Category Archives: Chiến tranh Việt Mỹ

Tưởng niệm không quân Nguyễn Văn Bảy trong chuyến hội ngộ tại Hoa Kỳ

THS2018 – Ngày 21/9/2017 những cựu thù 2 nước từng săn đuổi trên không đã cùng nhau gác chuyện hận thù để “đáp an toàn” trong hăng-ga của HKMH USS Midway. Mời các bạn xem toàn bộ video do KBCHN ghi hình trọn bộ cuộc gặp gỡ lịch sử.

Advertisements

Gặp “huyền thoại Côn Đảo” Lê Quang Vịnh

TTH – Lê Quang Vịnh – cái tên “huyền thoại Côn Đảo”, được mọi người biết đến: Một nhà giáo yêu nước, một chiến sĩ cách mạng kiên trung, bất khuất đã 3 lần bị Mỹ – Diệm tuyên án tử hình và lưu đày 14 năm ở ngục tù Côn Đảo. Trong đó, có 8 năm ròng rã bị đày đọa, cấm cố trong các “Chuồng cọp”, “Chuồng Bò”, “Hầm Đá”… Dù bị đánh đập, tra khảo tàn bạo, dã man, ông vẫn luôn một lòng, một dạ sắt son, giữ vững lý tưởng của người cộng sản…

“Huyền thoại” người cựu tử tù…Tôi tìm đến cựu tử tù Côn Đảo – Lê Quang Vịnh vào một ngày Huế mưa lắc rắc. Ông tiếp tôi với nụ cười giản dị, giọng nói ấm áp, rành rọt, khúc chiết trong câu chuyện hồi tưởng về quá khứ. “Cuộc đời tôi không phải chỉ được dệt bằng những chiến công hiển hách, những tấm lòng trung dũng, kiên cường, những tình cảm cao đẹp, mà bao giờ cũng có hai mặt đối chọi nhau rất dữ dội. Nhà tù của thực dân đế quốc là để đày ải, giam cầm, khủng bố cách mạng và những người cách mạng. Nhà tù là nơi thử thách của những người cách mạng. Tôi đúc rút ra bài học cho mình: “Đi trên đường cách mạng chân chính, chúng ta sẽ được đồng bào, đồng chí, quần chúng nhân dân đồng tình, ủng hộ; nỗi bất hạnh sẽ biến thành niềm hạnh phúc”, Lê Quang Vịnh mở đầu câu chuyện với tôi bằng những lời nói rất thật của một người cộng sản, mà thế hệ như tôi thật khó để hình dung. 

Ông Lê Quang Vịnh bênchân dung của mình Trong câu chuyện với tôi về những năm tháng lao tù, nhiều lần Lê Quang Vịnh rưng rưng nước mắt. Ông khóc không phải vì quá đau khổ, quá cùng cực ở chốn lao tù, mà vì niềm tin, vì lòng quả cảm vượt qua gian khó của một người cộng sản. Ông dẫn tôi đi khắp căn phòng, hướng dẫn, giới thiệu cho tôi những kỷ vật, hiện vật đáng nhớ nhất trong cuộc đời ông. Giở từng lá thư của mẹ gửi cho ông, khi ông đang ngồi ở nhà tù Côn Đảo, tay ông run run, mắt đỏ hoe vì cảm động, vì thương nhớ. Chiếc còng kia giờ đã nằm trong tủ trưng bày, nhưng đã chứng kiến biết bao đau thương thể xác của Lê Quang Vịnh và các đồng chí, đồng đội của ông trong những lúc bị còng chân, còng tay ngồi trong xà lim dành cho người tử tù. Nắm đất kia, hòn đá kia… tất cả đều là kỷ niệm ở Côn Đảo mà thời bình ông mới có dịp sưu tầm, để cất giữ và xem đó là những kỷ vật quý giá nhất của đời mình. Sách, báo, phim ảnh trong và ngoài nước nói về “huyền thoại” tử tù Lê Quang Vịnh đã nhiều, nhưng sao tôi vẫn muốn được nghe ông kể chuyện về những người tử tù Côn Đảo…
 Phiên tòa lịch sử mang tên “Hội sinh viên học sinh Việt cộng ngày 23-5-1962 xét xử vụ mưu sát Đại sứ Mỹ Nâu – ting với 12 bị cáo tuổi đời còn rất trẻ, trong đó có vị Giáo sư 26 tuổi Lê Quang Vịnh, Ủy viên BCH Đoàn Thanh niên Lao động miền Nam, Việt Nam khu Sài Gòn – Gia Định, Trưởng ban cán sự Sinh viên. Phiên tòa đã trở thành diễn đàn biểu dương lực lượng cách mạng và tố cáo tội ác của giặc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước. Kết thúc phiên tòa, trong số 12 bị cáo trẻ tuổi đó có 4 án tử hình (trong đó có Lê Quang Vịnh), 4 án chung thân, 4 án khác từ 5 đến 15 năm tù. Từ nhà lao Chí Hòa, Côn Đảo, Chuồng Cọp, Chuồng Bò, Hầm Đá… suốt 14 năm ròng rã với những đòn roi chí mạng, kẻ thù vẫn không làm lung lay ý chí người cộng sản Lê Quang Vịnh. Người ta thường nói, những người cộng sản biến nhà tù của bọn đế quốc trở thành trường học lớn cho mình, thật không sai chút nào. Đối với Lê Quang Vịnh, còn hơn thế nữa, năm 14 tuổi ông đã tham gia cách mạng rồi bị bắt, bị tù 7 tháng (giai đoạn 1950-1951) tại Lao Thừa Phủ, vì hoạt động Đoàn học sinh kháng chiến tỉnh Thừa Thiên Huế. Trong các giai đoạn 1955-1956; 1961-1975 ông tiếp tục bị bắt, tù đày trong các nhà tù của bọn đế quốc và bè lũ tay sai bán nước. Nhưng trường học mà Lê Quang Vịnh trưởng thành nhanh nhất chính là “địa ngục trần gian” – Côn Đảo. Một “khóa học” kéo dài 14 năm trời, với 8 năm ròng rã, Lê Quang Vịnh nằm trong xà lim nhà tù Côn Đảo bị còng tay, còng chân. Trước phong trào đấu tranh cách mạng, trước khí tiết quả cảm của người cộng sản, Mỹ – Diệm không thể xử tử Lê Quang Vịnh. Chúng muốn ông phải chết dần, chết mòn trong lao tù bằng những đòn tra tấn tàn bạo, dã man nhất. “Trong 8 năm ấy, phần lớn tôi sống một mình. Ngoài việc tập trung trí tuệ để chống lại kẻ địch, tôi có một thú vui duy nhất là làm thơ, sáng tác nhạc với đề tài liên quan đến cuộc chiến đấu, bảo vệ khí tiết cách mạng. Tính lại tôi đã làm hàng trăm bài thơ, hàng chục bản nhạc. Những lần được nghe thơ Bác Hồ, lòng tôi lại xúc động và thế là tôi phổ nhạc bài thơ ấy. Tôi tự hát cho mình nghe và nguyện sẽ làm theo những lời Bác dạy”, cựu tử tù Lê Quang Vịnh xúc động.
Nhớ những cái “Tết” trong lao tù…
 Đã là tử tù chính trị bị còng chân ở Chuồng Cọp, Hầm Đá thì tuyệt đối không có Tết đúng nghĩa. Người tù nằm một mình trong bốn bức tường đá lạnh, chỉ biết Tết qua âm thanh, mùi vị bên ngoài vọng vào. Khi giao thừa đến, nghe tiếng pháo bên ngoài vọng vào, người tử tù đứng dậy nghiêm trang, tưởng tượng mình đang chào cờ Tổ quốc để thầm hát Quốc ca. Nhắc đến những cái “Tết” trong tù ngục, Lê Quang Vịnh đọc cho tôi nghe 2 câu đối được ông và các đồng chí trong tù kết nên từ những lá bàng khô: “Ngoài ngục, đào mai khoe sắc thắm. Trong tù, lý tưởng chói lòng son”.
 Cựu tử tù Lê Quang Vịnh kể lại: “Cũng có giao thừa, bốc quá, hát to: “Nước mắt rưng rưng tràn má hóp. Quốc ca ta hát vọng ra ngoài”. Thế là bọn lính canh Chuồng Cọp lấy sào thọc tới tấp từ trên song sắt xuống. Nếu còn hát tiếp, nó rắc vôi bột xuống trắng cả tóc tai. Thế mà anh em tù Chuồng Cọp, Hầm Đá cứ Tết đến, hay ngày Quốc khánh 2-9 là đứng nghiêm trang “chào cờ tưởng tượng”, rồi hát Quốc ca, Lãnh tụ ca. “Chúa Đảo” quy định tiêu chuẩn cho tử tù ăn 3 tháng được 100g thịt, một ngày 450g cơm (hai dĩa). Nhưng ngày Tết chúng cho thêm trên đĩa cơm mang vào chuồng một hai miếng thịt. Có thể gọi đó là “Khẩu phần Tết”. Anh em tù đi lao động khổ sai thì Tết nhất có khá hơn. Khi đi làm ở các “Sở” (tổ chức lao động khổ sai theo nghề, như sở vôi, sở đá…) họ kiếm được con cá dưới ruộng, bông hoa rừng, làm cho cái Tết cũng tươi hơn chút ít. Đêm giao thừa cả gian 14 Hầm Đá tổ chức văn nghệ, thay nhau hát các bài hát cách mạng, rồi ngâm thơ”.Báo chí dăng tin, viết bài về 4 chiến sĩ cộng sản bị tuyên án tử hình Nói rồi, ông lại suy tư: “Trong 8 năm biệt giam trong Chuồng Cọp, Hầm Đá và 4 năm chung thân khổ sai, có hai cái Tết ấn tượng nhất đối với tôi. Đó là Tết Mậu Thân 1968 và Tết năm 1971”. Ngày mùng 2 Tết Mậu Thân, cựu tử tù Lê Quang Vịnh đang ở Chuồng Cọp II, bỗng nhiên địch mở cửa, tháo còng, lôi ra khỏi chuồng. Sau đó chúng đưa anh cùng các tử tù Lê Hồng Tư, Lê Minh Châu, Trương Thanh Danh lên tàu thủy Mỹ chở về Sài Gòn. Tuy vẫn bị còng chân, nhưng 4 người tù được hít thở khí Xuân đất trời. Trên đường về Tổng Nha cảnh sát ngụy, nhiều khu quân sự của địch bị phá nát. Khu căn cứ Hàng Xanh gần như sụp đổ hoàn toàn. Dinh Độc Lập cũng bị nhiều vết tích của một cuộc tấn công. Đường phố Sài Gòn mọc lên nhiều công sự bằng bao cát. Như vậy, các anh đã được chứng kiến tận mắt một trận đánh rất lớn của quân ta vào đầu não Sài Gòn.
 Kể cho tôi nghe xong những ký ức về Tết ở Chuồng Cọp, Hầm Đá, Côn Đảo, cựu tử tù Lê Quang Vịnh bỗng trầm ngâm, rưng rưng nước mắt: “Đã 36 cái Tết trên đất nước hoà bình, bên vợ con sum vầy làm cỗ đón Xuân, đi chơi chúc Tết bà con bè bạn… nhưng không có cái Tết nào tôi không cồn cào nhớ đến những người bạn tù của mình còn sống hay đã nằm xuống ở nghĩa trang Hàng Dương Côn Đảo. Nhớ lắm, nhớ lắm… ”. Nói rồi ông rút khăn mùi xoa chấm nước mắt.
Luôn giữ vững lý tưởng người cộng sản…
 Năm 1975 – đất nước yên tiếng súng, cựu tử tù Lê Quang Vịnh thoát khỏi xiềng xích của nhà tù Côn Đảo, trở về với Đảng, với nhân dân. Mặc dù trên thân mình mang đầy thương tích, bệnh tật – hậu quả của những năm tháng tù đày, nhưng Lê Quang Vịnh vẫn được tiếp tục hoạt động cách mạng với nhiều cương vị công tác khác nhau. Ông được bố trí nhiều công việc quan trọng như: Thường vụ Đặc khu ủy Vũng Tàu – Côn Đảo, kiêm Bí thư Huyện ủy Côn Đảo; Giám đốc Sở Giáo dục – Đào tạo TP Hồ Chí Minh; Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội LHTN Việt Nam; Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ, kiêm Phó ban Dân vận Trung ương Đảng và nay là Chủ tịch Hội tù yêu nước tỉnh Thừa Thiên Huế.
 Dù ở cương vị công tác nào ông cũng luôn phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Cựu tù Lê Quang Vịnh tâm sự: “Tôi tham gia vào việc gì cũng bắt đầu bằng sự thất bại, bằng sự non kém, thiếu kinh nghiệm, yếu ớt, vụng về. Khó nhọc lắm, bầm dập lắm! Tuy nhiên, tôi không bỏ cuộc, tôi vẫn tiếp tục. Càng về sau, tôi càng được sự giúp đỡ, ủng hộ của những người tốt và cuối cùng là đi đến thành công. Tôi có lòng tin sắt đá về phương hướng mà đời mình đã xác định là đúng. Vấn đề chủ yếu là đúc rút kinh nghiệm, tìm ra nguyên nhân và phương pháp khắc phục, thì nhất định thất bại sẽ dẫn đến thành công. Không có Đảng, không có cách mạng thì tôi cũng không còn. Tôi bằng lòng tất cả, không tính toán so đo. Quan điểm của tôi khi làm việc thấy đúng thì bảo vệ, thấy sai thì đấu tranh. Thế thôi!”
 Ngày nghỉ hưu (2004), sau hơn 50 năm xa quê hương, Lê Quang Vịnh đã tìm về với quê nội – làng Xuân Hòa, phường Kim Long, TP Huế, sống cuộc sống thanh bình với đầy ắp những hoài niệm. Vợ chồng ông giờ đã có một tổ ấm hạnh phúc bên 2 người con Lê Quang Tự Do và Lê Quang Hạnh Phúc. Cả hai đã trưởng thành, đã có công việc ổn định và giữ những cương vị quan trọng trong công việc. Ngôi nhà của ông ở địa chỉ 58/24B Nguyễn Phúc Nguyên, TP Huế cũng chính là nhà lưu niệm Lê Quang Vịnh. Đây vừa là nơi gặp gỡ, hàn huyên tâm sự của những người bạn, người đồng chí, đồng đội vào sinh ra tử với ông. Bạn của ông là những người bạn tù Côn Đảo, ở khám Chí Hòa, Lao Thừa Phủ, những người bạn nước ngoài, hay những em nhỏ đang còn cắp sách đến trường. Họ đến với ông không chỉ để nhìn, ngắm những hình ảnh, gợi nhớ những kỷ niệm của chính mình qua những tư liệu, hiện vật mang đậm dấu ấn về những năm tháng không thể nào quên, về một thời đấu tranh cách mạng gian lao mà vinh quang, mà đến còn vì sự cảm thông, sẻ chia, kính phục trước một con người cộng sản “huyền thoại Côn Đảo” – Lê Quang Vịnh. 

Anh Phong

Tử tù Lê Quang Vịnh và câu chuyện sau nửa thế kỷ về bài hát Người con quang vinh

Người tử tù Lê Quang Vịnh  đã  trở về từ cõi chết sau 14 năm bị giam cầm tra tấn dã man ở địa ngục Côn Đảo,  hiện  sống tại TP Huế và đang có ý định khắc bản nhạc ngợi ca cái chết của mình năm xưa vào bia đá trưng bày tại Nhà lưu niệm Lê Quang Vịnh cùng bài thơ của Tố Hữu viết về anh…

Còn  bản nhạc viết tặng người anh hùng liệt sĩ Lê Quang Vịnh thì hơn 50 năm nay vẫn được cất lên trên khắp đất nước, và  tác giả – nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ cho đến hôm nay vẫn  nhận được nhuận bút  tác quyền…

Không ai có lỗi trong câu chuyện âm nhạc hy hữu ấy đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Đó là một “sự cố” thuộc về lịch sử khi người tử tù nổi tiếng thoát  chết sau án tử hình và một bài hát ngợi ca người anh hùng được viết quá nhanh bởi cảm xúc anh hùng ca mãnh liệt cổ vũ cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà…

Lai lịch một Bài ca đi cùng năm tháng…

Bài hát ngỡ có số phận ngắn ngủi ấy không ngờ vẫn được tiếp tục phổ biến, được các thế hệ người Việt khắp miền hát đến hôm nay, dù nhân vật của tác phẩm vẫn còn lẫm liệt sống sau những biến cố bi hùng.

Lê Quang Vịnh, người con quang vinh/ Tôi khắc tên anh vào trái tim tôi/ Tôi hát tên anh trong triệu muôn người…./ Dâng cả tuổi yêu đời/ Dâng cuộc sống cho muôn triệu người… Căm thù trào lên muôn nơi… Tuổi thơ tôi còn nhớ mãi giọng ca Quốc Hương khi ông hát ngợi ca người liệt sĩ anh hùng Lê Quang Vịnh. Rồi chúng tôi được các anh chị  tập cho bài hát ấy. Chúng tôi hát với tất cả niềm tự hào, đau đớn xen lẫn kính trọng mà đâu biết người tử tù ấy may mắn sống sót… Anh đã không bị tử hình như án của kẻ thù đã tuyên mà bị đày ra Côn Đảo cho đến ngày toàn thắng được trở về, làm Tổng thư ký Hội LHTNVN, Phó ban dân vận TƯ, Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ… Nhưng có điều mãi đến bây giờ tình tiết của câu chuyện ấy vẫn là một điều chưa mấy người hiểu.

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ kể rằng: Chỉ có Bác Hồ, lãnh tụ thiên tài với giá trị ngoại hạng, được ngợi ca khi Người còn tại thế, còn lại, tất cả chỉ có thể được tôn vinh khi nhân vật ấy đã hy sinh cho dân cho nước. Và Lê Quang Vịnh – người con quang vinh đã được viết trong hoàn cảnh ấy, bằng tâm thế ngợi ca một anh hùng liệt sĩ vừa hy sinh… Và vì sao lại có một “ngoại lệ” như vậy?.

Lê Quang Vịnh, một cái tên tuổi trẻ hồi ấy khá nổi tiếng trong giới học sinh sinh viên miền Nam. 14 tuổi cậu bé Vịnh đã nếm cảnh lao tù vì tham gia hoạt động trong đoàn học sinh kháng chiến Huế. 19 tuổi xong tú tài toàn phần đã tham gia làm báo Ngày Mai, một tờ báo cách mạng ở Huế trong vai trò Thư ký tòa soạn. Lại bị bắt chịu tù 1 năm. 21 tuổi chuyển vào Sài Gòn. 24 tuổi Tốt nghiệp thủ khoa Toán Đại học Sư phạm Sài Gòn và được kết nạp Đảng, được cử làm Tổng thư ký Hội Liên hiệp SVHS Sài Gòn Gia Định…

Lê Quang Vịnh được bổ nhiệm là Giáo sư Trung học trường Petrus Ký… Hè năm 1961,  bị bắt, anh bị kết án tử hình… Tin anh Lê Quang Vịnh bị tòa án Mỹ – Diệm ở Sài Gòn kết án tử hình lan ra miền Bắc gây xúc động với hàng triệu người hướng về miền Nam thân yêu đang tranh đấu cho ngày thống nhất… Ban Thống nhất Trung ương ra thông báo phát động một phong trào noi gương anh hùng dũng cảm của nhà trí thức trẻ Lê Quang Vịnh và tiểu đội anh hùng…

Giới văn nghệ sĩ hào hứng tham gia sáng tác về tấm gương chiến đấu và ý chí bất khuất trước kẻ thù của các anh. Nhà thơ Tố Hữu có bài thơ Tiểu đội anh hùng: Lê Quang Vịnh và các anh/ Tiểu đội anh hùng của tuổi xanh/ Mười hai tên, mạnh như tên lửa/ Chấp hết gươm treo, án tử hình… Nữ sĩ Anh Thơ có bài thơ Đôi dòng nước mắt viết về tình cảm của Tuyết Ngọc, một nữ sinh, một đồng chí của Lê Quang Vịnh khi  anh bị khép án tử hình: Em không lau mặc cho dòng nước mắt/ Chảy dài chảy mãi, chảy triền miên/ Nhìn anh đó hiên ngang bất khuất/ Trán rạng ngời mắt chói niềm tin/ Anh của em ơi, người anh thi sĩ/ Những ý thơ nào ru thắm tình ta/ Những ý thơ nào ước mơ hạnh phúc/ Cho chúng mình cho những lứa đôi ca…

Anh hùng Lê Quang Vịnh và vợ thời trẻ.

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ kể: Một lần đi họp ở CLB Thống nhất gần Bờ Hồ, nhạc sĩ Trần Kiết Tường cho biết Lê Quang Vịnh đã bị Mỹ – Diệm xử bắn ở Côn Đảo rồi. Nghe tin ấy, ai ai cũng sục sôi căm thù quân Mỹ Diệm và tỏ lòng tiếc thương vị giáo sư trẻ tuổi kiên trung bất khuất có tên Lê Quang Vịnh… Rất nhanh, ý nhạc hình thành trong đầu người nhạc sĩ trẻ tài hoa: Bao vinh quang chiến công anh tôi ca/ Khi tin đau xót xa trong lòng ta…

Nhưng điều bất ngờ với tôi là tác giả sau này cũng không hiểu vì sao đã viết nên một bản anh hùng ca cực nhanh như vậy và ý nhạc lời ca đẹp thế! Nhạc sĩ tâm sự: Khi biết tin anh Vịnh không bị xử tử mà bị đày ra Côn Đảo, rồi giảm xuống chung thân thì bài hát đã được phổ biến và nhanh chóng lan tỏa trong công chúng. Tuổi trẻ khắp nơi hào hứng truyền nhau bài hát ấy. Bài hát vang khắp nước, vào cả trong ngục tù Côn Đảo…

Nhưng tác giả và nhân vật bài hát đâu có lỗi! Đúng là không ai có lỗi trong câu chuyện ấy cả. Anh Vịnh thì trong ngục tù Côn Đảo, tác giả thì hưởng ứng sáng tác. Đúng là một câu chuyện có một không hai trong lịch sử. Và tác giả bài hát lẽ ra phải thấy tự hào vì viết nhanh đến thế, hay đến thế, một bản hùng ca mà vẫn tha thiết cháy bỏng…

…Và cuộc đời người tử tù có số phận đặc biệt

 Lê Quang Vịnh có một tuổi thơ gian khó. Cha bị kẻ thù bắn chết khi đang là một luật sư tham gia hoạt động cách mạng. Vốn thông minh sáng dạ, học giỏi, từng đỗ thủ khoa Toán, Đại học Sư phạm Sài Gòn, được quốc trưởng Bảo Đại cấp học bổng du học Pháp. Những tưởng anh chọn con đường học vấn thênh thang ấy, nhưng con đường anh chọn lại là con đường tranh đấu, con đường cứu nước…

Có lần tôi được anh kể cho nghe lý do của sự lựa chọn ấy: “Sau khi cha mất, trước bàn thờ cha, chị em tôi đã thề cùng nhau là sẽ trả thù cho cha. Quyết tâm ấy bắt đầu từ khi còn thiếu niên”. Năm 14 tuổi bị bắt vào nhà lao Thừa Phủ. Hai năm sau lại bị bắt vào tù vì hoạt động trong phong trào học sinh. Bị cấm hoạt động tại Huế, năm 1957, Lê Quang Vịnh chuyển vào Sài Gòn tiếp tục học hành và tham gia tranh đấu…

Tại đây năm 24 tuổi, anh được kết nạp Đảng, được Khu ủy Sài Gòn – Gia Định chỉ định làm Bí thư chi bộ sinh viên các trường ĐH Sài Gòn, Tổng Thư ký Hội Liên hiệp SVHS khu Sài Gòn Gia Định. Cùng lúc anh tốt nghiệp thủ khoa Toán tại Đại học Sư phạm Sài Gòn… Năm 1961, theo điều động của Khu ủy, Giáo sư Lê Quang Vịnh được lệnh ra căn cứ để chuẩn bị cho hoạt động thoát ly. Trong khi đang viết báo cáo gửi Đại hội SV quốc tế họp tại Hà Nội, căn cứ bị địch càn và Lê Quang Vịnh rơi vào tay chúng.

Tại tòa án quân sự đặc biệt của chính quyền Sài Gòn ngày 23/5/1962, anh bị khép án tử hình cùng với 11 người khác, trong đó 4 án tử hình, 4 chung thân… tại phiên tòa, có một chi tiết oái oăm là chúng đưa thầy giáo cũ của Lê Quang Vịnh, nay là Phó chủ tịch quốc hội Trịnh Hổ Uy của chính quyền Ngô Đình Diệm đến thẩm vấn anh.

Trước vị “quan tòa” đặc biệt này, chính Lê Quang Vịnh đã nói một câu nổi tiếng:  “Tôi ân hận vì bị chết quá sớm mà chưa thực hiện được chí nguyện đuổi Mỹ, lật Diệm!” Tiếp đó, những ngày trong ngục, tử tù Lê Quang Vịnh được viên đại tá Lê Văn Khoa, Ủy viên chính quyền Sài Gòn đưa giấy bút vào xui anh viết đơn ân xá gửi Ngô Đình Diệm, nhưng anh đã dùng giấy bút ấy để viết bài thơ Tiếng hát người tử tù gửi ra miền Bắc: Đi cho trọn con đường đi quá nửa/ Vững niềm tin sắt đá đời đời/ Kẻ thù dù giết được một mình tôi/ Đâu giết được cả loài người đang đứng dậy/ Trao đồng chí tâm tình tôi đấy/ Trước khi lên máy chém. Của quân thù

Điều kỳ diệu là không ngờ bài thơ ấy sau mấy tuần được gửi đi từ nhà ngục Chí Hòa, đã được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam làm xúc động hàng triệu con tim yêu nước… Bài thơ được nhiều HSSV miền Nam chép vào sổ tay, học thuộc  và được đọc lên trên các diễn đàn tranh đấu. Mười bốn năm trong ngục tối, từ năm 1962, khi bài hát Lê Quang Vịnh – người con quang vinh ra đời, Lê Quang Vịnh đâu có biết bên ngoài  cả nước hát về mình.

Ngay bạn tù Côn Đảo hát về anh mà anh đâu có biết. Mãi đến Tết năm Tân Hợi 1971, giao thừa, cả gian 14 hầm tổ chức văn nghệ, những người bạn tù thay nhau hát và ngâm thơ. Một anh bộ đội đã hát bài hát Lê Quang Vịnh – người con quang vinh của Nguyễn Tài Tuệ, nhờ đó mà sau 9 năm, anh mới được nghe bài ca viết về tấm gương dũng liệt của… chính mình.

Ngày toàn thắng 1975, sáng  ngày 1/5/1975, bạn tù đạp ngục báo tin toàn thắng. Lúc này sau 8 năm trong hầm tối, chuồng cọp, đôi chân bị cùm của Lê Quang Vịnh đã được tháo ra, anh cảm nhận giá trị của tự do và được trở về từ địa ngục Côn Đảo khi đã ở tuổi 40. Vẫn có một người con gái Hà Nội, em gái của người bạn tù nổi tiếng Trần Trọng Tân chờ đợi như chờ đợi một thần tượng của mình. Họ đã gặp nhau và có hạnh phúc bên nhau…

Tiếp tôi tại căn nhà Công vụ trên khu Hoàng Cầu trong buổi chiều trung tuần tháng bảy, vợ chồng anh Lê Quang Vịnh chỉ có một mong ước, là làm sao để đừng ai hiểu nhầm đó là một “sự cố”. Vâng! Không là sự cố mà là niềm tự hào bởi nhân vật của bài ca ấy đã sống và đấu tranh bất khuất cho đến ngày đất nước toàn thắng trở về. Cuộc đời anh xứng đáng được ngợi ca, học tập… Và bài hát ấy hình như cũng bất tử như chính nhân vật được ngợi ca… 

Nhắc đến sự kiện bài hát Lê Quang Vịnh – người con quang vinh, anh tâm sự: “Dù địch không hành quyết tôi cũng như hàng trăm tử tù khác, và sau đó chúng tự ý hoán giảm xuống án chung thân, nhưng tôi không hổ thẹn về cuộc chiến đấu trong lao tù đế quốc.  Có lẽ lúc bên ngoài không được tin tức gì về tôi và nghĩ tôi đã bị giết, chính là lúc tôi bị giam biệt lập sống một mình trong xiềng xích xung quanh toàn lính ác ôn…”.

Lê Quang Vịnh và tác giả bài ca về anh cùng tuổi với nhau, cùng sinh năm 1936 và vẫn còn sống… Lâu lâu họ vẫn liên lạc với nhau. Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ thì ở với gia đình tại Hà Nội, còn Lê Quang Vịnh thì đi về giữa Huế, Hà Nội, nơi làm việc của người con trai Lê Quang Tự Do và TP Hồ Chí Minh, nơi cô con gái Lê Quang Hạnh Phúc sống và làm việc.

Mọi chuyện đã lui về quá khứ, nhưng sự kiện hy hữu về bài hát ca ngợi anh hùng liệt sĩ Lê Quang Vịnh từ ấy đến nay không một ai, không có cơ quan nào có ý kiến hoặc phân xử, cho nên ca khúc nổi tiếng ấy mặc nhiên thành “Bài ca đi cùng năm tháng”. Nó vẫn được hát lên khắp nơi. Và như tác giả cho biết, nhuận bút tác quyền vẫn được trả. Nói rồi ông cho tôi xem danh mục các bài hát vừa được Trung tâm bản quyền Âm nhạc VN thu hộ tác quyền… Điều đó chứng tỏ 50 năm tròn đã qua, bài hát vẫn có sức sống và vẫn được người Việt hát lên như một bản hùng ca bất tử…

Chuyện về tử tù huyền thoại và bài hát ca ngợi Lê Quang Vịnh là một câu chuyện đẹp, hy hữu, bi hùng và rất đáng tự hào trong lịch sử và trong nghệ thuật âm nhạc Việt NamTân Linh

Về “Lữ đoàn thép” 172, đơn vị Hải quân đánh thắng trận đầu

VOV.VN – Ngày 5/8 là ngày kỷ niệm Hải quân nhân dân Việt Nam đánh thắng trận đầu (5/8/1964-5/8/2019). Đơn vị lập chiến công chính là “Lữ đoàn thép” 172.

Kể từ ngày Phân đội 3 tàu phóng lôi, tiểu đoàn 135 (đơn vị tiền thân của Lữ đoàn 172) dũng cảm chiến đấu đánh đuổi tàu Khu trục Madox của Mỹ ra khỏi vùng biển nước ta ngày 2&5 tháng 8/1964, 55 năm đã trôi qua, kế tục truyền thống vẻ vang của cha anh, những bài học kinh nghiệm từ chiến thắng trận đầu được thế hệ cán bộ chiến sĩ Lữ đoàn 172, Bộ Tư lệnh Vùng 3 Hải quân hôm nay vận dụng trong thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu để hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

ve "lu doan thep" 172, don vi hai quan danh thang tran dau hinh 1
Luyện tập các phương án sẵn sàng chiến đấu ở Lữ đoàn 172

Trong những ngày đầu tháng 8 lịch sử, chúng tôi đến thăm cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 172, Bộ Tư lệnh Vùng 3 Hải quân tại bán đảo Sơn Trà – Đà Nẵng.

Dưới cái nắng gay gắt của miền Trung nhưng trên quân cảng và trên các thao trường của đơn vị, chúng tôi được chứng kiến không khí thi đua sôi nổi trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 172. Buổi diễn tập huấn luyện chiến đấu công kích ngư lôi của cán bộ chiến sĩ tàu 331 diễn ra nhanh và chính xác. Từ đài chỉ huy của tàu, khẩu lệnh của thuyền trưởng dõng dạc, dứt khoát, hành động của các bộ phận nhịp nhàng, tác nghiệp chuẩn xác.

Trong vòng chưa đầy 7 phút, tàu 331 đã luyện tập xong bảng bố trí chuẩn bị chiến đấu công kích ngư lôi, tiếp tục chuyển sang các bảng chiến đấu đối không, đối hải, công kích tên lửa, chuẩn bị đi biển khẩn cấp…Mỗi khoa mục huấn luyện được các ngành, các vị trí phối hợp thực hành thuần thục, chính xác.

Thiếu tá Hồ Minh Tuấn, Thuyền trưởng tàu 331 cho biết, luyện tập các tình huống sẵn sàng chiến đấu là nhiệm vụ thường xuyên của tàu, nhưng trong những ngày hướng tới kỷ niệm 55 năm chiến thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam, những hình ảnh của đội tàu phóng lôi 135 năm xưa lại khơi dậy trong mỗi cán bộ chiến sĩ tàu 331 nói riêng và đội tàu của Lữ đoàn 172 nói chung âm vang chiến thắng trận đầu của quân, dân miền Bắc, trong đó có Hải đội 135 – tiền thân của Lữ đoàn 172 hôm nay.

ve "lu doan thep" 172, don vi hai quan danh thang tran dau hinh 2
Thiếu tá Hồ Minh Tuấn, Thuyền trưởng tàu 331 đang hô khẩu lệnh diễn tập công kích ngư lôi

Cấp ủy, Chỉ huy tàu  thường xuyên giáo dục về tuyền thống đơn vị anh hùng – đơn vị góp phần quan trọng làm nên chiến thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam để mỗi cán bộ chiến sĩ của tàu đều nhận thức rõ niềm vinh dự và tự hào khi được học tập, công tác, huấn luyện ở đơn vị đánh thắng trận đầu, từ đó noi gương thế hệ đi trước, giữ vững và quyết tâm phấn đấu, phát huy truyền thống vẻ vang của đơn vị.

Đại úy Nguyễn Văn Long, Chính trị viên tàu 360 chia sẻ: Phát huy  truyền thống đánh thắng trận đầu của cha anh đi trước, mỗi cán bộ, chiến sỹ của tàu 360, Lữ đoàn 172 hôm nay đã thường xuyên được quán triệt, nhận thức sâu sắc về ý nghĩa lịch sử và giá trị to lớn của những bài học chiến thắng trận đầu, đặc biệt là ý nghĩa bài học chiến thắng của sức mạnh chính trị tinh thần, đó là ý chí quyết tâm chiến đấu “dám đánh, quyết đánh và biết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Chính vì vậy mỗi cán bộ chiến sĩ tàu 360 luôn nỗ lực học tập và rèn luyện, không ngại khó, ngại khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Trong huấn luyện, khai thác sử dụng vũ khí trang bị kỹ thuật, luôn bám sát phương châm huấn luyện “cơ bản, thiết thực, vững chắc”.

ve "lu doan thep" 172, don vi hai quan danh thang tran dau hinh 3
Biên đội tàu huấn luyện công kích tên lửa

Làm việc trên những con tàu phóng lôi, tàu tên lửa, Hải đội 131, Lữ đoàn 172 hiện nay đa phần các cán bộ chiến sĩ có tuổi đời còn rất trẻ nhưng tất cả đều tự hào, đam mê, nhiệt huyết, yêu biển, đảo, yêu con tàu. Chiến sĩ Lê Hữu Hạnh, tàu 331 tự hào: phát huy truyền thống của đơn vị đánh thắng trận đầu năm xưa, cán bộ, chiến sĩ tàu 360 không ngừng học tập nâng cao trình độ về mọi mặt, huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, xây dựng nền nếp chính quy, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc trong tình hình mới.

Trực tiếp chỉ huy các biên đội tàu huấn luyện, Thượng tá Vũ Đình Hiển, Lữ đoàn trưởng, Lữ đoàn 172 khẳng định: Cán bộ chiến sĩ Lữ đoàn 172 hôm nay luôn nhận thức sâu sắc về truyền thống của các thế hệ cha anh đi trước đã xây dựng, đặc biệt là truyền thống đánh thắng trận đầu của Phân đội 3 – Tiểu đoàn 135, đơn vị tiền thân của Lữ doàn 172. Tập thể Lữ đoàn đã và đang ra sức nỗ lực, phấn đấu viết tiếp truyền thống hào hùng của cha anh đi trước. Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ chiến thắng trận đầu được CBCS Lữ đoàn vận dụng trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu để đáp ứng thực hiện nhiệm vụ trong tình hình mới. Chính vì vậy, nhiều năm liên tục, Lữ đoàn 172luôn đạt đơn vị huấn luyện giỏi cấp Bộ Quốc Phòng, đạt danh hiệu đơn vị sẵn sàng chiến đấu bảo vệ biển, đảo tiêu biểu, xuất sắc nhất Quân chủng Hải quân.

ve "lu doan thep" 172, don vi hai quan danh thang tran dau hinh 4


Luyện tập sẵn sàng chiến đấu ở Lữ đoàn 172

Được mệnh danh là “Lữ đoàn thép” của Vùng 3, Quân chủng Hải quân, những năm qua, Lữ đoàn 172 đã phát huy tinh thần đoàn kết, tự lực tự cường, chủ động khắc phục khó khăn, quyết tâm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, trong đó xác định công tác huấn luyện chiến đấu là nội dung trọng tâm, là yếu tố cơ bản để nâng cao sức mạnh tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu của Lữ đoàn. 

Để có được thành tích này, theo Chuẩn đô đốc Mai Trọng Định, Chính ủy Bộ Tư lệnh Vùng 3, những năm qua, Đảng ủy, Chỉ huy đơn vị luôn phát huy nhân tố chính trị tinh thần, khơi dậy tình yêu biển, đảo, con tàu, đặc biệt giáo dục cho cán bộ chiến sĩ bản lĩnh chính trị và bản lĩnh chiến đấu “Dám đánh, quyết chiến, quyết thắng, không sợ kẻ thù” được đúc rút từ bài học kinh nghiệm đánh thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Bên cạnh đó thường xuyên coi trọng giáo dục về lịch sử, nghệ thuật quân sự, cách đánh truyền thống của Bộ đội Hải quân, ý nghĩa, tầm quan trọng về chiến thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam… từ đó mỗi cán bộ chiến sĩ xác định ý thức, trách nhiệm trong việc xây dựng lực lượng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. 

Hiện nay, tình hình trên biển có nhiều diễn biến phức tạp. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, tiếp tục tô thắm truyền thống của đơn vị đánh thắng trận đầu, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 172 luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, đoàn kết, khắc phục khó khăn, lập nên nhiều chiến công xuất sắc, góp phần cùng các đơn vị của Vùng 3 và Quân chủng Hải quân bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo và thềm lục địa của Tổ quốc, luôn xứng đáng là một trong những lực lượng chiến đấu chủ công của Hải quân Nhân dân Việt Nam, xây đắp nên truyền thống: “Chủ động sáng tạo, khắc phục khó khăn, sẵn sàng chiến đấu, đoàn kết quyết thắng”./.Cách đây 55 năm, mặc dù khi đó lực lượng của đơn vị nhỏ bé, các tàu của Hải quân nhân dân Việt Nam còn hạn chế về tính năng kỹ thuật, chiến thuật, lại phải tác chiến độc lập với tàu khu trục lớn, hiện đại của Hải quân Mỹ, nhưng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 135 với tinh thần dũng cảm, ý thức trách nhiệm làm chủ vùng biển đã đánh trận đầu xuất sắc, bắn cháy một máy bay, bắn bị thương một chiếc khác, buộc tàu khu trục Ma-đốc phải rút khỏi vùng biển miền Bắc. Những năm qua, nhiệm vụ trên giao ngày càng nặng nề, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo đòi hỏi cao hơn, khẩn trương hơn. Phát huy truyền thống, lớp cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 172 hôm nay luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc các mục tiêu được phân công. Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ chiến thắng trận đầu của Tiểu đoàn 135-đơn vị tiền thân của Lữ đoàn 172 vẫn được CBCS Lữ đoàn hôm nay vận dụng vào thực tiễn, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu.

Bài học sâu sắc từ chiến thắng trận đầu của Hải quân 55 năm trước

VOV.VN -Chiến thắng trận đầu ngày 5/8/1964 là một mốc son lịch sử trong quá trình chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Thu Lan/VOV1

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn

TTO – Cả một vùng ký ức rực lửa về đường Trường Sơn nửa thế kỷ trước đang được tái hiện đầy sống động tại Bảo tàng Đường Hồ Chí Minh, phường Yên Nghĩa, quận Hà Đông, Hà Nội.
Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 1.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm đường Trường Sơn năm 1973 – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Hàng trăm bức ảnh quý về những năm tháng hào hùng không thể nào quên trên những cung đường Trường Sơn máu lửa, cùng nhiều hiện vật chiến tranh chất chứa đầy ký ức một thời hào hùng đang phủ kín phòng trưng bày chuyên đề của Bảo tàng Đường Hồ Chí Minh và cả ngoài khuôn viên sân vườn rất đẹp của bảo tàng này.

Đây là triển lãm chuyên đề Ký ức Trường Sơndo Bảo tàng Đường Hồ Chí Minh phối hợp cùng Binh đoàn 12 tổ chức nhân kỷ niệm 60 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh – Ngày truyền thống bộ đội Trường Sơn (19-5-1959 – 19-5-2019).

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 2.

Tái hiện một căngtin Trường Sơn thân thuộc tại triển lãm – Ảnh: THIÊN ĐIỂU

Triển lãm tái dựng quá trình ra đời, xây dựng, chiến đấu, những mốc son tiêu biểu của bộ đội Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và những đóng góp to lớn của những người lính Trường Sơn hôm nay trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Phần trưng bày Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước không chỉ có những bức ảnh ghi lại những khoảnh khắc đặc biệt một thời hoa lửa của những người lính giữa rừng Trường Sơn đầy hiểm nguy, mà còn có nhiều kỷ vật chiến tranh rất thiêng liêng như balô người lính, đôi dép cao su, những cuốn nhật ký, những cuốn sổ chép thơ – nhạc, những tờ tin Trường Sơn, bộ tiền Trường Sơn… và cả những cây đàn được làm từ ống pháo sáng của địch.

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 3.

Một góc rừng Trường Sơn được tái hiện trong triển lãm – Ảnh: THIÊN ĐIỂU

Một vài sắp đặt trong triển lãm, tái hiện một góc rừng Trường Sơn còn sống động trong ký ức của nhiều người với những hình ảnh thân thuộc: cây súng dựng cạnh balô trĩu nặng, cánh võng, cây đàn ghita, chiếc mũ cối và cây gậy Trường Sơn, hay những trái bom lớn bên đường và tấm biển với dòng cảnh báo “Có bom”…

Và có cả một căngtin Trường Sơn như một quán lá nhỏ ven đường. Quán lá ấy không thể thiếu một cây đàn tự chế cho những phút giây ngơi nghỉ, thả lỏng của những người lính tuy ngày đêm đối mặt với hiểm nguy và cái chết nhưng vẫn giữ cho mình những khoảng trời lãng mạn, lạc quan.

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 4.

Những đồ dùng tự tạo từ vỏ pháo sáng của địch của lính Trường Sơn – Ảnh: THIÊN ĐIỂU

Thế nên, không lạ là, chiếm hầu hết trong những bức ảnh trưng bày về thời khốc liệt “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” ấy lại là những hình ảnh người chiến sĩ rạng ngời trong nụ cười tỏa sáng hay những khoảnh khắc chan chứa yêu thương của tình đồng đội, khi họ ngồi hát bên nhau, sẻ chia từng giọt nước cho nhau, đọc thư nhà bên nhau…

Triển lãm kéo dài tới hết ngày 31-5.

Những khoảnh khắc không thể nào quên trên đường Trường Sơn của một thời rực lửa:

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 5.

Công binh Trường Sơn tháo rời và vận chuyển từng bộ phận của xe tăng qua địa hình hiểm trở – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 6.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói chuyện thân mật với tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên và chính ủy Đặng Tính tại lán rừng Trường Sơn vào tháng 3-1973 – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 7.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm đường Trường Sơn năm 1973 – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 8.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm hỏi, động viên cán bộ chiến sĩ Đại đội 3, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 596 Bộ tư lệnh 559 chốt giữ trọng điểm ngã ba Lùm Bùm vào tháng 3-1973 – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 9.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm hỏi, động viên cán bộ chiến sĩ Bộ tư lệnh 559 vào tháng 3-1973 – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 10.

Chủ tịch Cuba Fidel Castro đến thăm bộ đội Trường Sơn tại Quảng Trị năm 1973 – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 11.

Đọc thư nhà trước lúc lên đường làm nhiệm vụ – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 12.

Biểu diễn văn nghệ phục vụ bộ đội Trường Sơn – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 13.

Trung đội nữ lái xe mang tên Nguyễn Thị Hạnh gồm 40 cô gái làm nhiệm vụ vận chuyển khí tài, đạn dược đã dũng cảm vượt qua nhiều trọng điểm đánh phá ác liệt, chi viện cho chiến trường miền Nam – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 14.

Bộ đội đọc Bản tin Trường Sơn giữa giờ nghỉ chân – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 15.

Buổi biểu diễn của đội nghệ thuật xung kích tại cung đường B45 – binh trạm 42 Tây Trị Thiên vào tháng 8-1979 – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 16.

Các chiến sĩ chủ lực Đại đội 3 bộ binh đánh chiếm đồi Không Tên trong chiến dịch phản công Đường 9 – Nam Lào vào tháng 3-1971 – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 17.

Các nữ chiến sĩ Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 32, đường ống, Bộ tư lệnh 559 xây dựng đường ống xăng dầu qua suối đoạn K7B, Nam Mương Noong – Lào đi K8A Tây Trường Sơn vào tháng 1-1972 – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 18.

Hành quân vào Nam tại cung giao liên bộ của Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 71 trên tuyến Tây Trường Sơn vào tháng 8-1962 – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 19.

Lực lượng giao liên Trường Sơn đưa đoàn quân theo đường bộ vượt qua điểm cao 900m dốc Nguyễn Chí Thanh, dốc Bà Định, dốc 1001m vào chiến trường miền Nam vào tháng 10-1966 – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 20.

Lực lượng vận tải Trường Sơn vận chuyển cơ giới lớn, chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh tại binh trạm 36 – Nam Thừa Thiên vào năm 1974 – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 21.

Các nữ chiến sĩ Trung đoàn 671 đường ống binh trạm 14 lắp đặt đường ống xăng dầu qua trọng điểm Phu La Nhích vào năm 1972 – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 22.

Nữ giao liên Nguyễn Thị Huấn – binh trạm 32 – chia sẻ nước cho đồng đội trên đường hành quân vào năm 1971 – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 23.

Thanh niên xung phong tỉnh Hà Nam hành quân vào Trường Sơn năm 1972 – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 24.

Tổng bí thư Lê Duẩn thăm bộ đội Trường Sơn năm 1973 – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 25.

Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên thăm và động viên chiến sĩ Tiểu đoàn 101 ôtô vận tải anh hùng thuộc Trung đoàn 13, Bộ tư lệnh 559 trong chiến lược vận chuyển mùa khô 1970-1971 – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 26.

Vận chuyển hàng bằng phương thức gùi thồ vào tháng 2-1962 – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

Rực lửa ký ức đường Trường Sơn - Ảnh 27.

Xe qua ngầm Se La Nông vào tháng 4-1975 – Ảnh: THIÊN ĐIỂU chụp lại

THIÊN ĐIỂU

Cuộc hội ngộ xúc động của gần 1.000 cựu binh bộ đội Trường Sơn

TTO – Sáng 19-5, gần 1.000 cựu chiến binh Đoàn 559 – Bộ đội Trường Sơn cùng con em đã nô nức đến dự buổi họp mặt kỷ niệm 60 năm ngày mở đường Trường Sơn tổ chức tại Hội trường Thành uỷ TP.HCM.
Cuộc hội ngộ xúc động của gần 1.000 cựu binh bộ đội Trường Sơn - Ảnh 1.

Gần 1.000 cựu chiến binh Đoàn 559 – Bộ đội Trường Sơn tham dự buổi họp mặt – Ảnh: TỰ TRUNG

Là người duy nhất còn lại trong 22 tư lệnh, chính ủy của 16 năm lịch sử Đoàn 559, thiếu tướng Phan Khắc Hy ôn lại những con số lịch sử: “16 năm thực hiện nhiệm vụ chi viện cho các hướng chiến trường, lực lượng cầu đường của Bộ đội Trường Sơn với bốn sư đoàn công binh, một vạn thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến kiên cường bám trụ, giành giật từng thước đường, đã làm nên một hệ thống giao thông vĩ đại gồm 5 trục dọc, 21 trục ngang, hơn 17.000km đường xe cơ giới.

Cuộc hội ngộ xúc động của gần 1.000 cựu binh bộ đội Trường Sơn - Ảnh 2.

Là người duy nhất còn lại trong 22 tư lệnh, chính ủy của 16 năm lịch sử Đoàn 559, Thiếu tướng Phan Khắc Hy ôn lại những con số lịch sử Đường Trường Sơn – Ảnh: TỰ TRUNG

Lực lượng giao liên Trường Sơn đã mở 3.000km đường giao liên, tổ chức cho hơn 2 triệu lượt người ra vào chiến trường an toàn.

Lực lượng thông tin Trường Sơn đã xây dựng 1.350km đường thông tin và hàng vạn kilômét dây thông tin các loại, từ Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh đến sở chỉ huy các sư đoàn, binh trạm, trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội…, đảm bảo sự chỉ huy thông suốt từ Tổng hành dinh Hà Nội qua Trường Sơn tới thẳng các chiến trường.

Bộ đội xăng dầu Trường Sơn đã mở 1.400kmm đường ống xăng dầu dọc Trường Sơn, là một kỳ tích vĩ đại về sức mạnh con người, tạo nên sức mạnh và hiệu quả của công tác chi viện chiến lược cho cách mạng của ba nước Đông Dương…”.

Cuộc hội ngộ xúc động của gần 1.000 cựu binh bộ đội Trường Sơn - Ảnh 3.

Cựu binh Trường Sơn trò chuyện tại buổi họp mặt – Ảnh: TỰ TRUNG

Dù không thể đếm hết những người đã ngã xuống, buổi họp mặt hôm nay vẫn có sự hiện diện của một trong những người mở đường đầu tiên: ông Nguyễn Văn Thắng – trinh sát soi đường của Đoàn 301 (tiền thân Đoàn 559 – Bộ đội Trường Sơn).

Tuổi đã 93, ông vẫn nhớ rành rọt những địa danh Khe Hó, bản Gát, làng Mít, Voi Mẹp của những bước đường đầu tiên “ở không nhà, đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”.

Câu chuyện Trường Sơn giữa những thế hệ của 559 không cần nhiều lời, chỉ những cái siết tay, những nụ cười là đủ để chia sẻ.

Cuộc hội ngộ xúc động của gần 1.000 cựu binh bộ đội Trường Sơn - Ảnh 4.

Cựu binh Nguyễn Văn Thắng, 93 tuổi một trong những người đầu tiên soi đường Trường Sơn tháng 5/1959 – Ảnh: TỰ TRUNG

Với tư cách thế hệ đi sau, TS Võ Kim Cương, con trai Chính uỷ Võ Bẩm – người đầu tiên được giao nhiệm vụ mở đường Trường Sơn, trưởng phân ban con em chiến sĩ Trường Sơn – phát biểu: “Tôi là người có vinh dự được chứng kiến sự ra đời của binh đoàn này, từ ngày có 9 người đến ở ngay tại nhà cha chúng tôi, và một cách tự nhiên, tôi trở thành người theo dõi nhiệt thành và yêu thương của truyền thống lịch sử Bộ đội Trường Sơn.

Từ kinh nghiệm bản thân, tôi mong muốn thế hiện trẻ, trước hết là gia đình của hai triệu cựu binh Trường Sơn, tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử một cách nghiêm túc để hiểu, để yêu và để vững vàng với truyền thống đất nước, với lịch sử cuộc kháng chiến. Có như vậy chúng ta sẽ vững vàng, sẽ không mất gốc, không mất nước”.

Cuộc hội ngộ xúc động của gần 1.000 cựu binh bộ đội Trường Sơn - Ảnh 5.

TS Võ Kim Cương, con trai Chính uỷ Võ Bẩm – người đầu tiên được giao nhiệm vụ mở đường Trường Sơn, trưởng phân ban con em chiến sĩ Trường Sơn – Ảnh: TỰ TRUNG

Bà Nguyễn Thị Lệ – chủ tịch Hội đồng nhân dân TP.HCM – xúc động nói: “Thời gian có thể xoá mờ những dấu chân người lính năm nào nhưng đường Trường Sơn thì đã đi vào huyền thoại, chứng minh vị trí quan trọng của nó trong lịch sử, kết tinh và hiện thân của tình yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của người Việt Nam suốt cuộc chiến tranh cho hoà bình, thống nhất đất nước.

Những thế hệ đi sau không bao giờ được quên, và với chúng tôi, thể hiện thiết thực nhất là đóng góp cho sự nghiệp xây dựng TP.HCM văn minh, giàu mạnh”.

Cuộc hội ngộ xúc động của gần 1.000 cựu binh bộ đội Trường Sơn - Ảnh 6.

Bà Nguyễn Thị Lệ – chủ tịch Hội đồng nhân dân TP.HCM – phát biểu tại buổi họp mặt – Ảnh: TỰ TRUNG

Thay mặt thế hệ trẻ TP.HCM, anh Lê Huy Phúc – bí thư trường Đội TP.HCM – bày tỏ sự xúc động, tự hào khi được gặp các cựu binh Trường Sơn, được nghe những câu chuyện Trường Sơn.

“Nhiệm vụ của tuổi trẻ là không để truyền thống oanh liệt của cha ông bị mai một, chúng tôi cam kết sẽ phấn đấu vì một đất nước hoà bình xứng đáng với những ước mơ của tuổi hai mươi khi xưa”, anh Phúc phát biểu.

Cuộc hội ngộ xúc động của gần 1.000 cựu binh bộ đội Trường Sơn - Ảnh 7.

Đoàn văn công cựu binh Trường Sơn biểu diễn tiết mục “Đêm Trường Sơn nhớ Bác” – Ảnh: TỰ TRUNG

Những ca khúc ngày xưa rực lửa Trường Sơn, đẫm trăng đẫm sương Trường Sơn hôm nay được biểu diễn lại bởi chính những cựu chiến binh Trường Sơn. Dáng người đã đậm đã cứng nhưng nét múa vẫn mềm mại, giọng không còn trong nhưng vẫn âm vang Trường Sơn.

Phía dưới, những người cựu binh đầu bạc rưng rưng. Khi xưa, tuổi hai mươi của họ đã hát cho nhau nghe chỉ vài phút giây khi tiếng bom vừa ngừng, khi đường vừa thông, xe vừa chạy, không biết có phải là lần cuối cùng. Hôm nay, tuổi tám mươi, họ hát cho nhau nghe trong hội trường rộng lớn, mát lạnh của ngày hoà bình, nhưng lại cũng trong tâm trạng có thể là lần cuối cùng.  

Một số hình ảnh các cựu binh Trường Sơn tại buổi gặp mặt: 

Cuộc hội ngộ xúc động của gần 1.000 cựu binh bộ đội Trường Sơn - Ảnh 8.

Các cựu binh Trường Sơn tham dự buổi họp mặt – Ảnh: TỰ TRUNG

Cuộc hội ngộ xúc động của gần 1.000 cựu binh bộ đội Trường Sơn - Ảnh 9.

Các cựu binh tham dự buổi họp mặt – Ảnh: TỰ TRUNG

Một số hình ảnh tư liệu được trưng bày tại buổi gặp mặt:

Cuộc hội ngộ xúc động của gần 1.000 cựu binh bộ đội Trường Sơn - Ảnh 10.

Sau trận mưa bom đoàn xe vẫn vượt đường Trường Sơn – Ảnh: TRỌNG THANH

Cuộc hội ngộ xúc động của gần 1.000 cựu binh bộ đội Trường Sơn - Ảnh 11.

Ảnh: TRỌNG THANH

Cuộc hội ngộ xúc động của gần 1.000 cựu binh bộ đội Trường Sơn - Ảnh 12.

Đoàn xe tải vượt Trường Sơn – Ảnh: TRỌNG THANH

Cuộc hội ngộ xúc động của gần 1.000 cựu binh bộ đội Trường Sơn - Ảnh 13.

Ảnh: TRỌNG THANH

Cuộc hội ngộ xúc động của gần 1.000 cựu binh bộ đội Trường Sơn - Ảnh 14.

Các đội viên TNXP binh trạm 41 vừa tải đạn, vừa chiến đấu bảo vệ hàng – Ảnh: TRỌNG THANH

Cuộc hội ngộ xúc động của gần 1.000 cựu binh bộ đội Trường Sơn - Ảnh 15.

Ảnh: TRỌNG THANH

Kiêu hãnh ‘những bông hồng thép’ của đường Trường Sơn

Kiêu hãnh ‘những bông hồng thép’ của đường Trường Sơn

TTO – Những nữ chiến sĩ Trường Sơn năm xưa, nay đều ngoài cao tuổi nhưng họ mặc quân phục, tụ hội bên nhau trong một ngày đặc biệt, hát cho nhau nghe, và cùng sống lại ký ức của một thời không thể nào quên trên đường Trường Sơn.
PHẠM VŨ

Chiến tranh Đông Dương lần 2

Từ năm 1954 đến năm 1976, Võ Nguyên Giáp tiếp tục giữ cương vị Ủy viên Bộ Chính trị – Bí thư Quân ủy Trung ươngTổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bộ trưởngBộ Quốc phòng. Ông còn là Phó Thủ tướngChính phủ, sau là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (từ năm 1955 đến năm 1991).

Từ tháng 3 năm 1960, Võ Nguyên Giáp làm việc dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị và nhà lãnh đạo mới là Lê DuẩnBí thư Thứ nhấtĐảng Lao động Việt Nam, một nhà cách mạng theo đường lối cứng rắn đã trải qua những nhà tù khắc nghiệt nhất, tận mắt chứng kiến tình cảnh của những cán bộ Việt Minh ở miền nam sau Hiệp định Geneve trong Phong trào Tố cộng – Diệt cộng do Ngô Đình Diệm phát động.

Lê Duẩn chủ trương dùng quân sự xóa bỏ nhà nước Việt Nam Cộng hòa, thống nhất Việt Nam dù Việt Nam Cộng hòa được Hoa Kỳ hỗ trợ về mọi mặt.

Dù có thói quen viết hồi ký, Võ Nguyên Giáp vẫn chưa xuất bản cuốn nào về giai đoạn 19541971. Đây là thời kỳ Lê Duẩn từ vị trí lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam tiến đến điều hành Bộ Chính trị.

Một mặt, nhà lãnh đạo này xem trọng Võ Nguyên Giáp, mặt khác, vẫn giữ ấn tượng về việc lãnh đạo Việt Minhđồng ý rút ra bắc theo Hiệp định Geneve với Pháp.

Theo các sử gia phương Tây, họ chia sự hợp tác giữa 2 nhân vật quyết định chiến tranh ở cấp cao nhất này thành 3 giai đoạn:Từ năm 1954 đến năm 1964, thời gian Lê Duẩn mới ra miền Bắc nắm quyền chính trị và Võ Nguyên Giáp với tư cách người chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, cả hai nhất trí hầu hết các điểm về đường lối quân sự;Từ năm 1965 đến năm 1972 (giai đoạn Mỹ trực tiếp tham chiến), thời gian Lê Duẩn nắm toàn quyền chính trị và ý kiến Võ Nguyên Giáp thường bị xem là chưa đủ cứng rắn; 

Từ năm 1972 đến năm 1975 (giai đoạn Mỹ rút quân), Lê Duẩn trao toàn quyền chỉ huy quân sự cho Võ Nguyên Giáp. Thậm chí còn có ý kiến cho rằng tướng Giáp không có vai trò quan trọng trong việc định hình chiến lược chiến tranh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau năm 1965 mà ông còn thật sự phản đối cuộc chiến ngay từ đầu.

Vào thời gian cuộc chiến chống Mỹ tại miền Nam Việt Nam nổ ra vào năm 1965, Võ Nguyên Giáp đóng một vai trò chủ yếu mang tính nghi lễ giống như Hồ Chí Minh. Ông trở thành “một khuôn mặt của các nỗ lực chiến tranh chống Mỹ, một công cụ tiếp thị, cho một phe cánh trong Đảng, những người thiếu danh tiếng, uy tín và tính hấp dẫn trên trường quốc tế“. Cũng theo quan điểm này, Sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968 không liên can gì tới tướng Giáp mà là chủ trương của Lê Duẩn vì ông Giáp chống lại chủ trương này. Chính Lê Duẩn là người chỉ đạo chính trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, là kiến trúc sư của chiến thắng của người cộng sản vào năm 1975.

Tuy nhiên nghiên cứu các tài liệu của Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Quang Ngọc từ chối cho rằng vai trò của Tướng Giáp bị làm cho lu mờ bởi những thành viên Bộ Chính trị trong giai đoạn cuộc chiến tranh chống Mỹ. Ông cho rằng không hề có một sự phân chia ê-kíp trong nội bộ Bộ Chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như các nhà sử học phương Tây vẫn phán đoán, mà theo đó Tướng Giáp được cho là thuộc phái “chủ hoà”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng viết trong hồi ký: “Với tôi, những năm công tác trong Bộ Chính trị, Anh (tức Lê Duẩn) đã thường xuyên trao đổi ý kiến, thường là nhanh chóng đi đến nhất trí trong những vấn đề lớn; khi có ý kiến khác nhau thì tranh luận thẳng thắn, những điều chưa nhất trí thì chờ thực tiễn kiểm nghiệm. Lúc mới ra Bắc, Anh thường tâm sự với tôi những khó khăn trong công việc…

Từ sau Đại hội III và Đại hội IV, tôi đã ba lần đề nghị Anh là Tổng Bí thư kiêm luôn Bí thư Quân ủy Trung ương, nhưng Anh nói với tôi: “Anh (tướng Giáp) là Tổng chỉ huy lâu năm nên tiếp tục làm Bí thư Quân ủy Trung ương, như vậy có lợi cho lãnh đạo”.

Từ 1954 đến 1964Từ năm 1954 đến năm 1956, Võ Nguyên Giáp chủ trương đấu tranh hòa bình, yêu cầu Việt Nam Cộng hòa thực hiện Hiệp định Geneve vì một Việt Nam thống nhất, không chia rẽ về tình cảm và chính trị. Tuy nhiên, Ngô Đình Diệm đã thẳng thừng bác bỏ yêu sách này bằng Phong trào tố cộng diệt cộng.

Từ năm 1957 đến năm 1958, Đảng Lao động đã có những cuộc họp bàn về cách mạng Miền Nam nhưng chủ trương, biện pháp đấu tranh vẫn chưa thay đổi, phong trào cách mạng tiếp tục bị đàn áp và tổn thất nặng nề.Tháng 1-1959, khi hy vọng thi hành Hiệp định Genève không còn, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị (mở rộng) lần thứ 15, Võ Nguyên Giáp giúp Bộ Chính trị và những người cộng sản miền nam do Lê Duẩn đứng đầu ban hành Nghị quyết 15 Bộ Chính trị, khẳng định việc giải phóng miền nam bằng đấu tranh vũ trang, cho phép những cán bộ kháng chiến còn lại ở miền nam tổ chức hoạt động vũ trang.

Năm 1959, được Bộ Chính trị đồng ý, Võ Nguyên Giáp đã quyết định thành lập Đoàn 559 mở đường mòn dọc dãy Trường Sơn để tiếp ứng phong trào cách mạng miền nam Việt Nam. Nhờ việc mở đường Trường Sơn, phong trào cách mạng và hoạt động du kích miền Nam phát triển rất mạnh. Sau 4 năm, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã thành lập được một số đơn vị cấp trung đoàn.

Năm 1964, được Bộ Chính trị đồng ý, Võ Nguyên Giáp đã bí mật cử Nguyễn Chí ThanhLê Trọng Tấn vào chiến trường Đông Nam Bộ chỉ huy quân giải phóng miền Nam đánh lớn tại Bàu BàngDầu TiếngĐồng Xoài… tạo chuyển biến chiến trường và thành lập các Sư đoàn 1, 2, 3, 5, 7, 9 nổi tiếng.

Trong đó, Sư đoàn 1 trấn thủ Tây Nguyên, Sư đoàn 2 trấn thủ Quảng NamQuảng Ngãi, Sư đoàn 3 Sao Vàng trấn thủ Bình Định, trung đoàn 10 trấn thủ Phú Yên, trung đoàn 20 trấn thủ Khánh Hòa, Sư đoàn 5 trấn thủ khu vực Sài Gòn – Gia Định, Sư đoàn 7 cơ động chiến đấu khắp Quân khu 7 gồm Lâm ĐồngNinh ThuậnĐồng NaiTây NinhBình ThuậnBình Phước và Sư đoàn 9 di chuyển chiến đấu khắp Tây Ninhvà Quân khu 9.

Từ 1965 đến 1972Năm 1965, chia lửa với Nam Bộ, Hoàng Minh Thảo, người học trò của Võ Nguyên Giáp ở trường Thăng Long được cử vào Mặt trận Tây Nguyên làm Phó Tư lệnh rồi Tư lệnhMặt trận B3 thay Chu Huy Mânchuyển sang chỉ huy Mặt trận duyên hải Nam Trung Bộ đến khi chiến tranh kết thúc.

Năm 1965, Quân Mỹ bắt đầu thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ. Quy mô quân viễn chinh Mỹ đã lên tới hơn 500.000 ngàn vào cuối năm 1967, cùng với đó là hàng ngàn máy bay, trực thăng và xe thiết giáp.

Đối phó với quân Mỹ, Võ Nguyên Giáp vấn kiên trì đường lối chiến tranh nhân dân – “trường kỳ kháng chiến” như Chiến tranh Đông Dương trước đó.

Kết quả là hai cuộc tiến công mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 của Mỹ đã thất bại, họ đã không thể tiêu diệt được quân Giải phóng và bình định miền Nam Việt Nam trong 18 tháng như kế hoạch ban đầu, và quân Mỹ bắt đầu sa lầy vào một cuộc chiến hao tổn, mệt mỏi và không có dấu hiệu kết thúc.

Ký giả James Fox nhận xét: tướng Giáp đã thi hành một đường lối không quá khác biệt nhưng vô cùng hiệu quả, và quân Mỹ đã rút ra được rất ít bài học từ người Pháp trước đó.

Năm 1968Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tại Hà Nội phát động cuộc Tổng Tấn công và Nổi dậy Tết Mậu Thân.

Bản thân ông đã tham gia lập kế hoạch, nhưng khi Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10 và tháng 12 năm 1967 quyết định mở chiến dịch thì ông đang đi chữa bệnh ở Hungary.

Ông trở về tháng 1 năm 1968. Hội nghị Trung ương lần thứ 14 tháng 1/1968 thông qua quyết định của Bộ Chính trị quyết định Tổng tiến công. Chiến dịch Mậu Thân làm suy yếu ý chí xâm lược của Mỹ, thúc đẩy phong trào phản chiến ở Mỹ và trên khắp thế giới nhưng về quân sự có những tổn thất không đáng có và có nhiều vấn đề cần rút kinh nghiệm.

Từ 1972 đến 1975 Cuốn hồi ức mang tên “Tổng hành dinh trong Mùa xuân đại thắng” do Võ Nguyên Giáp xuất bản lần đầu năm 2001 đã thuật lại những hoạt động của ông vào giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ từ năm 1972 đến năm 1975.

Năm 1972, sau đại thắng tại Chiến dịch Đường 9 Nam Lào, với kho vũ khí hùng hậu, Võ Nguyên Giáp chủ trương khuếch trương chiến quả bằng một kế hoạch quân sự ở Tây Nguyên, nơi có khả năng triển khai lực lượng lớn, đánh lớn, gây những khó khăn lớn hơn cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Kế hoạch này đã bị nhà lãnh đạo Lê Duẩn và Quân ủy trung ương bác bỏ do Tổng Cục tình báo 2 nhận được thông tin là Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã sớm biết và đã đón lõng tại Tây Nguyên. Đồng thời do ở gần nên mặt trận Trị-Thiên cũng dễ bổ sung đạn dược, quân số hơn, lại có 2 mục tiêu cực kỳ quan trọng là Huế và Đà Nẵng.

Một phương án mới được đưa ra. Quân Giải phóng sẽ chia quân mở 3 chiến dịch tại Trị-Thiên, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Sau 2 tháng, trước những thắng lợi lớn trong Chiến dịch Trị Thiên và quân Giải phóng đã áp sát Huế, các lực lượng bổ sung được tiếp tục đưa vào đây, còn mặt trận Tây Nguyên thì buộc phải ngừng tiến công do hết dự trữ.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đề xuất vòng qua phía tây Huế, chia lực lượng và hỏa lực đánh vào Vùng Chiến thuật I. Tuy nhiên các đơn vị công binh mở đường do thiếu phương tiện nên thực hiện quá chậm, không kịp phục vụ mục tiêu chiến dịch (con đường này sau đó đã phát huy tác dụng vào chiến dịch mùa xuân năm 1975), 6 sư đoàn tham gia chiến dịch Trị Thiên gồm 312, 308, 324, 325, 320, 341 đã hành quân đánh trực diện từ phía bắc xuống Vùng Chiến thuật I, nơi có Quân đoàn I và lực lượng tổng trù bị của Quân lực Việt Nam Cộng hòa gồm các Lữ đoàn Biệt động quân, Sư đoàn Dù số 1 và Sư đoàn Thủy quân Lục chiến số 1, được không quân và Hải quân Mỹ chi viện tối đa.

Trên địa hình nhỏ hẹp dài, bên núi, bên biển dẫn đến Vùng Chiến thuật 1, 6 sư đoàn tiến công trong tình cảnh liên tục bị bom rải thảm B-52, pháo kích từ chiến hạm Mỹ, pháo kích từ Vùng Chiến thuật 1. Quân Giải phóng bị chặn lại, chỉ chiếm được nửa phía Bắc tỉnh Quảng Trị. Theo thông tin gần đây cho biết, trong suốt 9 tháng chiến dịch, Sư đoàn 312 đã bổ sung quân 13 đợt, mỗi đợt 500 người; Sư đoàn 308Sư đoàn 320 cũng phải bổ sung hàng ngàn người. Thương vong của hai bên đều rất lớn, chiến sự đi vào ổn định từ đầu năm 1973 bởi cả 2 bên đều đã kiệt sức.

Các chiến dịch năm 1972 cũng khiến Quân đội Nhân dân Việt Nam sử dụng hơn 300.000 viên đạn pháo, gần 4/5 lượng đạn pháo trong kho, dẫn đến tình trạng thiếu đạn, chỉ còn 100.000 viên cuối năm 1974.

Dù sao, chiến dịch này cũng đã giúp Quân đội Nhân dân Việt Nam kiểm soát thêm 10% lãnh thổ miền Nam cùng một số bàn đạp quân sự quan trọng như cảng Cửa Việt và thị xã Lộc Ninh.

Cuối năm 1972, Võ Nguyên Giáp đã bố trí lực lượng đánh trả cuộc tập kích đường không của Không lực Mỹ suốt 12 ngày đêm. Thất bại trong chiến dịch này buộc Mỹ phải chấp nhận ký Hiệp định Paris với những điều khoản nhân nhượng mà chính họ trước đó đã từ chối.

Năm 1974, để nắm vững tình hình thực tế chiến trường và có quyết sách đúng đắn, Đại tướng cùng Tư lệnh trưởng Đoàn 559 Đồng Sĩ Nguyên và chính ủy Đặng Tính đã vượt hàng trăm cây số đi thăm bộ đội Trường Sơn trên đường mòn Hồ Chí Minh và kiểm tra sự chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy dự kiến vào mùa Xuân 1975.

Năm 1975, Võ Nguyên Giáp đã tán thành đề xuất của Trung tướng Hoàng Minh Thảo chọn địa bàn Nam Tây Nguyên làm hướng tấn công chiến lược, xin ý kiến Bộ Chính trị và cử Đại tướng Văn Tiến Dũng vào Nam chỉ đạo đánh đòn “điểm huyệt” vào hệ thống phòng ngự của Việt Nam Cộng hòa tại Buôn Mê Thuột.

Chính ông nhân đà thắng trận Buôn Ma Thuột, trực tiếp ra lệnh Trung tướng Lê Trọng Tấn gấp rút giải phóng Đà Nẵng trong 3 ngày. Chính ông đề xuất và ra quyết định mở Chiến dịch Hồ Chí Minh mà trong đó Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh, Lê Trọng TấnLê Đức AnhTrần Văn Trà làm Phó Tư lệnh, chỉ huy 5 cánh quân với sức mạnh của 20 sư đoàn đồng loạt tiến vào giải phóng Sài Gòn. Mệnh lệnh nổi tiếng nhất của ông chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh là “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng”.

Đường Trường Sơn

THS-2018: Đường Trường Sơn còn có tên gọi thông dụng là Đường Mòn Hồ Chí Minh

Đường mòn Hồ Chí Minh
Đông Nam Lào
Đường mòn Hồ Chí Minh năm 1967
LoạiHệ thống hậu cần
Thông tin địa điểm
Kiểm soát bởi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
Lịch sử địa điểm
Xây dựng1959–1975
Sử dụng1959–1975
Trận đánh/chiến tranhChiến dịch Barrel Roll
Chiến dịch Steel Tiger
Chiến dịch Tiger Hound
Chiến dịch Commando Hunt
Cuộc xâm nhập Campuchia
Chiến dịch Lam Sơn 719
Chiến dịch Hồ Chí Minh
Chiến dịch Left Jab
Chiến dịch Honorable Dragon
Chiến dịch Diamond Arrow
Project Copper
Chiến dịch Phiboonpol
Chiến dịch Sayasila
Chiến dịch Bedrock
Chiến dịch Thao La
Chiến dịch Black Lion
Thông tin đơn vị đồn trú
Chỉ huy đã quaVõ Bẩm
Phan Trọng Tuệ
Đồng Sỹ Nguyên
Hoàng Thế Thiện
Đơn vị đồn trú5.000–60.000

Về các con đường khác cùng tên “Đường Hồ Chí Minh”, xem Đường Hồ Chí Minh (định hướng).

Đường Trường Sơn hay đường mòn Hồ Chí Minh (tiếng AnhHo Chi Minh trail) là mạng lưới giao thông quân sự chiến lược chạy từ lãnh thổ miền Bắc Việt Nam vào tới lãnh thổ miền nam Việt Nam, đi qua miền Trung Việt Nam, hạ Lào, và Campuchia. Hệ thống này cung cấp binh lực, lương thực và vũ khí khí tài để chi viện cho Quân Giải phóng miền Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam trong 16 năm (1959–1975) của thời kỳ Chiến tranh Việt NamBinh đoàn Trường Sơn (đoàn 559) Quân đội Nhân dân Việt Nam là đơn vị triển khai các đơn vị công binh, hậu cần, y tế, bộ binh và phòng không để đảm bảo hoạt động của hệ thống đường này. Đường Trường sơn còn được những người lính trong cuộc chiến gọi là Tuyến lửa.

Ở Việt Nam, hệ thống đường này đặt tên là Đường Trường Sơn, lấy tên của dãy Trường Sơn – dãy núi chạy dọc miền Trung Việt Nam, nơi hệ thống này đi qua. Về sau, hệ thống này có thêm tên gọi Đường mòn Hồ Chí Minh, tên gọi này (Ho Chi Minh trail) có nguồn gốc từ Mỹ.

Trong chiến tranh Việt Nam, lực lượng quân sự Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã đánh phá hệ thống giao thông này bằng các chiến dịch bộ binh và không quân. Một hệ thống máy móc điện tử, thường được gọi là Hàng rào Điện tử McNamara, đã được sử dụng để giúp hướng dẫn máy bay ném bom. Ngoài ra, chất độc màu da cam cùng một số loại chất độc diệt cỏ khác đã được rải xuống nhiều vùng rừng trên đường Trường Sơn làm trụi lá cây, các dự án tạo mưa và các chất hóa học tạo bùn cũng được Mỹ sử dụng để phá đường. Theo văn bản lịch sử chính thức của Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (National Security Agency), đường Trường Sơn được quân đội Hoa Kỳ coi là “một trong những thành tựu vĩ đại của nền kỹ thuật quân sự ở thế kỷ 20.”

Ngày nay, tuyến tây Trường Sơn (địa phận Lào) nhiều nơi đã thành vùng bỏ hoang, một vài điểm được xây dựng trở thành di tích lịch sử. Năm 2000, Đường Hồ Chí Minh, con đường xuyên Việt thứ hai sau Quốc lộ 1, bắt đầu được xây dựng trên tuyến đông Trường Sơn.

Lịch sử

Hình thành (1959–1965)

Đường Trường Sơn, 1959-1964

Một số phần của Đường Trường Sơn vốn đã tồn tại từ hàng thế kỷ dưới hình thức các con đường mòn sơ khai dành cho việc giao thông buôn bán trong vùng. Khu vực mà hệ thống đi qua đã là một trong những vùng đất địa hình hiểm trở nhất Đông Nam Á: núi cao, ít dân, rừng rậm nhiệt đới. Trong những năm đầu của Chiến tranh Đông DươngViệt Minh đã sử dụng hệ thống đường mòn này làm đường nối liền Bắc Nam, một trong các tuyến đường đưa cán bộ di chuyển giữa hai miền để tránh sự truy quét của quân Pháp. Tháng 5 năm 1958, các lực lượng thuộc Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) và Pathet Lào đã chiếm giữ các nút giao thông tại Sê Pôn (Tchepone), trên đường 9 thuộc địa phận Lào.

Sau khi chế độ Việt Nam Cộng hòa ra đời dưới sự hậu thuẫn của Mỹ, đã phủ nhận tổng tuyển cử toàn quốc theo Hiệp định Genève về Việt Nam năm 1954, đưa đến việc chia cắt Việt Nam. Để tiếp tục chi viện cho quân Giải phóng miền Nam, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quyết định xây dựng những con đường chiến lược. Trên cơ sở đó đã có 2 tuyến đường được xem xét là tuyến đường bộ qua dãy Trường Sơn và tuyến đường biển trên biển Đông.

Năm 1959, khi xung đột quân sự lên cao giữa Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và chính phủ Ngô Đình Diệm, chính phủ Hà Nội gửi Đoàn 559 mới được thành lập vào tháng 9 vào Nam để xây dựng hệ thống đường Trường Sơn với lực lượng gồm một tiểu đoàn giao liên D301 với 440 người. Đoàn trưởng là Thượng tá (sau là Thiếu tướng) Võ Bẩm. Đoàn có nhiệm vụ vừa vận chuyển vừa mở đường hành quân. Với phương châm “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” để đảm bảo bí mật tối đa, toàn bộ vũ khí và hàng mang theo đều là các loại cũ từ thời Pháp, thậm chí đoàn còn dùng ván gỗ để khi đi không để lại dấu vết trên đất rừng.

Sau đó, đoàn 559 chuyển các tuyến giao thông của mình sang sườn Tây của dãy Trường Sơn. Một năm sau, đoàn 559 đã đạt được quân số 6.000 người với hai trung đoàn 70 và 71. Con số này không bao gồm các lực lượng chiến đấu với nhiệm vụ bảo vệ hay dân công Việt và Lào. Trong những ngày đầu của cuộc xung đột, đường Trường Sơn chỉ được dùng để chuyển quân, do khi đó việc vận chuyển súng đạn vào Nam qua đường biển có hiệu quả cao hơn. Sau các cố gắng của hải quân Mỹ nhằm ngăn chặn hoạt động này trên vùng biển ven bờ Chiến dịch Market Time, đường Trường Sơn phải làm cả hai nhiệm vụ. Hàng chuyển vào từ miền Bắc được lưu trong các kho tàng dọc theo biên giới mà sau được gọi là các “Khu căn cứ”, những nơi này đến lượt nó lại trở thành các thánh địa cho các lực lượng Quân giải phóng miền Nam dưỡng quân và tái trang bị sau khi thực hiện các hoạt động quân sự bên trong lãnh thổ do đối phương kiểm soát.

Các khu căn cứ của Đoàn 559 trên lãnh thổ Lào (tài liệu trinh sát của CIA)

Có 5 khu căn cứ lớn trong vùng cán xoong của Lào (xem bản đồ). Căn cứ 604 là trung tâm hậu cần chính; từ đó, quân và quân nhu được điều phối vào Vùng 1 chiến thuật của Việt Nam Cộng hòa và các căn cứ khác xa hơn ở phía Nam. Căn cứ 611 hỗ trợ vận tải từ căn cứ 604 tới căn cứ 609; cung cấp xăng dầu và đạn dược cho căn cứ 607 và tới tận thung lũng A Sầu ở Thừa Thiên. Căn cứ 612 được dành để hỗ trợ Mặt trận B3 tại Tây Nguyên. Căn cứ 614 nằm giữa Chavane (Lào) và Khâm Đức (Nam Việt Nam) vận chuyển quân và hàng hóa vào Vùng 2 chiến thuật và Mặt trận B3. Căn cứ 609 giữ vai trò quan trọng, do mạng lưới đường ở đây có thể dùng để vận chuyển quân nhu trong mùa mưa. Ban đầu, hàng hóa được vận chuyển bằng xe đạp thồ, xe bò. Đến tháng 12 năm 1961, Đoàn vận tải số 3 của Cục Hậu cần đã trở thành đơn vị vận tải sử dụng xe cơ giới đầu tiên của QĐNDVN phục vụ trên đường Trường Sơn. Từ đây, vận tải cơ giới tăng lên nhanh chóng.

Có hai loại đơn vị thuộc Đoàn 559, các binh trạm và các đơn vị giao liên. Một binh trạm tương đương với một trung tâm hậu cần cấp trung đoàn, có trách nhiệm bảo vệ một đoạn đường. Trong khi các đơn vị độc lập chịu trách nhiệm an ninh, công binh, và các chức năng đánh tín hiệu, binh trạm cung cấp các nhu yếu phẩm hậu cần. Các trạm giao liên thường đóng cách nhau một ngày đường đi bộ, có trách nhiệm cung cấp lương thực, chỗ trú, y tế, và dẫn đường tới trạm tiếp theo. Đến tháng 4 năm 1965, chỉ huy Đoàn 559 là Tướng Phan Trọng Tuệ, quân số gồm 24.000 người, bố trí trong 6 tiểu đoàn vận tải bằng xe tải, 2 tiểu đoàn vận tải xe đạp thồ, một tiểu đoàn vận tải đường thủy, 8 tiểu đoàn công binh, và 45 trạm giao liên. Khẩu hiệu của Đoàn 559 khi đó là “Đánh địch mà tiến, mở đường mà đi.

Hệ thống đường Trường Sơn phát triển thành một mạng lưới phức tạp của các con đường đất (một số nơi rải đá hoặc lót ván gỗ) rộng khoảng 5,5 m, đường cho người đi bộ và xe đạp thồ, bãi đỗ xe tải. Còn có kho chứa, bãi chứa hàng, doanh trại, bệnh viện, và các cơ sở vật chất khác. Tất cả được che giấu khỏi quan sát từ trên không bằng một hệ thống ngụy trang tự nhiên và nhân tạo không ngừng được mở rộng và củng cố.

Thời tiết ở vùng Đông Nam Lào đóng vai trò quan trọng cả trong nỗ lực hậu cần và cả trong cố gắng của quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa nhằm phá đường. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, trong thời gian này, trời luôn nhiều mây, mưa nhiều, nhiệt độ cao. Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3, khí hậu tương đối khô hơn và nhiệt độ thấp hơn. Do mạng lưới đường chủ yếu là đường đất, khối lượng vận chuyển chủ yếu (và các hoạt động quân sự mà nó hỗ trợ) được thực hiện vào mùa khô. Về sau, hệ thống đường được bổ sung bởi vận tải đường sông, kiểu vận tải này cho phép chuyển các khối lượng lớn quân nhu ngay cả trong mùa mưa.

Ngăn chặn và mở rộng (1965-1968)

Đường Trường Sơn, 1965-1968

Đầu năm 1965, Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ được cử làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Đoàn 559. Cuối năm 1965, Đại tá Hoàng Văn Thái được cử làm Tư lệnh và Đại tá Vũ Xuân Chiêm được cử làm Chính ủy Đoàn 559. Đến cuối năm 1966, Đại tá Đồng Sĩ Nguyên được cử làm Tư lệnh Đoàn 559 cho đến khi Đoàn 559 kết thúc nhiệm vụ lịch sử của mình (1976).

Theo ước lượng của tình báo Mỹ, trong năm 1961 số quân vào Nam theo đường Trường Sơn là 5.843, năm 1962 12.675 (con số thực là 5.300); năm 1963 7.693 (thực tế 4.700); và năm 1964 là 12.424 (thực tế là 9.000). Năm 1964, khả năng cung ứng của đường Trường Sơn đã đạt đến từ 20 đến 30 tấn mỗi ngày. Năm 1965, nhờ có các tuyến đường mới mở (trong đó có các tuyến đi qua Campuchia), lượng quân nhu được chuyển vào Nam trong năm này gần bằng tổng của 5 năm trước.

Đến năm 1965, việc ngăn chặn hệ thống đường Trường Sơn đã trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu của Mỹ, nhưng các chiến dịch chống phá gặp khó khăn bởi thiếu lực lượng và bởi tính “trung lập” của Lào. Các vấn đề phức tạp của chính trị Lào cùng với sự can thiệp của Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã dẫn tới một chính sách chung là hai bên cùng lờ nhau, và tiếp tục vi phạm tính trung lập của Lào: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa củng cố và mở rộng hệ thống hậu cần trên đất Lào và hỗ trợ lực lượng đồng minh Pathet Lào; Mỹ không ngừng ném bom đường Trường Sơn và xây dựng hỗ trợ một đội quân bí mật để đánh lại lực lượng cộng sản. Tuy nhiên quân đội Mỹ được lệnh không ra khỏi biên giới Việt Nam Cộng hòa vì Tổng thống Mỹ không muốn mở rộng chiến tranh.

Ngày 14 tháng 12 năm 1964, Không lực Mỹ thực hiện Chiến dịch Barrel Roll lần đầu ném bom một cách có hệ thống phần đường tại Lào. Ngày 20 tháng 3 năm 1965, sau khi Chiến dịch Sấm Rền đánh phá miền Bắc và Bắc Trung Bộ mở màn, Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson đã chấp thuận một cuộc leo thang quân sự nhằm phá đường Trường Sơn. Chiến dịch Barrel Roll tiếp diễn ở vùng Đông Bắc Lào, trong khi vùng cán xoong phía nam bị ném bom bởi Chiến dịch Steel Tiger. Đến giữa năm, số phi vụ đã tăng từ 20 lên 1.000 lượt mỗi tháng. Trong tháng 1 năm 1965, chỉ huy Mỹ tại Sài Gòn yêu cầu kiểm soát các chiến dịch ném bom tại các vùng Lào giáp ranh với 5 tỉnh phía Bắc Việt Nam Cộng hòa. Đến đây, vùng này thuộc về địa bàn của Chiến dịch Tiger Hound.

Mùa mưa hàng năm làm ảnh hưởng tới các hoạt động vận tải của đường Trường Sơn và cũng gây khó khăn cho các chiến dịch ném bom. Ngoài ra, sương mù buổi sớm và khói do tập tục đốt rẫy của dân cư thiểu số cũng cản trở việc ném bom. Trong năm 1968, Không quân Mỹ thực hiện hai thí nghiệm với hy vọng làm trầm trọng hơn nữa kiểu thời tiết xấu của mùa mưa. Dự án Popeye là một cố gắng nhằm kéo dài vô hạn mùa mưa trên đường Trường Sơn bằng cách tạo mây. Dự án bắt đầu thử nghiệm vào tháng 9 trên vùng lưu vực sông Se Kong – con sông chảy qua địa bàn của các chiến dịch Steel Tiger và Tiger Hound. Mây được tạo trong không trung bằng các đám khói Bạc iodua và sau đó được kích hoạt bằng một mồi nổ bắn ra từ súng bắn pháo sáng. Dự án thử nghiệm thành công và chương trình đã được thực hiện cho đến tháng 7 năm 1972.

Khu vực hoạt động của các chiến dịch Barrel Roll / Steel Tiger / Tiger Hound

Dự án Commando Lava được bắt đầu thử nghiệm vào tháng 5. Các nhà khoa học ở công ty Dow Chemical đã chế tạo một dung dịch hóa học mà khi trộn với nước mưa sẽ phá hủy tính ổn định của các thành phần của đất và tạo ra bùn. Những thành viên quân sự và dân sự của chương trình này đã rất hứng thú, họ cho rằng họ đang “tạo bùn chứ không gây chiến.” Tuy nhiên, thử nghiệm không cho kết quả tốt, chất này chỉ có tác dụng ở một số vùng, tùy theo thành phần của đất.

Trên mặt đất, ban đầu, CIA và Quân đội Hoàng gia Lào có trách nhiệm ngăn chặn, làm chậm, hoặc ít nhất là theo dõi hoạt động của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Về sau, nhiệm vụ này do các đội thám báo Lào cho CIA xây dựng thực hiện. Đến tháng 10 năm 1965, Tướng William Westmoreland, chỉ huy quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam, nhận được thẩm quyền tung lực lượng biệt kích Mỹ vượt qua biên giới. Ngày 18 tháng 11, lực lượng bí mật SOG (Military Assistance Command, Vietnam Studies and Observations Group) thực hiện đặc vụ “vượt hàng rào” đầu tiên vào đất Lào. Đây là khởi đầu của một nỗ lực thám báo không ngừng mở rộng của SOG cho đến khi tổ chức này được giải thể vào năm 1972. Ngày 10 tháng 12, một vũ khí khác của Mỹ đã được đưa vào sử dụng, đó là trận ném bom đầu tiên của pháo đài bay B-52 xuống đường Trường Sơn.

Tuy nhiên, các cố gắng trên không chặn hoặc giảm được nhịp độ vận chuyển vào Nam. Mặc dù vậy, các nhà sử học Mỹ vẫn đánh giá các chiến đánh phá này không vô ích, do 10 ngàn quân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bị giữ lại để bảo vệ và duy trì đường Trường Sơn thay vì vào Nam chiến đấu.

Năm 1966, Mỹ ước tính tổng số quân vào Nam qua đường Trường Sơn là từ 58.000 đến 90.000 người, trong đó có ít nhất 5 trung đoàn hoàn chỉnh. Mùa khô năm 1966-1967 đánh dấu bước chuyển lớn về chiến thuật vận tải của đoàn 559 từ “phòng tránh tích cực” sang “tiến công” hợp đồng binh chủng. Các sở chỉ huy được chuyển ra gần đường, các lực lượng phòng không, công binh đóng sát đường để hỗ trợ kịp thời và hiệu quả hơn cho lực lượng vận tải chủ công. Nhiều tuyến đường phụ, đường vòng được mở thêm để đảm bảo thông đường cho xe chạy. Đến cuối năm 1967, mạng lưới đường đã lên 2.959 km đường ô tô, trong đó có 275 km đường chính, 576 km đường vòng, và 450 đường vào cùng các kho chứa.

Bộ đội Trường Sơn còn sử dụng sông Se Kong và sông Se Bangfai để chở lương thực, nhiên liệu, và đạn dược bằng cách cho hàng vào các thùng thép và thả trôi sông, các thùng này được thu lại ở đầu kia bởi các hệ thống lưới và rào gỗ. Người Mỹ đã không biết rằng trong năm 1967, để chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công Mậu Thân 1968, hơn 81.000 tấn hàng đã được vận chuyển và cất giữ , 200.000 quân, trong đó có 7 trung đoàn bộ binh và 20 tiểu đoàn độc lập đã vào Nam.

Quân nhu được vận chuyển theo đoàn được hộ tống từ miền Bắc theo từng chặng, xe tải chỉ chạy đi về giữa hai trạm, dỡ hàng và lấy hàng mới tại mỗi trạm. Nếu một xe tải bị hỏng hoặc bị bom phá, nó sẽ được thay bằng một xe của trạm gần nhất phía Bắc, và cứ như vậy cho đến khi một xe tải mới được đưa vào tại trạm cuối ở miền Bắc. Cuối cùng, khi hàng tới trạm giao liên cuối cùng ở phía Nam, hàng được bốc dỡ, cất vào kho, đưa lên các phương tiện vận tải thủy, hoặc do người vác vào miền Nam Việt Nam.

Để tránh bom, các đơn vị vận tải thường chỉ chạy khi trời tối, cao điểm là lúc gần sáng. Khi máy bay Mỹ tới, giao thông sẽ dừng lại cho đến khi trời gần sáng, khi các máy bay ném bom và bắn phá ban đêm trở về căn cứ. Rồi xe lại chạy, cao điểm tiếp theo là khoảng 6 giờ sáng khi các lái xe cố gắng đưa xe về điểm tập kết trước khi mặt trời mọc và các đợt máy bay buổi sáng bắt đầu.

Thời kỳ 1968–1972

Đường mòn Hồ Chí Minh, 1969-1973

Cuối năm 1968, tình báo Mỹ đã có một phát hiện gây sốc, đó là phát hiện về hệ thống đường ống dẫn xăng dầu chạy ở phía tây nam từ Vinh. Đến đầu năm 1969, hệ thống này đã vượt qua biên giới với Lào, và đến năm 1970 đã vươn tới gần thung lũng A Sầu ở tỉnh Thừa Thiên. Được hỗ trợ bởi nhiều trạm bơm nhỏ, đường ống bằng nhựa đã có thể chuyển dầu diesel, xăng và dầu hỏa qua cùng một ống. Nhờ các nỗ lực của Trung đoàn đường ống 592 Quân đội Nhân dân Việt Nam, đến năm 1970, số đường ống vào Lào đã tăng lên 6.

Năm 1970, Đoàn 559 được nâng lên mang mức quân khu. Chỉ huy thời kỳ này là Đại tá Đồng Sĩ Nguyên – Tư lệnh và Đại tá Vũ Xuân Chiêm – Chính ủy. Năm 1971, Đại tá Đặng Tính được cử làm Chính ủy (Chính ủy Đặng Tính gặp tai nạn và mất trên đường đi công tác năm 1973). Binh đoàn được tổ chức lại thành 5 bộ tư lệnh khu vực ngang cấp sư đoàn là: 470, 471, 472, 473, và 571. Lực lượng binh đoàn bao gồm 4 trung đoàn vận tải, 2 trung đoàn đường ống dẫn dầu, 3 trung đoàn pháo phòng không, 8 trung đoàn công binh, và Sư đoàn 968 Bộ binh. Đến cuối năm, đoàn 559 đã có 27 binh trạm, vận chuyển 40.000 tấn hàng với tỉ lệ mất mát của năm đó là 3.4%.[30]

Cho đến năm 1970, gần 80% lượng hàng được chuyển từ Bắc vào Nam là qua Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển, dỡ tại cảng Sihanoukville ở Campuchia, rồi từ đó đưa vào miền Nam Việt Nam. Sau vụ đảo chính của tướng Lon Nol tại Campuchia năm 1970, và việc đóng cảng Sihanoukville đối với tàu từ miền Bắc Việt Nam, đường Trường Sơn phải làm thêm nhiệm vụ của đường Hồ Chí Minh trên biển. Có lẽ do dự đoán trước khả năng mất đường hậu cần phía Nam nên từ năm 1969, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã bắt đầu nỗ lực hậu cần lớn nhất trong cả cuộc chiến. Năm 1970, họ chiếm các thị xã Lào Attopeu và Saravane ở chân cao nguyên Boloven, kéo dài hệ thống vận tải trên sông Se Kong vào Campuchia. Quân đội Nhân dân Việt Nam còn thành lập Đoàn Vận tải 470 để quản lý dòng người và hàng đi tới các chiến trường mới trong lãnh thổ Campuchia. “Con đường Giải Phóng” mới này rẽ sang Tây từ đường Trường Sơn tại Mường May ở Nam Lào, đi song song với Se Kong để vào Campuchia.

Cuối cùng, tuyến đường mới này kéo dài qua Siem Prang tới sông Mekong đoạn ở gần Stung Treng, Campuchia. Trong năm 1971 Quân đội Nhân dân Việt Nam chiếm Paksong và tiến tới Pakse tại trung tâm cao nguyên Boloven. Năm sau, Quân đội Nhân dân Việt Nam chiếm được Khong Sedone. Họ còn tiếp tục một chiến dịch được bắt đầu từ năm 1968 để dọn sườn phía đông của đường Trường Sơn. Trong năm đó, các cứ điểm của các Lực lượng Đặc biệt của Mỹ tại Khe Sanh và Khâm Đức (cả hai đều do SOG sử dụng làm các căn cứ tiền phương cho các hoạt động biệt kích chống phá đường Trường Sơn) đều bị bỏ hoặc đánh bại. Năm 1970, số phận tương tự đã xảy đến cho một căn cứ khác tại Dak Seang. Hành lang vận chuyển từng rộng chỉ 20 dặm nay đã trải rộng 90 dặm từ Đông sang Tây. Năm 1971, “đường kín” dưới tán rừng bắt đầu được xây đựng. Đến năm 1973, xe tải có thể chạy suốt dọc đường mà không ra khỏi mái ngụy trang, ngoại trừ khi đi qua suối cạn hay vượt suối qua các ngầm (loại cầu được xây ngay dưới mặt nước).

Chiến dịch Commando Hunt và Igloo White

Bài chi tiết: Chiến dịch Commando Hunt
Bài chi tiết: Chiến dịch Igloo White

Đến năm 1968, hệ thống hậu cần của miền Bắc đã mở rộng và hiện đại hóa. Ngoài ra, khoảng 43.000 người Việt và Lào đã tham gia điều khiển, nâng cấp, hoặc mở rộng hệ thống đường. Lượng bom ném xuống Trường Sơn đạt đỉnh năm 1969, với khoảng 433.000 tấn ném xuống Lào. Đây là thời điểm kết thúc của chiến dịch Rolling Thunder và mở đầu của chiến dịch Commando Hunt (tháng 11 năm 1968).

Việc nỗ lực ném bom liên tục này được chỉ dẫn bởi chiến dịch Igloo White hoạt động tại Nakhon PhanomThái Lan. Chiến dịch này gồm ba phần: các thiết bị cảm ứng địa chấn và âm thanh thu thập thông tin tình báo trên đường Trường Sơn (hàng rào điện tử MacNamara), các máy tính tại Trung tâm Giám sát Thâm nhập (Infiltration Surveillance Center – ICS) đặt tại Thái Lan thu thập thông tin và ước tính các đường vận tải và tốc độ xe; các kíp máy bay được ISC chỉ dẫn để đánh phá các mục tiêu. Nỗ lực này còn được hỗ trợ bởi các nhóm biệt kích SOG. Ngoài các nhiệm vụ do thám, đặt máy nghe trộm, và đánh giá thiệt hại do bom, các nhóm này còn tự tay lắp đặt các thiết bị cảm ứng cho chiến dịch Igloo White.

Đến giai đoạn cuối của chiến dịch Commando Hunt (tháng 10 năm 1970 – tháng 4 năm 1972) số phi vụ máy bay bắn phá mỗi ngày là 182 máy bay tiêm kích, 13 máy bay chiến đấu (fixed wing gunship) và 21 B-52.

Sự phát triển của vũ khí phòng không Quân đội Nhân dân Việt Nam 1965-1972

Quân đội Nhân dân Việt Nam đáp trả máy bay Mỹ bằng lực lượng pháo phòng không ngày càng mạnh. Năm 1968, lực lượng này chỉ gồm các vũ khí 37-mm và 57-mm do radar điều khiển. Năm sau đã xuất hiện súng 85-mm và 100-mm, đến năm 1972, đường Trường Sơn đã được bảo vệ bởi hơn 1.500 khẩu súng phòng không. Ngày 29 tháng 3 năm 1972, máy bay AC-130 đã bị bắn rơi trong một phi vụ ban đêm bởi tên lửa đất đối không vác vai SAM-7 ở gần Sê Pôn.

Trong các loại vũ khí bắn phá Trường Sơn, máy bay chiến đấu AC-130 Spectre với kính ngắm hồng ngoại và súng 40 mm được phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đánh giá là hiệu quả nhất, kiểm soát và hạn chế phần nào hoạt động vận tải về đêm, phá hủy 2.432 xe tải trong tổng số 4.000 xe bị bom phá trong mùa khô 1970-71.

Để đối phó với máy bay AC-130, tháng 2 năm 1972, một tuyến “đường kín” dài 800 km hoàn thành và bắt đầu đưa vào sử dụng. Trên tuyến này, xe chạy dưới tán rừng già, chạy hoàn toàn vào ban ngày để tránh bị máy bay phát hiện. Xe chạy theo đội hình trung đoàn liền trên toàn tuyến chứ không chạy theo chặng nên thời gian giảm được từ 10 đến 15 ngày. Ban đêm, các đội xe vẫn tiếp tục chở hàng trên “đường hở”, kết hợp với việc nghi binh bởi các xe hỏng chạy thật để bẫy AC-130 cho lực lượng phòng không tấn công. Đến tháng 8 năm 1972, chiếc AC-130 thứ hai đã bị bắn rơi bằng tên lửa SAM-2. Sau vụ này, AC-130 phải lui về hoạt động ở phía Nam đường 9. Tuyến “đường kín” này đã đem lại hai kết quả quan trọng:

  • Nỗ lực của Mỹ dùng máy bay AC-130 để đánh phá và chặn xe đã bị vô hiệu hóa;
  • Việc vận tải được thực hiện theo cung dài đội hình lớn, đi thắng từ đầu đến cuối tuyến, kết thúc những năm tháng dai dẳng xe phải chạy ban đêm, vận chuyển theo từng cung trạm, vừa chậm vừa kém hiệu quả.

Sau 2 năm, chiến dịch Igloo White nói riêng và “Chương trình ngăn chặn mới” nói chung đã không thể thu được kết quả như mong muốn. Đến năm 1970, các thông tin của cơ quan tình báo chiến trường Mỹ đã khiến người ta phải sửng sốt. Theo đó, từ năm 1969 cho đến năm 1970, mức thâm nhập qua Trường Sơn lên tới 348 đoàn, trong đó có 46 tiểu đoàn trang bị mạnh, 24.530 tấn vũ khí, có 335 chuyến bay các loại bí mật thả vũ khí xuống các hành lang ở Lào. John McConnell, Tham mưu trưởng Không quân Mỹ thừa nhận:

Không quân Mỹ đang phải gánh chịu những tổn thất to lớn trong cuộc chiến kỳ lạ để giành lấy những thắng lợi nhỏ nhoi… Tôi chưa bao giờ thất vọng như lúc này

Sau khi Hàng rào McNamara bị chọc thủng, đến lượt kế hoạch Igloo White bị phá sản. Từ sau năm 1970, kỹ thuật quân sự Mỹ bế tắc, không tìm ra lời giải mới nào khả quan trong việc cắt đứt đường Hồ Chí Minh[44] Tuy nhiên, kế hoạch này vẫn tiếp tục được kéo dài cho đến năm 1973, khi Hiệp định Paris được ký kết.

Chiến dịch Lam Sơn 719

Bài chi tiết: Chiến dịch Lam Sơn 719

Đầu tháng 2 năm 1971, 30.000 quân Việt Nam Cộng hòa, 4.000 quân Hoàng gia Lào, được sự yểm trợ của 10.000 lính Mỹ và không quân Mỹ, đã vượt biên giới Lào, tiến theo Đường 9 về phía trung tâm hậu cần của Quân đội Nhân dân Việt Nam tại Sê Pôn (Tchepone). Chiến dịch Lam Sơn 719, cuộc tấn công được mong chờ đã lâu vào hệ thống đường Trường Sơn và cuộc thử nghiệm của chính sách Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ, đã bắt đầu. Quân đội Mỹ (ngoại trừ các đơn vị không quân, pháo binh, trực thăng) theo luật sẽ không tham gia trực tiếp cuộc xâm lược. Đầu tiên, chiến dịch tiến triển tốt, chỉ gặp phải ít kháng cự. Tuy nhiên, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã chuẩn bị cho trận chiến này từ lâu, họ nhanh chóng điều đến một lực lượng cuối cùng lên đến 60.000 quân, đợi khi thời cơ đến phản công cô lập và tiêu diệt từng cánh quân của QLVNCH.[46]

Đường Trường Sơn, 1973-1975

Chiến trận nổ ra tại Nam Lào không giống với bất cứ trận chiến nào trước đó trong Chiến tranh Việt Nam, lần đầu tiên Quân đội Nhân dân Việt Nam có sự hiệp đồng binh chủng: bộ binh tấn công với sự hỗ trợ của xe tăng và pháo hạng nặng đè bẹp các vị trí của Quân lực Việt Nam Cộng hòa tại các cánh và đội hình chính. Hỏa lực phòng không phối hợp đã làm cho sự hỗ trợ và vận tải bằng không quân trở nên khó khăn và thiệt hại lớn, 168 trực thăng bị bắn rơi và 618 chiếc khác bị bắn hỏng. Tuy đổ được quân vào một vài điểm cao phía Đông Sê Pôn và đưa được quân trinh sát vào trong thị trấn, nhưng đó là một chiến tích không mấy giá trị, vì Quân lực Việt Nam Cộng hòa sau đó đã phải nhanh chóng rút lui. Quân đội Nhân dân Việt Nam khép chặt gọng kìm và chặn đánh trên suốt quá trình rút lui. Tuy được hỗ trợ bởi hỏa lực mạnh của Mỹ, nhưng Quân lực Việt Nam Cộng hòa vẫn chịu thiệt hại nặng nề.

Đến ngày 25 tháng 3, chiến sự kết thúc, các đơn vị cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa vượt biên giới với đối phương đuổi sát phía sau. Chiến dịch này được coi là một thất bại đẫm máu của liên quân Mỹ-Việt Nam Cộng hòa, cả với vai trò thử nghiệm của Việt Nam hóa chiến tranh (bên tấn công chịu thương vong hơn một nửa quân số) và với vai trò phá hệ thống hậu cần của Quân đội Nhân dân Việt Nam (trong gần hai tháng diễn ra chiến dịch và tham gia chiến dịch, chẳng những xe vận tải không bị tắc, mà khối lượng hàng chuyển giao các chiến trường tăng gấp hai lần, thời gian đưa hàng đến đích cũng nhanh hơn, chỉ bằng nửa thời gian trước đó[48]).

Đường tới chiến thắng (1973–1975)

Sau Hiệp định Paris năm 1973, Mỹ ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam và Lào. Tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn được phát triển nhanh chóng, toàn diện, quy mô lớn trên tất cả các mặt. Đường Trường Sơn được nâng cấp tuyến phía Tây. Năm 1974, đường mở thêm tuyến phía Đông.

Năm 1973, hệ thống đường Trường Sơn bao gồm một con đường (rải sỏi và đá vôi) rộng hai làn xe, chạy từ các cửa khẩu ở Bắc Trung Bộ tới dãy Chu Pông ở miền Nam. Năm sau, đã có 4 làn hoàn chỉnh từ Tây Nguyên đến tận tỉnh Tây Ninh ở phía tây bắc Sài Gòn. Đường ống dẫn dầu duy nhất đã từng kết thúc tại thung lũng A Sầu nay bao gồm 4 đường (đường lớn nhất có đường kính 200 mm) kéo về phía Nam tới tận Lộc Ninh

Tháng 7 năm 1973 Binh đoàn Trường Sơn được tổ chức lại, nâng lên cấp cao hơn, các bộ phận cấp trung đoàn được chuyển lên cấp sư đoàn, và các binh trạm được nâng lên cấp trung đoàn. Bộ Tư lệnh Trường Sơn có tám sư đoàn (gồm hai sư đoàn ô tô vận tải: 571, 471; bốn sư đoàn công binh: 470, 472, 473, 565; Sư đoàn phòng không 377, Sư đoàn bộ binh 968) và một số trung đoàn trực thuộc (gồm: 6 trung đoàn cao xạ, 1 trung đoàn bộ binh, 4 trung đoàn đường ống xăng dầu, 2 trung đoàn cầu, 2 trung đoàn thông tin, 1 trung đoàn vận tải đường sông, 1 trung đoàn giao liên cơ giới, 1 trung đoàn kho, 1 trung đoàn huấn luyện, an dưỡng). Lực lượng thanh niên xung phong trên tuyến gồm 4 đoàn – tương đương trung đoàn, với gần 10 nghìn nam nữ thanh niên. Chỉ huy thời kỳ này là Đại tá Đồng Sĩ Nguyên – Tư lệnh và Đại tá Hoàng Thế Thiện – Chính ủy. Năm 1974, Đại tá Đồng Sĩ Nguyên được thăng vượt cấp lên Trung tướng, Đại tá Hoàng Thế Thiện được thăng cấp Thiếu tướng. Đầu năm 1975, Đại tá Lê Xy được cử làm Chính ủy.

Quân bổ sung cho các chiến trường đều được hành quân bằng cơ giới, chấm dứt hành quân bộ. Trong mùa khô 1973-1974, mỗi tháng chuyển được trên 30.000 đến 50.000 quân qua tuyến. Trước đây, bộ đội hành quân bộ từ miền Bắc vào chiến trường B2 mất hơn ba tháng, nay chỉ mất hơn chục ngày. Đây là một bước tiến nhảy vọt về chất trong tổ chức hành quân. Đối với hàng, đội hình vận chuyển chủ yếu là trung đoàn, chạy hoàn toàn ban ngày, đi thẳng từ nơi nhận hàng tới nơi giao hàng.

Đến mùa hè năm 1974, đường đông và tây Trường Sơn đã hình thành một hệ thống liên hoàn, vững chắc, là cơ sở hạ tầng bảo đảm chi viện liên tục vật chất, cơ động lực lượng, binh khí kỹ thuật, bảo đảm cho đòn tiến công chiến lược khi thời cơ đến. Đồng thời, tuyến hành lang đông – tây Trường Sơn đã hình thành một căn cứ hậu cần chiến lược, chiến dịch. rộng trên 130 nghìn cây số vuông, nối liền hậu phương lớn miền Bắc với các chiến trường nam Đông Dương, là chỗ dựa vững chắc cho các chiến trường. Đây là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi nhiệm vụ chi viện của hậu phương chiến lược miền Bắc cho các chiến trường tại miền Nam, Lào và Campuchia.

Tổng kết

Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn

Tính đến ngày Việt Nam thống nhất, đường Trường Sơn đã tồn tại gần 6000 ngày đêm. Các lực lượng công binh, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến Trường Sơn gồm khoảng 120.000 người đã làm nên mạng đường liên hoàn, vững chắc với 5 hệ thống đường trục dọc, 21 đường trục ngang, nối Đông với Tây Trường Sơn, vươn tới các chiến trường, với tổng chiều dài gần 2 vạn km đường ô tô, 1.400 km đường ống dẫn xǎng dầu, 3.140 km “đường kín” cho xe chạy ban ngày và hàng ngàn cầu, cống, ngầm.

Trong các chiến dịch đánh phá từ năm 1965 đến năm 1972, Mỹ đã huy động khoảng 733.000 chuyến máy bay, đánh phá khoảng 152.000 trận; ném xuống các tuyến đường Trường Sơn gần 4 triệu tấn bom đạn. Hơn 20.000 bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân giao thông đã hy sinh; hơn ba vạn người bị thương, khoảng 14.500 xe – máy các loại, hơn 700 khẩu súng pháo bị hư hỏng; hơn 90.000 tấn hàng hóa bị đánh cháy…

Về phía Mỹ, hàng trăm máy bay các loại bị bắn rơi, hàng ngàn lính biệt kích, thám báo được tung vào đây bị thương vong hoặc bị bắt. Quân đội Mỹ đã tiêu tốn nhiều tỷ USD vào các kế hoạch nhằm cắt đứt tuyến đường song đều bị thất bại.

Trong 16 năm, hệ thống hậu cần đường Trường Sơn đã chuyển được hơn một triệu tấn hàng, vũ khí vào cho các chiến trường, bảo đảm chỉ huy hành quân cho hơn hai triệu lượt người vào chiến trường hoặc từ chiến trường ra Bắc; vận chuyển cơ động 10 lượt sư đoàn, 3 quân đoàn, hộ tống 90 đơn vị binh chủng kỹ thuật vào chiến trường.

Hành quân trên đường Trường Sơn

Một binh trạm trên đường Trường Sơn

Bộ đội hành quân trên đường Trường Sơn phải vượt qua chặng đường dài trên 1.500 km.

Thời gian đầu hoàn toàn hành quân bộ, mỗi ngày đi một đoạn đường từ trạm giao liên này tới trạm giao liên tiếp theo. Bộ đội hành quân bộ vào chiến trường B2 mất hơn ba tháng, nếu vào chiến trường Nam Bộ, đến Bù Gia Mập – điểm cuối cùng của con đường mòn thì hết khoảng 5 tháng.

Để chuẩn bị cho chặng đường dài gian khổ, bộ đội rèn luyện hành quân kèm mang đá, vác cây trên vùng đồi núi Kim Bôi – Hạ Bì, tỉnh Hòa Bình, rồi hành quân bộ trên quãng đường trên nửa ngàn cây số từ Hòa Bình vào Quảng Bình – cửa ngõ phía Bắc của đường Trường Sơn.

Năm 1965, mỗi người phải mang 30 kg quân trang, lương khô, súng đạn, thuốc quân y, đường, gạo, muối… Do hàng được chuyển bằng cơ giới ngày càng nhiều, lượng lương thực trữ tại các trạm giao liên ngày càng nhiều, nên khối lượng phải mang vác cũng giảm dần. Năm 1966 giảm xuống còn 25 kg, sau năm 1967 còn 20 kg.

Về chế độ ăn, ngoài gạo lĩnh tại các trạm giao liên, mỗi người lính được cấp một ống cóng ruốc thịt, trong đó pha trộn thuốc chống sốt rét, tê phù… Một kilôgam muối để dùng cho toàn bộ chặng đường. Đồ ăn cho mỗi ngày gồm có một nắm cơm khi hành quân ban ngày và một bữa cơm khi dừng chân ban đêm. Với chế độ ăn này và cuộc hành quân vất vả mỗi ngày, nhiều bộ đội thiếu dinh dưỡng trầm trọng. Do thế, khi gặp người dân sống bên đường, bộ đội thường đem quân trang, tư trang để đổi lấy rau, quả, lợn, gà…

Vào những năm mà mật độ bom đạn trút xuống đường Trường Sơn chưa phải là ác liệt. Những đoàn quân qua đây phần lớn thương vong không phải vì bom đạn địch mà vì sốt rét, phù tim, phù phổi, tả lỵtrụy tim mạch, suy kiệt thể lực do thiếu đói, đường sá gian truân. Trong đó, sốt rét rừng là nhân tố tiêu hao sinh lực mạnh nhất. Mặc dù bộ đội được trang bị thuốc cá nhân, mỗi đơn vị có y tá mang thùng thuốc dự trữ đi theo, đồng thời thực hiện chế độ uống thuốc phòng bệnh, nhưng sốt rét vẫn là căn bệnh phổ biến tại Trường Sơn, bất cứ ai cũng có thể bị nhiễm. Nhiều người tử vong vì sốt rét lâu ngày chuyển sang ác tính. Những người vượt qua được thì da dẻ xanh tái do thiếu máu, sức khỏe suy giảm.

Quân đội Nhân dân Việt Nam đang hành quân trên đường Trường Sơn qua Lào.

Trên đường trèo đèo lội suối, chiếc gậy Trường Sơn là công cụ hỗ trợ đắc lực: giúp bước chân thêm vững, đường trơn đỡ ngã, và làm giá chống ba lô khi đứng nghỉ. Những chiếc gậy tre xuất xứ từ làng Hòa Xá (Hà Tây) này đã đi vào bài hát Chiếc gậy Trường Sơn của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Đôi dép cao su (còn gọi là “đôi dép Bác Hồ”) cũng là một hành trang rất phù hợp với đường rừng bùn lầy ẩm ướt do mưa nhiều, vì chân đi trong giày ủng lâu ngày sẽ bị úng nước và lở loét – một vấn đề mà lính Mỹ thường xuyên gặp phải khi đánh trận hay đóng quân ở vùng rừng.

Việc hành quân bằng cơ giới được bắt đầu từ năm 1968, tuy chỉ mới ở số lượng không nhiều. Trong tháng 1, có gần 6.000 quân được tổ chức hành quân bằng cơ giới. Trong tháng 4, hai tiểu đoàn pháo lớn, xe tăng, gần 124.000 quân được bảo đảm hành quân vào chiến trường. Tuy nhiên, do nguy cơ thương vong lớn (mỗi xe tải bị máy bay đánh cháy có thể làm thiệt mạng toàn bộ đơn vị trên xe), nên hình thức chuyển quân này chỉ được sử dụng hạn chế.

Năm 1973, kể từ sau khi có Hiệp định Paris, quân bổ sung cho các chiến trường đều được hành quân bằng cơ giới, chấm dứt hành quân bộ. Thời gian hành quân bằng xe chỉ mất hơn 10 ngày. Đây là một bước tiến nhảy vọt về chất trong tổ chức hành quân. Năm 1974, toàn bộ việc giao liên, hành quân, chuyển thương đều chuyển sang phương tiện cơ giới, mỗi tháng chuyển được trên 30.000 đến 50.000 quân qua tuyến. Những tổn thất do kiệt sức, suy dinh dưỡng, bệnh tật… Cũng được giảm thiểu tối đa.

Đường Trường Sơn trong văn hóa đại chúng

Trong những năm chiến tranh và cả trong thời kỳ hậu chiến, đường Trường Sơn đã là chủ đề cho rất nhiều tác phẩm âm nhạc và văn học. Nhiều nhà thơ, nhà văn cũng đã là những người lính Trường Sơn.

Văn học

Một số bài thơ:

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nướcMà lòng phơi phới dậy tương lai

Gặp em trên cao lộng gióRừng Trường Sơn ào ào lá đỏ

Đông sang Tây không phải đường thưĐường chuyển đạn và đường chuyển gạo Đông Trường Sơn, cô gái “ba sẵn sàng” xanh áoTây Trường Sơn bộ đội áo màu xanh

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắngNhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Âm nhạc

Một số bài hát về Trường Sơn:

  • Bước chân trên dải Trường Sơn“, 1967, nhạc Vũ Trọng Hối, lời thơ Đăng Thục, được gọi là “bản quân ca của người lính Trường Sơn”

Ta vượt trên triền núi cao Trường Sơn. Đá mòn mà đôi gót không mòn… Máu thấm đường ta đi lẫn mồ hôi rơi tình quê tha thiết. Ta đi theo ánh lửa từ trái tim mình…

…đêm nay ta đi Trường Sơn lộng gió. Trời vắng trăng sao nhưng tim ta rực lửa. Đi ta đi tung cánh đại bàng…

  • Chiếc gậy Trường Sơn“, 1967, nhạc và lời Phạm Tuyên

Trường sơn ơi, nơi núi mờ xa mà ta chưa qua, có suối reo, có gió ngàn cây, có dốc cao vực sâu mất lối, mây trắng quyện dưới chân bước bồi hồi, có nắng lửa đốt thiêu vách núi…

  • Đường Trường Sơn xe anh qua“, 1971, nhạc Văn Dung

Đường em ghi chiến công lẫy lừng, tràn niềm tin trong muôn gian lao Đường Trường Sơn xe anh thẳng tới..

…từ nơi em đưa sang bên nơi anh những binh đoàn nối nhau ra tiền tuyến, như tình yêu nối lời vô tận. Đông Trường Sơn nối Tây Trường Sơn…

Gặp em trên cao lộng gió. Rừng Trường Sơn ào ào lá đỏ. Em đứng đứng ở bên đường, như quê hương vai áo bạc quàng súng trường. Đoàn quân vẫn đi vội vã. Bụi Trường Sơn nhòa trong trời lửa…

Ơi, đêm Trường Sơn, nghe tiếng suối trong như tiếng hát xa, mà ngỡ như từ Pác Bó suối về đây ngân nga…

Phim ảnh

  • Phim Sinh mệnh, đạo diễn Đào Duy Phúc, 2005…

CHUYỆN “THẠCH SANH VÀ LÝ THÔNG” VỀ SỰ KIỆN 30/4/1975

THS2018 – Sự thật cần được tôn trọng và lịch sử cần phải vô tư.

Xin được nói trước là tôi chẳng yêu ghét, hoặc thiên vị gì Đại tá Bùi Văn Tùng (Bùi Tùng) hay Trung tướng Phạm Xuân Thệ. Nhưng hôm nay là 30/4 – Ngày kỷ niệm một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước! Mà lịch sử thì cần phải khoa học, khách quan, trung thực và không lệ thuộc bất cứ điều gì. Bỗng nhớ cái “tút” của bác Trần Đăng Khoa nói về chuyện “Thạch Sanh và Lý Thông” thú vị, nên xin dẫn lại, hầu chuyện bà con cùng bàn luận cho sáng tỏ… (Ảnh tư liệu nhân vật do ĐVH sưu tầm).

Trong hình ảnh có thể có: 4 người, mọi người đang ngồi

“Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã lùi xa gần một nửa thế kỷ…

Vậy mà hôm nay tôi vẫn phải bàn đến nó, để hy vọng không phải nói lại câu chuyện này nữa. Đây là một mảng lịch sử. Và theo tôi, là tư liệu đáng tin cậy nhất về sự kiện lịch sử này. Bởi đây là tiếng nói của người trong cuộc, trong đó có một phóng viên nước ngoài, nhà báo Đức chuyên nghiệp Borries Gallasch, người đã cho quân giải phóng mượn chiếc máy ghi âm để ghi lời đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh. Ông là người chứng kiến toàn bộ sự việc. Ông cũng đã viết cả một cuốn sách về sự kiện này. Cuốn sách ấy cũng đã được dịch sang tiếng Việt…

Trong hình ảnh có thể có: Nguyen Phuong Hung, đang ngồi

Vậy mà chúng ta vẫn cứ tranh luận, thậm chí cãi nhau, bất phân thắng bại về người thảo lời đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh? Cuộc tranh luận kéo dài suốt mấy chục năm qua.

Tôi cũng đã viết về anh Bùi Quang Thận, người cắm cờ ở Dinh Độc Lập và anh Ngô Văn Nhỡ, đại uý xe tăng, người đã hy sinh trước của ngõ Sài Gòn đúng buổi trưa ngày 30/4/1975.

Từ năm 1996, khi tôi về Quân đoàn 2 lấy tư liệu viết loạt bài này thì ở Quân đoàn vừa diễn ra Hội thảo lịch sử về người thảo thư đầu hàng cho Tổng thống Dương Văn Minh. Lúc đó, anh Phạm Xuân Thệ đang là Thiếu tướng, Tư lệnh Quân đoàn. Anh cũng nói với tôi và Nhà thơ Vương Trọng, như anh đã nói trong nhiều cuốn phim về sự kiện lịch sử buổi trưa 30/4/1975.

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, ngoài trời

Nhưng ngay từ dạo đó, chúng tôi cũng đã không tin, dù hồi đó không có tư liệu cụ thể như bây giờ. Không tin vì hai lý do:

– Một là: Văn bản đầu hàng cho Dương Văn Minh rất chặt chẽ, kín kẽ, phải là văn của Chính uỷ, chứ khó có thể là văn của một anh Đại uý, chỉ huy quân sự, giỏi chiến đấu, chứ khó có sự kín kẽ như một nhà chính trị. Tất nhiên đấy chỉ là suy luận thôi, và điều đó cũng không mấy chắc chắn, vì không ít anh chỉ huy quân sự mà cũng rất kín kẽ, rất “chính trị”.

– Và điều thứ hai, còn quan trọng hơn: Anh Thệ chỉ làm những điều như anh nói, khi không có anh Bùi Tùng. Khi anh Bùi Tùng đã có mặt thì anh Thệ không thể “trèo lên đầu” anh Bùi Tùng được, vì anh Tùng là cấp trên, là chỉ huy cao nhất, Trung tá, Chính uỷ Lữ đoàn, còn anh Thệ mới chỉ là Đại uý, Trung đoàn phó, chức vụ và cấp bậc cách xa anh Tùng lắm, nên anh Thệ không thể “chơi trội”. Trừ khi anh Tùng giao cho anh Thệ làm việc đó. Kỷ luật quân đội, đâu có đùa. Chỉ chênh nhau một cấp đã khác rồi, ở đây chênh đến mấy cấp, nên không có chuyện đó được.

Sau này, dự Hội thảo, anh Thệ là Trung Tướng, Tư lệnh Quân khu, còn anh Bùi Tùng chỉ là ông Đại tá đã về hưu, lại là cấp dưới anh Thệ cũng rất xa, vì thế mới có sự nhập nhẹm, nên Viện lịch sử quân đội (LSQĐ) mới có kết luận theo kiểu vui vẻ cả, như chia xôi trong mâm cỗ: Anh Thệ thảo thư đầu hàng, anh Tùng thảo thư chấp nhận đầu hàng. Đó là sự trí trá. Cần trả lại sự thật cho lịch sử.

Sự thật là anh Thận cắm cờ trên nóc dinh, anh Tùng thảo thư đầu hàng của Dương Văn Minh và thư chấp nhận đầu hàng của Quân Giải phóng. Anh Thệ có mặt trong dinh và dẫn Tổng thống Dương Văn Minh ra xe đi cùng Dương Văn Minh sang Đài phát thanh. Thế thôi. Và thế cũng vinh hạnh lắm rồi. Đời một người lính trận, có được kỳ tích như thế, lại lên được đến Trung tướng là quá vinh quang rồi, đừng nhận những giá trị không phải của minh. Điều đó rất không hay. Nếu người ta không biết, thì nhận nhằng, dù là “tạo nghiệp” cũng chẳng hay ho gì, nhưng mọi người đều biết cả, người ta còn đưa ra những bằng cớ rất rõ ràng, mà vẫn cãi lấy được thì không thể chịu nổi.

Mà thôi, kẻ tranh công theo kiểu Lý Thông thì thời nào cũng có, chẳng bàn làm gì, nhưng Viện Lịch sử quân sự thì phải khách quan. Chính vì thiếu sự khách quan mới có chuyện lùm xùm.

Anh Nguyễn Khắc Nguyệt, một người lính trận, có mặt tại Dinh Độc Lập đã phải lên tiếng trong Facebook của mình: “Sự kiện 30/4/1975, lịch sử không bao giờ chấp nhận sự ngoắt ngoéo, mù mờ. Mặc dù cuộc Hội thảo đã đưa ra kết luận song cái kết luận này lại gây ra phản ứng dữ dội từ một số nhân chứng và sự không đồng tình, không “tâm phục, khẩu phục” trong dư luận chung. Cuộc bút chiến, tranh luận vẫn tiếp tục. Ngay sau khi báo chí đưa tin nội dung kết luận của Viện LSQS, từ TP.HCM, đại tá Bùi Tùng đã lập tức phản ứng. Ông cho rằng “kết luận” đó không khách quan, nghiêng về phía Trung tướng tư lệnh Quân khu I Phạm Xuân Thệ và yêu cầu phải tiếp tục làm sáng tỏ sự thật lịch sử”.

Và nhà báo Đức, ông Borries Gallasch đã phải lên tiếng: “Ông Thệ vào Dinh trước ông Bùi Tùng. Nhưng khi đó trong Dinh rất hỗn loạn. Chẳng ai bảo được ai. Trật tự chỉ được thiết lập khi ông Bùi Tùng xuất hiện sau đó ít phút”.

Và rồi sau đó: “Ông Dương Văn Minh, ông Vũ Văn Mẫu và ông Bùi Tùng đã rời khỏi phòng, theo sau là những người đã có mặt tại đây để sang đài phát thanh.

Chúng tôi bước xuống cầu thang ra bãi cỏ, đến ngang chỗ vòi phun nước, Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu leo lên một chiếc xe jeep được bảo vệ bởi hai chiến sĩ giải phóng. Đại úy Phạm Xuân Thệ đi xe này. Chính ủy Bùi Tùng và một người lính khác lên chiếc xe thứ hai.

Tôi đang đứng ngay cạnh chiếc xe jeep nói chuyện với ông Bùi Tùng bằng tiếng Pháp, cố gắng xin ông ta để được lên xe. Ông gật đầu đồng ý. Luật sư Đỉnh với bộ râu dài cũng leo lên chiếc xe jeep này và chúng tôi lái đi. Chỉ có hai chiếc xe này của chúng tôi chạy giữa thành phố lúc ấy – một thành phố đã từng sôi sục mà nay sự sợ hãi bỗng nhiên được làm dịu đi – qua Tòa đại sứ Mỹ trống hoác, đến Đài phát thanh nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm…

Chúng tôi đi vào phòng thu nhỏ trên lầu một. Những kỹ thuật viên của chính đài này đã tháo chân dung của Nguyễn Văn Thiệu từ trên tường xuống và ném qua cửa sổ ra sân. Chúng tôi ngồi bất động một lát. Ông Mẫu quạt mặt mình bằng một quyển sách. Tổng thống Dương Văn Minh và Chính ủy xe tăng Bùi Tùng ngồi trên hai chiếc ghế và tôi ngồi giữa họ tại một chiếc bàn nhỏ.

Ông Tùng thảo văn kiện đầu hàng trên một mảnh giấy màu xanh. Ông viết khá vất vả. Có lúc ngồi bất động trong khi thảo ra được một vài từ rồi đến từ nữa, rồi lại thay thế bằng những từ khác. Sau 30 năm chiến đấu cho một mục đích, thật là khó để biết phải viết như thế nào. Nhưng rồi cũng viết xong.

Cuối cùng, mọi người đã sẵn sàng, nhưng không ai trong số người này biết sử dụng máy ghi âm. Chính ủy Tùng hướng dẫn rất rõ ràng những việc phải làm: Ông Minh cần phải đọc lại bản tuyên bố vào máy ghi âm của tôi, việc này được lặp đi lặp lại đến ba lần. Lần đầu tiên ông Minh chần chừ vì được yêu cầu phải đọc là: “Tôi, Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn”, nhưng ông ấy chỉ muốn nói: “Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh…”.

Họ tranh luận qua lại và cuối cùng đi đến thỏa thuận: không nhượng bộ ông Minh. Ông Minh phải nói: “Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống của Chính quyền Sài Gòn”. Nhưng ông Minh không đọc được bản viết tay của Chính ủy Tùng và nói sai nhiều lần. Tất cả mọi thứ lại phải được đọc lại từ đầu. Chật vật mãi cuối cùng cũng đã xong…”

Như vậy, mọi việc đã quá rõ ràng. Người thảo văn bản đầu hàng cho Tổng thống Dương Văn Minh và văn bản chấp nhận đầu hàng của Quân Giải phóng là ông Bùi Tùng chứ không phải ông Phạm Xuân Thệ. Đấy là chứng nhận khách quan của một nhân chứng, một người trong cuộc, lại là một nhà báo nổi tiếng quốc tế.

Vậy thì còn tranh cãi gì nữa. Chuyện này đã có thể khép lại được rồi. Hy vọng đây là bài viết cuối cùng nói về một sự thật hiển nhiên!

Thế mà cho đến nay, không hiểu sao vẫn chưa thấy Viện Lịch sử Quân sự có động thái gì phản ứng lại trước sự thật lịch sử này?

Rất mong Viện Lịch sử Quân sự cần phải kết luận lại. Vì đó là khoa học. Nếu nhập nhẹm, người ta sẽ không còn tin vào những trang sử khác cũng rất vinh quang của quân đội ta… Điều đó mới thật sự là nguy hại”.

Nhà văn Đăng Vương Hưng
___

Để được đọc Thơ mỗi ngày và chia sẻ những thông tin thú vị, thay vì đề nghị “Kết bạn” (chỉ giới hạn 5000 người), mời bạn hãy nhấn “Thích và Theo dõi” tài khoản fb Đặng Vương Hưng giúp mình nhé!

*

Mời tham khảo thêm: Nhà văn Đặng Vương Hưng và những công trình tác phẩm tiêu biểu trong lĩnh vực sáng tạo khoa học xã hội và nhân văn:
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=844611505930939&id=100011462921364M%E1%BB%9Di

Ngày 30-4 của tướng Lê Đức Anh

TTO – “Tối hôm đó, khi anh Phạm Hùng và anh Văn Tiến Dũng cho người xuống gọi tôi lên họp, tôi nói: “Giờ cho tôi ngủ chút đã, mệt quá!”.

Ngày 30-4 của tướng Lê Đức Anh - Ảnh 1.

Một trang hồi ký của Đại tướng Lê Đức Anh

LTS: Tuổi Trẻ xin giới thiệu một đoạn trích trong hồi ký Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng do chính Đại tướng Lê Đức Anh chấp bút. 

Ngày 8-4, cuộc họp đông đủ Trung ương Cục, Quân ủy Miền và Bộ tư lệnh B2, phổ biến quyết định của Bộ Chính trị về việc thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định, gồm có: Đại tướng Văn Tiến Dũng làm tư lệnh, Phạm Hùng làm chính ủy, Thượng tướng Trần Văn Trà và tôi – Trung tướng Lê Đức Anh làm phó tư lệnh. Riêng tôi lại kiêm phụ trách cánh quân phía tây – tây nam Sài Gòn.

Giấc ngủ “không gì cưỡng nổi”

Việc hóc búa nhất đối với hướng tây – tây nam là vấn đề công binh đảm bảo vượt sông cho các đơn vị tiến quân vào nội đô. 

Đoàn 232 được Bộ chỉ huy chiến dịch tăng cường thêm lực lượng bộ binh, pháo và cao xạ, cả pháo nặng 130 li, có đến một trung đoàn tăng và thiết giáp, trong đó 1/3 là tăng T54. Tất cả xe pháo các loại gần 800 chiếc, thế mà lâu nay Miền chỉ có 1/2 bộ cầu phà nặng TPP của Liên Xô. Thêm một vấn đề nữa: phải dự kiến để chiếm và giữ cho kỳ được các cầu trọng yếu trên các hướng tiến quân.

Đúng 17 giờ ngày 26-4-1975, chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Các đơn vị hướng tây – tây nam chúng tôi tiến công. Đến 3 giờ sáng 27-4, Sư đoàn 5 đã cắt được đoạn từ Bến Lức tới Tân An. Sư đoàn 8 cùng quân và dân Tiền Giang thực hiện đánh cắt lộ 4 từ Mỹ Tho đến bờ sông Tiền. Sư đoàn 3 đánh chiếm khu vực An Ninh – Lộc Giang, tổ chức vượt sông Vàm Cỏ. Sư đoàn 9 vượt sông Vàm Cỏ Đông, các vị trí tập kết tại Cầu Bông, Mỹ Thạnh, Đức Hòa. Các trung đoàn 24 và 88 bám sát vào nội đô phía nam Sài Gòn.

Khi xe tăng, thiết giáp của ta vượt qua sông Vàm Cỏ thì trời đổ mưa, đoạn thuộc huyện Đức Huệ (Long An) sình lầy, xe không đi được. Nhân dân vác những bó cây và dỡ nhà mình ra lót đường cho xe tăng và pháo vượt qua. 

Lúc đó, tôi nói một số đồng chí trở lại giúp dân làm lại nhà, dù người dân không hề đòi hỏi. Sau này, anh Nguyễn Minh Châu – tham mưu trưởng Miền – đã chỉ huy bộ đội làm lại hầu hết nhà cho dân…

Ngày 30-4 và 1-5, chúng tôi ở sở chỉ huy cánh tây – tây nam tại một địa điểm phía nam huyện Đức Hòa, Long An. Khi nghe các nơi báo cáo: “Xong rồi”, trong cơ thể có một cảm giác nhẹ nhõm, thoải mái biết bao! Và lúc bấy giờ mới thấy thấm mệt, có thể nói là mệt rã rời sau bao ngày đêm toàn bộ cơ thể luôn căng ra như dây đàn.

Tối hôm đó, khi anh Phạm Hùng và anh Văn Tiến Dũng cho người xuống gọi tôi lên họp, tôi nói: “Giờ cho tôi ngủ chút đã, mệt quá!”. Và tôi đã ngủ một giấc tới 9 giờ sáng. Trên đời này, ai vừa trải qua những thử thách nghiệt ngã, những ngày tháng căng thẳng thì hẳn sẽ hiểu và cảm thông cho giấc ngủ ngon lành, không gì cưỡng nổi của những người lính chúng tôi ngay khi vừa kết thúc cuộc chiến tranh.

Ngày 30-4 của tướng Lê Đức Anh - Ảnh 2.

Hồi ký Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Đại tướng Lê Đức Anh

Cú chết hụt

Đời tôi đã đi suốt hai cuộc chiến tranh giải phóng đất nước. Biết bao kỷ niệm sâu sắc tưởng chừng không thể quên. Chiến tranh là thử thách cao nhất, nghiệt ngã nhất đối với con người. Nhiều lúc bom đạn ác liệt quá, tôi từng nói vui với anh em: “Bom đạn đầy trời thế này, chết là chuyện thường, sống mới là điều kỳ lạ”. Bởi vậy, cú chết hụt ở giờ phút cuối cùng, khi mà chiến tranh sắp kết thúc thì tôi không thể nào quên được.

Sở chỉ huy của cánh quân hướng tây – tây nam nằm ngay bên bờ sông Vàm Cỏ thuộc huyện Đức Hòa. Suốt ngày đêm, tôi vẫn trụ trong cái chòi nhỏ sát mép sông. Sáng hôm đó, tôi vào ăn cơm, chỗ ăn là nhà họp của địa phương, làm nửa chìm nửa nổi. Chính ủy Hai Tưởng đặt vị trí ở đây. 

Vừa ăn xong, tự dưng anh Tưởng bảo tôi: “Anh hãy nán lại, nằm trên võng của tôi mà thở, nghỉ mươi phút rồi hẵng ra đó”. 

Tôi nghe anh, vừa ngả lưng, thì ở ngoài chòi của tôi một quả bom từ máy bay địch ném trúng. Cái chòi bay mất, cậu lái xe của tôi hi sinh, cậu bảo vệ bị thương. 

Nếu hôm đó ăn xong tôi ra liền thì nhất định “cái chuyện thường” đã xảy ra với tôi, và hôm nay chẳng còn ngồi mà viết những dòng chữ này.

Chiến tranh có chừa ai, cái ngẫu nhiên, cái tất nhiên đều không thể mang tính quy luật ra mà giải thích.

Cái bắt tay của Chủ tịch nước trong giờ giải lao

lê đức anh

Chủ tịch nước Lê Đức Anh thăm thầy cô giáo và học sinh Trường Phổ thông dân tộc vùng cao Lai Châu, tháng 3-1996 – Ảnh: TTXVN

Đó là năm 1994, ông được bầu đi dự Đại hội Thi đua quyết thắng toàn quân tại Hà Nội và lên đọc báo cáo thành tích trước đại hội.

Giờ giải lao, ông và khoảng chục cán bộ hải quân rất bất ngờ khi thấy Đại tướng Lê Đức Anh lúc đó đang là Chủ tịch nước đã xuống bắt tay từng người, ân cần hỏi han đời sống của chiến sĩ bởi khi ấy lực lượng hải quân còn hạn chế, khó khăn nhiều mặt.

Đại tướng nhắn nhủ các cán bộ hải quân làm sao để các công trình tại các đảo mà công binh xây dựng, phải như chiếc áo giáp chở che khi có tác chiến xảy ra, tạo niềm tin cho bộ đội Trường Sa.

“Chúng ta ở xa đất liền, các đảo đều cơ bản độc lập tác chiến, khi có tình huống xảy ra, có chi viện nhưng ở mức độ nhất định, công trình rất quan trọng, tạo sức mạnh phòng thủ và tạo niềm tin cho bộ đội. Trong điều kiện hiện nay chúng ta là một nước nhỏ, tiềm lực mọi mặt còn khó khăn nhưng luôn phải đối chọi với các nước lớn thì phải bình tĩnh, khôn khéo, cảnh giác, giữ gìn hòa bình…”, Thiếu tướng Hoàng Kiền nhắc lại lời căn dặn ân cần của Chủ tịch nước lúc bấy giờ.

Ông bảo những lời sẻ chia chân thành và thân mật ấy của Đại tướng Lê Đức Anh đã khiến đoàn cán bộ hải quân năm ấy nhận thức rõ hơn trách nhiệm bảo vệ biển đảo của Tổ quốc. Chủ tịch nước vẫn luôn dành sự quan tâm tình cảm với chiến sĩ hải quân và Trường Sa.

Một lần tình cờ gặp Đại tướng Lê Đức Anh ở khu nhà công vụ của Bộ Quốc phòng trên đường Phan Đình Phùng khoảng chục năm trước khiến ông Hoàng Kiền xúc động mãi.

Lần đó ông có việc vào khu nhà công vụ mà những người nhà binh thường gọi là Trạm 66, ông bất ngờ nhìn thấy Đại tướng Lê Đức Anh lúc đó đã nghỉ hưu, đang ngồi trên chiếc xe đẩy do một anh bộ đội đẩy đi. Ông Hoàng Kiền vội chạy lại chào vị tướng mà ông rất mực kính trọng.

Trò chuyện một hồi, Thiếu tướng Hoàng Kiền mới rụt rè hỏi: “Bác có việc gì mà vào đây?”.

Đại tướng từ tốn đáp: “Tôi sống trong một căn hộ ở đây”.

Ông Hoàng Kiền vô cùng cảm phục vị tướng suốt đời phục vụ cách mạng, nhân dân nhưng sống rất giản dị, khiêm nhường.

“Từ ngày ở chiến trường trở về Hà Nội, trải qua các chức vụ từ tổng tham mưu phó, tổng tham mưu trưởng, bộ trưởng Bộ Quốc phòng rồi Chủ tịch nước, cho tới tận cuối đời Đại tướng Lê Đức Anh vẫn chỉ ở trong căn hộ công vụ đơn sơ”, Thiếu tướng Hoàng Kiền xúc động nói về vị tướng mà ông rất mực tôn kính.

Đến giờ Thiếu tướng Hoàng Kiền vẫn còn nhớ mãi lần được gặp Đại tướng Lê Đức Anh tại Hà Nội.

Ông Hoàng Kiền cho biết thêm đại tá Khuất Biên Hòa – thư ký của Đại tướng Lê Đức Anh suốt 7 năm – từng chia sẻ với ông: “Đại tướng là con người cách mạng không bao giờ dựa vào quyền chức của mình để đưa con cái vào chỗ này chỗ kia. Tất cả hoàn toàn phải noi gương bố phấn đấu”.

THIÊN ĐIỂU