Category Archives: Chiến tranh Việt Mỹ

Quá khứ ám ảnh về vụ thảm sát Mỹ Lai cách đây 50 năm

Ngày 16/3/1968, theo lệnh cấp trên, một nhóm lính Mỹ đã tàn sát hơn 500 dân thường Việt Nam vô tội, trong đó có cả trẻ em, tại thôn Mỹ Lai thuộc tỉnh Quảng Ngãi.

Vụ thảm sát bị quân đội Mỹ che giấu suốt một năm sau đó mới bị báo chí nước này phanh phui, tạo nên làn sóng phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam trên toàn thế giới.

Vụ thảm sát Mỹ Lai không phải là vụ duy nhất, nhưng điển hình cho tội ác mà binh lính Mỹ đã gây ra cho nhân dân Quảng Ngãi, nhân dân Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh.

Dưới đây là những bức ảnh bằng chứng về tội ác của lính Mỹ ở Mỹ Lai. Ảnh tư liệu của Library Congress:

Lưu bản nháp tự động

Quá khứ ám ảnh về vụ thảm sát Mỹ Lai cách đây 50 năm

Lưu bản nháp tự động

Nhiều dân thường bị thảm sát

Lưu bản nháp tự động
Lưu bản nháp tự động
Lưu bản nháp tự động
Lưu bản nháp tự động
Lưu bản nháp tự động

Lính Mỹ thiêu rụi nhà cửa trong làng

Lưu bản nháp tự động

Trong vụ thảm sát, phụ nữ bị dồn vào một chỗ, họ đang cố che chở cho những đứa trẻ

Lưu bản nháp tự động

Mỹ Lai sau vụ thảm sát

Lưu bản nháp tự động

Một lính Mỹ tự bắn vào chân để tránh tham gia vụ thảm sát

Lưu bản nháp tự động
Lưu bản nháp tự động

Quá khứ ám ảnh về vụ thảm sát Mỹ Lai cách đây 50 năm

Lưu bản nháp tự động

Quá khứ ám ảnh về vụ thảm sát Mỹ Lai cách đây 50 năm

Hoài Linh/Vietnamnet

Advertisements

13/03/1975: Ban Mê Thuột thất thủ

Posted on 13/03/2019 by HongLoan

Nguồn: Ban Me Thuot fallsHistory.com

Biên dịch: Lê Hồng Loan | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Vào ngày này năm 1975, Ban Mê Thuột, thủ phủ của tỉnh Đắk Lắk ở Tây Nguyên, rơi vào tay quân đội Bắc Việt.

Cuối tháng 01 năm 1975, chỉ hai năm sau khi lệnh ngừng bắn được thực hiện theo Hiệp định Hòa bình Paris, Bắc Việt đã phát động Chiến dịch 275. Mục tiêu của chiến dịch này là giành lấy Ban Mê Thuột ở Tây Nguyên. Trận chiến bắt đầu vào ngày 04 tháng 03 và Bắc Việt đã nhanh chóng bao vây thành phố với năm sư đoàn chính, cắt đứt nó khỏi sự hỗ trợ từ bên ngoài.

Khi tình hình trở nên rõ ràng rằng lực lượng cộng sản sẽ chiếm thành phố và có thể là toàn tỉnh, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu đã quyết định rút lực lượng của mình để bảo vệ các khu vực đông dân có tính chiến lược hơn ở phía nam. Theo đó, ông ra lệnh cho các lực lượng ở Tây Nguyên rút lui khỏi vị trí của họ.

Từ bỏ Pleiku và Kontum, các lực lượng Nam Việt Nam bắt đầu di chuyển ra hướng biển, nhưng điều bắt đầu như một cuộc rút quân có trật tự đã nhanh chóng biến thành hoảng loạn và các lực lượng này nhanh chóng tan rã. Bắc Việt đã thành công ở cả Tây Nguyên và xa hơn về phía bắc tại Quảng Trị, Huế và Đà Nẵng.

Quân đội Nam Việt Nam sớm sụp đổ trong vai trò là một lực lượng chiến đấu vững chắc trong khi quân Bắc Việt tiếp tục tấn công vào Sài Gòn. Việt Nam Cộng hòa đầu hàng vô điều kiện trước Bắc Việt vào ngày 30 tháng 4 và chiến tranh kết thúc.

10/03/1975: Lực lượng cộng sản bao vây Ban Mê Thuột

Posted on 10/03/2018 by Kim Phụng

Nguồn: Communists surround Ban Me Thuot, History.com

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Vào ngày này năm 1975, lực lượng Bắc Việt đã bao vây và tấn công thành phố Ban Mê Thuột khi những trận đánh bắt đầu bùng nổ ở Tây Nguyên. Được phát động vào cuối tháng 01/1975, chỉ hai năm sau khi lệnh ngưng bắn được thiết lập theo Hiệp định Paris, hành động này là một phần của Chiến dịch 275 (Chiến dịch Tây Nguyên) của Bắc Việt.

Trận đánh Ban Mê Thuột bắt đầu vào ngày 04/03, khi Bắc Việt bao vây thành phố với năm sư đoàn tấn công chính và đã hoàn toàn cắt đứt mọi hỗ trợ từ bên ngoài. Sư Đoàn 23 của miền Nam bị áp đảo về quân số và nhanh chóng rơi vào tay lực lượng cộng sản.

Khi tình hình trở nên rõ ràng rằng lực lượng cộng sản sẽ chiếm thành phố và có lẽ là toàn tỉnh, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã quyết định thu hồi lực lượng của mình để bảo vệ các khu vực đông dân hơn. Theo đó, ông ra lệnh cho lực lượng ở Tây Nguyên rút khỏi vị trí của họ.

Từ bỏ Pleiku và Kontum, quân đội miền Nam bắt đầu tiến ra biển, nhưng những gì khởi đầu như một cuộc rút quân có trật tự đã nhanh chóng biến thành hoảng loạn, và quân đội miền Nam nhanh chóng tan rã.

Lực lượng miền Bắc đã thành công ở cả Tây Nguyên và xa hơn về phía bắc – ở Quảng Trị, Huế và Đà Nẵng. Trong khi miền Nam sớm tỏ ra thất bại, quân Bắc Việt tiếp tục tấn công đánh vào Sài Gòn. Nam Việt Nam đã đầu hàng vô điều kiện vào ngày 30/04.

Số phận những chiến hạm ‘gốc Việt’ trong Hải quân Philippines

Số phận những chiến hạm 'gốc Việt' trong Hải quân Philippines

Sau năm 1975, nhiều tàu chiến từng nằm trong biên chế Hải quân VNCH đã được đưa vào trang bị trong Hải quân Philippines.

Trước năm 1975, Hải quân VNCH được Mỹ viện trợ hàng trăm tàu chiến lớn, nhỏ. Hầu hết các tàu này được đưa vào trang bị trong Hải quân Nhân dân Việt Nam sau khi đất nước thống nhất và sau này phục vụ các chiến dịch bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc.

Tuy nhiên, ngay trong tháng 4/1975, có một số chiến hạm trong biên chế Hải quân VNCH đã di chuyển tới Philippines. Những chiếc tàu này được đưa vào trang bị trong hải quân nước này. Vậy số phận những chiếc tàu chiến này ra sao?

“Soái hạm Hải quân Philippines”

VNCH được Mỹ viện trợ số lượng tàu chiến đông đảo, đủ kích cỡ. Tuy nhiên, chiếm đa số đều là các tàu cỡ nhỏ, nếu là cỡ lớn thì lại là loại tàu tuần tra của lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ.

Dẫu sao, ít nhiều Mỹ cũng viện trợ cho VNCH một vài chiếc tàu có thể coi là “tàu chiến thực thụ”,  đó là hai tàu khu trục hộ tống (*) lớp Edsall (HQ-1 Trần Hưng Đạo và HQ-4 Trần Khánh Dư).

Tàu lớp Edsall có lượng giãn nước 1.590 tấn, dài 93,3m. Tàu vũ trang 3 pháo hạm 76mm, 2 pháo phòng không 40mm, 8 pháo phòng không 20mm, 3 máy phóng ngư lôi 533mm, hệ thống cối chống ngầm.

Tháng 4/1975, binh lính VNCH đã dùng tàu HQ-1 Trần Hưng Đạo tháo chạy sang Philippines. Chiếc còn lại Hải quân Nhân dân Việt Nam tiếp quản và đưa vào sử dụng.

Chiếc HQ-1 được Philippines sửa chữa nâng cấp (bỏ tháp pháo 76mm và thay bằng 2 tháp pháo 127mm) và chính thức đưa vào trang bị tháng 7/1976 với cái tên mới BRP Rajah Lakandula (PF-4).

Soái hạm BRP Rajah Lakandula (PF-4) trong Hải quân Philippines.

Kể từ năm 1981-1988, BRP Rajah Lakandula trở thành soái hạm Hải quân Philippines. Con tàu chủ yếu tham gia nhiệm vụ tuần tra bảo vệ biển, thực hiện công tác tìm kiếm cứu nạn trên biển.

Năm 1988, con tàu loại ra khỏi biên chế hải quân và được sử dụng như doanh trại nổi vịnh Subic tới năm 1999 thì bị phá dỡ.

Số phận những tàu lớn nhất

Lớp tàu Edsall tuy là những chiếc tàu có hỏa lực tương đối mạnh đối với một pháo hạm nhưng đó chưa phải là tàu to nhất.

Trong biên chế Hải quân VNCH có 7 tàu chiến lớp Casco (*) được coi là những tàu lớn nhất. Thậm chí, VNCH còn gọi nó là “tuần dương hạm”, dù lượng giãn nước chỉ tương đương khinh hạm. Thực tế, trước khi chuyển cho VNCH, 7 tàu Casco được dùng cho lực lượng tuần duyên bảo vệ bờ biển Mỹ.

Tàu lớp Casco có lượng giãn nước 2.800 tấn, dài hơn 94m, thủy thủ đoàn gần 200 người. Hệ thống vũ khí hạng nhẹ: tháp pháo 127mm, pháo cối 81mm và súng máy.

Khinh hạm BRP Andres Bonifacio (PF-7) thuộc lớp Casco, tên cũ trong Hải quân VNCH là HQ-16 Lý Thường Kiệt.

Tháng 4/1975, binh lính VNCH đã lấy 6 chiếc Casco chạy sang Philippines. Đương nhiên, Philippines không ngần ngại tiếp nhận toàn bộ số tàu này vào trang bị. Dù vậy, trong 6 chiếc, họ chỉ dùng 4 chiếc còn lại 2 chiếc được tháo dỡ lấy phụ tùng.

Năm 1979, chính quyền Philippines quyết định hiện đại hóa toàn diện hệ thống vũ khí và điện tử và điện tử trên 4 tàu. Tàu lắp thêm pháo 20-40mm, thiết kế thêm sân đáp trực thăng ở đuôi tàu.

Tới cuối những năm 1980, Hải quân Philippines dự định trang bị thêm tổ hợp tên lửa hành trình RGM-84 Harpoon nhưng do khủng hoảng kinh tế nên không thực hiện được.

Giai đoạn 1991-1993 và năm 2003, cả bốn tàu lần lượt bị phá dỡ.

Thoát kiếp “sắt vụn”

Hầu hết các tàu chiến cỡ lớn của VNCH trong Hải quân Philippines đều bị loại bỏ vào những năm 1990 nhưng vẫn có một số ít được hoạt động tới tận ngày nay.

Năm 1975, khi tháo chạy, binh lính VNCH đã đưa ba tàu hộ tống cỡ lớn PCE (HQ-07 Đống Đa II, HQ-12 Ngọc Hồi và HQ-14 Vạn Kiếp II) sang Philippines.

Tàu PCE có lượng giãn nước 903 tấn, dài 56m, thủy thủ đoàn 99 người. Vũ khí chính của tàu gồm pháo hạm 76mm và 40mm cùng hệ thống chống tàu ngầm.

Tàu tuần tra cỡ lớn BRP Miguel Malvar trong tập trận CARAT 2012.

Sau khi tiến hành sửa chữa, cả ba tàu cùng đưa vào biên chế Hải quân Philippines với tên mới (BRP Sultan Kudarat, BRP Miguel Malvar, BRP Datu Marikudo).

Trong giai đoạn 1990-1991, các tàu trải qua đợt đại tu sửa chữa lớn, gỡ bỏ toàn bộ hệ thống vũ khí chống ngầm, thay mới radar, trang bị thêm các hệ thống liên lạc và định vị vệ tinh.

Tính từ thời điểm hạ thủy tới năm 2012, ba tàu PCE đều đã xấp xỉ 70 năm tuổi. Dù vậy, chưa có dấu hiệu Philippines cho chúng nghỉ hưu.

Những năm gần đây, các tàu này vẫn tiếp tục tham gia đều đặn các cuộc tập trận với Hải quân Mỹ.

Ngoài tàu chiến, tàu “gốc Việt” trong Hải quân Philippines còn có các tàu vận tải đổ bộ (cỡ trung, cỡ lớn). Tương tự số phận tàu chiến, ngày nay chỉ còn một số rất ít hoạt động, phần còn lại đều bị tháo dỡ lấy sắt vụn.

(*) – Tàu khu trục hộ tống (Destroyer Escort) là phân loại tàu chiến của Mỹ trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Đây là tàu chiến vũ trang nhẹ, cỡ nhỏ sử dụng hộ tống đoàn tàu hậu cần trên biển.

– Tàu lớp Casco: HQ-2 Trần Quang Khải, HQ-3 Trần Nhật Duật, HQ-5 Trần Bình Trọng, HQ-6 Trần Quốc Toản, HQ-15 Phạm Ngũ Lão, HQ-16 Lý Thường Kiệt, HQ-17 Ngô Quyền.

Trong đó, HQ-15 được đưa vào biên chế Hải quân Nhân dân Việt Nam, tàu HQ-3 và HQ-6 được Philippines tháo dỡ lấy phụ tùng. Bốn tàu còn lại đổi tên thành: BRP Diego Silang (PF-9), BRP Francisco Dagohoy (PF-10), BRP Andres Bonifacio (PF-7) và BRP Greogorio del Pilar (PF-8).

theo Theo ĐVO

Danh-sách những Quân-Nhân & Dân-Sự Trấn-Thủ Hoàng-Sa ngày cuối cùng.


(bị Trung-Cộng bắt làm tù-binh ngày 20-1-1974)

Tổng-số Quân-Nhân & Dân-Sự Trấn-Thủ cuối cùng ở Hoàng-Sa, bị Trung-Cộng bắt làm tù-binh ngày 20-1-1974 gồm có 49 người, chia ra như sau: 

– 14 quân-nhân Hải-Quân,

– 25 quân-nhân Địa-Phương-Quân

– 1 người Mỹ tên Gerald Emile Kosh,

– 5 người thuộc Quân-Đoàn I & Công-Binh,

– 4 nhân-viên Khí-tượng.

Ngày 27-1-1974, Trung-Cộng thả 6 người là

Gerald Emile Kosh, 4 thương-binh Việt-Nam (gồm: 1 Hải-Quân, 2 Địa-Phương-Quân, 1 Công-Binh) & 1 Nhân-viên Khí-tượng 

Ngày 17 tháng 02 năm 1974, Trung-Cộng thả 43 người còn lại.

Danh-sách dưới đây là tài liệu riêng của ông Thuận Châu Phan Văn Khải, ghi nhận hồi tháng 2 năm 1974.

Sau 33 năm, nhiều chỗ đã bị mờ. Do đó, có thể tính danh của những người trong cuộc không mấy chính xác. Ông Thuận Châu mong quí vị thông cảm.

1/-Những SQ & BS Hải quân (1):
1-HQ Trung úy Lê Văn Trung
2-Trung sĩ Trịnh Vàng
3-Trung sĩ Phan Văn Bạc
4-Trung sĩ Đặng Văn Lân
5-Trung sĩ Thạch Cung
6-Trung sĩ Nguyễn Văn Hội
7-Hạ sĩ Nguyễn Văn Thắng
8-Hạ sĩ Trương Q. Nghiêm
9-Hạ sĩ Trần Văn Chương
10-Hạ sĩ Phan Văn Huy
11-Hạ sĩ Nguyễn Hữu Hùng
12-Hạ sĩ Nguyễn Ngọc Thanh
13-Thủy thủ Lư Chấn Hưng

2/-Những SQ & BS Địa phương quân :
1-Trung úy Phạm Hy *
2-Trung sĩ Hồ Ngọc Thạch
3-Trung sĩ Phạm Trúc
4-Trung sĩ Nguyễn Đức
5-Hạ sĩ Huỳnh Tiên
6-Hạ sĩ Phùng Cư
7-Hạ sĩ Trần Hổ
8-Binh I Nguyễn Phùng
9-Binh I Nguyễn Trung Văn
10-Binh I Phan Văn Trình
11-Binh I Lê Hiền
12-Binh I Lê Kim
13-Binh I Đặng Nhứt
14-Binh I Lê Lang
15-Binh II Lê Bé
16-Binh II Nguyễn Hoàng Linh
17-Binh II Phạm Bảy
18-Binh II Lê Văn Ba
19-Binh II Đoàn Mười
20-Binh II Nguyễn Thành Nhi
21-Binh II Nguyễn Văn Đa
22-Binh II Huỳnh Văn Lang
23-Binh II Võ Văn Thắng

* Theo Th/Tá Hồng, qua lời kể của người anh là Phạm Phan, trong trại tù Kỳ Sơn-Tiên Lãnh, Trung Úy Hy đã tự sát khi miền Nam thất thủ.

3/-Những SQ & BS thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I – VICT :1-Thiếu tá Phạm Văn Hồng
2-Trung úy Võ Hà (Vũ Hà theo TT Hồng)
3-Trung úy Lê Văn Du (Lê Văn Đá theo TT Hồng)
4-Hạ sĩ Đinh Hữu Lễ

& 4/-Nhóm nhân viên khí tượng :1-Nguyễn Văn Nhượng
2-Đặng Hiền Võ
3-Nguyễn Văn Tân

TỔNG CỘNG : 43 người.

—————————————————

Tên SQ & Đoàn-Viên Hải quân được tu-chỉnh đến nay như sau:

1-HQ Trung úy Lê Văn Dũng
2-Trung sĩ CK Trịnh Chí
3-Trung sĩ PT Phan Văn Bắc
4-Trung sĩ GL Đặng Văn Lâm
5-Trung sĩ TP Thạch Cung
6-Trung sĩ TP Nguyễn Văn Hội
7-Hạ sĩ BT Nguyễn Văn Thắng
8-Hạ sĩ  QK Trương Q. Nghiêm
9-Hạ sĩ TP Trần Văn Chương
10-Hạ sĩ CK Phan Văn Huy
11-Hạ sĩ PT  Nguyễn Hữu Hùng
12-Hạ sĩ VC  Nguyễn Ngọc Thanh
13-Thủy thủ KT Lư Chấn Hưng

Nhóm tù binh tâp trung tại trại Trại An Dưỡng Gia Ðịnh. (Hình tư liệu của Cục Tâm Lý Chiến VNCH).

(riêng Trung-Sĩ ĐT Quý đã được thả trước, vào ngày 27-1-1974.)

Đặc biệt là Gerald Kosh (người đã chứng kiến những diễn tiến ngay từ đầu) rất khen ngợi các chiến sĩ Hải quân VN, ông ghi nhận họ có kỹ luật và niềm tự hào, các Sĩ Quan HQVN rất xuất sắc.
Ngoài ra Kosh còn nhận xét là toán chiến sĩ cơ hữu thuộc HQ 4 trên đảo Cam Tuyền trội hơn quân TC đổ bộ lên đảo và đã được huấn luyện kỹ, chỉ huy giỏi.(Điện văn số 326202 ngày 01 tháng 2-1974 của ban thẩm vấn G. Kosh gởi cho Tư Lệnh/LL/HK tại Thái Bình Dương.)


Chúng tôi chân-thành cảm ơn ông Thuận-Châu Phan-Văn-Khải. Mong mỏi quý-vị nào biết hơn xin tu-chỉnh cho danh-sách này được thêm chính-xác. Chúng tôi xin cảm ơn trước.

Hai điện tín của Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn gửi về Washington ngày 20-21/1/1974

….
Một số tài liệu liên quan đến trận “hải chiến Hoàng Sa” được công bố trong thời gian qua cho rằng: do Mỹ đã bắt tay với Trung Quốc trong vấn đề Hoàng Sa, không ứng cứu lực lượng VNCH khiến Hoàng Sa thất thủ, đồng thời ngăn cản VNCH phản công tái chiếm Hoàng Sa; hoặc do phía VNCH do tự lượng sức mình, thấy khó có thể tái chiếm Hoàng Sa nếu không có sự yểm trợ từ phía Mỹ nên đã ngưng việc phản công. Tuy nhiên, đó chỉ là những phỏng đoán chưa được kiểm chứng.


Gần đây, khi tìm kiếm các tư liệu về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chúng tôi có tiếp cận hai bức điện tín do Graham Martin, Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn gửi về Washington ngay sau khi xảy ra biến cố Hoàng Sa. Nội dung hai điện tín này đề cập nhiều vấn đề, trong đó có nguyên nhân khiến VNCH hủy bỏ lệnh không kích tái chiếm Hoàng Sa.


* Bức điện thứ nhất do Đại sứ Martin gửi đến Nhà Trắng, mức độ Khẩn (immediate), đề ngày 20/1/1974. 


Bức điện gồm 8 mục, xin lượt thuật những nội dung chủ yếu như sau:


– Ngoại trưởng VNCH Vương Văn Bắc đã gọi điện cho Đại sứ Martin vào lúc 4g15 ngày 20/1/1974 để báo tin về tình hình nghiêm trọng ở Hoàng Sa. Cuộc gọi này thực hiện theo lệnh của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, nhằm thông qua Đại sứ Martin để báo tin đến Tổng thống Mỹ Nixon về tình hình tại quần đảo Hoàng Sa và kế hoạch hành động của chính quyền VNCH. Theo đó hải quân Trung Quốc với sự yểm trợ của 3 chiếc Mig, đã tấn công lực lượng VNCH đang đóng giữ trên các đảo Hữu Nhật, Quang Hòa và Hoàng Sa, đã buộc lực lượng VNCH rút lui, để lại khoảng 70 quân nhân, có khả năng bị Trung Quốc giết hoặc bắt làm tù binh.


– Do lực lượng Trung Quốc áp đảo, NÊN NÓ DƯỜNG NHƯ KHÔNG THỰC TẾ ĐỂ CỐ GẮNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ BẰNG PHƯƠNG THỨC QUÂN SỰ. KỂ CẢ PHẢN CÔNG BẰNG MÁY BAY (it did not seem practical to attempt to solve the problem by military means. Even counterattack by air was not feasible). Vì vậy Tổng thống Thiệu chỉ thị cho Ngoại trưởng Bắc tiến hành các bước đi ngoại giao để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và kêu gọi sự ủng hộ của Hoa Kỳ và các đồng minh thân cận. Theo đó, VNCH sẽ đưa vụ việc ra Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc (LHQ); thông báo với SEATO về hành động xâm lược của Trung Quốc; cân nhắc đưa vụ việc tranh chấp ra tòa án công lý quốc tế. Tuy nhiên, VNCH chưa quyết định việc này vì e ngại Trung Quốc sẽ không chấp nhận ra tòa. 


– Thông báo cho các bên tham gia ký kết Hiệp định Paris (1973) rằng Hiệp định quy định tất cả các bên đều phải tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, và Trung Quốc là một bên tham gia ký kết Hiệp định này. Ngoại trưởng Bắc cũng kêu gọi một cuộc họp với các phái đoàn ngoại giao ở Sài Gòn về vụ việc và yêu cầu sự hỗ trợ từ chính phủ của họ.


– Đại sứ Martin hứa với Ngoại trưởng Bắc là sẽ cập nhật tình hình cho Ngoại trưởng Mỹ, bấy giờ là Henry Kissinger, và sẽ liên lạc với ông Bắc ngay khi có phản ứng chính thức từ Washington, đồng thời nói rằng nếu VNCH đưa vụ việc ra Hội đồng bảo an LHQ thì Mỹ sẽ lên tiếng nhưng cần cân nhắc đến những tuyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa của các đồng minh khác của Mỹ như Đài Loan và Philippines.


– Đại sứ Martin nghĩ rằng VNCH cần xem xét lại mối nghi ngờ khi đưa vấn đề ra Tòa án La Haye, kể cả khi Trung Quốc từ chối ra tòa thì việc này cũng chứng tỏ là VNCH đã chọn giải pháp hòa bình thay cho vũ lực. Điều này rõ ràng là có ích trong việc duy trì sự liên lạc sau này.


* Bức điện thứ hai do Đại sứ Martin gửi cho Tướng Brent Scowcroft, là trợ lý của Henry Kissinger trong Hội đồng an ninh quốc gia của Mỹ dưới trào Nixon, mức độ Khẩn (immediate), đề ngày 21/1/1974. 


Bức điện gồm 10 mục, xin lượt thuật những nội dung chủ yếu như sau:


– Thông báo cho Brent Scowcroft biết diễn biến tình hình, để Brent Scowcroft báo cho Kissinger biết và quyết định cách tiếp cận của ông ta đối với Trung Quốc, nếu có. Martin cho rằng sự hiện diện của Tổng thống Thiệu ở Đà Nẵng tại thời điểm này đã tạo ra áp lực vô hình không cần thiết để xử lý vụ việc. Nếu như ông Thiệu có mặt ở Sài Gòn thì phía Mỹ sẽ biết được dự định của ông ấy và tham vấn cho ông Thiệu những hành động hợp lý hơn. Martin nói rằng, SÁNG NAY TÔI NGHE NÓI ÔNG THIỆU ĐÃ RA LỆNH CHO KHÔNG LỰC VNCH NÉM BOM QUÂN TRUNG QUỐC Ở HOÀNG SA. LỆNH ĐÓ ĐÃ ĐƯỢC ĐÌNH CHỉ. (I heard this morning he had ordered RVN airforce to bomb Chinese forces in Paracels. That has been stopped).


– Cân nhắc việc tư vấn cho chính quyền VNCH rút đơn vị đồn trú ra khỏi đảo Nam Yết ở Trường Sa hay chờ đợi trong trường hợp Trung Quốc tiếp tục xâm phạm Trường Sa. 


– Khẳng định Mỹ KHÔNG THỂ THAM GIA TRỰC TIẾP TRONG CUỘC TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN GIỮA CÁC ĐỒNG MINH LÂU ĐỜI LÀ VNCH, ĐÀI LOAN VÀ PHILIPPINES, HOẶC GIỮA NHỮNG NƯỚC NÀY VỚI TRUNG QUỐC MÀ MỸ ĐANG HY VỌNG XÂY DỰNG MỘT MỐI QUAN HỆ NHIỀU HƠN TRONG TƯƠNG LAI (We cannot, I think, become directly involved in the disputes over sovereignty between our old allies – the RVN, the ROC, and the Philippines. Or between them and the PRC with whom we would hope to build a more forthcoming relationship).


– Sử dụng tổ chức Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm quốc tế (ICRC) để yêu cầu các bên trao trả tù binh và những binh lính tử trận, tốt nhất là tiến hành trước dịp Tết (Giáp Dần, 1974) và nơi thực hiện việc trao trả này là ở đảo Hải Nam hay Đại lục thì sẽ thuận tiện hơn so với việc trao trả ở đảo Hoàng Sa.


– Xác minh việc hãng tin UPI ở Sài Gòn đưa tin “có một người Mỹ là (Gerald) Kosh bị Trung Quốc bắt giữ tại trạm khí tượng trên đảo Hoàng Sa”, xem thử ông ta đã bị giết hay bị bắt giữ.


– Dựa vào những quan sát của phái đoàn Mỹ tại Liên hiệp quốc để khuyên Việt Nam chỉ gửi công hàm phản đối Trung Quốc lên Hội đồng bảo an, nhưng không thông tin cho báo chí và chắc chắn là không phải để bỏ phiếu (lên án Trung Quốc). 


– Đại sứ Martin cho biết Tổng thống Thiệu muốn gửi thư cho Tổng thống Nixon yêu cầu can thiệp và lên án Trung Quốc, nhưng Martin đã tìm cách ngăn cản việc gửi lá thư này đến Nixon, mà chỉ đề nghị Ngoại trưởng VNCH Vương Văn Bắc yêu cầu chính phủ VNCH đưa sự vụ ra Tòa án quốc tế và gửi báo cáo tới SEATO. Dùng ảnh hưởng của cá nhân để kiềm chế bất cứ hành động thiếu cân nhắc nào của Tổng thống Thiệu.


– Cân nhắc để tìm cách sử dụng sự kiện đáng tiếc này theo cách tiến hành các mục tiêu tổng thể của Mỹ; tìm cách tiếp cận với Trung Quốc theo các hướng có ích. Không đề nghị Trung Quốc trả lại quần đảo Hoàng Sa cho Việt Nam, vì Trung Quốc đã chiếm được nó và rõ ràng là không muốn trả lại. Chỉ khuyến nghị Trung Quốc trao trả cho VNCH những người tử trận và tù binh trong dịp Tết (Giáp Dần 1974); Giúp VNCH bảo vệ Trường Sa và những mỏ dầu tiềm năng ở đó… 


Nhìn lại hai điện tín của Đại sứ Mỹ Graham Martin gửi về Washington, thấy rằng quan điểm của Martin trong việc giải quyết hậu quả “biến cố Hoàng Sa” là: không hỗ trợ VNCH giành lại Hoàng Sa, bỏ mặc cho Trung Quốc chiếm đóng quần đảo này; ngăn không cho chính quyền VNCH, đặc biệt là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, có những hành động có thể gây phương hại cho mối quan hệ Mỹ – Trung đang ấm dần lên; ủng hộ VNCH lựa chọn giải pháp hòa bình (ngoại giao và pháp lý) đối với vấn đề xung đột ở Hoàng Sa, mà không dùng giải pháp quân sự. 


Tuy nhiên, phía Mỹ không trực tiếp yêu cầu VNCH hủy bỏ việc dùng không quân để phản công giành lại Hoàng Sa. Chính ông Nguyễn Văn Thiệu đã bỏ ý định này sau khi cân nhắc tương quan lực lượng và biết được thái độ của Mỹ đối với vấn đề Hoàng Sa. Song, Martin cũng khẳng định là sẽ giúp VNCH giữ Trường Sa trong trường hợp Trung Quốc manh động xâm phạm quần đảo này. Như vậy có thể thấy rằng Mỹ quyết định buông Hoàng Sa cho Trung Quốc nhưng với Trường Sa thì không.
T.Đ.A.S. (tóm lượt)
Nguồn: Anhson.tranduc
_________

Công điện của đại sứ Mỹ Graham Martin tại Việt Nam, gửi ông Brent Scowcroft vào lúc 9 giờ 25 ngày 21 tháng Giêng 1974. (Brent Scowcroft  là một tướng lãnh không quân hồi hưu, và vào thời điểm nhận công điện này ông là Cố Vấn An Ninh Quốc Gia trong chính phủ  của tổng thống Gerald Ford)


Tài liệu tham khảo : 

[1] Dưới đây là bản dịch bức công điện, những chữ viết nghiêng trong ngoặc đơn, do người dịch (ông Nguyễn Đạt Thịnh) thêm vào để bạn đọc dễ hiểu hơn.

1. Có thể ông nên chuyển cho ông Henry (Kissinger)  biết những nhận xét dưới đây để ông ta quyết định về cách tiếp cận với PRC (People’s Republic of China-Trung Cộng ).

2. Reftel (Reference Telegram-sở điều nghiên điện tín) cung cấp lời giải đáp cho nhiều câu hỏi được nêu lên. Đọc lại quân sử Hải Quân cũng là điều thích thú. Cuối cùng thái độ khôn ngoan vẫn là hành động – phải làm một điều gì đó, chứ đừng ngồi chịu trận. Nhu cầu cần hành động  lại trở thành cần thiết hơn (chú thích: cần thiết cho Mỹ) vì sự có mặt của tổng thống Thiệu tại Đà Nẵng, và vì cái thế của ông ta không thể tỏ ra thụ động  trước  diễn biến được đơn giản diễn dịch là hành động xâm lăng trắng trợn (hành động của Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa) Nếu ông Thiệu đang ở Sài Gòn, và nếu tôi biết việc ông ta muốn làm, có thể tôi đã thuyết phục ông ta hành động hợp lý hơn.

Thí dụ: SÁNG NAY TÔI NGHE NÓI ÔNG TA RA LỆNH CHO KHÔNG QUÂN VIỆT NAM  OANH TẠC LỰC LƯỢNG  TRUNG QUỐC TẠI ĐẢO HOÀNG SA. VIỆC ĐÓ ĐÃ ĐƯỢC NGĂN CHẶN.

3. Vấn đề cần đặt ra là tình hình này sẽ đưa chúng ta tới đâu. Chúng ta nên khuyến cáo chính phủ Việt Nam làm gì về đồn binh  Nam Yết  của họ. Bảo họ rút quân à? Hay khuyên họ tăng cường lực lượng? Hay khuyên họ ngồi đó, chờ xem? Tin Hải Quân báo trước việc chiến hạm (Trung Cộng) được gửi tới Nam Yết  hôm 15. Nhiều bản nghiên cứu địa chất đang được tiết lộ, cho biết có thể có một khối lượng dầu khổng lồ nằm dưới lòng biển Nam Hải; nếu không có tiềm năng dầu hoả  thì vùng biển này đã chẳng có giá trị gì.Do đó mà cuộc tranh chấp càng gay go hơn. Tôi nghĩ chúng ta không thể trực tiếp liên can vào cuộc tranh chấp chủ quyền giữa những nước  đã từng là đồng minh của chúng ta như  Việt Nam Cộng Hoà, Đài Loan và Phi Luật Tân; hoặc giữa những nước này  với PRC (Trung Cộng) nơi chúng ta đang xây dựng một tương quan sắp tới. Tuy nhiên, có thể chúng ta cũng không cần gây thương tổn cho bất cứ nước nào bằng cách êm thắm lui vào hậu trường – lập trường cố hữu của chúng ta vốn vẫn chống việc dùng sức mạnh để giải quyết những cuộc tranh chấp lãnh thổ;  và một lập trường cố hữu khác là nhờ ICRC (International Committee of the Red Cross-Hồng Thập Tự Quốc Tế) giúp thực hiện việc  trao đổi thương binh và tử sĩ.

4. Nếu PRC (Trung Cộng) thuận theo lời yêu cầu của Việt Nam trao trả những thương binh, tử sĩ dưới sự giám sát của ICRC, thì đây sẽ là một lợi khí cho chúng ta để đòi DRV (Democratic Republic of Vietnam – Việt Cộng) một chính sách trao đổi tù binh rộng rãi hơn, điều mà họ vẫn đắp mô gây trở ngại trong những cuộc hội đàm TPJMC (Two-Party Joint Military Commission-Uỷ Ban Quân Sự Hai Bên). Ngoài ra, nếu Trung Cộng -dưới danh nghĩa  “thương binh” mà trao trả toàn bộ tù binh như một món quà Tết, thì chúng ta lại có một lợi khí mạnh hơn để dùng với  Bắc Việt.

5. Tôi vừa nhận được bản tin FBIS (Foreign Broadcast Information Service-tin hải ngoại) của NCNA (New China News Agency – hãng thông tấn  Tân Hoa Xã), viết là, “những người phía bên kia bị bắt  trong cuộc chiến tranh tự vệ này sẽ được trả về nước vào thời điểm thuận tiện.” Thời điểm đó  – đối với cả người Việt lẫn người Tầu – là ngày Tết. Dĩ nhiên, chúng ta không biết những người bị bắt còn trên đảo Hoàng Sa hay họ đã bị đưa về đảo Hải Nam hoặc vào Trung Quốc lục địa; nếu họ còn trên đảo Hoàng Sa thì việc đưa họ trở về Việt Nam sẽ dễ hơn.

6. Chuyện về anh Kosh hơi phức tạp, vì hãng thông tấn UPI Sài Gòn biết chuyện này qua nguồn tin Việt Nam, họ chỉ biết anh là “một người Mỹ làm việc tại đài khí tượng Hoàng Sa, và coi như đã bị Trung Cộng bắt.” Chỉ tóm tắt có ngần đó; họ không biết đến cả tên anh Kosh và không biết Kosh là một nhân viên dân sự của DAO (Defense Attache Office – Văn Phòng Tuỳ Viên Quân Sự).  UPI có hỏi ý chúng tôi, và chúng tôi không yêu cầu họ bỏ hay khoan phổ biến tin về Kosh, nhưng chỉ nói là nếu họ hoãn được 24 tiếng đồng hồ thì việc trả tự do cho Kosh sẽ dễ dàng hơn. Văn  phòng UPI Sài Gòn, chuyển lời yêu cầu này cho Bill Landry,  người đặc trách tin quốc ngoại tại văn phòng UPI Nữu Ước. Không biết anh này quyết định như thế nào.

7. Về mặt ngoại giao, chúng tôi dựa vào USUN (US Mission to the UN-Phái Đoàn Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc) để khuyến cáo chính phủ Việt Nam chỉ nên đơn giản khiếu nại với Hội Đồng Bảo An  Liên Hiệp Quốc, nhưng đừng đòi hỏi điều trần và cũng đừng đòi biểu quyết. Thiệu muốn gửi thư cho tổng thống Nixon yêu cầu Hoa Kỳ can thiệp và lên án Trung Cộng. Tôi đã bảo  ông Thiệu đừng gửi  lá thư đó, vì thư ông viết  sẽ bị trả lời không thuận lợi, tôi còn cho ổng biết  chính bản thân tôi, tôi cũng sẽ khuyến cáo Nixon trả lời từ khước. Chúng tôi còn khuyến cáo ngoại trưởng (Vương Văn) Bắc là chính phủ Việt Nam nên đưa vấn đề ra trước Toà Án Quốc Tế, và  đặt nhẹ vấn đề tại SEATO  (Southeast Asia Treaty Organization – Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á).

8.  Có thể tình hình này đem lại nhiều điều tốt. Chắc chắn tôi có thể gây ảnh hưởng mạnh hơn trong việc ngăn cản Thiệu không hành động thiếu cân nhắc, và cởi mở hơn với Lê Đức Thọ  trong việc trao đổi tù binh, và việc chính phủ Việt Nam  đề nghị  hạ thấp cường độ chiến tranh, bằng cách  giảm bớt  việc sử dụng súng cối, hoả tiễn, mìn, và mọi hình thức sát hại thường dân vô tội. Và, trên tất cả mọi việc,  việc thắt chặt hệ thống  chỉ huy và kiểm soát quân sự, rồi  nới rộng quyền cho Khiêm  phối hợp nội các dân sự là cần thiết hơn cả.

9. Cần nhắc lại, chúng ta phải tìm cách lợi dụng việc vừa xẩy ra (chú thích: lợi dụng việc Trung Cộng chiếm Hoàng Sa), dù việc đó đáng tiếc; lợi dụng bằng cách tiến xa hơn trong những  mục tiêu chung của Hoa Kỳ. Không tha thiết và rất vô tư, tôi tin tưởng là chúng ta nên âm thầm đến với Trung Cộng theo lộ trình tôi đề nghị. Tôi không đề nghị việc Hoa Kỳ đòi trả Hoàng Sa cho Việt Nam. Trung Cộng đã  chiếm được, chắc chắn họ sẽ không trả lại. Chúng ta chỉ yêu cầu họ đáp ứng lời yêu cầu của chính phủ Việt Nam – hoàn trả cả thương binh lẫn tử sĩ lại cho Việt Nam, và thêm vào nữa, Trung Cộng có thể nhân ngày Tết thực hiện cuộc trao trả đó. Tôi nghĩ PRC (Trung Cộng) sẽ hiểu ngầm được  là chúng ta thầm lặng chấp nhận việc họ chiếm  Hoàng Sa  như một  “việc đã rồi.” Hành động như vậy, chúng ta có thể giữ lại Trường Sa , và khối lượng dầu hoả quanh quần đảo này cho chính phủ Việt Nam. Tôi tin là chính phủ Việt Nam sẽ  thất bại  trước cuộc hành quân mà  Trung Cộng  đã  chuẩn bị kỹ lưỡng.

10. Nhìn kỹ lại, tôi thấy chúng ta sẽ thực sự hưởng thụ cùng với  Trung Cộng (chú thích: cùng nhau hưởng thụ trong việc Trung Cộng chiếm Hoàng Sa !), trong lúc chúng ta vẫn có vẻ giúp Việt Nam thực hiện hành động hợp lý duy nhất là khiếu nại. Và, nhìn từ khoảng cách  này, tôi không thấy một nguy hiểm nào có thể xẩy ra vì chúng ta hành động như tôi đề nghị. Toàn văn điện tín mật của Đại sứ Maritin như sau theo tài liệu giải mật lưu trữ ở thư viện Tổng Thống Gerald R. Ford :[Source: 417, SECRET, DECLASSIFIED, E.O. 12356, Sec. 3.4, MR 94-86, $26, 8/9/94. By NARA, Date 8/19/94. Photocopy from Gerald R. Ford Library] “210925Z JANUARY 1974 VIA MARTIN CHANNELSAIGON 0587 IMMEDIATEJANUARY 21, 1974TO GENERAL BRENT SCOWCROFTFROM: AMBASSADOR GRAHAM MARTINREFS: A) WH 40327; B) SAIGON 9241. You may wish to bring these further observations to Henry’s attention before he decides on the nature of his approach, if any, to the PRC.

2. Reftel provides answers to questions posed. The Naval Log is interesting to review. Characteristic caution which was countered in the end by compulsion not just to sit there and take it but to do something. This compulsion reinforced by President Thieu’s physical presence in Danang and consequent intangible pressure from necessity not to appear passive faced with what was too easily summarized as clear aggression. Had he been here in Saigon, and had we known about what he was contemplating, we could have probably talked him into more reasonable course of action. For example, I HEARD THIS MORNING HE HAD ORDERED RVNAF TO BOMB CHINESE FORCES IN PARACELS. THAT HAS BEEN STOPPED.

3. Question is where we go from here. What. for example, do we advise GVN to do about their garrison at Namyit Island in the Spratleys. Withdraw it? Reinforce it? Or sit and wait? Naval Log shows despatch of ship to Namyit on 15th. According to preliminary seismological reports beginning to leak, there is probably enormous quantities of oil under the South China Sea in the vicinity of these otherwise worthless bits of real estate.Therefore, the stakes are pretty high. We cannot, I think, become directly involved in the disputes over sovereignty between our old allies – the RVN, the ROC, and the Philippines. Or between them and the PRC with whom we would hope to build a more forthcoming relationship. However, it would not seem that we would necessarily jeopardize any of them by reiterating quietly and behind the scenes, our traditional position opposing use of force to settle territorial disputes, and such equally traditional positions as the use of the ICRC to facilitate immediate return of dead and wounded.

4. Indeed, if the PRC were to accede to the GVN request to return the dead and wounded under ICRC auspices, it would be a rather large stick to use to push the DRV into a more forthcoming attitude on the current “prisoner exchange” issue which they are stalling now in the TPJMC discussions. If, in addition, the PRC would use the rubric of “wounded” to return all the prisoners as a Tet gesture, it would be an even greater weapon to use on the DRV.

5. I have just been handed FBIS transcript of Peking NCNA Domestic Chinese 210112Z which says, inter alia “persons captured from the other side in this war of self-defense will be repatriated at an appropriate time.” In both Chinese and Vietnamese context there could be no more appropriate time than Tet. Of course, we do not know if the captured are still on Pattle Island or have been removed to Hainan or to the Mainland. It would, of course, be much easier to repatriate them from Pattle Island.

6. Question of Kosh further complicated by fact that UPI Saigon has story from Vietnamese sources that “American with meteorlogical station on Pattle Island now presumably captured by Chinese.”This is all they have. They do not have his name or fact that he is DAO civilian employee. When queried we did not ask they kill or hold story but observed if it not carried for 24 hours, it might greatly facilitate release. UPI Bureau Saigon is so recommending to Bill Landry, Foreign Editor, UPI, in New York. What he will decide we do not know.

7. On the diplomatic front we have based on observations of USUN, advised GVN to simply file complaint with Security Council but not to press for hearing and certainly not for vote. Thieu wishes despatch letter to President Nixon requesting intervention and condemnation of PRC. We have strongly advised no such letter be sent, since there could be only negative reply, adding that I would myself recommend such a negative reply, We have recommended to Foreign Minister Bac that the GVN take its case to the International Court, and to play any report to SEATO very low key,

8. Out of all this may come a great deal of good. Certainly I shall be able to exert a greater influence in both restraining Thieu from any further ill-considered actions and also in being more forthcoming to meet any give, if any, in Le Duc Tho’s intransigence on prisoner exchange and the GVN proposal on the lowering the intensity of violence by refraining from use of mortars, rockets, and mines and other mass killers of innocent civilians. And, above all, on tightening up both his military command and control apparatus and give Khiem more power to coordinate the civilian ministries.

9. On balance, we should be looking for ways to use this incident, regrettable as it is, in ways which advance our overall objectives. Dispassionately and objectively I still believe low key approach to Chinese along lines I suggested might be useful. I do not suggest we insist they give the Paracels back to the GVN. They have them, and obviously they are not going to return them. Our recommendations that they accede to GVN request for return of dead and wounded and, further, that they may wish to use Tet to generously return all the prisoners are really, and I think would be perceived by the PRC to be, a tacit acceptance of their “fait accompli”. It just might, also, save the Spratleys and the possible oil under them for the GVN. It is just not credible to me that this incident is not one where the GVN stumbled into a PRC operation already well under way.

10. On balance, it seems to me that we would really gain with the PRC and at the same time appear to have done the only thing it makes sense for us to do for the GVN out of all that they have and will request. And, looking at it from this distance, there seems little, if any, danger that could possibly accrue to us from taking this initiative.

Trích từ nguồn: Chinhnghia

Trận Mưa Bom Giáng Sinh

Sau trận tổng công kích Tết Mậu Thân Tổng thống Johnson quá mệt mỏi vì cuộc chiến tranh Việt Nam, ngày 31-3-68, ông tuyên bố không tái tranh cử và tạm thời cho ngưng oanh tạc một phần lớn lãnh thổ Bắc Việt từ vĩ tuyến thứ 20 trở lên, ông kêu gọi Hà Nội hãy tỏ thiện chí hòa đàm nếu không sẽ cho nếm mùi sức mạnh. Một tháng sau Cộng Sản Bắc Việt nhận lời đàm phán. Continue reading Trận Mưa Bom Giáng Sinh

Chiến dịch Linebacker II

Chiến dịch Linebacker II là chiến dịch quân sự cuối cùng của Hoa Kỳ chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong Chiến tranh Việt Nam, từ 18 tháng 12 đến 30 tháng 12 năm 1972 sau khi Hội nghị Paris bế tắc và đổ vỡ do hai phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ bất đồng về các điều khoản trong hiệp định. Continue reading Chiến dịch Linebacker II