việt Nam Cộng hòa đầu hàng vô điều kiện trước Bắc Việt vào ngày 30 tháng 4 và chiến tranh kết thúc.

10/03/1975: Lực lượng cộng sản bao vây Ban Mê Thuột

Posted on 10/03/2018 by Kim Phụng

Nguồn: Communists surround Ban Me Thuot, History.com

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Vào ngày này năm 1975, lực lượng Bắc Việt đã bao vây và tấn công thành phố Ban Mê Thuột khi những trận đánh bắt đầu bùng nổ ở Tây Nguyên. Được phát động vào cuối tháng 01/1975, chỉ hai năm sau khi lệnh ngưng bắn được thiết lập theo Hiệp định Paris, hành động này là một phần của Chiến dịch 275 (Chiến dịch Tây Nguyên) của Bắc Việt.

Trận đánh Ban Mê Thuột bắt đầu vào ngày 04/03, khi Bắc Việt bao vây thành phố với năm sư đoàn tấn công chính và đã hoàn toàn cắt đứt mọi hỗ trợ từ bên ngoài. Sư Đoàn 23 của miền Nam bị áp đảo về quân số và nhanh chóng rơi vào tay lực lượng cộng sản.

Khi tình hình trở nên rõ ràng rằng lực lượng cộng sản sẽ chiếm thành phố và có lẽ là toàn tỉnh, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã quyết định thu hồi lực lượng của mình để bảo vệ các khu vực đông dân hơn. Theo đó, ông ra lệnh cho lực lượng ở Tây Nguyên rút khỏi vị trí của họ.

Từ bỏ Pleiku và Kontum, quân đội miền Nam bắt đầu tiến ra biển, nhưng những gì khởi đầu như một cuộc rút quân có trật tự đã nhanh chóng biến thành hoảng loạn, và quân đội miền Nam nhanh chóng tan rã.

Lực lượng miền Bắc đã thành công ở cả Tây Nguyên và xa hơn về phía bắc – ở Quảng Trị, Huế và Đà Nẵng. Trong khi miền Nam sớm tỏ ra thất bại, quân Bắc Việt tiếp tục tấn công đánh vào Sài Gòn. Nam Việt Nam đã đầu hàng vô điều kiện vào ngày 30/04.

Nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh trong Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc

Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 đã khẳng định sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam trước những thử thách ngặt nghèo.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm diễn ra sự kiện lịch sử đặc biệt này, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) xin trân trọng giới thiệu bài viết: “Nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc năm 1979” của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Khang, nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

Bộ Chỉ huy mặt trận Lạng Sơn cùng chỉ huy Đoàn 327 bàn phương án tác chiến tại hang Chùa Tiên (thị xã Lạng Sơn). Ảnh: Văn Bảo/TTXVN

Đầu năm 1979, khi Quân đội nhân dân Việt Nam tiến công đánh đổ tập đoàn phản động Pol Pot, giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, Chính phủ Trung Quốc cùng một số nước phương Tây ra sức tuyên truyền xuyên tạc sự xuất hiện của Quân tình nguyện Việt Nam trên lãnh thổ Campuchia, đồng thời liên tục gây sức ép hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Mục đích của họ muốn chống phá cách mạng Việt Nam, mưu toan áp đặt lợi ích nước lớn trên bán đảo Đông Dương.

Sau khi gây sức ép về chính trị, ngoại giao mà không đạt được mục đích đề ra, ngày 17/2/1979, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã động huy động khoảng 60 vạn quân cùng hàng trăm xe tăng, xe bọc thép; hàng ngàn khẩu pháo các loại… mở cuộc tiến công trực diện vào lãnh thổ Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Móng Cái (Quảng Ninh).

Nhân dân Việt Nam đứng trước thử thách to lớn: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc chưa lâu (1975), hậu quả để lại còn rất nặng nề; lại vừa kết thúc Chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam (12/1978) và đang làm nhiệm vụ quốc tế giúp đỡ nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, thực hiện công cuộc hồi sinh đất nước. Mặt khác, kinh tế gặp rất nhiều khó khăn do cấm vận của Mỹ; các thế lực phản động trong và ngoài nước vẫn ra sức hoạt động chống phá… Bên cạnh đó, cuộc đụng đầu lịch sử này có tác động rất lớn đến tâm lý, tình cảm của nhân dân hai nước bởi Trung Quốc là nước đã ủng hộ, giúp đỡ to lớn cả về chính trị, vật chất lẫn tinh thần cho Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến cứu nước (chống Pháp, chống Mỹ) trước đây.

Trước thử thách to lớn ấy, vấn đề chỉ đạo đấu tranh như thế nào được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam thảo luận rất kỹ. Yêu cầu đề ra là: Vừa phát huy sức mạnh tổng hợp, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời nêu cao tính chính nghĩa và thiện chí mong muốn hòa bình, khôi phục quan hệ hữu nghị hai dân tộc; vừa không để bị ảnh hưởng đến các nhiệm vụ chiến lược khác, nhất là nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia; tiếp tục tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của dư luận quốc tế.

Thực hiện phương châm đề ra, từ ngày 17/2/1979, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố nêu rõ: Nhà cầm quyền Trung Quốc đang đi ngược lại lợi ích của nhân dân, phá hoại nghiêm trọng tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, đồng thời khẳng định nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác là thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình để đánh trả.

Về chỉ huy tác chiến, phía Việt Nam chủ trương chưa đưa lực lượng dự bị chiến lược vào quyết chiến sớm, cũng không vội rút đại quân từ Campuchia về nước, dễ gây nên sự xáo trộn bất ngờ mà phát huy sức mạnh tổng hợp chiến tranh nhân dân địa phương, sử dụng lực lượng tại chỗ của Quân khu 1, Quân khu 2 là chính, có sự bổ sung một bộ phận lực lượng từ tuyến sau lên tăng cường. Đồng thời, xây dựng kế hoạch điều động dần các binh đoàn dự bị chiến lược của Bộ sẵn sàng thực hành phản công khi cần thiết, chuẩn bị cho nhân dân cả nước bước vào đối phó với tình huống chiến tranh mở rộng.

Dưới sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, quân dân Việt Nam trên tuyến đầu biên giới kịp thời đánh trả, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của quân Trung Quốc, buộc đối phương phải tung lực lượng dự bị chiến lược vào tham chiến. Với ưu thế quân đông, nhiều vũ khí trang bị kỹ thuật, quân Trung Quốc lần lượt chiếm được một số địa bàn, thị xã quan trọng như: Lào Cai (19/2), Cao Bằng (24/2), Cam Đường (25/2), Lạng Sơn (5/3)…

Trước tình hình cấp bách đó, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam quyết định điều động lực lượng dự bị chiến lược kết hợp cùng lực lượng tại chỗ chuẩn bị mở những đòn phản công quy mô lớn binh chủng hợp thành.

Thực hiện chủ trương đó, đầu tháng 3/1979, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ra lệnh cho Quân đoàn 2 (cơ bản đã hoàn thành nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia) nhanh chóng chuyển toàn bộ lực lượng về phía Bắc Hà Nội tập kết, đồng thời ra quyết định thành lập Quân đoàn 5 (ngày 2/3/1979) ngay tại mặt trận biên giới (gồm 4 sư đoàn bộ binh: 3, 338, 327, 337 cùng một số đơn vị kỹ thuật và bảo đảm khác). Ngoài ra, các đơn vị chủ lực của Quân đoàn 1, Quân chủng Phòng không – Không quân và các binh chủng kỹ thuật khác sẵn sàng tham gia chiến đấu.

Chiến sĩ xe tăng Trung đội 1, Đại đội 2, Đoàn 407 truy kích quân địch ở thị xã Lạng Sơn. Ảnh: Thế Thuần/TTXVN

Để phát huy sức mạnh tổng hợp, ngày 4/3/1979, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi quân dân cả nước phát huy khí thế cách mạng, hăng hái thi đua lao động sản xuất, chi viện nhiều nhất cho tiền tuyến, quyết tâm giữ vững biên cương Tổ quốc.

Tiếp đó, ngày 5/3, Chủ tịch nước công bố Lệnh tổng động viên. Cả nước cùng đồng lòng hướng về mặt trận. Hàng triệu thanh niên nam, nữ viết đơn tình nguyện đi chiến đấu. Dự trữ vật chất hậu cần phục vụ chiến đấu do đó tăng lên nhanh chóng.

Quyết tâm của Bộ Chỉ huy tối cao Việt Nam, đặc biệt là động thái chuẩn bị mở đòn phản công chiến lược đã tác động mạnh đến tương quan cục diện cuộc chiến và tâm lý của các nhà cầm quyền Trung Quốc, tạo niềm tin sắt đá cho nhân dân cả nước và bạn bè thế giới, nhất là nhân dân Campuchia vừa được Quân tình nguyện Việt Nam giúp đỡ thoát khỏi họa diệt chủng, đang ra sức bảo vệ chính quyền non trẻ. Các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng tiến bộ cùng nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới tiếp tục lên án mạnh mẽ hành động chiến tranh phi nghĩa của Trung Quốc và kêu gọi ủng hộ Việt Nam.

Chịu tổn thất nặng nề mà chưa đạt được mục tiêu cơ bản đề ra, lại bị dư luận quốc tế lên án mạnh mẽ, ngày 5/3/1979, chính quyền Trung Quốc tuyên bố rút quân khỏi lãnh thổ Việt Nam. Với truyền thống nhân nghĩa, lấy đại cục làm trọng, mong muốn củng cố hòa bình, khôi phục quan hệ hữu nghị giữa hai nước, Trung ương Đảng, Chính phủ Việt Nam chỉ thị cho các lực lượng vũ trang và nhân dân trên mặt trận biên giới phía Bắc ngừng mọi hoạt động quân sự để quân Trung Quốc rút về nước. Đến ngày 18/3/1979, Trung Quốc hoàn thành việc rút quân khỏi Việt Nam.

Thắng lợi của quân dân Việt Nam trong Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 được tạo nên từ nhiều nguyên nhân khác nhau: Đó là tinh thần chiến đấu kiên cường, anh dũng vì độc lập, tự do và sự vẹn toàn lãnh thổ; sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của bè bạn quốc tế; thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc được xây dựng, củng cố qua thời gian; là Quân đội nhân dân tinh nhuệ với đội ngũ tướng lĩnh tài ba đã được rèn luyện, thử thách qua các cuộc chiến tranh… Nhưng bao trùm lên tất cả chính là nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh độc lập, tự chủ, đúng đắn của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nghệ thuật ấy chính là sự vận dụng sáng tạo nghệ thuật đánh giặc truyền thống của cha ông (“lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”, “tránh thế ban mai, đánh lúc chiều tà”…) và nghệ thuật chiến tranh hiện đại (kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích, chiến tranh chính quy; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trên tất cả các mặt chính trị – kinh tế – quốc phòng – an ninh; phát huy sức mạnh chiến tranh nhân dân địa phương, đặc biệt là sức mạnh của lực lượng vũ trang tại chỗ, sức mạnh hậu phương cả nước); đồng thời biết khai thác, phát huy tư tưởng nhân văn “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, kết hợp với chủ anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

TTXVN/Báo Tin tức

Phát hiện bản đồ của Trung Quốc không có Hoàng Sa, Trường Sa, đề nghị chia sẻ rộng rãi

IFuckChina_2
IFuckChina_3
IFuckChina_4
IFuckChina_5
IFuckChina_6
IFuckChina_7
IFuckChina_8
IFuckChina_9
IFuckChina_10
IFuckChina_11
IFuckChina_12
IFuckChina_13

Tấm bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” do Trung Quốc xuất bản năm 1905 chỉ rõ lãnh thổ Trung Quốc dừng lại ở đảo Hải Nam. Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.
Một thanh niên Việt Nam chia sẻ bản đồ cổ Trung Quốc không có Trường sa, Hoàng Sa trên mạng xã hội

Chử Đình Phúc từng ra thăm quần đảo Trường Sa.Thạc sĩ Chử Đình Phúc, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, một thanh niên sinh năm 1984 đang thực hiện việc chia sẻ hơn 10 tấm bản đồ cổ của Trung Quốc trên mạng xã hội, mà theo những tấm bản đồ này Hoàng Sa, Trường Sa không nằm trong lãnh thổ Trung Quốc.
Chử Đình Phúc từng là sinh viên ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, hiện đang công tác tại Viện khoa học xã hội Việt Nam. Công việc của anh có liên quan trực tiếp đến hoạt động thu thập thông tin, tài liệu về lịch sử Trung Quốc. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên Thạc sĩ Chử Đình Phúc có trong tay những tấm bản đồ cổ của Trung Quốc, Nhật Bản có thể chứng minh được rằng Hoàng Sa, Trường Sa không thuộc về Trung Quốc.
Hiện nay, trên trang cá nhân của Chử Đình Phúc có hơn 10 tấm bản đồ với chú thích đầy đủ, thể hiện rõ phân vùng lãnh thổ Việt Nam – Trung Quốc, đặc biệt những tài liệu cổ này cho thấy Hoàng lãnh thổ Trung Quốc không bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa.
Xem “kho bản đồ” do Chử Đình Phúc chia sẻ trên trang cá nhân

Bản đồ tỉnh Quảng Đông với cực Nam của nó là tỉnh Hải Nam (năm 1850)- trích trong sách “1850 Thanh nhị kinh thập bát tỉnh dưa địa đồ” (1850清二京十八省舆地图)

Bản đồ tỉnh Quảng Đông của nước Trung Quốc năm 1935 bao gồm cả đảo Hải Nam khi đó còn thuộc tỉnh này, không thấy cái gọi là Tây Sa, Nam Sa.

Bản đồ Trung Quốc có tên “Trung Hoa dân quốc toàn đồ” (中華民國全圖), vẽ trong khoảng thời gian 1911-1949, không có Hoàng Sa, Trường Sa.

Bản đồ do người Nhật vẽ năm 1911 có tên “Thanh quốc đại địa đồ Cánh mạng (Tân Hợi) động loạn địa điểm chú”, vẽ rất chi tiết, hình ảnh sắc nét và tất nhiên là không có Hoàng Sa, Trường Sa trong cương vực nước Trung Quốc.

Tấm bản đồ trong sách “Đại Thanh đế quốc toàn đồ, Tuyên Thống nguyên niên (1908)” (大清帝国全图 宣统元年).

Tỉnh Quảng Đông nước Trung Quốc với đảo Hải Nam năm 1908, trích “Đại Thanh đế quốc toàn đồ, Tuyên Thống nguyên niên” (大清帝国全图 宣统元年), Thương vụ ấn thư quán xuất bản năm 1908.

Bản đồ 2 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây – nước Trung Quốc năm 1903 với đảo Hải Nam, trích “Đại Thanh đế quốc phân tỉnh tinh đồ” (大清帝國分省精圖).

“Đại Thanh đế quốc phân tỉnh tinh đồ” (大清帝國分省精圖) – Bản đồ vẽ nước Tàu năm 1903 do người Nhật Bản ấn hành.

Bản đồ nước Tàu có tên là “Chính trị khu vực đồ”, in tận năm 1936 không có Hoàng Sa, Trường Sa và đường lưỡi bò.

Bản đồ Trung Quốc năm 1911 bằng chữ Hán không có Hoàng Sa, Trường Sa.<
Mạng xã hội tràn ngập hình ảnh tấm bản đồ Trung Quốc năm 1905, được xem như một bằng chứng thuyết phục rằng Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam.

Bức ảnh chụp bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ (theo Thanh niên)
Tấm bản đồ do Tiến sĩ Mai Hồng lưu giữ trong nhiều năm qua và mới được đưa ra trước công chúng trong sự kiện ông tặng lại Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ cho Bảo tàng lịch sử quốc gia Việt Nam ngày 25/7. Thông tin về tấm bản đồ do chính Trung Quốc xuất bản không chỉ củng cố lý lẽ pha’p lý cho Việt Nam trong cuộc đấu tranh khẳng định chủ quyền, lãnh thổ đất nước mà còn khiến dư luận Trung Quốc trở nên hỗn loạn .
Nắm bă’t tình hình thời sự, cư dân mạng Việt Nam hiện đang tích cực chia sẻ hình ảnh, thông tin về tấm bản đồ Trung Quốc không có Hoàng Sa, Trường Sa với khẩu hiệu “Vì chủ quyền đất nước, vì Trường Sa, Hoàng Sa, hãy chia sẻ”.


Huy Khánh

Mô hình trống đồng làm từ gốm Chu Đậu.

Mô hình trống đồng làm từ gốm Chu Đậu được Hà Nội chọn làm quà tặng cho hơn 3.500 phóng viên trong và ngoài nước

Không có mô tả ảnh.

Gốm Chu Đậu (huyện Nam Sách, Hải Dương) phát triển rực rỡ vào thế kỷ 14 đến 17. Sau hơn ba thế kỷ thất truyền, nay gốm Chu Đậu đã hồi sinh, trở thành mặt hàng xuất khẩu có giá trị.

Tại sao TQ không đánh Hà Nội sau khi vào Lạng Sơn?

THS2018 – Lạng Sơn đã là khúc xương khó nuốt. hóc xương gà ở đền Chí Linh thì cụ Lý Thường Kiệt đâu cho phép đi mà đi. Đến Hà Nội ngày nay hết ống đồng Thoát Hoan sao trở về Tàu?

Đây là một vấn đề thường xuyên được truyền thông phía TQ bàn luận khi nói về chủ đề Việt Trung. Mời quý vị tham khảo thêm website https://www.moquocte.com/ để cập nhật thêm các tin tức khác

Nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh trong Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc

TTXVN – Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 đã khẳng định sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam trước những thử thách ngặt nghèo.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm diễn ra sự kiện lịch sử đặc biệt này, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) xin trân trọng giới thiệu bài viết: “Nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc năm 1979” của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Khang, nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

Bộ Chỉ huy mặt trận Lạng Sơn cùng chỉ huy Đoàn 327 bàn phương án tác chiến tại hang Chùa Tiên (thị xã Lạng Sơn). Ảnh: Văn Bảo/TTXVN

Đầu năm 1979, khi Quân đội nhân dân Việt Nam tiến công đánh đổ tập đoàn phản động Pol Pot, giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, Chính phủ Trung Quốc cùng một số nước phương Tây ra sức tuyên truyền xuyên tạc sự xuất hiện của Quân tình nguyện Việt Nam trên lãnh thổ Campuchia, đồng thời liên tục gây sức ép hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Mục đích của họ muốn chống phá cách mạng Việt Nam, mưu toan áp đặt lợi ích nước lớn trên bán đảo Đông Dương.

Sau khi gây sức ép về chính trị, ngoại giao mà không đạt được mục đích đề ra, ngày 17/2/1979, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã động huy động khoảng 60 vạn quân cùng hàng trăm xe tăng, xe bọc thép; hàng ngàn khẩu pháo các loại… mở cuộc tiến công trực diện vào lãnh thổ Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Móng Cái (Quảng Ninh).

Nhân dân Việt Nam đứng trước thử thách to lớn: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc chưa lâu (1975), hậu quả để lại còn rất nặng nề; lại vừa kết thúc Chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam (12/1978) và đang làm nhiệm vụ quốc tế giúp đỡ nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, thực hiện công cuộc hồi sinh đất nước. Mặt khác, kinh tế gặp rất nhiều khó khăn do cấm vận của Mỹ; các thế lực phản động trong và ngoài nước vẫn ra sức hoạt động chống phá… Bên cạnh đó, cuộc đụng đầu lịch sử này có tác động rất lớn đến tâm lý, tình cảm của nhân dân hai nước bởi Trung Quốc là nước đã ủng hộ, giúp đỡ to lớn cả về chính trị, vật chất lẫn tinh thần cho Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến cứu nước (chống Pháp, chống Mỹ) trước đây.

Trước thử thách to lớn ấy, vấn đề chỉ đạo đấu tranh như thế nào được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam thảo luận rất kỹ. Yêu cầu đề ra là: Vừa phát huy sức mạnh tổng hợp, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời nêu cao tính chính nghĩa và thiện chí mong muốn hòa bình, khôi phục quan hệ hữu nghị hai dân tộc; vừa không để bị ảnh hưởng đến các nhiệm vụ chiến lược khác, nhất là nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia; tiếp tục tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của dư luận quốc tế.

Thực hiện phương châm đề ra, từ ngày 17/2/1979, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố nêu rõ: Nhà cầm quyền Trung Quốc đang đi ngược lại lợi ích của nhân dân, phá hoại nghiêm trọng tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, đồng thời khẳng định nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác là thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình để đánh trả.

Về chỉ huy tác chiến, phía Việt Nam chủ trương chưa đưa lực lượng dự bị chiến lược vào quyết chiến sớm, cũng không vội rút đại quân từ Campuchia về nước, dễ gây nên sự xáo trộn bất ngờ mà phát huy sức mạnh tổng hợp chiến tranh nhân dân địa phương, sử dụng lực lượng tại chỗ của Quân khu 1, Quân khu 2 là chính, có sự bổ sung một bộ phận lực lượng từ tuyến sau lên tăng cường. Đồng thời, xây dựng kế hoạch điều động dần các binh đoàn dự bị chiến lược của Bộ sẵn sàng thực hành phản công khi cần thiết, chuẩn bị cho nhân dân cả nước bước vào đối phó với tình huống chiến tranh mở rộng.

Dưới sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, quân dân Việt Nam trên tuyến đầu biên giới kịp thời đánh trả, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của quân Trung Quốc, buộc đối phương phải tung lực lượng dự bị chiến lược vào tham chiến. Với ưu thế quân đông, nhiều vũ khí trang bị kỹ thuật, quân Trung Quốc lần lượt chiếm được một số địa bàn, thị xã quan trọng như: Lào Cai (19/2), Cao Bằng (24/2), Cam Đường (25/2), Lạng Sơn (5/3)…

Trước tình hình cấp bách đó, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam quyết định điều động lực lượng dự bị chiến lược kết hợp cùng lực lượng tại chỗ chuẩn bị mở những đòn phản công quy mô lớn binh chủng hợp thành.

Thực hiện chủ trương đó, đầu tháng 3/1979, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ra lệnh cho Quân đoàn 2 (cơ bản đã hoàn thành nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia) nhanh chóng chuyển toàn bộ lực lượng về phía Bắc Hà Nội tập kết, đồng thời ra quyết định thành lập Quân đoàn 5 (ngày 2/3/1979) ngay tại mặt trận biên giới (gồm 4 sư đoàn bộ binh: 3, 338, 327, 337 cùng một số đơn vị kỹ thuật và bảo đảm khác). Ngoài ra, các đơn vị chủ lực của Quân đoàn 1, Quân chủng Phòng không – Không quân và các binh chủng kỹ thuật khác sẵn sàng tham gia chiến đấu.

Chiến sĩ xe tăng Trung đội 1, Đại đội 2, Đoàn 407 truy kích quân địch ở thị xã Lạng Sơn. Ảnh: Thế Thuần/TTXVN

Để phát huy sức mạnh tổng hợp, ngày 4/3/1979, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi quân dân cả nước phát huy khí thế cách mạng, hăng hái thi đua lao động sản xuất, chi viện nhiều nhất cho tiền tuyến, quyết tâm giữ vững biên cương Tổ quốc.

Tiếp đó, ngày 5/3, Chủ tịch nước công bố Lệnh tổng động viên. Cả nước cùng đồng lòng hướng về mặt trận. Hàng triệu thanh niên nam, nữ viết đơn tình nguyện đi chiến đấu. Dự trữ vật chất hậu cần phục vụ chiến đấu do đó tăng lên nhanh chóng.

Quyết tâm của Bộ Chỉ huy tối cao Việt Nam, đặc biệt là động thái chuẩn bị mở đòn phản công chiến lược đã tác động mạnh đến tương quan cục diện cuộc chiến và tâm lý của các nhà cầm quyền Trung Quốc, tạo niềm tin sắt đá cho nhân dân cả nước và bạn bè thế giới, nhất là nhân dân Campuchia vừa được Quân tình nguyện Việt Nam giúp đỡ thoát khỏi họa diệt chủng, đang ra sức bảo vệ chính quyền non trẻ. Các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng tiến bộ cùng nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới tiếp tục lên án mạnh mẽ hành động chiến tranh phi nghĩa của Trung Quốc và kêu gọi ủng hộ Việt Nam.

Chịu tổn thất nặng nề mà chưa đạt được mục tiêu cơ bản đề ra, lại bị dư luận quốc tế lên án mạnh mẽ, ngày 5/3/1979, chính quyền Trung Quốc tuyên bố rút quân khỏi lãnh thổ Việt Nam. Với truyền thống nhân nghĩa, lấy đại cục làm trọng, mong muốn củng cố hòa bình, khôi phục quan hệ hữu nghị giữa hai nước, Trung ương Đảng, Chính phủ Việt Nam chỉ thị cho các lực lượng vũ trang và nhân dân trên mặt trận biên giới phía Bắc ngừng mọi hoạt động quân sự để quân Trung Quốc rút về nước. Đến ngày 18/3/1979, Trung Quốc hoàn thành việc rút quân khỏi Việt Nam.

Thắng lợi của quân dân Việt Nam trong Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 được tạo nên từ nhiều nguyên nhân khác nhau: Đó là tinh thần chiến đấu kiên cường, anh dũng vì độc lập, tự do và sự vẹn toàn lãnh thổ; sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của bè bạn quốc tế; thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc được xây dựng, củng cố qua thời gian; là Quân đội nhân dân tinh nhuệ với đội ngũ tướng lĩnh tài ba đã được rèn luyện, thử thách qua các cuộc chiến tranh… Nhưng bao trùm lên tất cả chính là nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh độc lập, tự chủ, đúng đắn của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nghệ thuật ấy chính là sự vận dụng sáng tạo nghệ thuật đánh giặc truyền thống của cha ông (“lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”, “tránh thế ban mai, đánh lúc chiều tà”…) và nghệ thuật chiến tranh hiện đại (kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích, chiến tranh chính quy; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trên tất cả các mặt chính trị – kinh tế – quốc phòng – an ninh; phát huy sức mạnh chiến tranh nhân dân địa phương, đặc biệt là sức mạnh của lực lượng vũ trang tại chỗ, sức mạnh hậu phương cả nước); đồng thời biết khai thác, phát huy tư tưởng nhân văn “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, kết hợp với chủ anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

TTXVN/Báo Tin tức

Đại tướng Lê Đức Anh và việc đưa Việt Nam thoát vòng xoáy của các nước lớn

VietnamNet – Đại tướng Lê Đức Anh nêu nhiều chủ trương để Việt Nam thoát khỏi vòng xoáy của các nước lớn.

Ngày 7/12/1986, ông Lê Đức Anh được bổ nhiệm làm Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam…

Đến cuối tháng 12 đó, Đại hội Đảng VI đã diễn ra. Ông Lê Đức Anh được bầu ủy viên Bộ Chính trị và nhậm chức Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng.

Cuối tháng 2/1987, có cuộc họp “Bộ Chính trị hẹp” hai ngày tại Nhà Con Rồng – Sở chỉ huy của Bộ Quốc phòng. Tại đây, ông Lê Đức Anh đã báo cáo toàn bộ tình hình quân đội, tình hình biên giới phía Bắc với hai việc cấp thiết là bố trí lại đội hình, thế trận phòng thủ và cải thiện đời sống cho bộ đội. Ông nêu lên những suy nghĩ của mình về Mỹ, về Trung Quốc, về Liên Xô, về các nước ASEAN đồng thời giải trình những đề xuất của mình.

Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Giang Trạch Dân tiếp Đại tướng Lê Đức Anh tại Bắc Kinh, Trung Quốc, tháng 7/1991

Ông nói: “Về Trung Quốc: Trên biên giới, phía bên kia họ bắn pháo rồi bắc loa kể công và chửi ta, nếu bộ đội ta cứ bắn lại và chửi lại thì không làm được công tác tư tưởng. Thà rằng họ đánh sâu vào nội địa ta như Pol Pot đánh ta ở biên giới Tây Nam thì ta nói là họ xâm lược và ta kêu gọi chống xâm lược thì dễ. Đằng này qua thăm dò và khảo sát trực tiếp, qua tin tức tình báo chiến lược, phân tích tình hình nhiều mặt, thấy rằng họ không có ý đồ xâm lược; mà họ gây xung đột biên giới ta nhằm thực hiện “Thỏa thuận 5 điểm” giữa hai nhà cầm quyền Trung-Mỹ.”

Lúc này, ông Anh công bố trước hội nghị nội dung “thỏa thuận 5 điểm” mà trước đây ông chỉ mới nói riêng với Tổng bí thư Lê Duẩn. Người viết xin tóm tắt như sau: Ta giải phóng hoàn toàn miền Nam ngày 30/4/1975, thì sau đó 5 tháng, từ 19 đến 23/10/1975, Henry Kissinger tới Bắc Kinh và Đặng Tiểu Bình đã cử Chu Ân Lai đại diện ký bản “Thỏa thuận 5 điểm”, và ngay sau đó Đặng Tiểu Bình ký với Ronald Reagan năm điểm bổ sung cho thỏa thuận này tại Washington.

Có thể tóm tắt như sau: Trung Quốc đang bị bao vây tứ phía, giờ chỉ có thể phá thế bao vây xuống phía Nam. Quyết không để cho Việt Nam mạnh lên thành cường quốc khu vực và ngăn chặn Liên Xô nhảy vào Đông Dương. Sẽ dùng Pol Pot đánh toàn tuyến biên giới của Nam Việt Nam, sau đó gây xung đột vũ trang trên phía bắc, nhưng Trung Quốc không được xuống tới vĩ tuyến 18. Thời gian chuẩn bị là 17 tháng. Nếu thực hiện thì Mỹ sẽ tài trợ quân sự cho Trung Quốc 1 tỷ USD. Đến tháng thứ 18 mà kế hoạch này không được thực hiện thì Mỹ sẽ xem xét lại chính sách của Mỹ với Trung Quốc.

Ông Anh nói tiếp: “Bao năm qua, mâu thuẫn Mỹ – Xô, Mỹ – Trung là mâu thuẫn đối kháng; mâu thuẫn Xô – Trung cũng là đối kháng, vì từ sau Hội nghị 81 Đảng Cộng sản và công nhân năm 1960 ở Matxcơva, hai bên từ chỗ chửi nhau công khai đi đến xung đột quân sự dọc tuyến biên giới không khoan nhượng.

Gần đây, sau khi ký Hiệp định hợp tác toàn diện với ta, Liên Xô lập cầu hàng không tiếp vận cho ta vũ khí và phương tiện và cử Đoàn cố vấn quân sự bố trí tới cấp sư đoàn bộ binh và lữ đoàn binh chủng của ta; họ giúp ta tích cực nhưng lại muốn ép ta làm theo hướng của họ.

Tại quân cảng Cam Ranh, dưới biển là tàu ngầm và tàu chiến, trên bộ là các phi đội phản lực chiến đấu, trên trời thì máy bay trinh sát điện tử RF71 thay nhau bay suốt ngày đêm. Nhìn trên bản đồ tác chiến thì thấy rõ: Cố vấn yêu cầu ta đưa hết chủ lực áp sát biên giới, phía sau là đội hình của họ tại quân cảng Cam Ranh, hai nơi như hai mũi dao nhọn chĩa vào Trung Quốc. Như vậy, vô hình trung ta đang trở thành “lính xung kích” trong ý đồ của Liên Xô và ta đang bị cuốn vào vòng xoáy của các nước lớn; nhất định ta phải tìm cách thoát ra khỏi vòng xoáy này.

Đối với ta hiện nay, thì việc giảm quân số thường trực để giảm ngân sách quốc phòng đang là một yêu cầu vừa cấp thiết vừa cơ bản lâu dài. Mà muốn giảm quân một cách bền vững thì trước hết phải tìm cách “tháo ngòi nổ”, làm dịu tình hình biên giới, liền sau đó, ta vừa xúc tiến thăm dò vừa chủ động, tích cực hoạt động ngoại giao để tiến tới bình thường hóa quan hệ Việt-Trung.

Còn về phía Mỹ, sau thất bại chiến tranh Việt Nam, Mỹ câu kết với Trung Quốc (trong thỏa thuận năm điểm) dùng Pol Pot ở Campuchia đánh ta để trả thù, làm cho ta suy yếu và ngăn chặn sự ảnh hưởng của Việt Nam với khu vực, nhưng đến bây giờ ý đồ này cũng đã thất bại. Trong khi Mỹ chưa có chính sách gì mới đối với Việt Nam là thời cơ ta có thể tiến hành phá bao vây cấm vận. Một khi Mỹ gỡ bỏ bao vây cấm vận thì việc tiến tới bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ chỉ còn một bước ngắn. Ý tưởng này đã có từ các anh Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Văn Kiệt và Nguyễn Văn Linh, giờ là thời cơ ta xúc tiến.

Với các nước ASEAN: Gần đây trong ASEAN cũng đã có sự phân hóa và thay đổi. Rõ nhất là Lý Quang Diệu, nhà lãnh đạo của Singapore. Thái Lan cũng đã thay đổi, nhất là từ khi Chatichai Choonhavan lên làm Thủ tướng. Từ nhiều năm nay, có khá nhiều ban lãnh đạo của các nước ASEAN lệ thuộc Mỹ và Trung Quốc. Bây giờ ta tìm cách gia nhập vào ASEAN để nâng tinh thần độc lập tự chủ của họ lên, họ sẽ dần cảm thấy không lệ thuộc vào nước lớn nữa…”.

Đại tướng Lê Đức Anh – Bộ trưởng Quốc phòng thăm và dự lễ kỷ niệm 70 năm ngày thành lập quân đội và hải quân Liên Xô, tháng 2/1988

Khi bàn soạn, trong Bộ Chính trị cũng có ý kiến còn băn khoăn – Liệu vào ASEAN ta có lôi kéo được họ không, hay lại bị họ lôi kéo? Với lại, nếu xét ở khía cạnh kinh tế thì rất có thể họ không chịu mình đâu. Ông Anh nói: “Nếu chỉ vì mục đích kinh tế thì khó, vì so với họ, ta đang nghèo về kinh tế. Nhưng ta có hai cái “giàu” là giàu về chính trị và về địa lý, giàu về tiềm năng con người.

Ban đầu về kinh tế ta chưa có lợi thế gì; nhưng về chính trị thì ta có một nước độc lập có chủ quyền, mà nền độc lập của ta không phải nói suông, cả dân tộc ta đã đổ bao mồ hôi, xương máu và trí tuệ mới có được. Các nước ASEAN, lòng tự trọng, tự tôn dân tộc thì anh nào cũng có. Ta vào thì họ sẽ có chỗ dựa về chính trị để họ vươn lên, vì từ trước đến nay họ thường xuyên bị nước lớn chi phối. Họ cần ở ta là cần về chính trị trước tiên, mà ta lại có “vốn lớn” về chính trị.

Tổng thống Mỹ Bill Clinton và phu nhân đón tiếp Chủ tịch nước Lê Đức Anh và phu nhân tại Mỹ năm 1995

Trong khối ASEAN trước đây có một số nước rất căng với ta, gần đây đã có những dấu hiệu thay đổi. Và cũng có những nước sẽ ủng hộ ta vào, những nước này từ lâu vẫn có thiện cảm với Việt Nam, từng đồng tình và ủng hộ Việt Nam chống ngoại xâm, đó là Indonesia. Ta sẽ đặt chân vào ASEAN từ cánh cửa của những nước như vậy. Nhưng những bước đi đầu tiên phải hết sức bí mật và thận trọng. Nếu ta không vào ASEAN thì Mỹ và một số nước lớn sẽ tiếp tục phá ta, thậm chí tiếp tục dùng một số nước ASEAN để phá ta. Còn nếu ta vào được thì họ không phá được ta mà ngược lại, ta sẽ là chỗ dựa về chính trị để các nước ASEAN vươn lên…”

Sau khi họp bàn, trao đổi, hầu hết các thành viên đều nói: “Được!”, không ai nói khác. Ông Phạm Văn Đồng nói: “Việc này bên Ngoại giao làm là đúng chức năng, mà Bộ Quốc phòng phải phối hợp; nhưng việc lớn thế này cả Đảng và Nhà nước cùng làm mới xong”. Ông Nguyễn Cơ Thạch, Bộ trưởng Ngoại giao hăng hái nói: “Bây giờ các anh cứ quyết, tôi xin làm ngay!”. Ông Trường Chinh nói: “Bộ Ngoại giao làm là tất nhiên rồi. Nhưng trước hết đề nghị anh Lê Đức Anh suy nghĩ cách làm, biện pháp cụ thể, và đề nghị giao cho anh Anh làm cái đoạn “mở đầu” với Trung Quốc”. Hội nghị nhất trí với ý kiến của ông Trường Chinh.

Như vậy, những nội dung ông Anh xin phép báo cáo, được hội nghị bàn luận, bổ sung và đồng thuận thì nó trở thành trí tuệ của tập thể, thành chủ trương lớn của Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Nói gọn lại thì những chủ trương đó là: Điều chỉnh và bố trí lại đội hình và thế trận phòng thủ biên giới. Xúc tiến việc thăm dò và tích cực hoạt động ngoại giao để triệt tiêu sự đối đầu căng thẳng và tiến tới bình thường hóa quan hệ Việt – Trung. Tiến hành giảm quân số thường trực vững chắc. Phá thế bao vây cấm vận của Mỹ. Tích cực hoạt động ngoại giao để Việt Nam gia nhập cộng đồng ASEAN…

Ông Anh bộc bạch: “Điều quan trọng nhất lúc này là đạt được sự đồng thuận của các thành viên Bộ Chính trị; chứ chưa nhất trí thì khó, bởi đây là những chuyện lớn, rất nhạy cảm, mà lại không thể nói rộng ra”.

Về phần mình, ngay sau hội nghị, ông Anh liền xúc tiến những công việc trọng đại được ủy thác; nhưng không phải làm xong việc này mới làm việc khác, mà các công việc nó đan xen, hỗ trợ nhau; có việc một thời gian thì xong, có những việc trải dài sang hai nhiệm kỳ sau, khi ông lên làm Chủ tịch nước mới có kết quả.

Đại tá Khuất Biên Hòa