Category Archives: Chiến tranh Việt Mỹ

Tháng 3-1975 Tuyến đầu thất thủ!

Posted on  by Phan Ba

Tối 29-3-1975 đài phát thanh BBC Luân Đôn cho biết Đà Nẵng thất thủ, một trăm ngàn quân bị bắt làm tù binh, đó cũng là ngày sụp đổ của toàn bộ Quân khu 1, hung tin ghê gớm đã khiến cho cả nước kinh hoàng: Quân khu 1 nơi tập trung những lực lượng tinh nhuệ và thiện chiến nhất của ta, bốn sư đoàn chính qui, bốn liên đoàn Biệt Động quân … đã hoàn toàn tan rã sau 9 ngày cầm cự và triệt thoái. Mặc dù nay Bộ Tổng tham mưu, các vị Tướng lãnh, các giới chức quân sự có liên hệ đã bạch hóa diễn tiến của trận chiến bi thảm này, các nhà nghiên cứu quân sự, các nhân chứng, ký giả chiến trường… đã biên soạn, kể lại diễn tiến của mặt trận vùng Hoả tuyến nhưng người ta tưởng như nó vẫn còn nhiều điều bí ẩn và khó hiểu, chưa bao giờ trong cuộc chiến tranh Quốc Cộng giai đoạn 1960-1975 một lực lượng to lớn của ta lại có thể thua nhanh đến thế.24 tháng Ba 1975, Đà Nẵng

24 tháng Ba 1975, Đà Nẵng

Các tài liệu, sách báo nói về cuộc lui binh tại Quân khu 1 của Bộ Tổng tham mưu Đại tướng Cao Văn Viên, Trung tướng Ngô quang Trưởng, Thiếu tướng Hoàng Lạc, nhà nghiên cứ quân sự Nguyễn Đức Phương, ký giả chiến trường Phạm Huấn và những lời thuật lại của các nhân chứng … nói chung dồi dào nhưng không hoàn toàn giống nhau có khi còn trái ngược nhau là khác.

Quân khu 1 là một giải đất dài và hẹp hình cán chảo, người Mỹ gọi là pan handle chạy theo hướng tây bắc, đông nam, gồm 5 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng tín, Quảng Ngãi, dân số vào khoảng ba triệu. So với các Quân khu khác Vùng Một nhỏ hẹp nhất, đây là nơi tiếp giáp với Bắc Việt, chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào nên cũng gọi là vùng hoả tuyến. Từ sau khi ký hiệp định Paris ta chỉ còn kiểm soát được chưa tới 50% diện tích Quân khu, phần đất của ta nằm phía bên phải của giải đất theo chiều dọc tức là phía đông, còn phía tây đã lọt vào tay quân thù. Dần dần ta chỉ còn những tỉnh lỵ và thị xã và các quận do sự lấn chiếm theo kiểu tầm ăn dâu của địch, kể từ sau ngày 19-3-1975, nếu nhìn trên bản đồ quân sự sẽ thấy ta chỉ còn kiểm soát được vào khoảng một phần ba diện tích Quân khu.

Năm 1972, Quân khu 1 đã là một chiến trường lớn, nơi diễn ra những trận đánh ác liệt đẫm máu giữa các đại đơn vị của hai miền Nam Bắc. Vì tình hình sôi động đặc biệt của vùng hỏa tuyến ngoài ba sư đoàn cơ hữu 1, 2, 3 của Quân đoàn, ta còn cho hai sư đoàn tổng trừ bị Nhẩy Dù và Thủy quân lục chiến ra trấn đóng hầu chống lại cuộc tấn công qui mô có thể xẩy ra của địch. Từ sau ngày ký hiệp định Paris quân viện cho Việt Nam Cộng Hoà bị cắt giảm từ 2 tỷ năm 1973 còn 1 tỷ 4 năm 1974 và 700 triệu năm 1975. Tình hình quân sự, chính trị ngày một đen tối, quân viện bị cắt giảm, ngày 12-3-1975 Hạ nghị viện Mỹ biểu quyết bác bỏ 300 triệu Mỹ kim quân viện bổ túc cho Việt Nam Cộng Hoà do Tổng thống Ford đệ trình Quốc Hội, viện trợ quân sự cũng sẽ không được chuẩn chi cho năm tới, đạn dược tiếp liệu ngày càng bi đát, hoả lực giảm 60%, chỉ còn đủ đạn đánh tới tháng 5, tháng 6 1975.

Đồng minh phản bội, trắng trợn hủy bỏ mọi cam kết với miền Nam trước ngày ký Hiệp định Paris , quân thù thừa cơ nước đục thả câu. Tình hình 1975 vô cùng bi đát, ta không được Mỹ yểm trợ B52 oanh tạc trải thảm, thiếu thốn tiếp liệu. đạn dược… trong khi quân thù đã được Cộng sản Quốc tế Nga Tầu viện trợ tối đa. Năm 1975 lực lượng chính qui của Bắc Việt gồm 4 quân đoàn và đoàn 232 (tương đương một quân đoàn), mỗi quân đoàn gồm 3 sư đoàn, tổng cộng 15 sư đoàn, ngoài ra Bắc Việt còn có khoảng 15 trung đoàn độc lập tương đương với 4, hoặc 5 sư đoàn. Toàn bộ lực lượng chính qui địch vào khoảng 20 sư đoàn, ước lượng 300 ngàn người. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa năm 1975 có hơn một triệu quân trong đó 40% là chủ lực chính qui. Lính nhà nghề chỉ có 13 sư đoàn bộ binh, hai sư đoàn tổng trừ bị Nhẩy dù và TQLC và 15 liên đoàn Biệt động quân, mỗi liên đoàn khoảng từ 1000 tới 2000 người. Ta tổ chức theo lối Mỹ, một người tác chiến, năm người yểm trợ nên trên thực tế chỉ có khoảng 200 ngàn là lính nhà nghề.

Cuối năm 1974 tình hình chiến sự ở Quân khu 1 yên lặng được một thời gian, quân ta đẩy lui cuộc tấn công của địch vào đồng bằng tây nam Đà Nẵng, địch có lợi thế về địa hình, vì gần hậu cần miền Bắc chúng được bổ sung quân số và tiếp liệu thuận lợi. Từ tháng 6 cho tới cuối năm 1974 các lực lượng Quân đoàn 1 của ta bị tổn thất trong các trận giao tranh không được bổ sung nên quân số thiếu hụt. Quân khu 1 được chia làm hai khu Bắc và Nam, Bắc gồm hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên dưới quyền Bộ Tư lệnh tiền phương do Trung tướng Lâm Quang Thi chỉ huy, ba tỉnh còn lại Quảng Nam Quảng Tín, Quảng Ngãi do Tư lệnh Quân đoàn Ngô Quang Trưởng (hình phải) trực tiếp chỉ huy.

Bố trí lực lượng của ta gồm sư đoàn Nhẩy Dù vàTQLC, Lữ đoàn 1 Thiết kỵ từ bắc Thừa Thiên lên tới nam sông Thạch Hãn, lực lượng cơ hữu của Quân khu và các liên đoàn Biệt động quân bảo vệ các tỉnh còn lại: Sư đoàn 1 và liên đoàn 15 Biệt động quân đóng tại Thừa Thiên, sư đoàn 3 và liên đoàn 14 Biệt động quân đóng tại Đà Nẵng, Quảng Nam, sư đoàn 2 và hai liên đoàn Biệt động quân 11, 12 bảo vệ Quảng Tín, Quảng Ngãi. Các đơn vị yểm trợ gồm trên 10 tiểu đoàn pháo binh, một tiểu đoàn phòng không, một lữ đoàn thiết kỵ. Hải quân gồm các giang đoàn xung phong, trục lôi, tuần thám tại Thuận An, các duyên đoàn tại Cửa Việt, tại Thuận An, Tư Hiền… sư đoàn 1 Không quân đóng tại Đà Nẵng. Quân số của Quân đoàn vào khoảng 90 ngàn chủ lực và 75 ngàn địa phương quân, nghĩa quân, trong số này nhiều người thuộc thành phần không tác chiến.

Lực lượng Cộng sản tại Quân khu 1 chia hai địa bàn hoạt động lấy đèo Hải Vân làm ranh giới do các Tướng Lê Tư Đồng, Nguyễn Hữu An, Chu Huy Mân chỉ huy. Theo Nguyễn Đức Phương tại đây Bắc việt có 7 sư đoàn (324B, 325, 320B, 312, 304, 711, 2) và 4 trung đoàn độc lập tổng cộng vào khoảng 8 sư đoàn. Theo Đại Tướng Cao Văn Viên, Cộng sản Bắc Việt tại đây có 5 sư đoàn (341, 325C, 324B, 304, 711), 10 trung đoàn độc lập (52, 4, 5, 6, 27, 31, 48, 51, 270, 271), 3 trung đoàn đặc công (5, 45, 126), toàn bộ vào khoảng 8 hoặc 9 sư đoàn, ngoài ra lực lượng cơ giới yểm trợ gồm 3 trung đoàn xe tăng, 12 trung đoàn phòng không, 8 trung đoàn pháo binh. Tổng cộng vào khoảng 71 ngàn người, đa số là lính tác chiến. Bắc Việt có ưu thế hơn ta về và vũ khí đạn dược, lực lượng coi như gấp hai rưỡi ta.

Trong khi mở chiến dịch Ban Mê Thuột, Việt Cộng tại Quân khu 1 cũng xâm nhập đánh phá các nơi để cầm chân ta như tại Quảng Trị địch chiếm quận Hải Lăng bắc Thừa Thiên, xâm nhập các xã ven biển Thừa Thiên, phía nam đánh các cao điểm của sư đoàn 1, tấn công tuyến sông Bồ nhưng bị đẩy lui bỏ lại 200 xác chết, tại Quảng Tín Việt Cộng chiếm 2 quận Tiên phước, Hậu Đức ngày 10-3 bắn phá tỉnh lỵ Tam Kỳ…Người dân đang chạy tỵ nạn ở Vũng Tàu, 21 tháng Tư 1975. Hình: Pavlovsky/Sygma/Corbis

Người dân đang chạy tỵ nạn ở Vũng Tàu, 21 tháng Tư 1975. Hình: Jacques Pavlovsky/Sygma/Corbis

Ngày 11-3 Tổng thống Thiệu Triệu tập phiên họp tại Dinh Độc Lập cho biết trước tình hình hình khó khăn do quân viện bị cắt giảm, áp lực địch mạnh, ta chỉ có thể giữ được Quân khu 3, Quân 4 và một vài tỉnh duyên hải vùng 2, vùng Một chỉ giữ Huế và Đà Nẵng. Trong lúc tình hình quân sự có vẻ không thuận lợi cho ta thì theo yêu cầu của của Ông Thiệu, Bộ Tổng tham mưu lệnh cho Tướng Trưởng trả sư đoàn Nhẩy Dù về Trung ương. Ngày 13-3 Tổng Thống Thiệu lệnh cho Tướng Trưởng về Sài Gòn họp Hội Đồng an ninh Quốc gia, thành phần gồm Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Đại Tướng Cao Văn Viên, Trung Tướng Đặng Văn Quang, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn. Ông Thiệu cho biết tình hình khó khăn do cắt giảm quân viện, ông không tin Mỹ sẽ can thiệp dù Cộng Sản tấn công miền Nam nên phải tái phối trí lực lượng, rút quân bỏ những miền rừng núi đễ giữ những vùng mầu mỡ còn hơn đứng chung chính phủ Liên Hiệp với Cộng Sản.

Ngày 14-3 Tướng Trưởng về Quân đoàn 1 họp tham mưu, thảo luận kế hoạch tái phối trí, Nhẩy Dù sẽ rút về Sài Gòn, hôm sau liên đoàn 14 Biệt động quân nhận vùng trách nhiệm của Lữ đoàn Thủy quân lục chiến 369 tại Quảng Trị để lữ đoàn này về Phú Lộc thay Lữ đoàn Dù, một lữ đoàn TQLC sẽ chịu trách nhiệm khu vực sông Bồ để bảo vệ Huế.

Ngày 17-3 Lữ đoàn 258 TQLC sẽ rời Quảng Trị để về Đà Nẵng thay lữ đoàn Dù. Dân chúng sợ hãi đã di tản ồ ạt trên quốc lộï Một từ mấy ngày nay làm cản trở việc điều quân tái phối trí.

Ngày 18-3 Thủ tướng Khiêm ra Đà Nẵng để giải quyết vấn đề dân tỵ nạn, ông cho Tướng Trưởng biết sẽ không tăng viện Quân khu 1 vì tình hình Quân khu 3 nghiêm trọng, Việt Cộng đánh Dầu Tiếng, áp lực Tây Ninh, Long Khánh, Bình Tuy..

Ngày 19-3 Tướng Trưởng được triệu về Sài Gòn họp lần thứ hai, thành phần phiên họp cũng như lần trước nhưng có thêm Phó tổng thống Trần Văn Hương. Tướng Trưởng trình bầy hai kế hoạch lui binh:

Kế hoạch Một: các đơn vị sẽ theo Quốc Lộ Một từ Huế Chu lai về Đà Nẵng, trong trường hợp Quốc lộ Một bị cắt thì sẽ theo kế hoạch Hai.

Kế hoạch Hai: Các lực lượng Quân đoàn sẽ tập trung tại ba cứ điểm Huế, Đà Nẵng và Chu Lai, tầu hải quân sẽ chuyên chở lính từ Huế Chu Lai về Đà nẵng. Trong cả hai kế hoạch Đà Nẵng vẫn là điểm tựa cuối cùng, Trưởng đề nghị giữ cả ba cứ điểm để phân tán lực lượng địch và gây tổn thất tối đa cho Việt Cộng, Thiệu cho biết giữ được bao nhiêu hay bấy nhiêu.

Ông Cao Văn Viên cho rằng kế hoạch của Tướng Trưởng là hợp lý.

“Kế hoạch lui quân của Quân đoàn 1 soạn thảo rất hợp lý và đầy đủ, gồm kế hoạch dự phòng để đối phó với những bất ngờ do địch gây ra. Khi trận chiến khai diễn như Kế Hoạch Hai dự trù và các đơn vị của Quân đoàn 1 rút hết về Đà Nẵng, chúng ta chỉ còn hai hành động phải làm: Cố thủ tại chỗ hoặc rút bằng đường biển nếu tình thế bắt buộc. Như vậy vào thời điểm trên, đâu còn cần đến kế hoạch dự phòng nào khác”

Thật ra kế hoạch nghe thì hay nhưng thực hiện được không phải là chuyện dễ. Tướng Thiệu lệnh cho Trưởng cố gắng giữ được tất cả những phần đất có trong tay sau đó ông lệnh cho Tướng Quang soạn bài hiệu triệu trên đài phát thanh Huế để trấn an dân chúng, quyết bảo vệ Huế đến cùng. Buổi họp này không thấy nói đến triệt thoái mà chỉ là kế hoạch co cụm để giữ đất.

Ngày 19-3 Quảng Trị bỏ ngỏ, chi đoàn Thiết giáp, liên đoàn 14 Biệt động quân rút về bên này Mỹ chánh lập phòng tuyến mới. Cộng quân bắt đầu tấn công mạnh vào Quân khu. Theo Tướng Hoàng Lạc, Giám mục Phạm Ngọc Chi địa phận Đà Nẵng và Giám mục Nguyễn Kim Điền khuyên không nên đổ máu vô ích vì các siêu cường đã sắp đặt cả rồi.

Sáng 20-3 Tướng Trưởng bay ra bộ chỉ huy tiền phương họp các cấp chỉ huy bàn kế hoạch phòng thủ Huế như Tổng thống ra lệnh phải giữ bằng mọi giá. Tình hình mặt trận tương đối chưa đến nỗi tệ, các đơn vị còn hoàn hảo, tinh thần cao duy trì được kỷ luật, ai nấy đồng lòng tử thủ, dân chúng di tản nhiều. Tưởng Trưởng lạc quan khi thấy Huế phòng thủ tốt. Trưa hôm đó Thiệu đọc hiệu triệu dân trên đài phát thanh Huế. Đến chiều khi về tới Đà Nẵng Tướng Trưởng nhận được lệnh của của dinh Độc Lập chỉ giữ Đà Nẵng thôi nếu tình hình bó buộc, Tướng Thiệu lý luận Quân đoàn không đủ lính để bảo vệ cả ba cứ điểm Chu lai, Huế và Đà Nẵng. Tướng Trưởng được quyền tuỳ cơ ứng biến.

Quân khu 1 ngày một nguy ngập, Cộng quân đã bắt đấu tấn công mạnh, chúng đánh theo thế gọng kìm từ trên Quảng Trị đánh xuống và từ dưới Quảng Ngãi đánh lên, dân chúng chạy loạn ồ ạt từ Huế kéo về Đà Nẵng, từ Quảng Nam Quảng Ngãi kéo lên. Ngày 21-3 Việt cộng tấn công Phú Lộc, áp lực mạnh trên Quốc lộ Một, dân tản cư đông như kiến từ Huế về Đà nẵng. Sư đoàn 1 VNCH có pháo binh và không quân yểm trợ đẩy lui cuộc tấn công của Việt Cộng nhưng địch có ưu thế về lực lượng nên sư đoàn 1 cầm cự đến trưa ngày 22 thì thất thủ, trung đoàn 1, liên đoàn 15 Biệt động quân bị đẩy lui, một khúc đường Quốc lộ Một bị cô lập, trung đoàn 1 thuộc sư đoàn 1 bị thiệt hại nặng, Tướng Trưởng ra lệnh thu gọn tuyến phòng thủ Huế.

Dân chúng và quân cụ bắt đầu được chở bằng tầu ra khỏi Đà Nẵng, ngày 23 -3 Việt Cộng pháo kích Huế rời rạc không gây thiệt hại gì nhiều nhưng khiến dân chúng hốt hoảng náo động như hỗn loạn. Tại phía nam vùng Một quận Hậu Đức, Tiên Phước thuộc Quảng Tín bị Việt cộng chiếm, sư đoàn 2 và liên đoàn 12 Biệt động quân chặn được áp lực địch tấn công về Tam Kỳ và các vùng duyên hải. Trước áp lực dồn dập của Việt Cộng Tướng Trưởng ra lệnh di tản 2 quận Sơn Trà, Trà Bồng Quảng Ngãi, những tiền đồn xa tiếp tế cũng được di tản, Tướng Trưởng cho gom các lực lượïng rời rạc lại để bảo vệ những điểm trọng yếu vào trận cuối cùng. Sự chỉnh đốn của Tướng Trưởng đem lại chút yên gượng gạo cho 2 tỉnh Quảng Ngãi và Quảng Tín trong 2 ngày.

Lực lượng phòng thủ của ta ngày một yếu trước áp lực địch., ngày 24-3 tại phía nam Quân khu 1, Việt Cộng tấn công mạnh tại Quảng Tín , sư đoàn 711, trung đoàn 52 và xe tăng đánh Tam kỳ, đặc công đột nhập tỉnh lỵ thả tù gây rối loạn đến trưa thì Tam Kỳ thất thủ. Trung đoàn 2 thuộc sư đoàn 3 từ Quảng Nam được lệnh tiến về Quảng Tín để giúp địa phương quân chạy về từ Tam Kỳ về… Tam Kỳ mất, dân ùn ùn chạy về Đà Nẵng. Tại Quảng Ngãi Cộng quân tấn công gấp rút dữ dội, đặc công và địa phương quân Việt Cộng tại Quảng Ngãi tấn công phi trường, các cơ sở hành chánh quân sự Quảng Ngãi, đường Quốc lộ Một từ Quảng Ngãi tới Chu lai bị cắt đứt, đường ra biển bị cô lập, chỉ trong một ngày tình hình Quân khu 1 rối loạn đến mức không còn kiểm soát được nữa. Quân đoàn chấp thuận cho tiểu khu Quảng Ngãi mở đường máu về Chu Lai nhưng chỉ có vài đơn vị về được.Tháng Tư 1975, người dân chạy nạn về Sài Gòn. Hình: Nik Wheeler/CORBIS

Tháng Tư 1975, người dân chạy nạn về Sài Gòn. Hình: Nik Wheeler/CORBIS

Ngày 25-3 tất cả các đơn vị quân đoàn 1 tụ lại 3 phòng tuyến chính: Nam Chu Lai, Đà Nẵng và Bắc Huế, các lực lượng của Quân đoàn bị thiệt hại nhiều khi di tản về các phòng tuyến này, tinh thần binh sĩ xuống thấp, ai nấy chán nản chưa bao giờ trong đời chinh chiến họ thấy tuyệt vọng như hiện nay. Trong tình thế khó khăn Trưởng lại nhận thêm một lệnh nữa từ dinh Độc Lập, Tướng Thiệu lệnh cho Trưởng dùng ba sư đoàn cơ hữu của Quân đoàn 1, 2, 3 để phòng thủ Đà Nẵng, sư đoàn TQLC đóng vai trừ bị. Đêm đó Tướng Trưởng cho sư đoàn 1 và các đơn vị quanh Huế rút về Đà Nẵng, ông lệnh cho sư đoàn 2 chi khu Quảng Ngãi và thân nhân của họ ra Cù Lao Ré, một đảo ngoài khơi Chu lai. Hai tầu dương vận hạm đón sư đoàn 2 tại Chu lai đưa về Cù Lao Ré, cuộc vận chuyển thành công hơn mặc dù có hỗn loạn nhưng một nửa quân số của sư đoàn 2 đã lên tầu đưa về Bình Tuy, chính phủ tuyên bố Huế và Chu lai thất thủ ngày 25-3.

Các lực lượng Huế bắt đầu di tản, sư đoàn 1 và các đơn vị cơ hữu rút ra cửa Tư Hiền. Hải quân và công binh sẽ bắc cầu để quân di tản đi ngược vào đất liền rồi dùng đường bộ về Đà Nẵng, Chu Lai. Sáng ngày 26-3 biển sóng to làm đình trệ cuộc vận chuyển, cầu chưa hoàn tất đến trưa thủy triều dâng cao không thể vượt biển được trong khi ấy Việt Cộng đuổi theo nã pháo vào cửa Tư Hiền và các địa điểm tập trung quân của ta, hỗn loạn diễn ra không còn quân kỷ, sư đoàn 1 tan rã tại đây chỉ có một phần ba về được đến Đà nẵng, tới nơi họ rã ngũ đi tìm thân nhân.

Trong khi đó thì lữ đoàn kỵ binh với hơn 100 thiết giáp các loại từ mặt trận Bắc Huế tiến về cửa Thuận An, theo sau là các đơn vị pháo binh với hằng trăm khẩu pháo, TQLC, BĐQ, ĐPQ từ tuyến sông Bồ đang lũ lượt kéo về, hỗn loạn diễn ra dữ dội. Hai tầu dương vận hạm đến cửa Thuận An để chở TQLC, tầu hải vận đĩnh và quân vận đĩnh chở người từ bờ ra dương vận hạm, hỗn loạn ngày càng dữ hơn, giết chóc nhau dã man để giành chỗ trên tầu. Cộng quân pháo kích vào địa điểm tập trung quân gây thiệt hại nặng nề cho ta, nhiều lính TQLC tự tử tập thể vì cùng đường tuyệt vọng, cuộc tập trung quân tại cửa Tư Hiền và Thuận An đã làm mồi cho pháo binh địch.

Sư đoàn 324 CS càn quét tàn quân VNCH tại Thừa Thiên, sư đoàn 325 CS chuyển vào Quảng Nam phối hợp với sư đoàn 304 CS tấn công Đà Nẵng sư đoàn 2 VC cũng tiến về thành phố. Quân đội VNCH lập phòng tuyến phòng thủ bảo vệ Đà Nẵng, phía tây 2 lữ đoàn TQLC, phía nam sư đoàn 3 và địa phương quân Quảng Nam. Ngày 27-3 Các cuộc phòng thủ Đà Nẵng thành ra vô hiệu trước sự hỗn loạn, Việt cộng dồn nỗ lực bao vây thành phố. Từ bắc Đà Nẵng hai sư đoàn 324B và 325C cùng với trung đoàn xe tăng và hai trung đoàn pháo tiến dọc theo thung lũng Voi bao vây thành phố, phía Nam sư đoàn 711, 304 tiến chiếm Đại Lộc và Dục Đức, Đà Nẵng đã nằm trong tầm pháo của quân thù. Tại thành phố lớn thứ hai của miền nam này Quân đoàn 1 chỉ còn có sư đoàn 3 và 2 lữ đoàn TQLC, các sư đoàn 1 và 2 đã bị ngũ trên đường triệt thoái, một phần đã được tầu chở ra khơi, lực lượng không đủ để đương đầu với áp lực quá đông của địch, lại nữa thành phồ với hằng triệu người tỵ nạn đã trở nên hỗn loạn không thể nào kiểm soát nổi.

Sáng ngày 28 Tướng Trưởng họp khẩn cấp các đơn vị trưởng ban hành một số biện pháp vãn hồi trật tự và tái trang bị các đơn vị di tản trong thành phố nhưng ta không còn đủ quân tác chiến để thực hiện kế hoạch này. Các quân nhân có mặt được sung vào các đơn vị tác chiến nhưng không đủ để bù vào thiệt hại do cuộc triệt thoái gây ra. Trưa 28 phòng 2 thuộc Bộ TTM cho Quân đoàn biết Cộng quân có thể tấn công trong đêm, sư đoàn 1 không quân được lệnh di tản về Phù Cát, Phan Rang, Quân đoàn 1 ban lệnh ứng chiến tại các tuyến phòng thủ. Hai giờ trưa các xã ấp quanh Đà Nẵng đã lọt vào tay Cộng quân. Địa phương quân, nghĩa quân tan rã, binh sĩ rã ngũ rời đơn vị.

Việt Cộng pháo phi trường căn cứ Hải quân khi trời vừa tối rất dữ dội và chính xác nhờ những toán đặc công, tiền pháo viên chỉ điểm hướng dẫn. Tướng Trưởng vội báo cáo về Bộ Tổng tham mưu và gọi cho Tổng thống Thiệu xin di tản bằng đường biển. Tướng Thiệu không ra lệnh rõ ràng chỉ hỏi vu vơ nếu di tản thì có thể được bao nhiêu trong khi ấy có biết bao người đang chết chìm chết bắn vì trọng pháo của địch cũng như bắn giết nhau giành đường tẩu thoát. Pháo kích của địch khiến cho liên lạc giữa Sài Gòn và Đà Nẵng bị cắt đứt, Tướng Trưởng lập tức ra lệnh bỏ Đà Nẵng, ông họp với Đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại Tư lệnh Hải quân vùng 1 và các cấp chỉ huy để hẹn địa điểm rút quân tại: chân đèo Hải Vân, núi Non Nước và cửa khẩu Hội An.

Rạng sáng ngày 29-3 sương mù bao phủ dọc theo bờ biển, ngoài khơi tầu đã có mặt ở điểm hẹn, thủy triều thấp tầu không vào bờ được, binh sĩ phải lội ra biển. Cuộc di tản êm xuôi cho đến khi khi Việt Cộng phát hiện chúng bèn pháo kích vào địa điểm tập trung quân và tầu ngoài khơi gây nhiều thiệt hại cho ta, tầu di tản được 6000 TQLC, 3000 lính sư đoàn 3 và nhiều đơn vị khác.

Đà Nẵng được coi như thất thủ ngày 29-3-1975, Tướng Việt Cộng Lê Tư Đồng cho biết đã bắt được gần 60 ngàn tù binh VNCH, 14 ngàn công chức tịch thu 1000 quân xa, khoảng 300 đại bác. Có tài liệu cho biết ta mất 130 máy bay tại Đà Nẵng, năm 1976 Tướng Trưởng trả lời một cuộc phỏng vấn cho biết khoảng 6000 TQLC, non nửa lực lượng của sư đoàn và 4000 quân thuộc các binh chủng khác đã được tầu bè cứu thoát. Tướng Nguyễn Duy Hinh Tư lệnh sư đoàn 3 cho biết trong số 12,000 người của sư đoàn 3 chỉ có 5000 đến được điểm tập trung và sau cùng chỉ có 1000 người lên được tầu. Tổng cộng có 70 ngàn người dân được cứu thoát và 16 ngàn quân, 4 sư đoàn kể cả TQLC bị thiệt hại nặng nề không thể gọi là đơn vị chiến đấu được nữa. Tất cả quân trang quân dụng, vũ khí, xe tăng đại bác… của Quân khu coi như mất hết, một phần lớn lọt vào tay quân thù.

Quân khu 1 rơi vào tay quân thù một cách dễ dàng trong khoảng 10 ngày, không có lực lượng nào được tổ chức để đánh chận hậu, đánh trì hoãn khi Quân đoàn di tản. Cuộc lui binh thất bại hoàn toàn được coi như quá tồi tệ so với Quân đoàn 2, hỗn loạn ghê gớm gấp bội phần, sự thiệt hại về nhân mạng cao hơn cuộc triệt thoái tại Tây nguyên rất nhiều. Phạm Huấn nói

“Tại những địa điểm tập trung quân, vô cùng hỗn loạn, đau thương khủng khiếp. Và hai Cửa Thuận An, Tư Hiền thật sự biến thành những”bãi chết”, trong vùng “Biển máu”

Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975 trang 58.

Triệt thoái quá vội vã, không có kế hoạch, lịch trình nào cả, sự phối hợp Quân đoàn và Hải quân lỏng lẻo, cuộc lui binh cũng chỉ là cuộc tháo chạy hỗn độn vô tổ chức y như cuộc triệt thoái Cao nguyên, bắn giết nhau, tranh cướp nhau lên tầu chạy trốn, đó cũng chỉ là một cuộc hành quân phá sản.

“Cuộc rút quân đã rối loạn, hỗn độn và thất bại ngay khi bước sang ngày thứ hai, 24-3-1975. Hệ thống chỉ huy, phối hợp giữa các đơn vị, vấn đề an ninh, tổ chức thật tồi tệ và bị tê liệt từ lúc khởi đầu. Các cấp chỉ huy ở những cấp cao nhất và có trách nhiệm về cuộc rút bỏ Huế, đã không thành thật với nhau, phản bội, dối trá và bỏ rơi cấp dưới.

Kế hoạch rút quân bằng đường biển, với hơn 20 ngàn Chủ lực quân, hàng mấy trăm chiến xa, đại bác, cùng với cả trăm ngàn dân chúng, các lực lượng địa phương quân, công chức và gia đình họ, nhưng hai cửa Thuận An và Tư Hiền không được phòng thủ bảo vệ. Sự phối hợp và chỉ huy giữa Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Quân Đoàn và hải quân thật lỏng lẻo. Không có lịch trình lên tầu ưu tiên, rõ ràng cho các đơn vị. Các đơn vị Quân Đội và dân chúng cứ tiếp tục đổ về hai cửa biển này để rồi chết chồng chất lên nhau”

Phạm Huấn NUHTTCMN 1975, trang 57

Vấn đề đặt ra ở đây là ai chịu trách nhiệm về những cái chết oan uổng của hằng nghìn, vạn người tại cửa Thuận An, cửa Tư Hiền trước những trận pháo kinh hoàng của địch? Hậu quả của cuộc lui binh vội vã hay nói khác đi cuộc tháo chạy hỗn độn vô tổ chức đã đẩy bao nhiêu quân, dân vào chỗ chết, đã đưa hằng hà sa số người tập trung tại hai cửa biển để làm mồi cho họng súng đại bác của quân thù.

“Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng Tư Lệnh, ngày 21 tháng 3, từ ba hướng bắc, tây và nam, các lực lượng Quân khu Trị Thiên và Quân khu 2 đồng loạt tiến công vượt qua các tuyến phòng thủ của địch hình thành nhiều mũi bao vây Huế, đánh thiệt hại nặng sư đoàn 1 bộ binh ngụy, lữ 147 thuỷ quân lục chiến nguỵ, cắt đứt Huế và Đà Nẵng trên đoạn đường số 1 ở Mũi Né – Bái Sơn …. địch chỉ còn một lối thoát là rút chạy ra biển theo cửa Thuận An và cửa Tư Hiền. Con đường Huế – Thuận An là niềm hy vọng cuối cùng của chúng, nhưng thực tế đã biến thành con đường chết đối với chúng.

Nắm vững ý đồ muốn tẩu thoát của địch, pháo ta một mặt khống chế chặt của Thuận An và không cho tầu địch vào đón bọn rút lui, mặt khác bắn vào trung tâm của đội hình dày đặc của địch còn ở lại ở cửa Thuận An và cửa Tư Hiền làm cho chúng thiệt hại nặng nề. Bộ đội đặc công cũng đặt mìn phong toả cửa Thuận An. Xe tăng, xe bọc thép, xe vận tải và hàng chục nghìn lính địch kéo đi kín đường bị pháo ta bắn, đạp lên nhau mà chạy…

Ngày 25 tháng 3, các cánh quân của ta đã kịp hợp vây tiêu diệt và làm tan rã quân địch rút lui còn lại ở cửa Thuận An và cửa Tư Hiền”.

Văn Tiến Dũng, Đại Thắng Mùa Xuân trang 107, 108Đà Nẵng 29/03/1975

Đà Nẵng 29/03/1975

Cuộc lui binh tại Huế cũng như tại Cao nguyên đã đi vào vết xe đổ của trận Cao Bắc Lạng ngày tháng 10 năm 1949 khiến cho binh đoàn Charton của Pháp bị Việt Minh đánh tan rã nhưng về kế hoạch thì phải nói cuộc lui binh của ta tồi tệ hơn hồi ấy. Hoàn toàn không có trận đánh trì hoãn nào, không có một lực lượng chận hậu nào để cầm chân địch cho đoàn quân triệt thoái, hậu quả như ta đã thấy là cả một đạo quân tinh nhuệ đã bị dồn vào họng súng của quân thù.

Nói về nguyên nhân sự sụp đổ nhanh chóng của Quân đoàn, Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng cho rằng do sự rối ren của ta và nhất là lệnh của Tướng Thiệu không rõ ràng dứt khoát.

“Với cán cân lực lượng và địa hình thuận lợi cho CSBV, Vùng I, lực lượng VNCH không thể nào chống cự lâu dài trong cuộc tổng tấn công của địch. Nhưng phải nói, tình hình quân sự xấu đi một cách nhanh chóng vì sự xa sút tinh thần và những rối ren, lung túng của ta, hơn là áp lực địch. Lệnh tái phối trí – tuy cần thiết – không rõ ràng và dứt khoát”

Tuyến Đầu Vùng Một Thất Thủ.

Theo Tướng Viên binh sĩ nhiều người bỏ hàng ngũ đi tìm gia đình trong làn sóng người tỵ nạn, họ quan tâm lo lắng về gia đình mình hơn là lo về đơn vị và sự tấn công của Việt Cộng, theo ông vì làn sóng người di tản làm náo loạn cả lên đã là nguyên nhân gây ra sụp đổ nhanh chóng cho cả Quân khu.

“Sự hỗn loạn, thất bại của cuộc tái phối trí ở vùng Một xảy ra không phải vì áp lực của Cộng quân, mà vì tinh thần chiến đấu của quân ta không còn nữa. Trong những ngày cuối cùng ở Vùng I, vị tư lệnh Quân đoàn không chỉ đối phó với những khó khăn về quân sự, ông còn bận tâm với vấn đề tỵ nạn. Và khi chánh quyền trung ương bắt tay vào giải quyết vấn đề tỵ nạn thì đã quá trễ. Như chúng ta thấy, vấn đề tị nạn làm đảo lộn tất cả kế hoạch quân sự của Vùng I.”

Cao Văn Viên. TĐVMTT.

Ông Nguyễn Đức Phương cho rằng Quân khu 1 thất thủ dễ dàng không có một lực lượng nào được tổ chức để đánh trì hoãn khi lui binh, theo ông có 4 nguyên nhân chính.

– Lực lượng Cộng Sản tại Quân khu 1 trội hơn nhiều so với sự phân tán mỏng của ta. Kế họach lui binh về các cứ điểm Huế, Đà Nẵng, Chu Lai có thể đúng tuy nhiên Tổng thống Thiệu chỉ chấp nhận lui binh cho đến giờ phút chót, đến khi đã quá muộn ông lệnh cho Tướng Trưởng chỉ rút sư đoàn TQLC còn tất cả bộ binh, thiết giáp, pháo binh đều bỏ lại, không có một kế hoạch nào để phối hợp hải lục không quân trong trường hợp lui binh, hoàn toàn không có một sư tiên liệu nào.

– Tướng Thiệu sai lầm trầm trọng khi cho rút sư đoàn Dù về Vùng 3 quá nhanh, TQLC được đưa vào tay thế các vị trí của Nhẩy Dù khiến cho dân chúng hốt hoảng đổ dồn về Đà nẵng gây ra hỗn loạn. Đã phát thanh lời kêu gọi tử thủ Huế củaTổng thống sau lại cho lệnh bỏ Huế khiến dân chúng hoang mang mất tin tưởng vào chính phủ và quân đội, binh sĩ cũng mất tinh thần, hốt hoảng khi trông thấy trước nguy cơ sụp đổ như đã diễn ra tại Vùng 2.

– Chiến tranh tâm lý có lẽ là nguyên nhân quyết định sự thất thủ Quân khu 1, tin đồn cắt đất nhường cho CS dồn dập từ Vùng 2, nay Huế bỏ ngỏ khiến cho dân quân càng tin là đúng, dân di tản náo loạn cả lên, quân nhân bỏ hàng ngũ để tìm kiếm gia đình khiến cho đơn vị rã ngũ rất nhanh.

– Hệ thống chỉ huy của Bộ Tư lệïnh Quân đoàn 1 đã không chu toàn trách nhiệm trong giai đoạn khó khăn của cuộc lui binh, thiếu khả năng vô trách nhiệm là nguyên nhân chính khiến cho kế hoạch lui binh không thể thực hiện được. Vị Tư lệnh quân đoàn thiếu khả năng điều động một bộ tham mưu hỗn hợp như Phạm Huấn đã viết.

– Các sĩ quan cao cấp của Quân đoàn 1 lại chính là những người đầu tiên bỏ chạy trước, thiếu cấp chỉ huy các đơn vị lần lượt tan hàng, Việt Cộng chiếm được đất mà không phải giao tranh.

Ký giả chiến trường Phạm Huấn nhận định rằng các Tướng Việt Nam gặp trở ngại khi lãnh đạo đất nước cũng như chỉ huy mặt trận.

“Một viên chức cao cấp của Mỹ, sau này đã phát biểu về cuộc rút quân tại Huế và Đà Nẵng:

‘Tướng lãnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, hầu như không ai có đủ kinh nghiệm, để tự mình có thể chỉ huy một cuộc hành quân qui mô với nhiều đại đơn vị trên chiến trường!’.

Sự sụp đổ mau chóng của Quân Đoàn I, vỏn vẹn trong 9 ngày, sau quyết định rút bỏ Huế lần thứ hai ngày 20-3-1975, đã làm kinh ngạc mọi giới. Những người ngưỡng mộ và kính phục Tướng Ngô Quang Trưởng đều nghĩ rằng, sự thảm bại này là hậu quả của quyết định sai lầm, trong chiến lược “Đầu bé Đít to’ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Nhưng theo thời gian, những bí mật được tiết lộ, Tướng Trưởng cũng là người phải chịu trách nhiệm nặng nề nhất đối với những đau thương, kinh hoàng trong hai cuộc rút quân tồi tệ, thê thảm từ Huế và Đà Nẵng”

NUHTCTMN trang 103, 104.

Cuộc triệt thoái tại hai quân khu đều đã xẩy ra những biểu hiện tiêu cực của nhiều sĩ quan cao cấp bỏ đơn vị chạy tháo thân, cả một quân khu khu không có ai chịu trách nhiệm.

“Kể từ ngày 15-3-1975, hệï thống chỉ huy tại Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn I của Tướng Lâm Quang Thi và các Tư Lệnh Mặt trận 2 chiến trường Quảng Trị, Thừa Thiên đã không còn giữ đúng với trách nhiệm, quyền hành và vai trò của mình nữa. Không một Tướng Lãnh, một giới chức Quân sự cao cấp nào dám nhận trách nhiệm khi cần ban hành những quyết định quan trọng. Trung tá Đào Trọng Vượng, Liên Đoàn Trường Liên Đoàn 14 Biệt Động Quân nói rằng: ‘Họ lặn hết. Tất cả những lệnh đều do các Sỹ quan Phòng Nhì, Phòng ba, cấp Thiếu Tá chuyển lại’.

Liên Đoàn 14 Biệt Động Quân từ Quảng Ngãi ra thay thế Lữ Đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến, phòng thủ tuyến đầu Vùng Giới Tuyến. Lực lượng Liên Đoàn 14 Biệt Động Quân với quân số 100 phần trăm, và Pháo Đội đại bác 105 ly khoảng 1500 người, từ ngày đầu tiên, cho đến ngày rút quân 23-3-1975, gần hai tuần lễ, không nhận được bất cứ một lệnh chính thức nào của Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn I, hoặc Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến”

Phạm Huấn NUHTTCMN trang 41.

Nguyễn Đức Phương cùng một nhận xét như trên.

“Theo lời của Đại tá Nguyễn Huy Lợi thuộc Biệt Khu Thủ đô thì một số sĩ quan thuộc Quân đoàn I chạy thoát được về Sài Gòn cho biết tình trạng của quân đoàn như sau ‘Cấp tiểu đoàn không biết họ phải làm gì. Trung đoàn trưởng của họ đã đi mất và chính họ không biết phải đi đâu và không ai chỉ thị cho họ biết những gì phải làm. Sau quá nhiều chán nản tuyệt vọng, không một ai chịu trách nhiệm cho cả quân khu”

Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập trang 764, 765.

Tướng Nguyễn Cao Kỳ cũng cho rằng việc cấp chỉ huy bỏ đơn vị chạy trước là một nguyên nhân đưa tới sụp đổ quân đoàn, theo ông tại đây cấp chỉ huy không quân nhiều người đã lên trực thăng bay về phía nam bỏ cấp dưới ở lại.

Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, người đóng vai chính tại chiến trường Hoả tuyến có viết sách về cuộc chiến Mùa hè đỏ lửa 1972 nhưng không thấy, không nghe nói ông viết sách về sự sụp đổ Quân đoàn 1 năm 1975. Về Quân đoàn 1 trong trận chiến mất nước này chỉ thấy ghi lại trong một bài ngắn “Tại Sao Tôi Bỏ Quân Đoàn Một” đã đăng trên nhiều báo và internet từ nhiều năm qua nhưng bài này không phải do chính Tướng Trưởng viết ra mà do một người khác ghi lại lời thuật của ông nên cũng không thể coi đó là hoàn toàn ý kiến của ông.

Nội dung bài viết có nhiều điểm trái ngược với các tài liệu, sách vở nói về cuộc Triệt thoái này. Mở đầu bài viết nói.

“Ngày 13 tháng 3 năm 1975, được lệnh vào Sài Gòn họp. Tôi vào đến Sài Gòn nhưng với sự ngạc nhiên là chỉ có mình tôi vào gặp Tổng thống và Thủ tướng (Trần Thiện Khiêm) mà thôi. Ngoài tôi ra không có ai khác. Thường lệ, khi được lệnh về Sài Gòn họp thì đều có đầu đủ mặt các vị tư lệnh quân đoàn và tư lệnh các quân binh binh chủng khác. Lần này thì chỉ một mình tôi thôi”

Theo Đại Tướng Cao Văn Viên, Ký giả chiến trường Phạm Huấn, nhà nghiên cứu quân sự Nguyễn Đức Phương như chúng tôi đã trình bầy ở trên và cả ý kiến của Thiếu Tướng Hoàng Lạc, Tư lệnh phó Quân khu 1 thì trong các buổi họp Hội Đồng An Ninh Quốc Gia tại dinh Độc Lập ngày 11-3, ngày 13-3 và 19-3 do ông Thiệu chủ tọa đều có mặt Đại Tướng Cao Văn Viên, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Trung Tướng Đặng Văn quang, riêng buổi họp ngày 19-3 thì có thêm Phó Tổng thống Trần Văn Hương. Tổng thống Thiệu không hề gặp riêng một tướng nào, không nghe thấy một tài liệu nào nói như vậy. Về ngày 13-3 nêu trên, Tướng phó Tư lệnh Quân khu 1 cho biết Tướng Trưởng được mời về Sài Gòn trình bầy trước Hội đồng an ninh Quốc gia, các tài liệu của BộTTM, của Phạm Huấn, Nguyễn Đức Phương cũng đều nói như vậy.

Bài viết nói tiếp

“Nhưng khi tổng thống Thiệu cho biết ý định của ông ta là phải rút bỏ Quân đoàn 1 ngay hôm nay thì tôi mới vỡ lẽ, cay đắng, và uất ức vì lệnh ra quá đột ngột ngoài sức tưởng tượng và ngoài ước muốn của tôi…..

… Tôi trình bầy cặn kẽ những ý kiến cũng như những dự định của tôi lên tổng thống nhưng không được chấp thuận. Lệnh bất di bất dịch là: Phải rút khỏi Quân Đoàn 1 càng sớm càng hay….

Lệnh của tổng thống Thiệu yêu cầu tôi rút khỏi Quân Đoàn 1 vào ngày 13 tháng 3, và rút Quân Đoàn 2 vào ngày 14 tháng 3. Ông Thiệu cho biết là rút hết về Phú Yên, lấy Quốc Lộ 22 làm ranh giới. Việt nam sẽ thu gọn sẽ chạy dài từ Phú Yến đến Hà Tiên”

Theo Tướng Viên, Tướng Hoàng Lạc, Nguyễn Đức Phương… trong phiên họp ngày 13-3 Tướng Thiệu chỉ mới lệnh cho Tướng Trưởng rút sư đoàn Dù về Sài Gòn và báo cáo tình hình Quân sự của Vùng Một, không có tài liệu nào nói ông Thiệu cho lệnh rút bỏ Quân đoàn 1 ngay hôm 13-3 như trong bài của Tướng Trưởng. Theo ông Cao Văn Viên.

“Buổi họp ở Dinh Độc Lập vào ngày 13 tháng 3, 1975 đã được thuật lại rõ ràng ở trên. Trong dịp đó tổng thống Thiệu đã cho hai vị tư lệnh quân đoàn I và III (tướng Trưởng và tướng Toàn) biết ý định sắp xếp lại lãnh thổ VNCH sao cho phù hợp với sự cắt giảm viện trợ quân sự. Tuy nhiên tổng thống Thiệu chưa cho lệnh rút quân ở bất cứ nơi nào lúc đó, trừ việc bỏ An Lộc ở vùng III. Buổi họp ở Cam Ranh ngày 14 tháng 3 sảy ra sau khi Ban Mê Thuột mất, và tại Cam Ranh tổng thống Thiệu ra lệnh tái phối trí lực lượng của quân đoàn II để chiếm lại Ban Mê Thuột”

Theo như Nguyễn Đức Phương đã nói ở trên Tổng thống Thiệu chỉ chấp nhận lui binh vào giờ phút chót. Ngày 13- 3 ông Thiệu chỉ thị cho Tướng Trưởng trả sư đoàn Dù về Sài Gòn và tái phố trí lực lượng tại Quân khu 1 chứ chưa hề cho lệnh rút bỏ bất cứ một tỉnh nào. Cho đến ngày 20-3 khi tình hình Huế khẩn trương ông lệnh cho Tướng Trưởng tùy cơ ứng biến, có thể rút về bảo vệ Đà Nẵng nếu tình hình đòi hỏi.

Trong một cuộc nói chuyện với một nhà báo tại Hải ngoại, Tướng Trưởng cho rằng những bài nói về ông, khen cũng như chê có nhiều điều không đúng và ông không thích báo chí nói đến mình, như vậy bài trên đây có thể chưa chắc đã nói đúng ý của vị nguyên Tư lệnh Quân khu.

Trong cuộc phỏng vấn của ông Lâm Lễ Trinh, Tướng Viên đã kết luận.

“Xin đừng xem những lời của tôi là lịch sử. Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng, như trong phim ‘Rashomon’. Một trăm nhân chứng, một trăm sự thật. Định kiến làm cho lịch sử sai lệch. Tôi chỉ tâm tình với lòng thành. Hãy để cho hậu thế lượng định và phán xét”

Lâm Lễ Trinh, Về Nguồn, trang 276.Xuân Lộc, ngày 13 tháng 4 năm 1975

Xuân Lộc, ngày 13 tháng 4 năm 1975

Xem như thế sự thật chỉ là tương đối. Cũng trong bài phỏng vấn này, theo ông Cao Văn Viên, Tướng Trưởng cho biết Bộ tổng tham mưu không tăng viện theo lời yêu cầu của Quân khu 1. Tướng Viên cho đều này không đúng vì ông đã tăng cường cho Tướng Trưởng cả hai sư đoàn tổng trừ bị Dù và TQLC rồi. Bộ Quốc phòng Mỹ trả nhuận bút cho các Tướng lãnh lưu vong Việt Nam để viết tài liệu về chiến tranh Đông Dương. Trong một phiên họp thu thập dữ kiện cho Mỹ, Tướng Trưởng phát biểu sở dĩ thất bại là do lãnh đạo tồi, chính phủ Trung ương thiếu nhân tài. Tướng Đồng Văn Khuyên, Trần Đình Thọ bênh vực cho Bộ TTM tranh luận trả lời ông Trưởng: Bộ Tham mưu đã yểm trợ hết mình cho Quân khu 1, hai sư đoàn Tổng trừ bị Dù và TQLC đều đã được tăng phái cho Quân đoàn 1.

Ý kiến của Tướng Trưởng về nhu cầu tăng viện cho Quân khu là xác đáng. Đặt giả sử nếu không triệt thoái khỏi Huế, Quảng Nam, Quảng Tín để giữ đất chống quân thù, cho dù Tướng Trưởng có tài giỏi tới đâu cũng chỉ cầm cự được một hai tháng là cùng vì ưu thế quân sự về phía địch, chúng gần hậu cần, được bổ sung quân số đầy đủ trong khi quân ta ở cách xa trung tâm tiếp liệu.

Trong chiến dịch tổng công kích này, địch đã tung vào mặt trận miền Trung 13 sư đoàn bộ binh, trên 20 trung đoàn pháo binh, xe tăng, phòng không, trong đó 8 sư đoàn tại Quân khu Một, 5 sư đoàn tại Quân khu 2. Hoả lực địch rất mạnh nhờ viện trợ ồ ạt của Cộng Sản Quốc tế trong khi hoả lực ta đã bị giảm 60% so với 1972 hậu quả của cắt quân viện, vũ khí đạn dược của Việt Cộng coi như gấp hai 1972. Bắc Việt đã đưa khoảng 70% toàn bộ lực lượng của chúng vào chiến dịch này, địch không thể tấn công cả bốn Quân khu của ta cùng một lúc vì mũi dùi tấn công yếu sẽ bị bẻ gẫy nên chúng chỉ tấn công vào một hai nơi nhất định, địch lựa chọn Quân khu 1 và Quân khu 2 vì gần hậu phương miền Bắc.

Đã biết Việt Cộng tấn công mạnh ở Quân khu 1 và 2 mà ta còn giữ nhiều lực lượng tại Quân khu 3 và 4. Tại Vùng 4 ta đã có 200 ngàn Địa phương quân lại thêm 3 sư đoàn chủ lực, Vùng 3 ta để 3 sư đoàn bộ binh, số xe tăng gấp rưỡi và máy bay chiến đấu gấp hai các quân khu 1 và 2 (655 xe tăng, 250 máy bay chiến đấu). Trong khi miền Trung bị địch đánh phá tơi bời mà vẫn không chịu lấy bớt quân từ các quân khu 3 và 4 lên tăng viện cho chiến trường dầu sôi lửa bỏng. Nhưng không phải Tướng Thiệu không biết vậy, ông có thể tăng viện để cứu sự sụp đổ của miền Trung nhưng ông đã không làm thế vì muốn bỏ miền Trung, vấn đề là ở chỗ đó. Không tăng viện coi như bỏ vì với lực lượng cơ hữu của hai Quân khu, ta không đủ sức chống lại mũi dùi tấn công của 13 sư đoàn Bắc Việt. Tướng Trưởng trách cứ Bộ Tổng tham mưu và Tổng thống Thiệu đã không tăng cường lực lượng cho ông, đã bỏ lỡ cơ hội cứu đất nước vào giờ chót, nếu tăng cường thì còn hy vọng chuyển bại thành thắng, bẻ gẫy mũi dùi tấn công của địch hoặc cho dù thua cũng phải đánh được vài trận cho ra hồn.

Theo ông Cao văn Viên vị Tư lệnh Quân khu 1 trong khi đương đầu với địch ông còn phải quan tâm giải quyết vấn đề tỵ nạn đang trầm trọng. Khi Kontum, Pleiku mất người dân lo sợ chính quyền cắt đất nhường cho Cộng sản, hàng chục nghìn người đổ dồn về Đà Nẵng mua vé máy bay vào Sài Gòn, hôm 14-3 các lữ đoàn Dù được điều động để về Sài Gòn khiến dân chúng hốt hoảng kéo nhau về Đà Nẵng. Ngày 19-3 Thủ Tướng Khiêm ra Đà Nẵng giải quyết vấn đề tỵ nạn, Thủ tướng cho thành lập Ủy ban liên bộ để lo giúp dân tỵ nạn Quân khu để binh sĩ yên tâm chiến đấu. Thủ Tướng hứa sẽ tăng nhiều tầu chở dân di tản và giúp đồng bào tỵ nạn. Trong khi ấy tại địa phương các đoàn thể, hội từ thiện, phú thương… đóng góp vào cuộc cứu trợ hiệu quả hơn của Trung ương nhưng vấn đề tỵ nạn vượt quá khả năng của họ.

Từ ngày 17-3 đường Quốc lộ 1 tràn ngập người và xe cộ, tại các bến cảng, tầu chở quân như quân dụng cho chiến trường Huế Đà Nẵng bị dân và lính ép phải chở họ rời bến, giới phụ trách bến tầu phải thuyết phục họ mãi. Ngày 21-3 Việt Cộng cắt đường Quốc lộ 1, dân tỵ nạn bèn đi về miệt biển, tầu bè được mướn hay bị cướp để chạy loạn nhưng không đủ. Ngày 23-3 tầu Trường Thanh do Bộ tổng tham mưu mướn chở được hơn 5000 người. Huế bỏ ngỏ đếm 25-3, dân quân rút theo bờ biển về Đà Nẵng. Tam Kỳ mất 24 -3, Chu Lai di tản ngày 26, dân Quảng Ngãi, Quảng Tín chạy về Đà Nẵng. Ngày 26 Tướng Trưởng gửi Tướng Hoàng Lạc Tư lệnh phó về Sài Gòn trình Tổng thống và Thủ tướng giải quyết ngay vấn đề tỵ nạn vì thành phố sắp rơi vào tình trạng hỗn loạn khiến Đã Nẵng sẽ tự sụp đổ không cần Việt Cộng tấn công. Lưu thông trong thành phố ứ đọng, dân số trước đấy chỉ có 300 ngàn nay có tới hơn một triệu, cướp của giết người giữa ban ngày.

Ngày 27-3 chuyến phi cơ dân sự đầu tiên mướn của Mỹ đáp xuống Đà Nẵng nhưng mỗi khi có máy bay xuống hỗn loạn diễn ra dữ dội. Các chuyến bay dân sự phải đình chỉ, giới hữu trách cho thay bằng 4 máy bay C-130, nhưng hỗn loạn liên tục nên 4 chiếc này chỉ cất cánh được một lần vào ngày 29-3. Bến tầu cũng hỗn loạn, các tầu thả neo ngoài khơi Đà Nẵng, dân dùng thuyền bè từ bờ ra tầu, mỗi tầu được chừng 10 ngàn thì nhổ neo về Cam Ranh, Vũng Tầu, Phú Quốc… Bọn lưu manh côn đồ lợi dụng cướp bóc hà hiếp đồng bào trên tầu, nhiều người xỉu vì kiệt lực.

Việt Cộng pháo kích tấn công Đà Nẵng mạnh vào đêm 28, dân chúng tiếp tục tìm đường lánh nạn bằng thuyền bè dưới những trận mưa pháo của địch, nhiều người chết chìm khi lội từ bờ ra tầu. Bộ TTM đề nghị Phó thủ tướng Phan Quang Đán trưng dụng 13 tầu thương thuyền để chở dân tỵ nạn và kêu gọi các nước đồng minh giúp chở dân ra khỏi vùng giao tranh. Các nước hưởng ứng lời kêu gọi nhưng không thể gửi tầu tới ngay được trong khi tình hình ngày một thê thảm. Với con số người tỵ nạn quá đông cuộc di tản không thực hiện được như ý muốn, dân tỵ nạn tràn ngập các trại tỵ nạn ở Vùng 3 và Phú Quốc.

Theo Đại Tướng Cao Văn Viên khi chính quyền bắt tay vào giải quyết vấn đề tỵ nạn thì đã quá trễ, vấn đề tỵ nạn đã làm đảo lộn kế hoạch quân sự của Vùng 1, dân di tản đã làm náo loạn cả lên khiến cho binh sĩ hoang mang không còn tinh thần chiến đấu. Cuộc lui binh của Quân đoàn 1 cũng chịu chung số phận với cuộc triệt thoái Cao nguyên chỉ là một cuộc hành quân phá sản đã làm sụp đổ toàn bộ Quân khu khiến cho Quân đội VNCH mất gần hết các lực lượng tinh nhuệ. Vũ khí đạn dược phần lớn bị bỏù lại không kịp hủy, ta mất gần 450 xe tăng và hơn 400 đại bác, phần lớn lọt vào tay quân thù, sự sai lầm của một người đã khiến cho VNCH sụp đổ nhanh hơn dự kiến.

Trọng Đạt

Tài liệu tham khảo

Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.

Nguyễn Đức Phương: Những Trận Đánh Lịch Sử Trong Chiến tranh Việt Nam 1963-1975, Đại Nam 2001.

Phạm Huấn: Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975, Cali 1988.

Phạm Huấn: Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975, Cali 1987

Nguyễn Kỳ Phong: Vũng Lầy Của Bạch Ốc (Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam- 1945-1975) Tiếng Quê Hương 2006.

Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Hứa Chấn Minh xuất bản 2005.

Văn Tiến Dũng: Đại Thắng Mùa Xuân, nhà xuất bản QĐND Hà Nội, tái bản lần thứ tư, 2003.

Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới, Texas 1991.

Lâm Quang Thi: Autopsy The Death Of South Vietnam, Sphinx publishing 1986.

The World Almanac Of The Vietnam War, General Editor: John S. Bowman – A Bison Book 1985.

Stanley Karnov: Vietnam, A History – A Penguin Book 1991.

Marilyn B. young, John J. Fitzgerald, A.Tom Grunfeld: The Vietnam War, A History In Documents – Oxford University press 2002.

Trần Việt Đại Hưng: Một Bí ẩn Cần Tiết Lộ Trong Chuyện Bức Tử Miền Nam 1975, Sài Gòn Nhỏ Dallas 2002.

Trung Tướng Lữ Lan: Cuộc Chiến Ba Mươi Năm Nhìn Lại Từ Đầu, Sài Gòn Nhỏ Dallas 28-4-2006.

Thiếu Tướng Lê Quang Lưỡng: Thiên Thần Mũ Đỏ, Ai Còn, Ai Mất. Người Việt Dallas 7-10-2005.

Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam, Người Việt Dallas 21-6-2005 (Không tác giả).

Hồ Đinh: Cơn Phẫn Nộ Cuối Cùng Của Một Quân Đội Bị Phản Bội, Người Việt Dallas, 23-12-2005.

Lewis Sorley: Lịch Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Trần Đỗ Cung dịch, Người Việt Dallas 22-11-2006.

Cao Văn Viên: Tuyến Đầu Vùng Một Thất Thủ, báo Thằng Mõ, Sacramento số 30-4-2006.

Nguyễn Văn Châu: Nhớ Về Quân Đoàn I, Sài Gòn Nhỏ Dallas 25-8-2006.

Nguyễn Tiến Việt: Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà 1968-1975 (dịch từ RVNAF 1968-1975 của Bill Laurie), Con Ong Việt số 71, tháng 5-2006.

Trần Trung Đạo: 30 Năm Nhìn Lại, Con Ong Việt số 60, tháng 9-2004.

Phan Nhật Nam: Một Đời Trung Liệt, Ba Lần Giữ Nước, Tướng Quân Ngô Quang Trưởng, Sài Gòn Nhỏ Dallas 2-2-20

75 NHỮNG BÍ MẬT VỀ TRẬN THẤT THỦ BAN MÊ THUỘT

NHỮNG BÍ MẬT VỀ TRẬN THẤT THỦ BAN MÊ THUỘT

Cố nhà báo Nguyễn Cần bút hiệu Lữ Giang và phiếm Tú Gàn


Lữ Giang
________________________________________

Trong thời gian bị giam giữ trong các trại cải tạo của CS, chúng tôi đã có dịp tiếp xúc với hàng trăm người có trách nhiệm hay liên quan đến những biến cố đưa đến sự sụp đổ toàn bộ miền Nam VN, trong đó trận Ban Mê Thuột là trận quan trọng nhất. Vì được gặp nhiều người cùng một lúc nên chúng tôi đã có dịp kiểm chứng những điều mà mỗi người đã kể. Đối với những người mà chúng tôi không ở cùng chung trại, sau khi về Saigon hay qua Mỹ, chúng tôi đã tìm cách để tiếp xúc và hỏi thêm, như trường hợp của Đại tá Nguyễn Văn Đồng, Tư lệnh Thiết đoàn 2 của Quân khu 2. Ông chỉ huy đoàn quân tháo chạy trên liên tỉnh lộ 7 và đã bị bắt gần Củng Sơn (Phú Yên). Chúng tôi cũng đã có dịp tham khảo nhiều sách báo của các tác giả miền Nam VN, của người Mỹ cũng như của Quân đội VC viết liên quan đến biến cố 30/4/75. So sánh những tài liệu thu thập được, chúng tôi đã khám phá ra nhiều sự kiện lịch sử cần được viết lại cho chính xác hơn.


Khi mới đến Hoa Kỳ vào năm 1990, chúng tôi đã viết ngay một bài nói về những bí ẩn đằng sau sự thất thủ Ban Mê Thuột, bài này đã gây ngạc nhiên và xúc động cho nhiều ngườị Nay những người liên hệ đến trận Ban Mê Thuột đã đến Hoa Kỳ. Có nhưng người đã đồng ý viết ra những biến cố mà họ đã tham dự hay chứng kiến như Đại tá Trịnh Tiếu, Trưởng phòng 2 Quân đoaný 2, Trung tá Ngô Văn Xuân, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 44 thuộc Sư đoàn 23… nhưng đa số đã thú nhận rằng họ phải bỏ bớt đi vì sợ đụng chạm. Có người chỉ kể lại chứ không chịu viết và cũng có người khi kể lại đã yêu cầu đừng nêu tên họ ra khi viết, cũng vì sợ đụng chạm. Sau khi tổng kết, chúng tôi xin ghi lại những bí ẩn liên quan đến sự thất thủ Ban Mê Thuột.

Sự thật có nhiều điều khác xa với những gì Văn Tiến Dũng đã viết trong cuốn “Đại Thắng Mùa Xuân” hay Phạm Huấn đã viết trong cuốn “Tướng Phú và Những Trận Đánh Từ Điện Biên Phủ 1954 Đến Ban Mê Thuột 1975”.
* * * * *
Biến cố 30/4/75 đã gây ra những ấn tượng kinh hoàng và đau xót trong lòng người Việt trong cũng như ngoài nước. Biến cố đó đã đưa cả dân tộc vào những ngày bi thảm nhất và để lại một vết thương đau đớn trong lịch sử. Mặc dầu đã 21 năm qua, ấn tượng đau xót và tủi nhục đó vẫn chưa phai mờ đi được.
Mọi người dều công nhận rằng sự thất thủ Ban Mê Thuột là biến cố khởi đầu đưa đến sự sụp đổ toàn bộ miền Nam VN. Tại sao Ban Mê Thuột đã bị thất thủ một cách mau chóng như vậy? Phải chăng đây là một cuộc tấn công quá bất ngờ của Cộng quân khiến QLVNVH không trở tay kịp? Phải chăng Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH đã thua đòn cân não của Hà Nội? Phải chăng khả năng chiến đấu của QLVNCH quá yếu kém, không đương đầu nổi với lực lượng của Cộng quân? Rất nhiều câu hỏi như thế đã được nhiều người đặt rạ Chúng tôi xin tuần tự trình bày từng chi tiết về diễn biến của trận Ban Mê Thuột để trả lời những câu hỏi đó. Note : Một bản sơ đồ phối trí quân của 2 bên trong trận Ban Mê Thuột ngày 10/3/1975 sẽ được scanned và saved in Pict filẹ Nếu bạn nào muốn có nó thì cho biết qua e-mail.


1. Phối trí của QLVNCH và Cộng quân


Ban Mê Thuột là một tỉnh nằm ở Cao nguyên Trung phần; vùng cao nguyên này gồm 4 tỉnh Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột và Quảng Đức. Tướng Phú phụ trách Quân đoàn 2 đã phối trí quân để phòng thủ Cao nguyên như sau : 5 Liên đoàn Biệt động quân được dùng để bảo vệ Kontum vì sợ Cộng quân sẽ mở một cuộc tấn công như “Mùa hè đỏ lửa” năm 1972. 3 tỉnh còn lại được giao cho Sư đoàn 23 bảo vệ, sư đoàn này được phối trí như sau : 2 Trung đoàn 44 và 45 được đưa về phòng thủ Pleikụ Trung đoàn 45 đóng ở căn cứ Gầm Ga, phía Bắc Quận Thuần Mẫn, gần đèo Tử sĩ, dọc theo Quốc lộ 14, giữa Ban Mê Thuột và Pleikụ Trung đoàn 53 giữ Ban Mê Thuột và Quảng Đức. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 đóng tại Ban Mê Thuột còn Bộ Tư lệnh Hành quân đóng tại căn cứ Hàm Rồng ở Pleikụ Về sau, Bộ Tổng Tham mưu tăng cường cho Quân đoàn 2 thêm 3 Liên đoàn 4, 6 và 7 Biệt động quân của trung ương nữạ Cộng quân có Sư đoàn 320 đóng ở Kontum, Sư đoàn F.10 hoạt động ở Pleiku, Sư đoàn 986 trú quân tại vùng Tam Biên và Trung đoàn biệt lập 25, một trung đoàn khá thiện chiến, luôn quấy phá ở 2 tỉnh Ban Mê Thuột và Quảng Đức.


Ban Mê Thuột là nơi đặt Bộ Tư lệnh của Sư đoàn 23 của QLVNCH. Nơi đây toàn rừng cao su, không có chướng ngại thiên nhiên để giúp phòng thủ như ở Kontum hay Pleiku nên rất dễ bị tấn công. Lực lượng phòng thủ ở đây lại rất yếụ Nghĩa quân và Địa phương quân phần lớn là người Thượng, không thiện chiến, thiếu tinh thần kỷ luật và được trang bị không đầy đủ. Tất cả chỉ trông chờ vào Trung đoàn 53, nhưng Trung đoàn này phải bao một vùng lãnh thổ quá lớn gồm 2 tỉnh nên khó bảo vệ nổị Do đó, không ai ngạc nhiên khi thấy Cộng quân chọn Ban Mê Thuột để tấn công. Mặt khác, nếu chiếm được Ban Mê Thuột, Cộng quân sẽ khai thông được con đường Đông Trường Sơ từ Pleiku tới Phước Long qua Quận Đức Lập của Ban Mê Thuột.


2. Địch điều quân


Đại tá Trịnh Tiếu, Trưởng phòng 2 của Quân đoàn 2 kể lại rằng nhờ hệ thống truyền tin điện tử, Quân đoàn 2 QLVNCH đã mở được hầu hết các khóa mật mã của Cộng quân đánh đị Nhờ vậy, Quân đoàn 2 đã khám phá ra Cộng quân chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột từ tháng 12/74. Để đánh Ban Mê Thuột, lúc đầu Cộng quân huy động 4 sư đoàn : Sư đoàn Sao Vàng ở Bình Định, Sư doàn F.10 ở Pleiku, Sư đoàn 320 ở Kontum, Sư đoàn 986 đang đóng ở vùng Tam Biên. Ngoài ra, Cộng quân còn xử dụng Trung đoàn biệt lập 25.


Trước hết, Cộng quân ra lệnh cho Sư đoàn 986 đang đóng ở vùng Tam Biên kéo về phía Tây Quận Thanh An ở phía Tây Pleiku để thay cho Sư đoàn F.10 tiến về phía Tây Nam Ban Mê Thuột.

Đại úy Trác Ngọc Anh, một sĩ quan không báo của Quân đoàn 2, đã nói với chúng tôi rằng vào cuối tháng 1/75, khi máy bay L.19 chở anh đang bay thám thính trên con đường từ vùng Tam Biên về Thanh An thì bất thần anh phát hiện ra một đoàn quân xa độ 100 chiếc đang chạy từ Tam Biên theo hướng Nam về phía Pleiụ. Một lúc sau khi nghe báo cáo, cơ quan quân báo của Hoa Kỳ đã nói vào máy cho biết đích danh đó là các xe chuyển quân của Sư đoàn 968 của Cộng quân. Quân đoàn 2 đã xin Bộ Tổng Tham mưu huy động các phi cơ Ạ37 của Sư đoàn 2 và Sư đoàn 6 Không quân đến oanh kích. Cuộc oanh kích kéo dài từ 9 giờ sáng đến quá trưa, nhưng vẫn còn thấy một số xe đang chạỵ Bộ Tổng Tham mưu phải điều động thêm Sư đoàn 1 Không quân ở Đà Nẵng vào trợ chiến. Cuộc oanh kích kéo dài đến 4 giờ chiều thì chấm dứt. Một máy bay C.47 của Bộ Tổng Tham mưu đã đến chụp hình và thấy khói bay ngụt trời, nhiều tiếng nổ từ dưới đất phát ra, vô số xe bị bắn cháy nằm rải rác trên đường. Sau chiến công này Trung úy Trác Ngọc Anh (hiện đang ở Hoa Kỳ) được vinh thăng Đại úỵ.


Bị thiệt hại nặng trong vụ oanh kích đó, Sư đoàn 968 không còn khả năng chiến đấu như lúc đầu nữạ Bộ chỉ huy Tây nguyên của Cộng quân đã điện về Hà Nội cầu cứụ Hà Nội liền ra lệnh rút gấp Sư đoàn 316 đang đóng ở vùng biên giới Lào – Việt ở phía Tây Nghệ Tĩnh đưa vào Cao nguyên Trung phần thay thế cho Sư đoàn 968. Sư đoàn 316 là một sư đoàn cơ động nhẹ, chỉ có 2 trung đoàn, nên khi đi qua Thừa Thiên đã được tăng cường thêm một trung đoàn của 1 sư đoàn Cộng quân đóng phía Tây đèo An Khê; sư đoàn này cắt quốc lộ 19 nối liền Bình Định và Pleiku để chận đường tiếp viện của Sư đoàn 2 Bộ binh VNCH và làm nghi binh.


Sư đoàn F.10, từ Pleiku tiến về phía Tây Ban Mê Thuột, vây Quận Đức Lập, cắt con đường (Quốc lộ) 14 nối liền Ban Mê Thuột với Đức Lập. Sư đoàn 320 từ Kontum di chuyển về phía Bắc Ban Mê Thuột, đóng cách Quốc lộ 14 về phía Tây 5km để chận Quốc lộ 14 từ Pleiku đến Ban Mê Thuột. 1 tiểu đoàn của sư đoàn này đã băng qua Quốc lộ 14, khúc cầu 210 (còn gọi là Ialeo) và tiến về phía Đông, đóng chốt trên đường nối liền tỉnh Phú Bổn với Quận Thuần Mẫn ở phía Đông Bắc Ban Mê Thuột.
Trung đoàn 25 Cộng quân tiến về phía Đông Ban Mê Thuột, chận Quốc lộ 21 nối liền tỉnh Khánh Hòa với Ban Mê Thuột, khúc đèo Chư Cúc, giữa Quận Khánh Dương của Khánh Hòa và Quận Phước An của Ban Mê Thuột. Tàn quân của Sư đoàn 986 (khoảng hơn 1 trung đoàn) tiến về phía Tây Pleiku, có nhiệm vụ gây rối để cầm chân 2 Trung đoàn của Sư đoàn 23 VNCH lại mặt trận Pleiku.


Sư đoàn cơ động nhẹ 316 mới từ Bắc vào sẽ làm mũi nhọn đánh vào thành phố Ban Mê Thuột để thăm dò. Sợ Sư đoàn 316 thiếu kinh nghiệm, không nắm vững địa hình địa vật, không hoàn thành nhiệm vụ, Hà Nội chỉ thị cho một tiểu đoàn của Trung đoàn 95-B hướng dẫn sư doàn nàỵ
Riêng Sư đoàn 2 Sao Vàng, Phòng 2 của Quân đoàn 2 VNCH không tìm thấy dấu vết ở đâu. Sau này, khi đọc cuốn “Sư đoàn 3 Sao Vàng” của VC, chúng tôi mới khám phá ra sư đoàn 2 Sao Vàng này đã bị tiêu diệt trong trận Kontum năm 1972, số còn lại đã tăng cường cho Sư đoàn 3 Sao Vàng ở Bình Định.


Qua các khóa mật mã mở được, Quân đoàn 2 cũng biết đích xác ngày giờ Tướng VC Văn Tiến Dũng sẽ từ Bắc vào Nam theo đường mòn HCM, xuống đường Đông Trường Sơn để vào Ban Mê Thuột. Ngày Văn Tiến Dũng đi qua phía Tây Kontum, Quân đoàn 2 đã cho thả một đại đội trinh sát xuống quãng đường này để phục kích Văn Tiến Dũng nhưng không gặp vì đường Đông Trường Sơn ở khúc đó có quá nhiều nhánh, không biết đoàn xe đi đường nào.
Tóm lại, mọi ý đồ, cách điều quân và phối trí quân của địch đều được Quân đoàn 2 đệ trình lên Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh của Quân đoàn. Nhưng…


3. Các tin tức tình báo dồn dập


Đại tá Phùng Văn Quang, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 45 thuộc Sư đoàn 23 VNCH cho biết rằng 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 45 đang hành quân trên Quốc lộ 14 gần Quận Thuần Mẫn thì một cán binh VC ra xin đầu thú. Anh ta khai tên là Sinh (có người nói là Sính), một sĩ quan truyền tin, có nhiệm vụ bắt đường dây điện thoại ngang qua Quốc lộ 14 nối liền Bộ Tư lịnh Sư đoàn 32 Cộng quân ở tây quốc lộ này với một đơn vị đang đóng ở Quận Thuần Mẫn. Khi điều tra thì khám phá ra anh ta chỉ là một Thượng sĩ chớ không phải sĩ quan. Vì giữ nhiệm vụ truyền tin, anh ta biết khá nhiều về kế hoạch hành quân của sư đoàn 320 và các đơn vị phối hợp. Anh cho biết Sư đoàn 320 đang đóng ở phía Bắc Quận Buôn Hô, cách Quốc lộ 14 về phía Tây và đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột. Khi tin này được báo về Quân đoàn 2, Tướng Phú ra lệnh cho Trung đoàn 45 cho 1 tiểu đoàn hành quân lục soát 2 bên Quốc lộ 14, từ Ban Mê Thuột đến Pleiku để phát hiện địch. Trung tá Quang nói ông đã cho lục soát nhưng không thấy gì. Sau này ông tiết lộ rằng tiểu đoàn đó chỉ lục soát mỗi bên Quốc lộ 14 khoảng 1km, trong khi Sư đoàn 320 đóng xa quốc lộ đến 5 km nên không thể phát hiện địch, tên Sinh đồng ý hướng dẫn trực thăng đến trên vùng Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320 đang đóng.

Đại tá Quang nói rằng theo sự chỉ dẫn của tên Sinh ông đã nhìn thấy phía dưới các cơ sở chứng minh có địch đang đóng quân tại đó và đã báo cáo cho Tướng Phú biết.

Mặc dầu có tin Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320 đã chuyển từ Kontum về phía Bắc Ban Mê Thuột, nhưng cơ quan truyền tin của Quân đoàn 2 cho biết vẫn nhận được các tín hiệu truyền tin của sư đoàn này phát xuất từ một căn cứ ở Kontum. Căn cứ vào báo cáo này, Tướng Phú cho rằng Sư đoàn 320 vẫn còn tại Kontum và những lời khai của tên Sinh chỉ là một kế nghi binh của địch để đánh Pleikụ. Về sau mới biết rằng Sư đoàn 320 cho tiếp tục phát các tín hiệu truyền tin ở Kontum là để đánh lạc hướng. Trong thực tế, sư đoàn này đã chuyển về phía Bắc Ban Mê Thuột.

Đầu tháng 2/75, Phòng 2 Quân đoàn 2 khám phá ra một thông báo của Cộng quân về cuộc họp ngày 1/2/75 của Tư lịnh Sư đoàn 320, F.10 và 986 tại vùng phía Tây Đức Cơ để khai triển chiến dịch 275. Thông báo này do một người ký tên là Tuấn. Đây là một trong những bí danh của Văn Tiến Dũng.

Một nữ du kích hồi chánh ở Ban Mê Thuột cho biết Trung đoàn 25 Cộng quân đã được lệnh ăn Tết trước để chuyển quân về vùng Khánh Dương ở phía Đông Ban Mê Thuột và một số đơn vị thuộc Sư đoàn F.10 đã có mặt xung quanh Quận Đức Lập, phía Tây Nam Ban Mê Thuột. Các thợ rừng báo cáo họ thấy nhiều đơn vị Cộng quân ở phía Tây Pleiku chuyển xuống Ban Mê Thuột, v.v… Những tin tức này cho thấy Cộng quân chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột.



4. Tổng Thống Thiệu ăn Tết Pleiku

Khi ở trại Lam Sơn, Thanh Hóa, Đại tá Trịnh Tiếu có cho chúng tôi biết vào ngày mồng 2 Tết, TT Thiệu đến Pleikụ Tại phòng Hành quân của Không quân ở phi trường Cù Hanh, ông đã trình bày cho TT Thiệu kế hoạch đánh Ban Mê Thuột của Cộng quân. TT chỉ thị Tướng Phú đưa 2 Trung đoàn của Sư đoàn 23 về lại Ban Mê Thuột, nhưng sau đó Tướng Phú không thi hành vì cho rằng địch sẽ đánh Pleikụ Khi ông đến Mỹ, chúng tôi yêu cầu ông viết lại chuyện này thì trong bài “Thiếu tướng Phạm Văn Phú và Quân đoàn 2” đăng trên báo SGN, ông viết rằng trước Tết 5 ngày, khi TT Thiệu lên Quân đoàn 2 ủy lạo chiến sĩ, chính ông đã đích thân trình bày cho TT kế hoạch nói trên của Cộng quân.

Sau khi thăm hỏi nhiều người liên hệ khác, chúng tôi thấy lời tường thuật của Trung tá Ngô Văn Xuân, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 44 là đúng hơn cả. Trung tá Xuân cho biết vào Tết Ất Mão (1975), Trung đoàn 44 đang đóng ở căn cứ 801, cách tỉnh Pleiku khoảng 20km về hướng Tây Bắc, đã được Quân đoàn 2 chỉ định tiếp đón TT Thiệu đến ăn Tết.

Đúng 12 giờ trưa ngày mồng một Tết (11/2/75), TT từ Bộ Tư lịnh Quân doàn 2 đến Trung tâm Hành quân của Trung đoàn 44 bằng trực thăng cùng với các Tướng Trần Văn Trung, Lê Nguyên Khang và Phạm Văn Phú. Tại đây, Trung tá Điều Ngọc Chuy, Trưởng phòng 2 Sư đoàn 23 đã trình bày về tình hình chung của các khu vực trách nhiệm đang do Sư doàn 23 trấn giữ, đặc biệt nhấn mạnh đến chi tiết về cung từ của một cán binh CS thuộc Sư đoàn 320 ra đầu thú cho biết rõ các chi tiết địch đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột.

TT có vẽ đăm chiêu rồi quay lại hỏi Tướng Phú thì Tướng Phú nhận định rằng có thể VC đưa ra một kế trá hàng nhằm đánh lạc hướng chú ý của ta Theo ông, Pleiku là điểm, Ban Mê Thuột chỉ là diện, bởi vì Pleiku có cơ sở đầu não là Bộ Tư lịnh Quân đoàn 2. Nếu địch tiêu diệt được cứ điểm này, chúng sẽ dễ dàng làm chủ được toàn bộ khu vực cao nguyên và tỏa xuống khu vực duyên hảị TT Thiệu suy nghĩ trong giây lát, rồi ra lịnh cho Tướng Phú đưa toàn bộ Sư đoàn 23 về Ban Mê Thuột.

TT nói địa thế Pleiku là khu vực trống trải, bao gồm nhiều đồi thấp và trọc, có tầm quan sát rộng, địch không bao giờ dám đương đầu trên khoảng trống như vậỵ TT hứa sẽ cho thêm một Liên đoàn Biệt động quân để làm một lực lượng trừ bị. Tướng Phú đáp xin tuân lịnh.
Sau khi nghe thuyết trình, TT Thiệu không đi Kontum như đã dự định mà đến Ban Mê Thuột và Quảng Đức để thăm và ủy lạo các chiến sĩ.


5. Bất tuân thượng lịnh


Đại tá Trịnh Tiếu cho biết ngày 15/2/75, Tướng Phú đã mở một cuộc họp tại Quân đoàn 2 để kiểm điểm tình hình trong Quân khu 2, có Lãnh sự Mỹ ở Nha Trang lên tham dự. Đại tá Trịnh Tiếu đã trình bày thêm các tài liệu cho biết địch sẽ đánh Ban Mê Thuột, nhưng Tướng Phú cứ chần chờ, không chịu ra lịnh chuyển quân.

Trung tá Ngô Văn Xuân cho biết ngày 17/2/75, Tướng Phú mới triệu tập phiên họp để đặt kế hoạch chuyển quân về Ban Mê Thuột. Theo kế hoạch này, Bộ Tư lịnh Sư đoàn 23 sẽ di chuyển bằng đường bộ, khi qua khu đèo Tử Sĩ, Trung đoàn 45 sẽ đi theo tháp tùng. Trung đoàn 44 đợi một Liên đoàn Biệt động quân đến thay thế trong vòng 3 ngày và sẽ đi sau.

Trong bài “Tướng Phạm Văn Phú và Quân đoàn 2”, Đại tá Trịnh Tiếu ghi rằng ngày 1/3/75, Tướng Phú mới ra lịnh chuyển quân, sau khi hỏi lại nhiều người, chúng tôi được biết ngày chuyển quân là ngày 17/2/75 như Trung tá Ngô Văn Xuân ghi lại là đúng. 8 giờ sáng ngày 18/2/75, đoàn quân tập trung tại căn cứ Hàm Rồng để khởi hành, nhưng đến 11 giờ Tướng Phú ra lịnh hủy bỏ việc chuyển quân. Ông nói địch sẽ đánh Pleiku và địch chuyển quân quanh Ban Mê Thuột là đẻ nghi binh mà thôị Lệnh của Tướng Phú đã làm cả Quân đoàn 2 ngạc nhiên.

6. Những ngày địch chuẩn bị tấn công

Ngày 1/3/75, Sư đoàn 3 Sao Vàng chốt đèo Mang Yang trên quốc lộ 19 nối liền Pleiku với Qui Nhơn và gây áp lực mạnh ở Đông Pleikụ Điều này càng làm cho Tướng Phú tin hơn nữa rằng địch sẽ đánh Pleikụ Tướng Phú xin thêm viện binh để giữ mặt nàỵ Liên đoàn 44 Biệt động quân được gởi đến tăng viện Pleikụ Tướng Phú liền ra lịnh Thiết đoàn 2 Thiết giáp do Đại tá Ngyễn văn Đồng chỉ huy phối hợp với Liên đoàn này trấn giữ phía Đông Pleiku.

Năm 1989, khi gặp Đại tá Đồng ở Saigon, ông cho chúng tôi biết mặt trận này khá nặng, vì địch rất đông, ẩn nắp trong các hóc núi pháo kích ra dữ dội, nên mặc dù có lệnh phá chốt, Thiết đoàn 2 cũng không yểm trợ cho Liên đoàn 4 Biệt động quân thực hiện việc phá chốt được. Đại tá Nguyễn Văn Đồng cũng kể lại từng chi tiết việc ông chỉ huy đoàn quân tháo chạy trên liên tỉnh lộ 7 và sau đó ông bị bắt gần Củng Sơn (sẽ tường thuật vào một dịp khác). Cũng trong ngày 1/3/75, Sư đoàn 968 tấn công chiếm 2 đồn ở phía tây Thanh An và áp sát vào Quận Thanh An. Điều này càng làm cho Tướng Phú tin địch sẽ đánh Pleiku.

Ngày 2/3/75, Chi trưởng CIA ở Quân khu 2 tại Nha Trang đã lên Ban Mê Thuột báo cho Đại tá Nguyễn Trọng Luật phải đề phòng. Đại tá Luật thông báo cho Quân đoàn 2 thì ở đây cho biết đã nhận được công điện của CIA vào buổi sáng. Tướng Phú liền ra lịnh cho Trung đoàn 53 rút một tiểu đoàn đang hành quân tại Quảng Đức về phòng thủ Ban Mê Thuột và đưa một Liên đoàn Biệt động quân từ Kontum đến thay. Cũng trong ngaỳ này, tình báo của Cảnh Sát báo cáo phát hiện một đơn vị Cộng quân lảng vảng ở rừng cao su phía đông Ban Mê Thuột, gần quốc lộ 21.

Ngày 4/3/75, Sư đoàn 3 Sao Vàng cắt đứt quốc lộ 19 từ Qui Nhơn đến Pleiku, ở khúc Bình Khê và Suối Đôi 2 Trung đoàn 41 và 42 của Sư đoàn 22 VNCH được lệnh khai thông nhưng không tiến lên nổi.

Ngày 5/3/75, Trung đoàn 25 của Cộng quân chốt quốc lộ 21 ở đèo Chu Cúc ở giữa Khánh Dương và Quận Phước An, phía đông Ban Mê Thuột. Một đoàn xe quân sự của QLVNCH di chuyển qua đèo Chu Cúc đã bị Cộng quân phục kích và bắn cháy, các binh sĩ bị bắt.

Trưa 5/3/75, Sư đoàn 320 Cộng quân cho 1 tiểu đoàn chận đánh một đoàn quân xa của Trung đoàn 45 gồm 14 chiếc di chuyển trên quốc lộ 14, khúc phía bắc Quận Thuần Mẫn. Đoàn xe này có kéo theo một khẩu đại bác 105 lỵ Từ Tết đến hôm đó, việc di chuyển trên quốc lộ 14 từ Ban Mê Thuột đến Pleiku vẫn an toàn và hàng ngày có từ 60-80 xe quân sự lưu thông trên khoảng đường này. Được tin này, Tướng Phú ra lịnh cho Trung đoàn 53 đưa một tiểu đoàn hành quân lục lọi 2 bên quốc lộ 14 để tìm các dấu vết của Su đoàn 320 Cộng quân, nhưng không phát hiện được gì.
Ngày 7/3/74, Cộng quân chiếm cứ điểm Chư Xê phía bắc Buôn Hô và cắt đứt quốc lộ 14.

Sau đó, Cộng quân pháo kích vào Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 tại phi trường Cù Hanh ở Pleiku và mở những trận đánh lớn ở Bình Định để cầm chân Sư đoàn 22 và đánh lạc hướng. Tướng Phú đã lấy máy bay đi quan sát mặt trận Bình Định. Đại tá Trịnh Tiếu kể rằng sau khi thị sát các mặt trận Tam Quan, Bồng Sơn và đèo Mang Yang, Tướng Phú đưa ông và một sĩ quan khác về Nha Trang ăn cơm tối ở nhà ông. Tại đây, bà Phú đã lên tiếng khiển trách các sĩ quan Quân đoàn 2 trong việc cho oanh tạc cơ phá hủy đoàn xe của Sư đoàn 968. Theo bà, VC chỉ mượn đường của Quân đoàn 2 để đi vô Nam, nhưng vì Quân đoàn 2 đánh họ nên bây giờ họ đánh trả lại khắp nơi.

Tướng Phú ngồi im lặng và tỏ ra ngao ngán chán nản.
Đại tá Phùng Văn Quang có kể lại khi tin tình báo về việc địch tập trung xung quanh Ban Mê Thuột ngày càng dồn dập, Tướng Phú đã gọi ông vào và nói : “Anh quen thuộc địa hình Ban Mê Thuột, anh bay về đó xem tình hình ra sao”. Đại tá Phùng Văn Quang đã bay một vòng và phát hiện rất nhiều dấu vết xe tăng của địch đã chạy qua khu vực Buôn Hô, cách Ban Mê Thuột khoảng 30km. Ông cho trực thăng đáp xuống thì quân báo của địa phương cho ông biết các thợ rừng và dân chúng địa phương thông báo rằng họ thấy rất nhiều bộ đội VC đi qua vùng này.

Ngày 8/3/75, Sư đoàn 320 Cộng quân đánh chiếm Quận Thuần Mẫn. Tại đây chỉ có 1 tiểu đoàn Địa phương quân trấn đóng nên họ không cầm cự được lâu và đã bi thất thủ. Quốc lộ 14 bị cắt thêm ở khúc Quận Thuần Mẫn. Đêm 8/3/75, Sư đoàn F.10 Cộng quân bắt đầu tấn công Quận Đức Lập, Các căn cứ Núi lửa và 23 bảo vệ Đức Lập bị tràn ngập.

Khoảng 8 giờ sáng ngày 9/3/75, Tướng Phú và Bộ Tham mưu Quân đoàn 2 đã bay về Ban Mê Thuột họp với Chuẩn tướng Lê Trung Tường, Tư lệnh Sư đoàn 23, Đại tá Vũ Thế Quang, Tư lệnh phó sư đoàn, Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột, Đại tá Phạm Văn Nghìn, Tỉnh trưởng Quảng Đức và Trung tá Võ Ân, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 53. Theo dõi 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 45 đang chiến đấu với Sư đoàn F.10 Cộng quân, Tướng Phú cho rằng tình hình Đức Lập không thể cứu vãn được nên không tăng viện thêm.

Điều đáng ngạc nhiên là cho đến giờ phút đó, khi mọi tin tức quân báo và tình hình thực tế xác định dịch chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột, Tướng Phú vẫn cho rằng địch sẽ đánh Pleiku. Ông lặp lại nhận định của ông là Cộng quân chỉ bao vây Ban Mê Thuột để làm kế nghi binh rồi bất thần tấn công vào Pleiku. Nhưng do sự thúc đẩy của Bộ Tư lệnh Quân đoàn, Tướng Phú chỉ thị cho Đại tá Lê Khắc Lý, Tham mưu trưởng của Quân đoàn xin Bộ Tổng Tham mưu cho trực thăng chuyển Liên đoàn 21 Biệt động quân đang đóng tại Kontum, thả xuống Buôn Hô, cách thành phố Ban Mê Thuột 30km về phía Bắc, đề phòng khi địch tấn công vào Ban Mê Thuột, có thể tiến về cứu viện. Cuộc chuyên quân khởi sự từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều thì chấm dứt.

Thấy tình thế nguy ngập, Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột, đã lấy một chiếc máy bay cho vợ con ông và vợ con của một vài viên chức cao cấp trong tỉnh di tản về Saigon. Các giới chức trách nhiệm phòng thủ Ban Mê Thuột đều biết trong vòng 1,2 ngày tới địch sẽ tấn công Ban Mê Thuột, nhưng họ không làm gì được, vì Tướng Phú không chịu thay đổi ý kiến.

Lúc 11 giờ trưa, Tướng Phú đến thăm Tiểu khu Ban Mê Thuột và chỉ thị cho Đại tá Vũ Thế Quang và Đại tá Nguyễn Trọng Luật phối trí quân phòng thủ các vị trí quan trọng và các kho tiếp liệụ 5 giờ chiều ông bay về Pleiku.

Mặc dù đã có chỉ thị của Tướng Phú, Đại tá Vũ Thế Quang không biết lấy đâu ra quân để phòng thủ. Trong thị xã và vòng đai thành phố lúc đó chỉ còn 2 Tiểu đoàn của Trung đoàn 45, một giữ ở ngã ba Dak Sak và một đóng ở căn cứ B.50 ở gần phi trường Phụng Dực, cùng với 2 chi đội thiết giáp và một đại đội pháo binh. Số còn lại là 2 Tiểu đoàn Địa phương quân và Nghĩa quân phân tán mỏng để bảo vệ các kho trong thành phố. Cảnh sát Dã chiến được phân chia bố trí ở các cao ốc. Tướng Phú hứa sẽ cho thêm một chi đoàn thiết giáp và cho phép rút 2 Tiểu đoàn Địa phương quân ở bản Đôn về bảo vệ thị xã. Tối 9/3/75, Quận Đức Lập bị thất thủ. Sư đoàn F.10 Cộng quân đã làm chủ tình hình về phía tây nam Ban Mê Thuột và đang tiến về thành phố. Vòng vây Ban Mê Thuột bắt đầu xiết chặt.

7. Cuộc tấn công mở màn

Khoảng 2 giờ sáng ngày 10/3/75, Cộng quân bắt đầu tấn công vào thành phố. Cộng quân mở đường bằng xe tăng và trọng pháo đủ loạị Mọi phía đều có dịch. Trung đoàn 174 CS theo quốc lộ 14 từ hướng Đức Lập tiến vào trước tiên, sau đó Trung đoàn 149 CS đánh từ phía Nam lên, Trung đoàn 95-B CS từ ngả Buôn Hô xuống, còn Trung đoàn 148 từ ngả Bản Đôn vào.

Đại tá Phùng Văn Quang kể lại rằng khi nghe tin địch tấn công vào Ban Mê Thuột, ông đã điện đàm với Tướng Phú để xin chỉ thị. Ông cho biết các binh sĩ của ông rất nóng lòng, muốn được đi giải cứu Ban Mê Thuột, vì vợ con họ đang ở tại dó. Nhưng Tướng Phú đã trả lời với ông rằng nếu đem quân đi cứu Ban Mê Thuột, Cộng quân sẽ tấn công Pleiku.

Khi tiến công vào thành phố, địch nhắm vào hậu cứ Sư đoàn 23, Tiểu khu, kho Mai Hắc Đế và căn cứ B.50. Đến 8 giờ sáng, địch dùng chiến xa T.54 đánh chiếm kho Mai Hắc Đế của Bộ Chỉ huy 5 Tiếp vận. Đại tá Quang chỉ thị Đại tá Luật điều động 2 đại đội và 4 xe M.113 ra chốt ở Ngã Sáu để chận địch. Các oanh tạc cơ được phái đến yểm trợ. 11 giờ địch tấn công Bộ Chỉ huy Tiểu khụ Đại tá Luật trao quyền lại cho Tiểu khu phó và chạy qua Bộ Tư lịnh Sư đoàn 23. 3 giờ chiều, Đại tá Quang không còn bắt liên lạc được với Tiểu khụ Khoảng 5 giờ, Đại tá Quang bắt liên lạc được với Liên đoàn 21 Biệt động quân đang ở phía Buôn Hô tiến vào thành phố. Ông liền ra lịnh cho Trung tá Lê Quý Dậu cho Tiểu đoàn 72 chiếm lại Tiểu khu và Tiểu đoàn 96 yểm trợ lấy lại kho Mai Hắc Đế. Suốt đêm mồng 10, Địa phương quân, Nghĩa quân và Cảnh sát Dã chiến quần thảo với địch trong thành phố để tranh từng tấc đất.. Địch không nắm vững địa hình nên không tiến nhanh được.

7 giờ sáng ngày 11/3/75, Cộng quân tấn công vào Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23, nhưng lực lượng phòng thủ vẫn còn cầm cự được. Đến 10 giờ, một phi đội Ạ37 trợ chiến đã thả bom lạc, trúng một góc hầm Bộ Tư lệnh, hệ thống truyền tin bị hỏng, không còn liên lạc được với các đơn vị chung quanh nữạ, cả Đại tá Quang lẫn Đại tá Luật bỏ Bộ Tư lịnh, luồn qua lưng chùa Khải Hoàn để chạy qua căn cứ B.50, nhưng bị bắn dữ quá, phải tạt vào rừng cao su và bị bắt sau đó.

Chỉ có căn cứ B.50 ở gần phi trường Phụng Dực là cầm cự được lâu dài nhất. Đây là một căn cứ có chu vi trên 1 km, trước đây là 1 trại Lực lượng Đặc biệt của Mỹ nên công sự được xây cất rất kiên cố, có tất cả 11 hầm đủ sức chịu đựng được đạn 130 ly, xung quanh có xếp bao cát cao làm thành những ụ chiến đấu cá nhân. Ở xa xa là một vòng đai hàng rào kẽm gai nhiều lớp bao bọc. Căn cứ này được dùng làm hậu cứ của Trung đoàn 53. Nhờ các công sự vững chắc, Trung tá Võ Ân đã chỉ huy chỉ có 1 tiểu đoàn chống lại rất anh dũng các đợt tấn công bằng xe tăng và đại pháo của địch. Cuộc cầm cự kéo dài đến ngày 18/3/75 thì phải mở đường máu chạy thoát về hướng Lạc Thiện, sau khi có lệnh rút khỏi Cao nguyên.

Tướng Phú và Bộ Tham mưu đã lên máy bay đi tìm và bắt được liên lạc, nhưng số tàn quân ở cạnh Trung tá Ân lúc đó chỉ còn 20 binh sĩ mà thôị Đây là đơn vị chiến đấu anh dũng nhất trong trận Ban Mê Thuột và đã làm Cộng quan phải điên đầu.

Mãi đến sáng ngày 12/3/75, khi TT Thiệu trực tiếp ra lịnh cho Tướng Phú phải đem 2 Trung đoàn của Sư đoàn 23 về giải cứu Ban Mê Thuột, Tướng Phú mới tuân lệnh hành quân. Việc nhà trước, việc nước sau
Khi Cộng quân khởi đầu tấn công Ban Mê Thuột, Đại tá Vũ Thế Quang, Tư lịnh phó Sư đoàn 23 liền điện đàm mgay với Chuẩn tướng Lê Trung Tường để xin viện binh. Tướng Tường trả lời rằng không thể có viện binh vì Tướng Phú còn tập trung quân để đối phó tại Pleiku Tướng Phú chỉ ra lịnh cho Liên đoàn 21 Biệt động quân do Trung tá Lê Quý Dậu chỉ huy, từ Buôn Hô tiến vào thành phố thôi. Liên đoàn 21 đã vào được thành phố và lập được một số chiến công, nhưng khi cuộc giao chiến đang tiếp tục thì đùng một cái, Chuẩn tướng Lê Trung Tường ra lệnh cho Trung tá Dậu điều động Liên đoàn 21 phối hợp với Địa phương quân còn lại rút về vây quanh sân bay L.19 trong thành phố để ông phái trực thăng đến đón 21 người trong gia đình của ông đang kẹt tại sân bay này.

Mặc dù có sự yểm trợ của cả Địa phương quân lẫn Liên đoàn 21 Biệt động quân, trực thăng của Tướng Tường phái đến cũng không đáp xuống được vì địch pháo kích dữ quá. Cuối cùng Chuẩn tướng Tường đã ra lịnh lấy một chiếc Thiết vận xa M.113 chở toàn bộ gia đình của ông tới Trung tâm Huấn luyện cách thị xã 3km để trực thăng đến đón. Khi trực thăng bốc được gia đình Chuẩn tướng Tường đi rồi thì địch đã chiếm gần như toàn bộ thành phố Ban Mê Thuột.

Liên đoàn 21 tiến về sân bay Phụng Dực để phối hợp tác chiến với 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 45 ở căn cứ B.50 thì bị chận đánh phải lui ra khỏi vòng đai thành phố và bị vây ở Đạt Lý. Đại tá Trịnh Tiếu nói rằng Tướng Phú biết những chuyện Tướng Tường đã làm nói trên, nhưng ông nói ông thông cảm với Tướng Tường, giống như trường hợp của ông tại Huế trong trận Tết Mậu Thân.

9. Kế hoạch tái chiếm Ban Mê Thuột


Ngày 12/3/75, sau khi có lệnh trực tiếp của TT Thiệu phải tái chiếm lại Ban Mê Thuột, một cuộc họp đã được tổ chức tại Bộ Tư lịnh Quân đoàn để hoạch định kế hoạch tái chiếm. Theo kế hoạch này, Trung đoàn 45 được bốc ngay trong ngày 12/3/75 từ đèo Tử Sĩ đổ xuống Phước An, phía Đông Ban Mê Thuột. Trung đoàn này sẽ lần theo quốc lộ 21 tiến về Ban Mê Thuột cho đến khi chạm địch thì ngưng lại và chờ lệnh. Liên đoàn 7 Biệt động quân sẽ được chuyển từ Saigon ra thay Trung đoàn 44 ở căn cứ 801. Sau khi bàn giao, Trung đoàn 44 di chuyển đến căn cứ Hàm Rồng đợi máy bay đến bốc thả xuống Phước An tiếp theo.

Việc chuyển quân của Trung đoàn 45 không có gì trở ngại, nhưng Đại tá Phùng Văn Quang nói với chúng tôi rằng khi từ Phước An tiến về Ban Mê Thuột thì một số binh sĩ của ông đã bỏ ngũ đi tìm gia đình của họ ở Ban Mê Thuột.

Ngày 13/3/75, 50 chiếc trực thăng đủ loại đã đến đưa Trung đoàn 44 tới Phước An, nhưng chỉ mới di chuyển được Tiểu đoàn 3, Đại đội Trinh sát và Bộ Chỉ huy của Trung đoàn thì có lệnh ngưng lạị Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 bị bỏ lại ở Hàm Rồng.

Lực lượng của 2 Trung đoàn 44 và 45 khi tiến về thành phố thì bị chận lại ở vòng đai thành phố. Ở phía sau, Trung đoàn 25 của Cộng quân từ Chư Cúc đánh lên chi khu Phước An, nơi đặt Bộ Chỉ huy Hành quân của Sư đoàn 23.

Ngày 14/3/75, trong chuyến bay từ Khánh Dương đến Phước An, máy bay của Tướng Lê Trung Tường bị bắn, ông chỉ bị xây xát đôi chút, nhưng ông lấy cớ này xin từ chức Tư lệnh Sư đoàn 23. Ngày 15/3/75, Tương Phú cử Đại tá Lê Hữu Đức đến thay thế.

Ngày 16/3/75, lực lượng còn lại của Sư đoàn 23 được lệnh tập trung về Phước An và được trực thăng bốc về Nha Trang vì đã có lệnh của TT Thiệu rút khỏi Cao Nguyên.

Một số sĩ quan cao cấp trong Bộ Tư Lịnh Quân đoàn 2 kể lại rằng trong suốt thời gian chưa bốc được gia đình ra khỏi Ban Mê Thuột, Chuẩn tướng Lê Trung Tường không màng gì tới các đơn vị thuộc quyền cũng như tình hình mặt trận. Các đơn vị thuộc Sư đoàn 23 giống như rắn không đầu, không biết phải làm gì nữa. Mãi cho đến khi mang được gia đình tới nơi bình yên, Chuẩn tướng Tường mới lo việc hành quân.


10. Một người đàn bà

Tôi gặp Đại tá Trịnh Tiếu đầu tiên ở trại Thanh Cẩm. Ông cho biết khi được báo cáo Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Ban Mê Thuột bị bắt, Tướng Phú liền chỉ định ông làm Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột thay thế Đại tá Luật. Trong bài “Tướng Phạm Văn Phú và Quân đoàn 2”, ông cũng viết tương tự : “Ngày hôm sau, 12/3/75, Tướng Phú gọi tôi và nói :”Tôi đã trình với TT bổ nhiệm anh làm Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột. Ngày mai, 13/2/75, anh xuống Phước An cùng đoàn quân của Sư đoàn 23 và phối trí tại đó, 2 ngày sau sẽ có Sư đoàn Dù tăng cường tái chiếm Ban Mê Thuột”. Tôi đứng nghiêm nhận lệnh và thi hành”.

Năm 1983, khi được chuyển vào trại giam Xuân Lộc, chúng tôi được gặp Đại tá Phạm Duy khang, Trưởng phòng 3 của Quân khu 2 nên biết thêm 1 chi tiết khác khá quan trọng torng việc chỉ định chức vụ Tỉnh trưởng nàỵ Đại tá Khang là môt người nhỏ bé nhưng rất nhanh nhẹn, cương trực và có những nhận thức về tình hình rất sâu sắc, nên chúng tôi thường hỏi han và bàn luận với ông. Sau nhiều lần nói chuyện về Ban Mê Thuột bị thất thủ, ông tiết lộ với chúng tôi rằng chính ông mới là người đầu tiên được Tướng Phú cử làm Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột thay thế Đại tá Luật bị bắt. Sau khi được thả xuống Phước An để cùng chỉ huy đoàn quân tiến về tái chiếm Ban Mê Thuột thì Thiếu tá Phạm Huấn, một “sứ giả” của bà Tướng Phú được trực thăng chở đến gặp ông. Phạm Huấn đã thông báo cho ông hay theo lệnh của bà Phú, nếu muốn được làm Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột ông phải cam kết sau này khi tái thiết lại Ban Mê Thuột, sẽ chi cho bà Phú 20% số tiền tái thiết. Đại tá Khang nói ông đã trả lời Phạm Huấn rằng hiện mặt trận đang dầu sôi lửa bỏng, ngay mạng sống của ông cũng không biết ra sao, trách nhiệm của ông bây giờ là giải tỏa Ban Mê Thuột, ông không muốn bàn tới chuyện tiền bạc đó.

Đại tá Khang cho biết tiếp, sau khi Phạm Huấn lên trực thăng bay về Nha Trang vài tiếng đồng hồ thì Chuẩn tướng Lê Trung Tường nhận được công điện khẩn của Tướng Phú cử Đại tá Trịnh Tiếu làm Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột thay thế Đại tá Khang. Tướng Tường đã hỏi Đại tá Khang :”Có đến 2 công điện cử 2 người khác nhau làm Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột, tôi biết theo công điện nào?” Đại tá Khang liền trả lời :”Công điện sau có hiệu lực hủy công điện trước. Tôi sẽ bàn giao ngay cho Đại tá Trịnh Tiếu”.
Vì lúc đó Đại tá Trịnh Tiếu đang ở cùng chung một trại nên tôi đi gặp Đại Tá Trịnh Tiếu ngay và nói với ông về những việc Đại tá Khang đã kể. Đại tá Tiếu xác nhận: ”Câu chuyện thay ngựa giữa đường do Đại tá Khang kể là hoàn toàn sự thật”. Đại tá Khang đã đến dịnh cư tại Hoa Kỳ và đang hiện ở Bắc Cali.
Trong bài “Thiếu tướng Phạm Văn Phú và Quân doàn 2”, sau khi kể lại chuyện bà Tướng Phú khiển trách việc Quân đoàn đánh cháy đoàn xe của Sư đoàn 968 CS như chúng tôi đã tường thuật ở trên, Đại tá Trịnh Tiếu Viết :”Tướng Phú làm Tư lịnh Quân đoàn 2 chỉ mới 4 tháng, nhiều sĩ quan tình báo trước đây có khả năng nên được Tướng Toàn tin tưởng bổ nhiệm làm Quận trưởng các quận có nhiều VC, đều báo với tôi rằng bà Phú thường cho người đến “thu hụi”, số tiền nhiều ít tùy theo quận giàu hay nghèo”.


Những sự kiện trên giải thích tại sao Phạm Huấn đã không viết trung thực những chuyện Tướng Phú đã làm ở Cao nguyên.

11. Chọn con đường chết

Địch đã chiếm dược Ban Mê Thuột vì sự nhận định sai lầm và thái độ cố chấp của Tướng Phạm Văn Phú. Theo ý kiến của đa số các Đại tá ở Quân đoàn 2, Tướng Phú chỉ có khả năng làm tới Tư lịnh Sư đoàn, còn Tướng Tường chỉ có thể làm Trung đoàn trưởng mà thôi. Đưa các ông ấy lên chức vụ cao quá đã gây tai họa. Nếu QLVNCH không thất trận ngày 30/4/75, cả 2 Tướng này đã bị đưa ra Tòa Án Quân Sự Mặt Trận.
Trước khi kết thúc bài “Thiếu tướng Phạm Văn Phú và Quân đoàn 2”, Đại tá Trịnh Tiếu có nhận xét về Tướng Phú như sau: “Tướng Nguyễn văn Toàn đã thành công tại Quân đoàn 2 vì biết nghe lời khuyên của Đại tướng Cao Văn Viên, khôn khéo hợp tác chặt chẽ với John Paul Vann trong kế hoạch bảo vệ Kontum.

Tướng Phạm Văn Phú làm Tư lịnh Quân đoàn 2 không có cố vấn Hoa Kỳ nữạ Ông chỉ làm việc với vài người thân tín của ông. Ông không tin tưởng vào Bộ Tổng Tham mưu Quân đoàn. Ông không thi hành lệnh TT Thiệu đưa Sư đoàn 23 về giữ Ban Mê Thuột. Đến khi Ban Mê Thuột bị mất, ông rơi vào “mê hồn trận”. Sau đó, ông lại thi hành một cách mù quáng lệnh bỏ Kontum, Pleiku và đưa đoàn quân vào tử lộ một cách đau thương. Hàng chục ngàn quân đã bỏ xác một cách oan uổng trên liên tỉnh lộ 7”.
________________________________________
Lữ Giang

NPH2019_698: Điện Biên Phủ Trên Không 18/12/1971 – P2

https://thienhasu2018.com/2019/12/16/chien-dich-linebacker-ii-2/

Hồn thiêng sông núi đã mang lại chiến thắng cho chính nghĩa để non sông gom về một mối, thống nhất và đẩy lùi chiến tranh vào dĩ vãng. Nhân ngày 18/12/2019 ban chủ trương thắp 1 nén hương tưởng niệm các thường dân vô tội đã nhận món quà Giáng Sinh bất đắc dĩ và các chiến sĩ đã Vị Quốc Vong Thân yên nghỉ trong lòng đất Mẹ. CNTT, bom đạn, tiền bạc không thắng được ý chí và lòng yêu nước.
Vui lòng bấm “Đăng Ký” (màu đỏ góc phải bên dưới) để nhận thông báo video mới nhất của kênh
https://www.youtube.com/KBCHNTV/
https://youtube.com/thacmac52
https://facebook.com/bac.ha.9655
Email: bacha52@gmail.com
ĐT: (+00) 1-714-469-3202
VN 0327941647

Chiến Dịch Điện Biên Phủ – Battle Of Dien Bien Phu 1954

Chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương, chiến tranh Việt Nam - Lính Pháp đào chiến hào phòng thủ trong chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương - Battle of Dien Bien Phu in Indochina war
Chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương, chiến tranh Việt Nam – Lính Pháp đào chiến hào phòng thủ trong chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương – Battle of Dien Bien Phu in Indochina war

Chiến dịch Điện Biên Phủ – Battle of Dien Bien Phu 1954 là trận đánh cuối cùng , quyết định giữa Việt Minh và quân đội Pháp ở Việt Nam trong chiến tranh Đông Dương

Trận đánh Điện Biên Phủ diễn ra ở lòng chảo Mường Thanh, Điện Biên giữa quân Giải Phóng Việt Nam (Việt Minh) và lực lượng liên hiệp Pháp. Vào năm 1953, quân Pháp đã sa lầy vào cuộc chiến Đông Dương và không còn sức lực để hỗ trợ tài chính hay chi viện quân sự cho cuộc chiến này và phải nhờ đến Mỹ. năm 1954, 80% chiến phí của Pháp ở Đông Dương là do Hoa Kỳ chi trả. Tới năm 1953, viện trợ Mỹ cả kinh tế và quân sự đã lên tới 2,7 tỷ trong đó viện trợ quân sự là 1,7 tỷ đôla, năm 1954 Mỹ viện trợ thêm 1,3 tỷ đô la nữa. Tổng cộng Mỹ đã cung cấp cho Pháp trên 40 vạn tấn vũ khí, gồm 360 máy bay, 347 tàu thuyền các loại, 1.400 xe tăng và xe bọc thép, 16.000 xe vận tải, 17,5 vạn súng cá nhân.

Lính dù Pháp thuộc Tiểu đoàn 6 Dù thuộc địa ở cứ điểm Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương - 6e BPC in Battle of Dien Bien Phu in Indochina war
Lính dù Pháp thuộc Tiểu đoàn 6 Dù thuộc địa ở cứ điểm Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương – 6e BPC in Battle of Dien Bien Phu in Indochina war

Chính phủ Pháp muốn tìm một giải pháp hòa bình có thể chấp nhận được để chấm dứt cuộc chiến nhưng mặt khác, họ muốn duy trì quyền lợi của mình tại Đông Dương và đã bổ nhiệm tổng chỉ huy Henri Navarre sang Đông Dương để điều hành cuộc chiến ở Việt Nam

Nhằm đề phòng quân Việt Minh đánh sang Thượng Lào, quân đội Pháp đã thiết lập tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ cách Hà Nội 300km về phía Tây với ý định án ngữ hướng Tây Bắc, dụ quân Việt Minh đến đó để tiêu diệt. Chiến thuật này dựa trên chiến thuật con Nhím đã thành công ở trận Nà Sản trước đó

Ngày 20 tháng 11 năm 1953, máy bay Douglas C-47 đã thả 3.000 lính Dù xuống Điện Biên Phủ . Sau đó, lính Pháp cấp tốc sửa chữa lại sân bay dã chiến ở đây và tiếp tục tăng viện quân sĩ, pháo binh, … cùng các dụng cụ để xây dựng cứ điểm

Sân bay Mường Thanh trong chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương - Muong Thanh Airport in Battle of Dien Bien Phu in Indochina war
Sân bay Mường Thanh trong chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương – Muong Thanh Airport in Battle of Dien Bien Phu in Indochina war

Ngày 3 tháng 12 năm 1953, Pháp đã trao quyền chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ cho đại tá Christian de Castries. Đến cuối tháng 12, cứ điểm Điện Biên Phủ đã hình thành và Pháp quyết dùng Điện Biên Phủ để dẫn dụ quân Việt Minh đến đây để tiêu diệt.

Khi đó, cứ điểm Điện Biên Phủ là một chuỗi những căn cứ quân sự được lập trên những quả đồi cao, các cứ điểm này đều có chiến hào phòng thủ, bên ngoài có hàng rào thép gai canh phòng cẩn mật. Các cứ điểm này bao bọc sân bay ở giữa và được 12 tiểu đoàn và 7 đại đội quân Pháp trấn giữ. Jean Pouget sĩ quan tùy tùng của Tổng chỉ huy Navarre, viết: “…có thể khẳng định là không một ai trong số hơn 50 chính khách, các tướng lĩnh đã tới thăm Điện Biên Phủ, phát hiện được cái thế thua đã phơi bày sẵn…”. Tướng Navarre viết: “Theo ông de Chevigné vừa ở đó về 2-3 “thật là bất khả xâm phạm. Vả lại, họ không dám tiến công đâu.”. Tướng Cogny thì tin tưởng: “Chúng ta đến đây là buộc Việt Minh phải giao chiến, không nên làm gì thêm để họ phải sợ mà lảng đi”

Lính Pháp nhảy dù lập căn cứ Điện Biên Phủ trước chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương - Battle of Dien Bien Phu in Indochina war
Lính Pháp nhảy dù lập căn cứ Điện Biên Phủ trước chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương – Battle of Dien Bien Phu in Indochina war

Cứ điểm Điện Biên Phủ được chia làm 3 cụm chính :

  • Cụm phía Bắc :  Him Lam – Béatrice, Độc Lập – Gabrielle, Bản Kéo – Anne Marie 1, 2
  • Cụm trung tâm : Dominique, Eliane, sân bay Mường Thanh, Huguette, Claudine 
  • Cụm phía nam :  Isabella và sân bay nhỏ Hồng Cúm
Bản đồ 3D căn cứ Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương - Battle of Dien Bien Phu 3D Map in Indochina war
Bản đồ 3D căn cứ Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương – Battle of Dien Bien Phu 3D Map in Indochina war

Căn cứ được yểm trợ hỏa lực của 24 khẩu pháo 105mm , 4 khẩu 155mm, 20 khẩu cối 120mm dưới quyền của trung tá Charles Piroth. Lực lượng thiết giáp gồm 10 chiếc M24 Chaffee dưới quyền đại úy Yves Hervouët. Hệ thống phòng thủ gồm 10 trung tâm đề kháng với 49 cứ điểm. Các cứ điểm đều có chiến hào, bên ngoài là các lớp dây thép gai, bãi mìn, .. và được yểm trợ bởi lực lượng không quân gồm các máy bay ném bom B-26 Invader, máy bay yểm trợ  F6F Hellcat, F8F Bearcat và F4U Corsair. Tất cả đặt dưới quyền chỉ huy của chỉ huy tập đoàn cứ điểm là Đại tá Christian de Castries. 

Bản đồ chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương - Battle of Dien Bien Phu map in Indochina war
Bản đồ chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương – Battle of Dien Bien Phu map in Indochina war

Về phía Quân Giải Phóng, họ đã chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ từ lâu. Tuy nhiên vẫn gặp 1 số bất lợi như tuy đông hơn về quân số nhưng lại kém hơn về trang bị, hỏa lực. Ngoài ra, nếu chiến dịch Điện Biên Phủ kéo dài sẽ bất lợi về mặt tiếp vận lương thực, vũ khí. Bên cạnh đó, khi tấn công cứ điểm, cần phải vượt qua những lớp hàng rào kẽm gai, bãi mìn, .. từ đó sẽ phải phơi mình trước những họng súng quân Pháp. Đường lên hướng Tây Bắc đầy dốc và núi, rất khó vận chuyển pháo lớn lên đó . Chưa kể kéo pháo và tải lương thực cần huy động lực lượng người lớn, sẽ phải tốn thêm lương thực để nuôi đội quân vận chuyển và sẽ dễ bị máy bay Pháp phát hiện và tấn công. Pháp tính toán Việt Minh không thể mang pháo cỡ lớn từ 105mm trở lên mà chỉ có thể mang súng cối 60mm, 82mm, .. vào trận địa, nhưng súng cối chỉ là phương tiện phòng thủ, không thích hợp tấn công và súng cối không thể phá hủy nổi những công sự ngầm vững chắc của Pháp và khi súng cối bắn sẽ dễ bị Pháp phát hiện và ném bom hoặc phản pháo tiêu diệt

Lính Pháp đào chiến hào phòng thủ trong chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương - Battle of Dien Bien Phu in Indochina war
Lính Pháp đào chiến hào phòng thủ trong chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương – Battle of Dien Bien Phu in Indochina war

Pháp không ngờ rằng, Việt Minh lại có thể mang pháo lớn vào trận địa để phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, bằng nghị lực phi thường , Việt Minh đã kéo pháo lớn 105mm và 130mm vào trận địa và đặt lên những ngọn đồi và trông xuống khu căn cứ Điện Biên Phủ ở lòng chảo. Trong suốt chiến dịch Điện Biên Phủ, Việt Minh đã huy động hàng chục nghìn người dùng xe đạp để vận chuyển lương thực, vũ khí, … Nga và Trung Quốc cũng đã cung cấp hàng nghìn xe tải các loại. Tất cả được nhiều súng máy và pháo 37mm bắn yểm trợ ngày đêm chống lại máy bay Pháp.

Ngày 14 tháng 1 năm 1954 tại hang Thẩm Púa, tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ đã họp và phổ biến lệnh tác chiến bí mật với phương án “đánh nhanh thắng nhanh”. Chủ tịch Hồ Chủ tịch đã trao cho mỗi đại đoàn, mỗi quân khu một lá cờ “Quyết chiến Quyết thắng” làm giải thưởng

Chiều 17h05 ngày 14 tháng 3, chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu khi Việt Minh dùng 40 khẩu pháo các loại đồng loạt pháo kích dữ dội khu phân khu Him Lam (Béatrice) và Mường Thanh giết chết thiếu tá chỉ Paul Pégot là chỉ huy trưởng Him Lam cùng với ba sĩ quan khác và cả chiếc điện đài. Him Lam mất liên lạc với Phân khu trung tâm Mường Thanh. Đại đoàn 312 tấn công Him Lam đến 23h30 thì chiếm được căn cứ

Ngày 14 , Pháp tăng viện cho Điện Biên Phủ bằng cách cho máy bay C-47 Dakota chở tiểu đoàn 5e BPVN do Đại úy André Botella chỉ huy thả xuống sân bay căn cứ, lúc này, pháo phòng không của Việt Minh bắt đầu khống chế bầu trời khiến các máy bay không thể đáp xuống mà chỉ có thể bay sà gần mặt đất rồi bung dù.

3h30 ngày 15, Việt Minh lại tấn công đồi Độc Lập (Pháp gọi là Gabrielle), đến 6h30, đồi bị chiếm, cả chỉ huy trưởng là là trung tá Mecquenem và chỉ huy phó là Thiếu tá Edouard Kah đều bị thương và bị bắt làm tù binh. 8h sáng,  trung tá Charles Piroth – chỉ huy lực lượng pháo binh đã tự sát do thất bại trong việc áp chế pháo binh Việt Minh.

Cao xạ phòng không của Quân Giải Phóng Việt Nam - Việt Minh trong chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương - Viet Minh Anti Aircarft gun in Battle of Dien Bien Phu in Indochina war
Cao xạ phòng không của Quân Giải Phóng Việt Nam – Việt Minh trong chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương – Viet Minh Anti Aircarft gun in Battle of Dien Bien Phu in Indochina war

Sáng ngày 17, đồn Bản Kéo (Anne-Marie) bị Trung đoàn 36 Việt Minh tấn công và thất thủ

Đến ngày 23 tháng 3, pháo phòng không của Việt Minh đã hoàn toàn khống chế sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm khiến máy bay không còn có thể đáp xuống để chuyển tiếp tế vũ khí, lương thực, … hay tản thương mà chỉ có thể thả dù từ trên không. Các thương binh Pháp bắt đầu đông dần và chiếm đầy những hầm thương binh. Tình hình đã trở nên vô cùng tồi tệ

Tổng kết chiến dịch Điện Biên Phủ đợt 1 , Pháp đã mất toàn bộ cụm cứ điểm phía Bắc và 2 tiểu đoàn tinh nhuệ, 1 tiểu đoàn và 3 đại đội quân Quốc gia Việt Nam, 11 khẩu cối 120mm bị phá hủy, 4 khẩu pháo 105mm, 155mm bị hỏng linh kiện

Đợt 2 chiến dịch Điện Biên Phủ tấn công vào khu trung tâm căn cứ. Khu vực này bao gồm hơn ba mươi cứ điểm và được chia thành 4 trung tâm đề kháng mang tên những cô gái: Huguette, Claudine, Eliane, Dominique. Mỗi trung tâm đề kháng gồm nhiều cứ điểm. Lúc này Pháp cử thiếu tá Marcel Bigeard làm chỉ huy các lực lượng phản công. Đây là viên thiếu tá nhiều kinh nghiệm và có uy tín cao trong quân đội Pháp.CÁC BÀI KHÁC

Máy bay gunship AC-130 Spectre – bóng ma trên đường…Nov 30, 2019 114

Máy bay Gunship AC-130, AC-119, AC-47 bóng ma trong chiến…Nov 30, 2019 137

Máy bay Gunship AC-47 Spooky PuffNov 29, 2019 98

Bản đồ phân khu Trung Tâm trong chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương - Battle of Dien Bien Phu map in Indochina war
Bản đồ phân khu Trung Tâm trong chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương – Battle of Dien Bien Phu map in Indochina war

18h30 ngày 30 tháng 3, Việt Minh nổ súng tấn công phân khu trung tâm, sau 45 phút, Trung đoàn 98 đã chiếm được đồi C1 (Eliane 1). Đồi C2 (Eliane 4) cũng bị tấn công, nhưng đến 23h, Pháp vẫn giữ được đồi và đánh bật nhiều đợt tấn công của Việt Minh

Trung đoàn 209 tấn công đồi D1 (Dominique 2) và chiếm được đồi sau 2 giờ tấn công, chỉ huy đồi là đại úy Garandeau bị pháo bắn sập hầm và tử trận. Đồi E (Dominique 1) cũng bị trung đoàn 141 tấn công và mất lúc 19h45. Sư đoàn 312 tấn công đồi Dominique 3 lúc này trở thành tiền đồn, trung đoàn pháo binh thuộc địa số 4 của Pháp đã dùng pháo 105mm bắn thẳng vào đội hình quân Giải Phóng, những toán lính Pháp phòng thủ sân bay cũng phản công dữ dội khiến sư đoàn 312 thiệt hại nặng phải rút lui

Đồi A1 (Eliane 2) được phòng ngự rất kỹ khiến Việt Minh tổn thất rất nhiều, đồi bị chiếm đi chiếm lại nhiều lần. Thiếu tá Bigeard – chỉ huy trưởng lực lượng phản công liên tiếp tổ chức nhiều cuộc phản kích được sự yểm trợ của xe tăng đã giành lại được nửa ngọn đồi A1 (Eliane 2) và đã chiếm lại được đồi C1 (Eliane 1), D1 (Dominique 2). Lúc này xe tăng M24 Chaffee của Pháp đã tỏ ra lợi hại do có hỏa lực mạnh, yểm trợ các đợt xung phong của lính Pháp rất tốt, tuy nhiên số lượng lại quá ít. Pháp chỉ đem được 10 chiếc lên Điện Biên Phủ và đây cũng là nổ lực rất lớn do Pháp không có máy bay đủ sức mang được xe tăng và sân bay Mường Thanh không đủ dài để máy bay vận tải hạng nặng sử dụng. Pháp đã tháo xe tăng M24 Chaffee ra thành nhiều bộ phận và mang đến Điện Biên Phủ để ráp lại. Việc lắp ráp cũng đòi hỏi những chuyên viên nhiều kỹ thuật.

Xe tăng M24 Chaffee của chiến xa trưởng Conti phản công đồi A1 trong chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương - Battle of Dien Bien Phu in Indochina war
Xe tăng M24 Chaffee của chiến xa trưởng Conti phản công đồi A1 trong chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương – Battle of Dien Bien Phu in Indochina war

Đến ngày 31 tháng 3, quân Giải Phóng phản công, Lính Pháp đã quá kiệt sức và không được chi viện nên không giữ lại được đồi C1 (Eliane 1), D1 (Dominique 2). 10 giờ tối, Chỉ huy trưởng Phân khu Trung tâm Langlais gọi điện thoại cho Bigeard, hỏi có thể giữ được những gì còn lại trong đêm nay không! Bigeard trả lời: “Thưa Đại tá, chừng nào còn một người sống sót, tôi sẽ không bỏ Eliane 2(A1). Nếu không thì căn cứ Điện Biên Phủ sẽ bị mất”. Đồi A1 đã trở thành “thành luỹ cuối cùng” (dernier rempart) của tập đoàn cứ điểm của lính Pháp trong chiến dịch Điện Biên Phủ

Để chống lại những công sự kiên cố của Pháp, Việt Minh đã thay đổi chiến chiến thuật từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang chiến thuật “Đánh chắc tiến chắc” và bắt đầu đào chiến hào. Những tuyến chiến hào dài khoảng hơn 100 km và việc đào công sự được thực hiện liên tục thường xuyên. Đường hào này đều có chiều sâu 1,7 mét và không quá rộng để bảo đảm an toàn trước bom đạn địch, giữ bí mật cho bộ đội khi di chuyển. Đáy của đường hào bộ binh rộng 0,5 mét, đáy hào trục rộng 1,2 mét và được bố trí hố phòng pháo, hầm trú ẩn, chiến hào và ụ súng để đối phó với những cuộc tiến công của Pháp. Các chiến hào này giúp hạn chế thương vong vì pháo binh và không quân và vào sát được vị trí của quân đối phương, làm bàn đạp tấn công rất thuận lợi. Quân Pháp đã nhận ra sự lợi hại của chiến hào Việt Minh và tổ chức dò tìm, phá hủy chiến hào nhưng kết quả thu được không khả quan do máy bay ném bom phải bay cao để tránh lưới phòng không nên ném bom không chính xác. Pháo binh không đủ đạn để bắn nên Pháp phải tổ chức phá đường hầm bằng bộ binh. QĐNDVN vây lấn đào hào cắt ngang cả sân bay, đào hào đến tận chân lô cốt cố thủ, khu vực kiểm soát của quân Pháp bị thu hẹp đến mức không thể hẹp hơn.

Thiếu tá Marcel Bigeard- chỉ huy trưởng kế hoạch phản kích của Pháp trong chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương - Marcel Bigeard in Battle of Dien Bien Phu in Indochina war
Thiếu tá Marcel Bigeard- chỉ huy trưởng kế hoạch phản kích của Pháp trong chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương – Marcel Bigeard in Battle of Dien Bien Phu in Indochina war

Ngày 10 tháng 4, Thiếu tá Marcel Bigeard cho pháo binh bắn cấp tập vào đồi Eliane 1, sau đó cho nhiều toán quân Pháp lợi dụng lúc pháo bắn, xâm nhập thành công lên đồi Eliane 1, ngày 11 tháng 4, Pháp chiếm lại đồi Eliane 1. Ngày 12, quân Giải Phóng cố chiếm lại đồi nhưng không thành công

Lúc này, quân Pháp sống trong những điều kiện cực kỳ khủng khiếp. Trên diện tích 1 km vuông, một khoảng rộng bên bờ sông phải dành cho bệnh viện và cái “hố chung”. Nếu tập đoàn cứ điểm không ngừng thu hẹp thì khu vực dành cho thương binh và người chết cũng không ngừng phát triển. Công binh Pháp ra sức đào thêm những nhánh hào mới để mở rộng bệnh viện nhưng vẫn không đủ chỗ cho thương binh. Nhiều thương binh phải nằm ngay tại cứ điểm. Chiếc máy xúc duy nhất còn lại chỉ chuyên vào việc đào hố chôn người chết. Danh mục đồ tiếp tế cho Điện Biên Phủ có thêm một yêu cầu khẩn cấp, đó là thuốc sát trùng và thuốc diệt côn trùng DDT. Ruồi nhặng kéo tới đẻ trứng trên những vết thương. Thương binh nặng nằm trên những chiếc giường ba tầng, sáu người trong một căn hầm nhỏ. Nhiều người bị thương sọ não và mắc chứng hoại thư. Máu mủ của những người nằm bên trên nhảy xuống những người nằm bên dưới. Những cẳng tay, cẳng chân, những ống tiêm chôn ngay trong đường hầm, khi trời mưa, nước bên ngoài chảy vào, tất cả lại lềnh bềnh nổi lên. Phần lớn những bộ phận lọc nước đã bị hỏng. Những viên chỉ huy ra lệnh cho binh lính đào giếng nhưng chỉ thấy một thứ nước váng dầu đục ngầu. Rời công sự đi lượm dù hoặc lấy nước là làm mồi cho lính bắn tỉa, khó trở về an toàn. Điện Biên Phủ khẩn thiết yêu cầu gửi thật nhiều ống nhòm ngầm (kính tiềm vọng) vì nhô đầu lên khỏi chiến hào để quan sát đã trở thành mạo hiểm

Lính Pháp nhảy dù chi viện căn cứ ĐBP trong chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương - French parachutes in Battle of Dien Bien Phu in Indochina war
Lính Pháp nhảy dù chi viện căn cứ ĐBP trong chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương – French parachutes in Battle of Dien Bien Phu in Indochina war

Lúc này, cụm cứ điểm Isabelle chỉ bị tấn công khá nhẹ, quân Giải Phóng chỉ chia cắt con đường nối liền từ Isabelle đến khu trung tâm khiến mọi chi viện của Isabelle đều không thành công, pháo binh từ Isabelle không bắn đến nổi các ngọn đồi phía trên. Chỉ huy cụm cứ điểm Isabelle chỉ còn cách khoanh tay mà không làm được gì

Vòng vây thu hẹp, tiếp tế và tiếp viện trở nên cực kỳ khó khăn. Những phi công Mỹ làm công viện này đã được đánh giá là dũng cảm, nhưng cũng không đáp ứng được yêu cầu đề ra khi phải bay thấp thả dù trong một không phận nhỏ hẹp có pháo phòng không chờ sẵn. Nếu bay thấp thì máy bay trở thành mồi ngon cho pháo phòng không Việt Nam, nhưng nếu bay cao thì việc thả dù sẽ thiếu chính xác. Riêng trong ngày 26 tháng 4, 50 máy bay trúng đạn trên bầu trời Điện Biên Phủ và 3 chiếc bị bắn hạ, trong đó có một máy bay B-26 Invader và hai chiếc F6F Hellcat của hạm đội 11, do phi công Mỹ lái. Đêm hôm đó hứa tăng viện 80 người, nhưng chỉ thả dù được 36, hứa thả 150 tấn hàng tiếp tế, nhưng chỉ thả được 91 tấn với 34% rơi vào phía bên kia.

Máy bay F6F Hellcat trong chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương - F6F Hellcat in Battle of Dien Bien Phu in Indochina war
Máy bay F6F Hellcat trong chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương – F6F Hellcat in Battle of Dien Bien Phu in Indochina war

Cuốn “Nhật ký chiến sự” của Jean Pouget ghi nhận: “Có tới 50% kiện hàng rơi ngoài bãi thả. Ngày 1-4, hơn một nửa số hàng thả rơi ngoài vị trí. Ngày 6-4, hơn mười khẩu pháo không giật 75mm thả xuống Điện Biên, lính Pháp chỉ thu được hai khẩu, số còn lại coi như làm quà cho Việt Minh. Ngày 9-4, trong tổng số 195 tấn hàng tiếp tế đã thả chỉ thu được… 6 tấn. Ngày 13-4, máy bay C-119 của Mỹ đã “trút toàn bộ số đạn pháo 105mm xuống trận địa Việt Minh, coi như tiếp tế đạn cho đối phương!”. Ngày 18-4, hơn 30 tấn hàng “rơi lạc” sang trận địa Việt Minh. Ngày 27-4, có tới 70% số dù hàng rơi lạc mục tiêu. Ngày 5-5, hầu hết số hàng do C-119 thả xuống đều rơi xuống trận địa Việt Minh”

Để động viên tinh thần cho lính Pháp ở Điện Biên Phủ, tháng 4 năm 1954, chính phủ Pháp đã thăng quân hàm trước thời hạn cho de Castries, từ Đại tá lên Chuẩn tướng (nhiều tài liệu tiếng Việt ghi là Thiếu tướng)

Thương binh Pháp trong chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương - Wounded French in Battle of Dien Bien Phu in Indochina war
Thương binh Pháp trong chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương – Wounded French in Battle of Dien Bien Phu in Indochina war

Ngày 1 tháng 5, Việt Minh tổ chức đợt 3 chiến dịch Điện Biên Phủ với các nhiệm vụ được phân công :

  • Đại đoàn 316, được phối thuộc trung đoàn 9 của 304 (thiếu 1 tiểu đoàn), tiêu diệt A1, C1 và C2.
  • Đại đoàn 312 tiêu diệt các cứ điểm: 505, 505A, 506, 507, 508 ở phía đông, tiến sát bờ sông Nậm Rốm.
  • Đại đoàn 308 tiêu diệt các cứ điểm 311A, 311B ở phía tây.
  • Đại đoàn 304: trung đoàn 57 được phối thuộc 1 tiểu đoàn của trung đoàn 9, cử 1 tiểu đoàn chốt chặn trên đường đi Tây Trang không cho quân địch rút chạy sang Lào, siết chặt vòng vây chung quanh Hồng Cúm, tập kích trận địa pháo binh, tiêu diệt khu C Hồng Cúm.
  • Đại đoàn 351 phối hợp với bộ binh trong các trận đánh điểm và đánh phản kích.

Ngay trong đêm đầu tiên, Pháp mất tiếp cứ điểm C1, Dominique 3, Huguette 5. Đêm ngày 4 tháng 5, đại đoàn 308 chiếm tiếp đồi Huguette 4. Trong ngày 5 tháng 5, Việt Minh đã đào hầm đưa 1 tấn thuốc nổ vào đồi A1 và kích nổ lúc 20h30, làm sập nhiều công sự Pháp. 4 giờ sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, Đại úy Jean Pouget chỉ còn lại 34 lính dù và đã sử dụng đến những viên đạn, quả lựu đạn cuối cùng. Pouget bị thương nặng và bị bắt Đồi A1 bị Việt Minh chiếm giữ

Quân Giải Phóng Việt Nam - Việt Minh tấn công đồi A1 trong chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương - Viet Minh attack A1 hill in Battle of Dien Bien Phu in Indochina war
Quân Giải Phóng Việt Nam – Việt Minh tấn công đồi A1 trong chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương – Viet Minh attack A1 hill in Battle of Dien Bien Phu in Indochina war

Đến sáng ngày 7 tháng 5, Việt Minh tiếp tục tiến công tiêu diệt cứ điểm C2, 506, 507, 310F và Pháp không còn sức kháng cự. 17 giờ ngày 7 tháng 5, Việt Minh tiến vào hầm chỉ huy và bắt sống tướngde Castries và các sĩ quan Pháp. Chiến dịch Điện Biên Phủ chấm dứt

Tổng kết chiến dịch Điện Biên Phủ,  Pháp mất 1.747 – 2.293 người chết, 5.240 – 6.650 người bị thương, 1.729 người mất tích và 11.721 bị bắt làm tù binh. 17 tiểu đoàn bộ binh và lính dù, 3 tiểu đoàn pháo binh, 10 đại đội Quân đội Quốc gia Việt Nam bị tiêu diệt. Số sĩ quan bị chết, bị thương và bị bắt là 1.706, gồm 1 chuẩn tướng, 16 đại tá và trung tá, 353 sĩ quan từ thiếu úy đến thiếu tá. Thiệt hại về phía Mỹ là 2 phi công chết và 1 bị thương.

Quân Pháp bị bắt giam sau chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương - Captured French in Battle of Dien Bien Phu in Indochina war
Quân Pháp bị bắt giam sau chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Đông Dương – Captured French in Battle of Dien Bien Phu in Indochina war

Chiến dịch Linebacker II

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Chiến dịch Linebacker II
Một phần của Chiến tranh Việt Nam

Máy bay ném bom chiến lược B-52 đang ném bom rải thảm
Thời gianTừ 18 tháng 12 đến 30 tháng 12 năm 1972

Địa điểm Miền Bắc Việt NamHà NộiHải PhòngThái NguyênLạng SơnBắc Giang.

Kết quả Thắng lợi chiến lược của VNDCCH
(Mỹ chấp nhận ký kết Hiệp định Paris với nội dung tương tự với bản dự thảo hiệp định vào tháng 10 năm 1972 – bản mà Hoa Kỳ đã từ chối ký kết).
Tham chiến
 Không lực Hoa Kỳ Quân đội Nhân dân Việt Nam
Chỉ huy và lãnh đạo
 John Dale Ryan, Tư lệnh Tập đoàn không quân chiến lược số 8
 John W. Vogt Jr, Phó tư lệnh không quân chiến thuật
 Thiếu tướng Andrew B. Anderson Jr, Tư lệnh Sư đoàn không quân chiến lược lâm thời 57.
 Thiếu tướng Glenn R. Sulivan, Tư lệnh Sư đoàn không quân chiến lược lâm thời số 17
 Đại tá Dudley G. Kavanaugh, Chỉ huy trưởng Sư đoàn không quân hậu cần chiến lược 376
 Đại tá James R. McCarthy, Chỉ huy trưởng không đoàn B-52 số 43
 Đại tá Thomas F. Rew, Chỉ huy trưởng Không đoàn B-52 số 72
 Đại tá Donald M Davis, Chỉ huy trưởng Không đoàn B-52 số 307
 Đại tá Stanley C. Beck, Chỉ huy trưởng Không đoàn B-52 số 310.
 Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Tổng tham mưu trưởng
 Thiếu tướng Phùng Thế Tài, Phó tổng tham mưu trưởng
 Đại tá Lê Văn Tri, Tư lệnh quân chủng phòng không – Không quân
 Thiếu tướng Hoàng Phương, Chính ủy Quân chủng
 Đại tá Nguyễn Quang Bích, Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân
 Đại tá Hoàng Văn Khánh, Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân
 Đại tá Trần Quang Hùng, Tư lệnh Sư đoàn phòng không 361
 Đại tá Trần Văn Giang, Chính ủy Sư đoàn 361
 Đại tá Bùi Đăng Tự, Tư lệnh Sư đoàn phòng không 363
 Thượng tá Vũ Trọng Cảnh, Chính ủy Sư đoàn 363
Lực lượng
197 đến 207 máy bay ném bom chiến lược B-52,
14 liên đội không quân chiến thuật gồm 1.077 máy bay các loại từ 3 căn cứ không quân và 6 tàu sân bay
Lực lượng phòng không và không quân và dân quân (trong đó có 23 tiểu đoàn tên lửa SA-2 và khoảng 50 máy bay tiêm kích MiG).
Thương vong và tổn thất
Số liệu từ Hoa Kỳ:
12 phi cơ chiến thuật bị bắn rơi
16 B-52 bị bắn rơi
4 B-52 bị hư hại nặng
5 B-52 bị hư hại trung bình
43 tử thương
49 bị bắt làm tù binh

Số liệu của Việt Nam:
81 phi cơ bị bắn rơi
gồm có 34 B-52 (16 rơi tại chỗ) và 5 F-111
1.318 thường dân thiệt mạng, 1.260 thường dân bị thương
Thương vong về quân sự không rõ 3 MiG-21 bị bắn rơi
Trận đánh và Chiến dịch trong Chiến tranh Việt Nam

Chiến dịch Linebacker II là chiến dịch quân sự cuối cùng của Hoa Kỳ chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong Chiến tranh Việt Nam, từ 18 tháng 12 đến 30 tháng 12 năm 1972 sau khi Hội nghị Paris bế tắc và đổ vỡ do hai phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ bất đồng về các điều khoản trong hiệp định.

Chiến dịch này là sự nối tiếp của chiến dịch ném bom Linebacker diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1972, ngoại trừ điểm khác biệt lớn là lần này Hoa Kỳ sẽ tấn công dồn dập bằng máy bay ném bom chiến lược B-52 thay vì các máy bay ném bom chiến thuật, mục đích là dùng sức mạnh và biện pháp không hạn chế đánh thẳng vào các trung tâm đầu não của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tại chiến dịch này, Hoa Kỳ đã huy động loại máy bay ném bom chiến lược mạnh nhất của họ là pháo đài bay B-52 làm nòng cốt để ném bom rải thảm huỷ diệt xuống Hà NộiHải PhòngThái NguyênLạng Sơn và các mục tiêu khác liên tục trong 12 ngày đêm. Đây là những cuộc ném bom dữ dội nhất trong Chiến tranh Việt Nam và là một trong những cuộc tập kích có cường độ cao nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh. Trong 12 ngày, Mỹ đã thả hơn 36.000 tấn bom, vượt quá khối lượng bom đã ném xuống miền Bắc Việt Nam trong toàn bộ thời kì từ 1969 đến 1971.

Cuộc ném bom tuy có gây những tổn thất nặng về cơ sở vật chất cho phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhưng đã không làm thay đổi được lập trường của lãnh đạo nước này về nội dung cơ bản của hiệp định hoà bình, đồng thời nó gây một làn sóng bất bình lớn của người Mỹ, dư luận và chính giới của các nước trên thế giới trong đó có cả các đồng minh lâu dài của Hoa Kỳ, uy tín của Chính phủ Hoa kỳ bị xuống thấp nghiêm trọng. Bị phản đối trong nước, bị cô lập trên trường quốc tế, gặp phải sự chống trả hiệu quả gây thiệt hại lớn cho lực lượng không quân chiến lược, lại không thể buộc đối phương thay đổi lập trường, Tổng thống Richard Nixon đã phải ra lệnh chấm dứt chiến dịch vào ngày 30 tháng 12, đề nghị nối lại đàm phán tại Paris. Tại đây, Hoa Kỳ chấp nhận ký kết Hiệp định Paris trên cơ sở dự thảo mà trước đó họ đã từ chối ký kết (vì đây là dự thảo có những điều khoản có lợi cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà). Sau chiến dịch ném bom khí thế, lòng tự hào trong Quân đội nhân dân Việt Nam và người dân tại miền Bắc Việt Nam lên rất cao: họ không chỉ đánh thắng được “thần tượng B-52” mà còn buộc Hoa Kỳ phải ký Hiệp định Paris với những nội dung có lợi cho họ, đó là những cơ sở để phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà coi chiến dịch này là một thắng lợi chiến lược to lớn.

Chiến dịch này còn có một ý nghĩa tâm lý nặng nề cho giới quân sự Hoa Kỳ: đây là chiến dịch mà phía Mỹ đã chủ động lựa chọn mục tiêu, thời điểm, phương thức chiến đấu và đặc biệt là sử dụng sở trường của mình để chống lại sở đoản của đối phương (trình độ khoa học công nghệ), một cuộc đấu mà đối phương sẽ không thể sử dụng yếu tố “du kích” – một cách hình tượng: phía Mỹ thách đấu và được quyền lựa chọn vũ khí và đã thất bại.

Chiến dịch này cũng cho thấy điểm yếu của vũ khí máy bay ném bom chiến lược của Hoa Kỳ: B-52 vũ khí chiến lược dùng để chống chọi đối thủ tiềm tàng xứng tầm là Liên Xô cho một cuộc chiến tranh công nghệ cao đã thể hiện điểm yếu ngay khi đối phương có trình độ kinh tếquân sự, khoa học – công nghệ kém hơn nhiều, và vũ khí chống trả cũng không phải là loại cao cấp của đối phương (vào thời điểm 1972, tên lửa SAM-2 mà Việt Nam sử dụng đã bị Liên Xô thay thế bằng SAM-4 và SAM-5 mạnh hơn nhiều). Ngay sau Chiến tranh Việt Nam, vì lý do này Hoa Kỳ đã phải nỗ lực rất cao trong chạy đua vũ trang trong lĩnh vực máy bay ném bom và đã cho ra kết quả là các máy bay ném bom B-1 Lancer và B-2 Spirit tàng hình.

Ở Việt Nam sự kiện này thường được gọi là “12 ngày đêm” và báo chí, truyền thông hay dùng hình tượng “Điện Biên Phủ trên không” để nhấn mạnh ý nghĩa thắng lợi cuối cùng và to lớn của sự kiện.

Mục tiêu của các bên

Hoa Kỳ

Sau thất bại của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong chiến dịch Lam Sơn 719, quân đội Nhân dân Việt Nam tại miền Nam liên tục mở các cuộc tấn công vào các căn cứ và vị trí chiến lược của Việt Nam Cộng Hòa qua chiến dịch Xuân Hè 1972, làm thất bại kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ. Nhằm giữ thể diện của một siêu cường quân sự và để rút quân trong danh dự, Hoa Kỳ đã tiến hành chiến dịch đánh bom lần cuối này với ý định “đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá”, giảm bớt sự hỗ trợ quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho chiến trường miền Nam.

Tại Paris cuối tháng 11 năm 1972, cuộc đàm phán Việt Nam – Hoa Kỳ một lần nữa lâm vào bế tắc. Việt Nam Cộng hòa (vốn không được Mỹ cho phép tham gia họp kín để đàm phán về điều khoản hiệp định) ra sức phản đối bản dự thảo hiệp định, theo đó Quân đội Nhân dân Việt Nam được giữ những vị trí của họ tại miền Nam. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho rằng Hoa Kỳ làm vậy là để rũ bỏ trách nhiệm với họ. Nixon không muốn mang tiếng là đã bỏ mặc Việt Nam Cộng hòa, nên phía Hoa Kỳ đòi thay đổi lại nội dung cốt lõi nhất của dự thảo hiệp định, đó là về quy chế của Quân đội Nhân dân Việt Nam tại chiến trường miền Nam Việt Nam. Ngày 20/11/1972, cố vấn Henry Kissinger đề nghị sửa đổi 69 điểm trong bản dự thảo Hiệp định, theo đó, Hoa Kỳ muốn “có đi có lại”, khi quân Mỹ rút khỏi Việt Nam thì Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng phải rút khỏi miền Nam Việt Nam. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chấp nhận, vì đề nghị như vậy đặt họ ngang hàng với kẻ xâm lược là Mỹ, đồng thời sẽ khiến quân Giải phóng gặp rất nhiều khó khăn sau này.

Ngày 23/11/1972, khi gặp Lê Đức Thọ, Henry Kissinger đã đọc bức điện của Nixon ngầm đe dọa ngừng đàm phán, ném bom trở lại. Tuy nhiên ông Lê Đức Thọ đã khẳng khái đáp lại: “Chúng tôi đã đánh nhau với các ông mười mấy năm và cũng đã đàm phán 5 năm rồi. Nay các ông có sẵn sàng mới đi đến giải quyết; không thể dùng đe dọa với chúng tôi được đâu”.[10]

Ngày 4 đến 13 tháng 12, đàm phán tiếp tục tại Paris suôn sẻ cho đến khi phía Mỹ một lần nữa lật lại vấn đề cốt lõi: quy chế của lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và nêu vấn đề khu phi quân sự. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phản ứng bùng nổ bằng cách thu hồi các nhượng bộ từ các buổi họp trước đó và đưa ra đòi hỏi mới, trong đó có việc lật lại vấn đề cơ bản về trao trả tù binh Mỹ. Tháng 10, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đồng ý trao trả tù binh Mỹ vô điều kiện trong vòng 60 ngày. Nay họ muốn gắn việc trao trả tù binh với việc thả hàng ngàn tù chính trị tại Nam Việt Nam – một vấn đề mà họ đã từng đồng ý dành nó cho các thương thảo cụ thể sau này giữa các bên Việt Nam. Nixon triệu hồi Kissinger về Mỹ và ngừng đàm phán.

Ngày 5 tháng 12, Nixon điện cho Kissinger: “Hãy để một chỗ hở ở cửa cho cuộc họp tiếp. Tôi có thể sẵn sàng cho phép ném bom ồ ạt miền Bắc Việt Nam trong thời gian nghỉ ngơi đó” (ám chỉ kỳ nghỉ lễ Giáng Sinh). Đêm 12 tháng 12, Chánh văn phòng Nhà trắng Heizman thừa uỷ quyền của Richard Nixon gửi một bức điện cho Kissinger có đoạn viết: “Chúng ta cần tránh làm bất cứ điều gì có vẻ như là chúng ta phá vỡ thương lượng một cách đột ngột. Nếu xảy ra tan vỡ thì phải làm như là do họ chứ không phải do chúng ta. Trong bất cứ trường hợp nào, Hoa Kỳ không được chủ động cắt đứt cuộc nói chuyện. Chúng ta cần yêu cầu hoãn cuộc họp để tham khảo thêm”. Tuy cố tình trì hoãn ở hậu trường, nhưng khi tuyên bố chính thức, Hoa Kỳ đổ lỗi cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã không chịu “đàm phán nghiêm chỉnh”. Do vậy, nhiều tài liệu phương Tây vẫn cho rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bỏ họp trước, và chiến dịch ném bom của Mỹ là để khiến Việt Nam “biết điều” mà chấp nhận họp lại.

Ngày 14 tháng 12, Tổng thống Nixon họp với cố vấn an ninh Kissinger, tướng Alexander Haig và chủ tịch Hội đồng tham mưu truởng liên quân – đô đốc Thomas Moorer thông qua lần cuối cùng kề hoạch Chiến dịch Linerbacker II. Nixon nói với đô đốc Thomas H. Moorer, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ: “Điều may mắn của ông là được sử dụng một các cách hiệu quả sức mạnh quân sự của chúng ta để thắng cuộc chiến tranh này. Nếu ông không làm được việc đó, tôi sẽ coi ông là người chịu trách nhiệm”.

Mục tiêu mà Hoa Kỳ đặt ra trong chiến dịch Linebacker II là duy trì nỗ lực tối đa để phá hủy tất cả các tổ hợp mục tiêu chính ở khu vực Hà Nội và Hải Phòng, trong đó phá hủy đến mức tối đa những mục tiêu quân sự chọn lọc tại vùng lân cận của Hà Nội/Hải Phòng. Linebacker II cũng loại bỏ các rất nhiều các hạn chế trong các chiến dịch trước đó ở Bắc Việt Nam, ngoại trừ cố gắng để “giảm thiểu nguy hiểm cho dân thường tới mức có thể cho phép mà không ảnh hưởng hiệu quả” và “tránh các khu giam giữ tù binh, bệnh viện và khu vực tôn giáo“. Mục tiêu của Linebacker II cũng vẫn là mục tiêu của Linebacker nhưng với cường độ, sức công phá và mật độ lớn đến mức khủng khiếp để buộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải chấp nhận điều khoản của Mỹ, đồng thời tỏ rõ cho Nguyễn Văn Thiệu thấy rằng Hoa Kỳ đã cố làm hết trách nhiệm bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa, thay vì rút lui mà không chiến đấu. Cũng trong ngày 14 tháng 12, Nixon gửi một tối hậu thư cho Hà Nội: trong 72 giờ đồng hồ để quay lại ký theo phương án Hoa Kỳ đề nghị, nếu không sẽ ném bom lại Bắc Việt Nam.[11]

Về lý do quân sự, chính trị thì cuộc ném bom này không cần thiết vì khi đó Hoa Kỳ đã quyết tâm rút quân khỏi cuộc chiến. Hoa Kỳ biết rõ rằng không thể nào bắt Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhượng bộ một vấn đề cốt lõi mà họ đã chiến đấu gần 20 năm, với chỉ bằng một cuộc ném bom dù ác liệt đến đâu. Nó chỉ làm dư luận Mỹ và thế giới bất bình với chính phủ Hoa Kỳ. Đây thực chất chỉ là cách để thể hiện trách nhiệm nghĩa vụ cuối cùng đối với đồng minh Việt Nam Cộng hoà: khi dự thảo hiệp định đã được ký tắt với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chính phủ Việt Nam Cộng hoà đã phản đối kịch liệt và không chấp nhận, Hoa Kỳ quyết định dùng nấc thang quân sự mạnh tay nhất này để chứng tỏ họ đã cố gắng hết mức cho quyền lợi của đồng minh.

Ngày 15 tháng 12, Lê Đức Thọ và Kissinger chia tay nhau tại sân bay Le Bourger (Paris). Ngày 16 tháng 12, Kissinger họp báo tại Washington DC đổ lỗi cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kéo dài đàm phán. Tối 18 tháng 12, khi Lê Đức Thọ vừa về đến nhà (sau khi ghé qua Moskva và Bắc Kinh) thì những trái bom đầu tiên từ B-52 trong Chiến dịch Linebacker II rơi xuống Hà Nội.

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Với kinh nghiệm chính trị dày dặn, ngay từ mùa xuân năm 1968, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với tướng Phùng Thế Tài, lúc này là Phó Tổng tham mưu trưởng lời dự báo:

Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Chú nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội
— Hồ Chí Minh.
Loạt bài
Chiến tranh Việt Nam
Giai đoạn 1954–1959
Thuyết Domino
Hoa Kỳ can thiệp
Miền Bắc – Miền Nam
Giai đoạn 1960–1965
Diễn biến Quốc tế – Miền Nam
Kế hoạch Staley-Taylor
Chiến tranh đặc biệt
Đảo chính Chính phủ Ngô Đình Diệm
Giai đoạn 1965–1968
Miền Bắc
Chiến dịch:
Sự kiện Vịnh Bắc Bộ
Mũi Tên Xuyên –Sấm Rền
Miền Nam
Chiến tranh cục bộ
Chiến dịch:
Các chiến dịch Tìm-Diệt
Phượng Hoàng –Tết Mậu Thân, 1968
Diễn biến Quốc tế
Giai đoạn 1968–1972
Diễn biến Quốc tế
Việt Nam hóa chiến tranh
Hội nghị Paris
Hiệp định Paris
Chiến dịch:
Lam Sơn 719 – Chiến cục năm 1972 –
Hè 1972 –Mặt trận phòng không 1972 
Phòng không Hà Nội 12 ngày đêm
Giai đoạn 1973–1975
Hội nghị La Celle Saint Cloud
Chiến dịch:
Xuân 1975
Phước Long
Tây Nguyên  –Huế – Đà Nẵng
Phan Rang – Xuân Lộc
Hồ Chí Minh
Trường Sa và các đảo trên Biển Đông
Sự kiện 30 tháng 4, 1975
Hậu quả chiến tranh
Tổn thất nhân mạng
Tội ác của Hoa Kỳ và đồng minh
Chất độc da cam
Thuyền nhân
tiêu bản


Từ tháng 5/1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các cán bộ tham mưu tác chiến của Quân chủng Phòng không đặt vấn đề: “Tỷ lệ B-52 bị bắn rơi mức độ nào thì Nhà Trắng rung chuyển, mức độ nào thì Mỹ không chịu nổi, phải thua?”. Sau mấy tuần, câu trả lời đã được đưa ra:

  • N1 – tỷ lệ Mỹ chịu đựng được là 1-2% (trên tổng số B-52 tham chiến của Mỹ);
  • N2 – tỷ lệ làm Nhà Trắng rung chuyển là 6 – 7%;
  • N3 – tỷ lệ buộc Mỹ phải thua cuộc là trên 10%.

Nếu tỷ lệ thiệt hại của B-52 bằng hoặc vượt quá 10%, Mỹ sẽ không thể chịu đựng được và sẽ phải dừng chiến dịch, bởi B-52 là vũ khí chiến lược mạnh nhất của không quân Mỹ, được vận hành bởi các phi công được tuyển chọn và đào tạo kỹ lưỡng, nếu bị thiệt hại quá 10% thì Mỹ khó mà thay thế được (ngoài ra, nhiều phi công Mỹ được trao vinh dự lái B-52 do là con cháu của các gia tộc có thế lực, nếu tỷ lệ chết trận của các “phi công quý tộc” này tăng cao thì chính phủ Mỹ sẽ gặp rắc rối lớn). Hơn nữa, cần nhớ rằng B-52 là vũ khí chiến lược để đối phó với siêu cường là Liên Xô, một nước có quy mô hệ thống phòng không lớn gấp vài chục lần so với Việt Nam, trang bị cũng hiện đại hơn nhiều. Nếu B-52 bị thiệt hại trên 10% trước một đất nước có hệ thống phòng không ít ỏi như Việt Nam thì hiển nhiên đó là một thất bại của Mỹ, nếu tiếp tục chiến dịch thì Mỹ sẽ không còn đủ lực lượng B-52 để đối phó với Liên Xô.

Quân chủng Phòng không-Không quân loại trừ N1, quyết tâm đạt N2 và vươn tới N3. Kết quả trong 12 ngày đêm chiến đấu mùa đông năm 1972, Quân chủng Phòng không Không quân đã thực hiện vượt mức chỉ tiêu N3: tỷ lệ B-52 bị bắn hạ là 17,6% (34/197 chiếc, riêng các đơn vị phòng không Hà Nội bắn hạ 23 chiếc). Ngay cả với số liệu mà Mỹ thừa nhận (16 B-52 bị rơi, 4 bị hỏng nặng và 5 bị hỏng trung bình) thì cũng đã vượt qua mức N3.

Lực lượng

Không lực Hoa Kỳ

Theo Karl J. Eschmann Mỹ đã huy động:

  • Gần 50% B-52 của toàn nước Mỹ (197 trên tổng số 400 chiếc). Thực tế xuất kích 741 lần, 12 phi vụ bị hủy nên còn 729 lần ném bom
  • Gần 1/3 số máy bay chiến thuật của toàn nước Mỹ (1.077 trên tổng số 3.041 chiếc). Thực tế xuất kích 3.920 lần.
  • 1/4 số tàu sân bay (6 trên tổng số 24 chiếc),cùng nhiều tàu chỉ huy – dẫn đường, tàu khu trục, tàu tên lửa, tàu radar, tàu bảo vệ, tàu cấp cứu,…
  • Tập đoàn không quân 7 và 8 (Seventh air force và Eighth air force): trong đó có các liên đội không quân chiến lược B-52 (Strategic Wing) số 43 và 72 đóng tại căn cứ không quân Andersen trên đảo Guam gồm 143 chiếc B-52G, B-52D và liên đội không quân chiến lược số 307 gồm 54 máy bay B-52D đóng tại căn cứ Utapao (Thái Lan); 6 liên đội không quân chiến thuật (Tactical Fighter Wing) gồm 455 máy bay đóng căn cứ tại các căn cứ không quân Ubon Korat và Takhli trên đất Thái Lan, 2 liên đội 124 máy bay đóng tại miền Nam Việt Nam (Đà Nẵng).
  • Không đoàn đặc nhiệm 77 (Task force 77) là các máy bay trên các tàu sân bay của hải quân gồm 6 liên đội với 420 máy bay trên các tàu sân bay:USS America (CV-66): liên đội số 8 (Carrier Air Wing 8) gồm các máy bay F-4, A-6, A-7.USS Enterprise (CVN-65): liên đội 14 (F-4, A-6, A-7)USS Midway (CV-41): liên đội 5 (F-4, A-7)USS Oriskany (CV-34): liên đội 19 (F-8, A-7)USS Ranger (CV-61): liên đội 2 (F-4, A-6, A-7)USS Saratoga CV-60: liên đội 3 (F-4, -6, A-7)

Quân đội nhân dân Việt Nam

Phòng không

  • Sư đoàn 361 bảo vệ Hà Nội do đại tá Trần Quang Hùng làm tư lệnh, đại tá Trần Văn Giang làm chính ủy. Các đơn vị trực thuộc gồm 3 trung đoàn tên lửa SA-2 (có 1 trung đoàn thiếu) và 5 trung đoàn cao xạ:
    • Trung đoàn tên lửa “Thành Loa” do trung tá Trần Hữu Tạo chỉ huy, gồm 4 tiểu đoàn hỏa lực và 1 tiểu đoàn kỹ thuật, mỗi tiểu đoàn hỏa lực có 6 bệ phóng và cơ số đạn sẵn sàng chiến đấu 12 quả:
      • Tiểu đoàn hỏa lực 57 do thượng úy Nguyễn Văn Phiệt chỉ huy.
      • Tiểu đoàn hỏa lực 59 do đại úy Nguyễn Thăng chỉ huy.
      • Tiểu đoàn hỏa lực 93 do đại úy Nguyễn Mạnh Hùng chỉ huy.
      • Tiểu đoàn hỏa lực 94 do thượng úy Trần Minh Thắng chỉ huy.
      • Tiểu đoàn kỹ thuật 95 do đại úy Đỗ Bỉnh Khiêm chỉ huy.
    • Trung đoàn tên lửa “Cờ Đỏ” do trung tá Nguyễn Ngọc Điển chỉ huy, biên chế hỏa lực và kỹ thuật như Trung đoàn 261:
      • Tiểu đoàn hỏa lực 76 do đại úy Lê Văn Hệ chỉ huy.
      • Tiểu đoàn hỏa lực 77 do thượng úy Đinh Thế Văn chỉ huy.
      • Tiểu đoàn hỏa lực 78 do thượng úy Nguyễn Chấn chỉ huy.
      • Tiểu đoàn hỏa lực 79 do thượng úy Nguyễn Văn Chiến chỉ huy.
      • Tiểu đoàn kỹ thuật 80 do thượng úy Vương Toàn Tước chỉ huy.
    • Trung đoàn tên lửa “Hùng Vương” vừa hành quân từ Vĩnh Linh ra, lúc bắt đầu chiến dịch chỉ còn một tiểu đoàn có khí tài sẵn sàng chiến đấu.
      • Tiểu đoàn hỏa lực 86 do đại úy Phạm Đình Phùng chỉ huy: sẵn sàng chiến đấu từ đầu chiến dịch.
      • Tiểu đoàn hỏa lực 87 do đại úy Đỗ Ngọc Mỹ chỉ huy: không có khí tài
      • Tiểu đoàn hỏa lực 88 do thượng úy Lê Ký chỉ huy: sẵn sàng chiến đấu từ 26 tháng 12.
      • Tiểu đoàn hỏa lực 89 do đại úy Nguyễn Thế Thức chỉ huy: sẵn sàng chiến đấu từ 26 tháng 12.
      • Tiểu đoàn kỹ thuật 90 do đại úy Nguyễn Trắc chỉ huy.
    • Các trung đoàn cao xạ “Sông Đuống”, “Tam Đảo”, “Đống Đa”, “Tháng Tám”.
    • Trung đoàn cao xạ “Sông Thương”, “Ba Vì”: tăng cường cho Sư đoàn 361 từ 25 tháng 12
    • Dân quân tự vệ Hà Nội (phối thuộc 361): gồm 226 trung đội, được trang bị 741 súng pháo các loại, trong đó có 18 pháo cao xạ 100 mm.
  • Sư đoàn 363 bảo vệ Hải Phòng do đại tá Bùi Đăng Tự làm tư lệnh, thượng tá Vũ Trọng Cảng làm chính ủy, biên chế gồm 2 trung đoàn Tên lửa SA-2, mỗi trung đoàn có 3 tiểu đoàn hỏa lực, 1 tiểu đoàn kỹ thuật trong tư thế sẵn sàng chiến đấu; 1 trung đoàn cao xạ và 1 cụm tiểu cao.[22]
    • Trung đoàn tên lửa “Hạ Long” do trung tá Đào Công Thận chỉ huy, 3/4 tiểu đoàn hỏa lực trong tình trạng đủ khí tài và cơ số đạn tiêu chuẩn.
      • Tiểu đoàn hỏa lực 81: do thượng úy Kiều Thanh Tịnh chỉ huy, sẵn sàng chiến đấu từ đầu chiến dịch.
      • Tiểu đoàn hỏa lực 82: sẵn sàng chiến đấu từ đầu chiến dịch.
      • Tiểu đoàn hỏa lực 83: sẵn sàng chiến đấu từ đầu chiến dịch.
      • Tiểu đoàn hỏa lực 84: không đủ khí tài.
      • Tiểu đoàn kỹ thuật 85: sẵn sàng chiến đấu từ đầu chiến dịch.
    • Trung đoàn tên lửa “Nam Triệu” do trung tá Nguyễn Đình Lâm chỉ huy, 3/4 tiểu đoàn hỏa lực trong tình trạng đủ khí tài và cơ số đạn tiêu chuẩn.
      • Tiểu đoàn hỏa lực 71: sẵn sàng chiến đấu từ đầu chiến dịch, từ 21-12 được điều động phối thuộc Sư đoàn 361
      • Tiểu đoàn hỏa lực 72: do thượng úy Phạm Văn Chắt chỉ huy, sẵn sàng chiến đấu từ đầu chiến dịch, từ 21-12 được điều động phối thuộc Sư đoàn 361
      • Tiểu đoàn hỏa lực 73: do thượng úy Đặng Minh Chức chỉ huy, sẵn sàng chiến đấu từ đầu chiến dịch
      • Tiểu đoàn hỏa lực 74: không đủ khí tài.
      • Tiểu đoàn kỹ thuật 75: sẵn sàng chiến đấu từ đầu chiến dịch.
    • Trung đoàn cao xạ “Sông Cấm” gồm 3 đại đội pháo 37 mm, 1 đại đội pháo 57 mm, 2 đại đội pháo 100 mm và 1 cụm súng máy phòng không 14,5 mm và 12 mm.
    • Dân quân tự vệ Hải Phòng (phối thuộc Sư đoàn 363) gồm 92 trung đội, được trang bị hơn 200 súng bộ binh (RPDAK-47 và K-44).
  • Sư đoàn phòng không 365 do Thượng tá Nguyễn Văn Giáo làm tư lệnh, Đại tá Cao Văn Chấn làm chính ủy, có nhiệm vụ bảo vệ khu vực từ Nam đồng bằng Bắc bộ đến Quảng Bình, biên chế gồm 3 trung đoàn tên lửa và 3 trung đoàn cao xạ. Trong đó, chỉ có 6/12 tiểu đoàn hỏa lực tên lửa trong tình trạng đủ khí tài sẵn sàng chiến đấu.
    • Trung đoàn tên lửa “Quang Trung” có các tiểu đoàn hỏa lực 41 và 42 trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu.
    • Trung đoàn tên lửa “Điện Biên” có các tiểu đoàn hỏa lực 52 và 53 trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu.
    • Trung đoàn tên lửa “Sóc Sơn” có các tiểu đoàn hoa lực 66 và 67 trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu.
    • Các trung đoàn cao xạ “Sông Lam”, “Hoa Lư”, “Sông Gianh”.
  • Sư đoàn phòng không 375 do Đại tá Nguyễn Văn Hội làm tư lệnh, Thượng tá Trần Văn Địch làm chính ủy, có nhiệm vụ bảo vệ đường 1 Bắc từ Bắc Giang đến Đồng Mỏ, khu công nghiệp Thái Nguyên và tuyến đường sắt Vĩnh Yên – Lào Cai, biên chế gồm 1 trung đoàn tên lửa và 5 trung đoàn cao xạ:[24]
    • Trung đoàn tên lửa “Hồng Kỳ” trang bị tên lửa Hunqi 1 (Trung Quốc) đã bị hỏng khí tài, không khôi phục được.
    • Các trung đoàn cao xạ “Sông Cầu”, “Chi Lăng”, “Vạn Kiếp”
    • Trung đoàn cao xạ 256 thuộc Quân khu Việt Bắc (phối thuộc Sư đoàn 375) bảo vệ Thái Nguyên.
    • Trung đoàn cao xạ 254 thuộc Quân khu Tây Bắc (phối thuộc Sư đoàn 375) bảo vệ Yên Bái.

Không quân

Các trung đoàn “Sao Đỏ”, “Yên Thế”, “Lam Sơn”, được trang bị các máy bay MiG-21MiG-19 và MiG-17

Radar cảnh giới quốc gia

Các trung đoàn “Phù Đổng”, “Sông Mã”, “Ba Bể”, “Tô Hiệu” và Tiểu đoàn 8

Dân quân tự vệ phòng không

Gồm 364 đội với 1428 khẩu súng hoặc pháo các loại. Trong đó có 769 khẩu trung-đại liên (RPDRPKPK…); 284 khẩu trọng liên 12,7mm; 263 khẩu trọng liên 14,5mm; 61 khẩu pháo cao xạ 37mm; 19 khẩu pháo cao xạ 57mm, 32 khẩu pháo cao xạ KS-19 100mm.

Chiến thuật của các bên

Không quân Mỹ

Boeing B-52H triển lãm cùng vũ khí

Vệt bom sau khi B-52 rải thảm. 1 nhóm 3 chiếc B-52 có thể tạo ra 1 vệt bom dài 3 km và rộng 1,5 km, gồm chi chít các hố bom

Trước khi diễn ra chiến dịch, B-52 đã nhiều lần bay vào oanh tạc không phận miền Bắc Việt Nam. Lần đầu tiên máy bay B-52 tham chiến chính là tại Việt Nam, và tại đây nó đã thể hiện sức tàn phá rất ghê gớm. B-52 là vũ khí chủ bài của Không quân chiến lược Mỹ, được thiết kế để đối phó với siêu cường đối thủ là Liên Xô. Máy bay B-52 có kích thước khổng lồ, tầm bay rất xa và lượng bom mang theo rất lớn (hơn 30 tấn bom mỗi chiếc, gấp 15 lần số bom mà máy bay ném bom hạng nặng chủ lực của Mỹ thời thế chiến 2 là B-17 có thể mang theo). Do đó, B-52 còn được mệnh danh là “Pháo đài chiến lược (Stratofortress)”, hoặc đơn giản hơn là “Pháo đài bay”.

Trong một phi vụ oanh tạc, máy bay B-52 thường đi thành nhóm ba chiếc theo đội hình mũi tên, trên độ cao 9–10 km và ném khoảng gần 100 tấn bom (mỗi chiếc ném hơn 30 tấn) với mật độ dày đặc xuống một khu vực khoảng 2,5 km². Nếu một quả bom tiêu chuẩn là 500 lb (gần 250 kg) thì mật độ bom rơi là khoảng 130 quả trên 1 km², tức là khoảng cách trung bình giữa hai hố bom cạnh nhau là khoảng 80 mét. Với mật độ ném bom cao như vậy, xác suất hủy diệt sinh mạng và phá hủy công trình trong dải bom của B-52 sẽ là cực cao.

Không quân Mỹ có một thuận lợi đến từ đồng minh của mình. Trong Chiến tranh Sáu ngày năm 1967, Israel đã tịch thu được hơn 20 hệ thống SAM-2 nguyên vẹn bị quân Ả Rập bỏ lại khi rút chạy, nhờ vậy Mỹ đã nắm được tường tận chi tiết của hệ thống này.[25] Năm 1969, đến lượt 1 hệ thống radar cảnh giới P-12 của Ai Cập bị Israel bắt giữ nguyên vẹn, toàn bộ kết quả phân tích được chuyển giao cho Mỹ.[26]

Như vậy đến năm 1970, các loại radar phòng không chủ yếu của Quân đội nhân dân Việt Nam đều đã bị Mỹ nắm bắt, và Mỹ đã chế tạo ra các thiết bị gây nhiễu rất hiệu quả. Như phiên bản B-52D, lúc đầu mang 8 máy gây nhiễu, thì tới tháng 12/1972 đã có tới 15 máy gây nhiễu, 2 máy phóng nhiễu giấy bạc. Một tốp 3 chiếc B-52 có 45 máy, như vậy tất cả nhiễu đó tạo thành giải nhiễu chồng chéo, dày đặc, đan xen, công suất rất lớn và rộng. Phiên bản B-52G có khoang lắp đặt thiết bị điện tử được mở rộng để lắp hệ thống gây nhiễu mới. B-52G được trang bị 16 máy gây nhiễu điện tử tích cực, 2 máy gây nhiễu tiêu cực và 2 máy thu tần số radar để tạo màn nhiễu dày đặc che toàn bộ máy bay trước hệ thống radar, tên lửa phòng không của đối phương. Các thiết bị này sẽ tự động thu, phân tích tần số sóng radar của đối phương và cung cấp cho sĩ quan điều khiển để lựa chọn phát tần số sóng để chế áp. Theo một số phi công Mỹ, chỉ riêng hệ thống gây nhiễu trên B-52G đã có giá tương đương một chiến đấu cơ F-4D. Ngoài ra, B-52G còn được lắp 4 đạn tên lửa “chim mồi” ADM-20 Quail (chim cút). Khi được phóng, ADM-20 sẽ giả lập tín hiệu giống máy bay B-52 để tạo mục tiêu giả thay cho B-52 nhằm đánh lừa tên lửa của đối phương.

Với vai trò là máy bay ném bom chiến lược, các phi đội B-52 không hoạt động độc lập mà được hộ tống bởi các máy bay trinh sát điện tử EA-6A, EB-66EC-121 và các chiến đấu cơ F-4F-105, A-6, A-7 với các thiết bị gây nhiễu chủ động và thụ động đi kèm. Rất nhiều phi đội F-4 đã giả lập tín hiệu nhiễu của B-52 hòng lừa lưới lửa phòng không đối phương. Các máy bay F-4 còn thả các “bom” gây nhiễu gồm hàng triệu sợi kim loại màu bạc, rất mỏng nhẹ (mỗi quả bom chứa 450 bó nhiễu), các sợi kim loại gây nhiễu này có thể làm radar không thể nhận diện được các mục tiêu, nặng thì làm trắng xóa màn hình radar (mất hoàn toàn khả năng theo dõi và bám mục tiêu). Các biện pháp gây nhiễu tổng hợp của Mỹ khiến rada của hệ thống phòng không gặp nhiễu, không thể phát hiện và khóa bắn được B-52. Các đài radar nhìn vòng P-12 của các tiểu đoàn tên lửa SAM-2 chỉ thu được các giải nhiễu đậm đặc, có lúc làm trắng xóa cả màn hình.

Để kiểm chứng khả năng của hệ thống gây nhiễu, rạng sáng ngày 16/4/1972, bắt đầu từ 2 giờ 15 phút, Mỹ huy động 20 máy bay B-52 và 170 lần/chiếc máy bay cường kích, ném bom ba trận lớn vào Hải Phòng. 103 nơi trong thành phố bị bom Mỹ tàn phá như các khu phố Thượng Lý, Hạ Lý, Cầu Tre, bến cảng và thôn Phúc Lộc (Kiến Thụy)… Bom Mỹ đã giết và làm bị thương 757 người dân Hải Phòng mà phần lớn là phụ nữ, trẻ em và cụ già. Hai trung đoàn tên lửa số 238 và 285 đã phóng lên đến 93 quả tên lửa SAM-2 nhưng không diệt được chiếc B-52 nào vì bị gây nhiễu quá nặng.

Ngoài ra, vũ khí lợi hại là tên lửa chống radar (như loại AGM-45 ShrikeAGM-78 Standard ARM). Tên lửa Shrike sau khi phóng sẽ tìm và “bắt” mục tiêu theo sóng radar, rồi lao thẳng vào gây nổ, là vũ khí chuyên dụng để phá hủy các hệ thống phòng không đối phương. Khi cách rađa vài chục mét thì tên lửa phát nổ lần thứ nhất, văng ra hàng vạn viên bi vuông để phả hủy rađa, tiếp đó phần còn lại lao xuống đất nổ lần thứ 2 để phá hủy nốt. Tại Trung Đông, hàng chục hệ thống tên lửa phòng không của Khối Ả Rập từng bị loại tên lửa này phá hủy, khiến lực lượng này mất khả năng chiến đấu

Với một loạt các biện pháp kỹ thuật và chiến thuật, không quân Mỹ tự tin rằng hệ thống phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ không thể chống trả được. Mỹ tin rằng B-52 chỉ có thể bị rơi do thời tiết, hoặc do trục trặc kỹ thuật chứ quyết không thể bị bắn rơi vì hỏa lực của phòng không – không quân Việt Nam, cuộc tập kích của B-52 vào miền Bắc Việt Nam sẽ chỉ như “một cuộc dạo chơi” với tổn thất ở mức tối thiểu.

Quân đội nhân dân Việt Nam

Đánh bằng vũ khí phòng không

Ở thời điểm năm 1972, SAM-2 là loại tên lửa phòng không duy nhất có trong trang bị của Quân đội nhân dân Việt Nam. Được sản xuất vào giữa thập niên 1950, đến thời điểm năm 1972, SAM-2 đã tỏ ra khá lạc hậu, và còn bị lộ bí mật công nghệ cho đối phương (do Israel thu được một số hệ thống SAM-2 của Ai Cập và chuyển cho Mỹ phân tích). Khi đó, Liên Xô đã thay thế loại tên lửa này bằng những hệ thống SAM-4SAM-5SAM-6 có tính năng cao hơn nhiều. Tuy nhiên, do chính sách hòa giải với Mỹ nên Liên Xô đã không viện trợ những loại tên lửa mới này cho Việt Nam. Không quân Mỹ sẽ không phải lo phía Việt Nam được trang bị những hệ thống tên lửa phòng không kiểu mới mà Mỹ chưa biết cách khắc chế.

Không có tên lửa phòng không kiểu mới, Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng khá thiếu về số lượng hệ thống tên lửa SAM-2. Toàn bộ lực lượng phòng không Việt Nam vào cuối năm 1972 có khoảng 50 hệ thống SAM-2 (nguồn khác nói rằng có 36 hệ thống sẵn sàng chiến đấu, trong đó chỉ có 23 hệ thống bố trí tại các khu vực mà máy bay Mỹ sẽ đánh phá trong chiến dịch. Con số này chỉ bằng 1/7 số lượng hệ thống phòng không mà quân Ả Rập sử dụng trong Chiến tranh Yom Kippur năm 1973, và càng không đáng kể nếu so với số lượng máy bay Mỹ huy động cho chiến dịch (1.077 máy bay phản lực và 207 chiếc B-52).

Nhìn chung, Quân đội Nhân dân Việt Nam không thể trông chờ vào ưu thế vũ khí để chống lại Mỹ, bởi phía Việt Nam yếu thế hơn hẳn cả về công nghệ lẫn số lượng. Để tìm cách chống trả bằng những gì hiện có trong tay, Quân đội Nhân dân Việt Nam phải tìm ra những chiến thuật mới để khắc chế ưu thế về vũ khí của Mỹ.

Tên lửa SAM và pháo cao xạ trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không

Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Quân chủng Phòng không – Không quân nghiên cứu các biện pháp chống nhiễu, nghiên cứu cách đánh, kiên quyết bắn rơi máy bay chiến lược B-52. Sau 19 ngày Mỹ đem thả bom ở đèo Mụ Giạ, Quảng Bình, ngày 19 tháng 7 năm 1965, Hồ Chí Minh nói: “Dù Mỹ có B-57, B-52 hay B gì đi nữa, ta cũng đánh mà đánh là nhất định thắng. Các chú muốn bắt cọp phải vào hang.”

Từ cuối năm 1968, Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân đã cử nhiều đoàn cán bộ kỹ thuật, trong đó có một bộ phận của tiểu đoàn trinh sát đi cùng các tiểu đoàn tên lửa vào nam Quân khu 4 và tuyến vận tải chiến lược đường Trường Sơn theo dõi, nghiên cứu nhận dạng và tìm cách đánh máy bay B-52.

Qua theo dõi trong hai mùa khô năm 1968-1969 và 1969-1970, nhóm cán bộ phát hiện có một loại radar máy bay B-52 không gây nhiễu được. Trên cơ sở đó, cuối năm 1971, một tổ cán bộ nghiên cứu đề xuất một công trình nghiên cứu cải tiến kỹ thuật: Dùng loại radar không bị máy bay B-52 gây nhiễu ghép nối với đài điều khiển phục vụ tên lửa đánh B-52.

Tháng 1 năm 1972, tổ nghiên cứu hoàn thành bản vẽ thiết kế, sau đó chuyển đến Tiểu đoàn 76, Trung đoàn tên lửa 257 lắp ráp thành bộ khí tài mới. Tháng 6 năm 1972, Cục Kỹ thuật cung cấp bản vẽ và một số mẫu cho nhà máy Z119 thuộc Cục Quân giới để lắp ráp 6 bộ khí tài mới. Các bộ khí tài mới mang ký hiệu KX.

Bản “Dự thảo cách đánh máy bay chiến lược B52”, năm 1969.

Cùng với bộ khí tài KX, các tổ rada cũng nghiên cứu khả năng “vạch nhiễu” ở các loại rada khác, nhằm phát hiện được mục tiêu B-52 vốn rất mờ nhạt trong dải nhiễu. Các dạng nhiễu có đủ kiểu, đủ loại với những tên gọi khác nhau được đặt theo hình dáng như: nhiễu quét, nhiễu giọt mưa, nhiễu xoắn thừng, nhiễu râu… Theo quyển Lịch sử ngành quân khí Quân đội nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965-1975), Cục Quân khí – Quân chủng phòng không – không quân đã thành công trong việc cải tiến rađa K860 trong đó công lớn đầu thuộc về kỹ sư Nguyễn Ngọc Lạc. Cuối năm 1972, Cục Quân khí – Quân chủng phòng không – không quân tiếp nhận một số rađa K860 của Trung Quốc về để sửa chữa. Đây là loại radar có băng sóng 10 cm và băng sóng 3 cm vốn được trang bị đồng bộ cho pháo cao xạ tầm trung 57mm. Các băng sóng 10 cm thì đối phương dò được, phá nhiễu và tấn công lại, riêng băng sóng 3 cm thì hoàn toàn mới, quân Mỹ chưa biết, nhưng hầu hết các rađa K860 khi hoạt động thì băng sóng 3 cm toàn bị hỏng. Kỹ sư Nguyễn Ngọc Lạc đã phát hiện nguyên nhân băng sóng 3 cm không hoạt động là do mạch điện bị đấu sai. Chính nhờ có sáng kiến, cải tiến của kỹ sư Nguyễn Ngọc Lạc mà radar K860 hoạt động tốt với 2 băng sóng, bắt mục tiêu B52 một cách chính xác, nhờ đó dẫn đường cho tên lửa bắn hạ được B-52. Khi đó, Bộ tư lệnh phòng không không quân đã nhanh chóng triển khai ứng dụng cải tiến toàn bộ radar K860 cho các đơn vị tên lửa để đối phó với máy bay B-52.[33]

Tháng 10 năm 1972, tập tài liệu mang tên “Cách đánh B-52 của bộ đội tên lửa” được in, gọi tắt là cuốn Cẩm nang bìa đỏ, dày 30 trang đánh máy và được bọc ngoài một tờ bìa màu đỏ. Trong cuốn sách là kinh nghiệm phân biệt mục tiêu thật-giả trước màn hiện sóng để bộ đội tên lửa có thể ngắm trúng mục tiêu. Cuốn “Cẩm nang bìa đỏ” cho biết:

  • Tuy không quân Mỹ gây nhiễu dày đặc nhưng trong mớ hỗn loạn các loại tín hiệu nhiễu trên màn hiện sóng, B-52 không phải là hoàn toàn vô hình, nếu tinh mắt vẫn có thể phát hiện được mục tiêu B-52 một cách gián tiếp: đó là các đám nhiễu tín hiệu mịn trôi dần theo tốc độ di chuyển của B-52. Tuy mục tiêu không hiển thị rõ rệt để có thể xác định mục tiêu và điều khiển tên lửa chính xác nhưng cẩm nang đã đề ra biện pháp bắn theo xác suất: bắn một loạt đạn tên lửa vào đám nhiễu theo cự ly giãn cách nhất định sẽ có xác suất tiêu diệt mục tiêu khá cao, phương án bắn xác suất này được “cẩm nang” gọi là “phương án P”.
  • Khi mục tiêu B-52 đi thẳng vào đài phát cường độ nhiễu sẽ tăng lên, nhưng tín hiệu mục tiêu cũng sẽ tăng mạnh hơn, mục tiêu sẽ hiển thị rõ nét hơn, đây là thời cơ có thể bắn điều khiển tên lửa chính xác theo “phương án T”, khi đó chỉ cần bắn 1 đến 2 quả tên lửa là B-52 sẽ phải rơi tại chỗ.
  • Trong “cẩm nang” đồng thời cũng đề ra các hướng dẫn cụ thể cho các cấp chỉ huy các tiểu đoàn tên lửa về công tác chỉ huy, cách chọn giải nhiễu, chọn thời cơ phát sóng, cự ly phóng đạn, phương pháp bắn, phương pháp bám sát mục tiêu trong nhiễu…

Một chiến thuật khác là phương pháp bắn 3 điểm dựa trên bộ khí tài hiện có. Khi B-52 bay vào Hà Nội, cường độ gây nhiễu cũng đã bị phân tán. Hướng này bị nhiễu nặng, song ở hướng khác, hai bên sườn, phía trước, phía sau… thì cường độ nhiễu thấp hơn, các đơn vị tên lửa ở các hướng đó có thể phát hiện được B-52 trên nền nhiễu. Quân đội Nhân dân Việt Nam đã bố trí đội hình tên lửa đánh bọc lót cho nhau (3 hệ thống bố trí ở 3 nơi thành một khu vực phòng thủ hình tam giác), sao cho mỗi tốp máy bay Mỹ có thể bị công kích từ nhiều hệ thống tên lửa ở nhiều hướng, sử dụng phương pháp bắn 3 điểm và linh hoạt sử dụng phương pháp bắn đón nửa góc khi thấy mục tiêu.

Cẩm nang bìa đỏ “Cách đánh B-52 của bộ đội tên lửa”, 1972.

Ngoài ra còn có kỹ thuật điều khiển bắn bằng quang học thay cho radar. Các kíp chiến đấu nhận thấy việc bám sát chia đôi dải nhiễu như trước đây không còn phù hợp và sẽ khó tiêu diệt được máy bay, trắc thủ hai góc phải bám sát dải nhiễu như thế nào để đưa máy bay địch vào đúng tâm cánh sóng thì mới có thể bám bắt và khai hỏa. Phương án sử dụng trắc thủ quang học để chỉ chuẩn cho các trắc thủ tay quay xe điều khiển bám sát. Từ năm 1968, các chuyên gia Liên Xô đã tiến hành lắp thêm kính quang học PA-00 trên nóc anten phương vị của xe thu phát. Thiết bị này được thiết kế để khi hai trắc thủ quang học bám sát chính xác vào một máy bay thì hai trắc thủ góc tà và phương vị của xe điều khiển cũng bám sát đúng vào chiếc máy bay đó, mặc dù trên màn hiện sóng là dải nhiễu tạp. Ngoài ra, đài radar P-12 của tiểu đoàn xác định chính xác cự li mục tiêu để chọn cự ly phóng đạn phù hợp.

Đại tá Nguyễn Văn, chỉ huy 1 trung đoàn tên lửa phòng không, sau chiến tranh đã trả lời một quân nhân Mỹ: “Việc phát triển chiến thuật để đối phó với đối phương vượt trội về công nghệ là nhiệm vụ thường trực. Rốt cuộc, chính Liên Xô cũng phải học tập những chiến thuật của chúng tôi. Về mặt kỹ thuật, người Liên Xô là thầy của chúng tôi, nhưng về mặt thủ thuật, chúng tôi là thầy của họ”.

Đối với tên lửa chống radar của Mỹ, Quân đội Việt Nam đã nghiên cứu, vô hiệu hóa bằng cách phát sóng tức thì, tắt máy đột ngột và quay đài antenna đi hướng khác, tên lửa Shrike cứ thế lao theo quán tính và rơi chệch trận địa. Cùng với trận địa chính, bộ đội Việt Nam làm nhiều trận địa giả, sau mỗi lần phóng tên lửa lại nhanh chóng kéo bệ sang trận địa khác. Những quả tên lửa giả được làm bằng cót, phủ sơn trông như thật. Khi tên lửa thật phóng đạn, thì các bệ tên lửa giả cũng đốt rơm, tạo khói mù mịt đánh lừa máy bay Mỹ, khiến chúng không nhận ra đâu là trận địa thật Nhờ vậy trong suốt 12 ngày đêm của chiến dịch, chỉ có một số ít trận địa phòng không bị đánh trúng, lực lượng phòng không Việt Nam vẫn bảo toàn được lực lượng để tiếp tục chiến đấu.

Một điểm đáng lưu ý, một số nguồn tin cho rằng tên lửa SA-2 đã được cải tiến nối tầng nâng tầm bắn. Nhưng thực tế là không phải, bởi tên lửa SA-2 có thể hạ mục tiêu ở độ cao trên 24.000m trong khi trần bay tối đa của B-52 chỉ là 17.000m (khi bay ném bom thì độ cao bay 10.000m), nên việc nâng tầm bắn là không cần thiết. Trên thực tế, yếu tố giúp bắn hạ B-52 nằm ở việc cải tiến các thiết bị radar để “vạch nhiễu tìm thù”.

Một vấn đề khác liên quan là việc 2 hệ thống SAM-3 của Việt Nam không kịp tham chiến. Được Liên Xô viện trợ cho khối Ả Rập từ năm 1969 nhưng mãi tới năm 1972, Liên Xô mới đồng ý viện trợ SAM-3 cho Việt Nam (chính sách của Liên Xô là ưu tiên khối Ả Rập hơn và không viện trợ vũ khí mới cho Việt Nam để tránh gây căng thẳng với Mỹ, cũng như tránh bị Trung Quốc sao chép công nghệ). Theo kế hoạch, 2 trung đoàn SAM-3 cùng 200 quả tên lửa sẽ được đưa sang Việt Nam vào cuối tháng 12/1972. Theo Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, thì SAM-3 có tốc độ bắn nhanh hơn (có 2 tên lửa trên 1 bệ phóng thay vì 1 tên lửa như SA-2), khả năng chống nhiễu cao hơn do dùng tần số quét khác SAM-2, do đó có xác suất trúng mục tiêu cao hơn SAM-2. Tới đêm 18/12, Trung đoàn 276 – trung đoàn SAM-3 thứ hai về đến ga Kép (Bắc Giang). Trung đoàn 276 tập trung mọi khả năng cho tiểu đoàn hỏa lực 169 hoàn chỉnh đồng bộ bước vào chiến dịch trước. Ngày 30/12/1972, Tiểu đoàn 169 đã chiếm lĩnh và triển khai trận địa ở Bắc Hồng (Đông Anh, Hà Nội), nhân viên kỹ thuật triển khai nhanh dây chuyền lắp ráp được 4 quả đạn SAM-3. Tuy nhiên, khi công tác chuẩn bị chiến đấu hoàn tất thì chiến dịch phòng không đã kết thúc vào đêm hôm trước.

Đánh bằng không quân

Đối với không quân, trước chiến dịch, Không quân Nhân dân Việt Nam chỉ có 71 máy bay các loại sắn sàng hoạt động, trong đó chỉ có 47 tiêm kích (31 chiếc MiG-21 và 16 chiếc MiG-17). Phần lớn phi công không quen bay vào ban đêm, chỉ có 13 phi công MiG-21 và 5 phi công MiG-17 có khả năng bay đêm. Trong số 194 phi công, 75 người (khoảng 40%) tuổi đời vẫn còn rất trẻ.

Do thua kém quá xa không quân Mỹ về số lượng máy bay, Không quân Việt Nam nhấn mạnh việc sử dụng chiến thuật bất ngờ. Tiếp cận bí mật, tấn công bất ngờ và rút lui thật nhanh sau khi phóng tên lửa là chiến thuật thường được sử dụng bởi các phi công Việt Nam.

Ngay từ giữa 1972, 12 phi công đã được chọn để lái tiêm kích bay đêm (vốn đòi hỏi kỹ thuật cao hơn so với tiêm kích ban ngày) để sẵn sàng đón đánh B-52. Phi công Phạm Tuân cho biết: “Với không quân thì khó khăn hơn, máy bay B-52 được yểm trợ rất mạnh, lại bay ban đêm, gây nhiễu rađa, gây nhiễu mục tiêu… ngoài ra, bản thân B-52 được trang bị tên lửa mồi, nếu MiG-21 bắn tên lửa thì B-52 thả tên lửa mồi, chưa kể B-52 cũng được trang bị súng phía đuôi có khả năng tiêu diệt máy bay tiêm kích. B-52 còn được bảo vệ bằng các máy bay chiến đấu, tiêm kích đánh chặn, đánh ngay vào mục tiêu như sân bay, trận địa tên lửa. Không quân phải có sân bay, tránh được máy bay F-4 bảo vệ B-52, để có thể nhanh chóng tiếp cận. Vì vậy, không quân phải tập bay ở những sân bay ngắn, mới làm ở các nông, lâm trường, tập bay thấp, bay cao để có thể tiếp cận nhanh được B-52. Những thời điểm như vậy thể hiện trí tuệ, sáng tạo của dân tộc, của Không quân Nhân dân Việt Nam. Chúng ta phải cất cánh trong những điều kiện khó khăn, phải cất cánh lên được để đánh. Điều này đòi hỏi ý chí, nhưng ý chí không đủ, phải sáng tạo. Ví dụ ta làm rất nhiều sân bay dự bị, hoặc cất cánh trên đường băng phụ. Thậm chí, có khi chúng tôi đeo thêm 2 quả tên lửa bổ trợ, khi đó máy bay có thể cất cánh trên đường băng chỉ 200-300m so với đường băng 1,5 km thông thường… Nga sản xuất máy bay và dạy chúng ta cách bay, nhưng đối diện với thực tế bị nhiễu, rất khó biết B52 nằm ở chỗ nào, rất khó biết được chính xác. Thế cho nên, phi công phải chủ động. Ở đây là bản lĩnh của phi công, phải phán đoán được tình huống như thế nào.”[31]

Đánh tại sân bay

Với chủ trương: địch xuất phát từ đâu, ta sẽ đánh trả ngay tại nơi sào huyệt của chúng, và trên cơ sở phân tích tin tình báo chiến lược, phán đoán ý đồ của MỹBộ Tư lệnh Binh chủng Đặc công đã giao nhiệm vụ cho Thượng tá Nguyễn Đức Trúng, Tham mưu trưởng Binh chủng, nghiên cứu và chuẩn bị phương án đánh thẳng vào những căn cứ máy bay B-52 của Mỹ tại Thái Lan.

Đánh Sân bay Hải quân Hoàng gia Thái Lan Utapao

Tháng 5 năm 1971, Lê Toàn – Chính trị viên Tiểu đoàn Đặc công biệt động 1A đã cùng một tổ công tác vượt biên giới sang Campuchia rồi từ đó lên sát biên giới Thái Lan, trực tiếp bắt liên lạc và thành lập một tổ đặc công gồm Trần Thế LạiBùi Văn PhươngVũ Công Đài đang hoạt động ở Thái Lan.

Nhận nhiệm vụ tổ chức trận đánh, Trần Thế Lại đã liên lạc và giao nhiệm vụ cho Bùi Văn Phương chuẩn bị vị trí cất giấu vũ khí, giả trang là dân thường đến khu vực sân bay Utapao để điều tra, nghiên cứu mục tiêu, nắm tình hình sơ bộ và kiểm tra nơi cất giấu vũ khí.

Từ ngày 5 đến 09 tháng 11 năm 1971, Vũ Công Đài và Bùi Văn Phương (là hai người sẽ trực tiếp thực hiện trận đánh) đã gặp nhau bàn bạc thống nhất kế hoạch, nội dung và phương pháp. Các anh đã dự kiến một phương án tấn công sân bay là phá hủy bí mật bằng thủ pháo nổ chậm, nếu bị lộ thì chuyển sang đánh nổ ngay. Vũ khí sẽ sử dụng là 10 quả thủ pháo loại 0,4 kg bằng chất nổ mạnh C4 và 2 quả lựu đạn.

Ngày 09 tháng 01 năm 1972, hai anh đi xe đến gần khu vực sân bay. Quá trình tiềm nhập vào mục tiêu, các chiến sĩ đặc công đã ba lần gặp địch. Hai lần khéo léo ngụy trang qua khỏi tầm mắt của chúng, đến lần thứ ba trong một tình thế đặc biệt buộc tổ chiến đấu phải nổ súng tiêu diệt nhóm tuần tra gồm hai lính Mỹ và một chó béc giê. Khi vào cách nơi máy bay B-52 đỗ khoảng 300m, bất ngờ gặp 3 xe ôtô và 2 lính Mỹ, hai người phải vòng tránh theo hướng khác. Khi khoảng cách còn 50m, một tổ tuần tra khác của địch phát hiện nổ súng bắn chặn, Bùi Văn Phương tung lựu đạn về phía địch. Hai anh dùng thủ pháo đánh vào từng chiếc máy bay. Số thủ pháo vừa hết, Bùi Văn Phương ra lệnh rút lui.

Trong trận đánh này, 8 chiếc máy bay B-52 bị phá hỏng, Vũ Công Đài mất.

Đánh sân bay Udon

Tháng 07 năm 1972, Đoàn A54 cử 23 cán bộ, chiến sĩ thành một tổ soi đường và một tổ bảo đảm hậu cần, vượt Trường Sơn hành quân đến khu rừng nguyên sinh Đôn Ka Thom nằm ở ngã ba biên giới 3 nước Thái Lan – Lào – Campuchia, lập một trạm chỉ huy nghiên cứu tình hình, mở hành lang vào khu vực sân bay Udon.

Tháng 08 năm 1972, tổ soi đường đã liên lạc được với một cơ sở lực lượng cách mạng trên đất Thái Lan. Hàng ngày, các anh thường đóng giả người dân Thái Lan nhằm thực hiện nhiệm vụ trinh sát khu vực sân bay.

Cuối tháng 08 năm 1972, một đội hình chiến đấu gồm 10 người được thành lập do Đào Đức Hạnh – Đoàn trưởng Đoàn A54 chỉ huy tới cơ sở cách mạng của ta ở Thái Lan (Căn cứ 07). Phương án đánh B52 lần này là dùng mìn nổ chậm, nếu bị lộ thì chuyển sang đánh nổ ngay. Tám đồng chí trong đội hình chiến đấu chia làm ba tổ, trong đó hai người có nhiệm vụ mở cửa và bảo vệ cửa mở; bốn người đánh phá máy bay, hai người đánh phá kho xăng. Tháng 09 năm 1972, đội thực hiện nhiệm vụ trinh sát tạo hành lang từ Căn cứ 07 đến sân bay Udon, nhằm xác định vị trí tập kết, xác định đường đột nhập vào sân bay.

Ngày 01 tháng 10 năm 1972, đội hình chiến đấu bắt đầu cơ động vào sát khu vực sân bay Udon đến gần sáng ngày 02 tháng 10, đội mới tới được gần sân bay. Tối ngày 02 tháng 10 năm 1972, hai tổ chiến đấu tiềm nhập vào sân bay, tổ mở cửa triển khai bảo vệ đầu cầu. Theo hiệp đồng chiến đấu, sau khi cài đặt lượng nổ, mìn hẹn giờ vào mục tiêu, cả hai tổ phải rút ngay để kịp rời sân bay trước khi trời sáng. Cho tới 10 giờ sáng ngày 03 tháng 10, tổ đánh kho xăng và tổ mở cửa mới gặp được nhau, bốn người còn lại của tổ đánh B-52 vẫn chưa thể thoát ra được.

Trong trận đánh này, một số máy bay, 1 trạm điện, 1 kho xăng đã bị phá hủy, 1 lính canh sân bay chết và 6 lính đối phương bị thương. Tuy nhiên, ba người lính đặc công là Phan Xuân KínhPhạm Văn LãmVũ Công Xướng đã hy sinh ngay tại sân bay, Nguyễn Khắc Nga bị thương nặng và bị địch bắt.

Đánh Sân bay Ubon Ratchathani

Trước năm 1972, Sân bay Ubon Ratchathani đã 6 lần bị đặc công Việt Nam gài mìn phá hủy nên quân đôi Thái Lan tăng cường bảo vệ an ninh.

Lê ToànChính trị viên Tiểu đoàn Đặc công biệt động 1A đã cùng Nguyễn Bá Do bí mật sang Campuchia gặp Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam đề nghị chi viện vũ khí. Đồng Văn Cống đã quyết định cấp ngay vũ khí theo đề nghị của Tiểu đoàn gồm 2 súng cối 82mm, 2 cơ số đạn, 200 thủ pháo tay cùng một số vật chất chiến đấu.

Ngày 02 tháng 10 năm 1972, một đội hình chiến đấu gồm 27 người của Tiểu đoàn Đặc công biệt động 1A được thành lập. Đội được tổ chức thành hai bộ phận, trong đó bộ phận trực tiếp chiến đấu gồm 13 người trang bị 1 súng cối 82mm, 40 quả đạn, do Nguyễn Công Mùi chỉ huy.

Khi đến vị trí, bí mật triển khai trận địa, đội hình chiến đấu nổ súng theo đúng kế hoạch đã định. 40 quả đạn mang theo, 5 quả không nổ do ảnh hưởng thời tiết mưa gió ẩm ướt, 35 quả đạn còn lại đã nổ trúng mục tiêu phá hủy đài chỉ huy sân bay, xưởng sửa chữa và một số thiết bị sân bay và rút lui an toàn. Nhưng khi về tới gần biên giới, đội đã bị lọt vào ổ phục kích của đối phương, làm chết 6 lính đặc công.

Diễn biến

Pháo cao xạ 57mm, 85mm, 100mm và tên lửa SAM-2 của Quân đội nhân dân Việt Nam

Trong chiến dịch có tổng cộng 741 lượt B-52 vào ném bom Bắc Việt Nam trong đó có 12 lượt bị hủy, trong thời gian đó vẫn có 212 lượt B-52 đi ném bom ở miền Nam Việt Nam. Hỗ trợ cho các máy bay ném bom là 3.920 lượt máy bay ném bom chiến thuật của không quân và hải quân. Tổng cộng đã có hơn 36.000 tấn bom đã được thả xuống những nơi được Mỹ coi là 18 mục tiêu công nghiệp và 14 mục tiêu quân sự (trong đó có 8 địa điểm có tên lửa SAM).

Cuộc tập kích của không quân Mỹ diễn ra liên tục trong ngày với trọng tâm là các cuộc ném bom của B-52 vào ban đêm. Một lực lượng lớn máy bay B-52, mỗi chiếc mang tối đa 66 quả bom 750-pound (340 kg) hoặc 108 quả bom 500-pound (227 kg) thực hiện các cuộc tấn công hủy diệt hàng đêm tại Hà Nội và Hải Phòng. Còn ban ngày các bay chiến thuật thay nhau liên tục đánh phá ác liệt các sân bay của không quân tiêm kích Bắc Việt Nam, các trận địa tên lửa và các trạm radar phòng không.

Trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, hơn nửa triệu dân nội đô (xấp xỉ 50% dân số Hà Nội lúc đó) đã được tổ chức sơ tán về các huyện ngoại thành và các tỉnh lân cận để tránh thương vong. Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, nguyên phó cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu, kể rằng việc ông quan tâm và dành thời gian tìm hiểu là cuộc sơ tán thần tốc của người dân Hà Nội trong những ngày chiến tranh ác liệt nhất. Nhờ làm tốt chủ trương này mà Hà Nội đã giảm thiểu được thương vong về người trước sức công phá ác liệt của các loại vũ khí hiện đại.

Đoàn không quân Sao Đỏ trang bị MiG-21 – đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang trong trận “Điện Biên Phủ trên không”

Để tránh né hệ thống phòng không miền Bắc, Hoa Kỳ đã dùng máy bay B-52 bay ở độ cao lớn rải thảm bom vào các mục tiêu như sân bay Kép, Phúc Yên, Hòa Lạc, hệ thống đường sắt, nhà kho, nhà máy điện Thái Nguyên, trạm trung chuyển đường sắt Bắc Giang, kho xăng dầu tại Hà Nội… Thiệt hại về cơ sở hạ tầng tại miền Bắc Việt Nam là rất nặng nề. Hà Nội, Hải Phòng bị tàn phá, các nhà máy, xí nghiệp, các khu dân cư xung quanh mục tiêu quân sự và dân sự trở thành đống gạch vụn. Ở Hà Nội, ngày 26/12, riêng tại phố Khâm Thiên, bom trải thảm đã phá sập cả dãy phố, sát hại 287 dân thường, làm bị thương 290 người, 178 đứa trẻ trở thành mồ côi, trong đó có 66 trẻ em mồ côi cả cha lẫn mẹ. Bệnh viện Bạch Mai, cơ sở y tế lớn nhất miền Bắc Việt Nam đã bị phá huỷ hoàn toàn khiến 30 bác sĩ, y tá và 1 bệnh nhân bên trong thiệt mạng. Số dân thường bị thiệt mạng trong chiến dịch là 2.200 người, trong đó con số tại Hà Nội được thống kê là 1.318 người. Chiến dịch này đã phá hoại nặng nề nhiều cơ sở vật chất, kinh tế, giao thông, công nghiệp và quân sự ở miền Bắc Việt Nam nhưng mục tiêu cốt lõi là làm thay đổi được lập trường của lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì đã không đạt được.

Trước khi chiến dịch diễn ra ít ngày, ngày 22/11/1972, bộ đội tên lửa Quân đội Nhân dân Việt Nam đã thành công trong việc bắn trúng 1 chiếc B-52 tại Thanh Hóa. Chiếc máy bay B-52 bị hư hại nặng, nhưng tổ lái đã cố gắng xoay xở để lái chiếc máy bay “rách nát” về tới sân bay ở Thái Lan rồi hạ cánh, thoát ra ngoài trước khi chiếc B-52 bị bốc cháy hoàn toàn trên đường băng.

Ngày 18/12/1972

Một đơn vị tên lửa SAM-2 của Quân đội Việt Nam trước giờ chiến đấu

Ngày 18/12/1972, những tốp B-52 đầu tiên xuất kích. Trên bảng tiêu đồ tại Sở chỉ huy, một trong số ba nữ tiêu đồ viên có tên Nguyễn Thị Vân lo lắng khi thấy tín hiệu báo những chiếc B-52 bay tới. Cô nhớ lại: “Thoạt tiên là một tốp, rồi tiếp tới 2 tốp, sau đó là hàng loạt tốp xuất hiện như một bầy ruồi. Nhưng tinh thần hoàn thành nhiệm vụ của một người lính đã giúp tôi lấy lại bình tĩnh và tiếp tục đánh dấu đường bay”. Sở chỉ huy Sư đoàn 361 theo dõi hướng tấn công của các tốp mục tiêu trước khi phân công số tốp và nhiệm vụ tiêu diệt mục tiêu cho các phân đội hỏa lực.

Tiểu đoàn 57 Trung đoàn tên lửa 261 có trận địa ngay bờ bắc sông Hồng là phân đội tên lửa đầu tiên chặn đánh đội hình tập kích. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57 Nguyễn Văn Phiệt là một chỉ huy dày dạn, từng lăn lộn chiến đấu chống các trận không kích của Mĩ trong suốt 5 năm nhưng cũng chưa bao giờ gặp trường hợp nhiễu nặng như vậy. Ông nhớ lại: “Tất cả các tín hiệu mục tiêu đều biến mất trong đám nhiễu trắng lóa khắp màn hiện sóng. Màn hiện sóng trước mặt sĩ quan điều khiển và các trắc thủ hiện lên các vạch xanh đậm đan chéo chằng chịt với nhau và biến đổi không ngừng, các dải nhiễu nhằng nhịt nối tiếp nhau xuất hiện, tụ vào rồi lại tan ra trước khi xuất hiện hàng trăm, hàng nghìn đốm sáng trùm lên màn hiện sóng giống cả đám tín hiệu mục tiêu đang di chuyển hỗn loạn. Với cả mớ tín hiệu hỗn loạn đi kèm với màn hiện sóng radar chập chờn trôi xuống liên tục giống như trận mưa trút nước…”. Trên các xe điều khiển, các kíp trắc thủ điều khiển tên lửa cố gắng bám theo dải nhiễu B-52 nhờ đài radar cảnh giới P-12 thay vì bật radar điều khiển Fan Song để tránh làm lộ vị trí đài phát trước đám máy bay tiêm kích chế áp phòng không Wild Weasel mang tên lửa chống radar. Nhưng việc bám mục tiêu thụ động cũng không mấy hiệu quả do bị nhiễu quá nặng.

Về mặt quân sự, Hoa Kỳ đã đánh giá thấp lực lượng phòng không của đối phương. Không lực Hoa Kỳ quá tin tưởng vào các biện pháp kỹ thuật gây nhiễu điện tử để bịt mắt radar và tên lửa phòng không của đối phương. Để đáp lại, các lực lượng tên lửa phòng không Quân đội nhân dân đã giải quyết vấn đề bằng những biện pháp chiến thuật sáng tạo và hợp lý. Dù Hoa Kỳ sử dụng các thiết bị gây nhiễu rada mạnh, phòng không Việt Nam đã tìm ra cách dò dấu vết B-52 trong dải nhiễu, bắn các máy bay B-52 theo xác suất và đã thành công vượt xa mức trông đợi.[47]

Trong ngày chiến đấu đầu tiên, khi đội hình máy bay tập kích tiến tới, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 78 Nguyễn Chấn nhìn thấy “tầng tầng lớp lớp các loại nhiễu nhìn giống những chiếc nan quạt lớn chồng chéo lên nhau cùng xổ xuống, xóa nhòa tất cả các dải tần, làm lóa mắt kíp trắc thủ. Tín hiệu mục tiêu xoắn quện, vón cục rối bời với nhau trông như một cuộn len.” Khi đội hình B-52 tới gần mà radar cảnh giới của đơn vị vẫn không phát hiện được mục tiêu, Chấn đã quyết định mở máy phát sóng sục sạo mục tiêu. Ngay sau đó sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Luyến đã bám được vào dải nhiễu của một chiếc B-52 và nhấn nút chuyển tín hiệu bám mục tiêu sang màn hiện sóng của 3 trắc thủ. Trắc thủ cự li Đinh Trọng Đức hô to “B-52” rồi cùng các trắc thủ khác thao tác tinh chỉnh cự li, phương vị và góc tà bám sát dải nhiễu.

Phần còn lại của chiếc B-52G số hiệu 58-0201 bị hạ đêm 18 tháng 12 được trưng bày tại Bảo tàng chiến thắng B-52 (Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội)

Cách Hà Nội vài cây số về hướng bắc, Tiểu đoàn tên lửa 59 phóng cả bốn đạn đều trượt, mà lại còn bị đối phương quăng bom trùm lên trận địa. Lúc này, trong khi đang quan sát đội hình ném bom của đối phương bay vào trên màn hiện sóng radar P-12 và bảng tiêu đồ kế bên, tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng nhận được lệnh từ sở chỉ huy Trung đoàn 261 giao nhiệm vụ diệt tốp mục tiêu 671 có độ cao 10.000 mét. Tiểu đoàn trưởng Thăng lệnh ngay cho sĩ quan điều khiển Dương Văn Thuận: “Mục tiêu, phương vị 350, cự li 30 km, độ cao 10.000 mét, phát sóng”. Thuận đánh tay quay chỉnh an-ten về góc phương vị 350 rồi bật công tắc phát sóng bắt mục tiêu. Sau 4 giây lên sóng, khi thấy trên màn hiện sóng hiện lên các dải nhiễu cho thấy đội hình một biên đội 3 chiếc B-52, Thuận báo cáo tiểu đoàn trưởng Thăng: “Phát hiện mục tiêu, phương vị 352, không rõ cự li, độ cao 10.000 mét, theo tốp, bay vào”. Thăng chuyển qua ngó màn hiện sóng trước mặt sĩ quan điều khiển rồi quay lại vị trí để kiểm tra tín hiệu tốp mục tiêu trên màn hiện sóng chỉ huy và đường bay trên bảng tiêu đồ, sau đó ra lệnh cho Thuận chuẩn bị phóng 2 đạn.

Ngay cả trong điều kiện chiến đấu bình thường thì điều khiển tên lửa bằng tay bám theo tín hiệu mục tiêu hiện rõ trên màn hiện sóng đã là một việc khó, huống hồ là lái tên lửa vào dải nhiễu của B-52. Chỉ cần vê tay quay điều khiển giật cục hay lỡ trớn thì tên lửa đã bay trệch mục tiêu tới hàng cây số hay phát nổ ngay trên không. Khi chiếc B-52 tiến vào, Thuận đã nhấn nút phóng liền 2 đạn rồi cùng các trắc thủ tập trung vào màn hiện sóng và tay quay, vừa bám sát mục tiêu vừa lái đạn. 24 giây sau khi các quả đạn được phóng đi, đèn báo hiệu ngòi nổ cận đích của quả đạn đầu tiên rồi quả thứ hai nháy sáng trên bảng điều khiển báo hiệu đạn nổ tốt. Trắc thủ phương vị Nguyễn Văn Độ và trắc thủ góc tà Lê Xuân Linh lần lượt báo cáo tín hiệu dải nhiễu của mục tiêu biến mất trên màn hiện sóng phương vị và nhanh chóng tụt độ cao trên màn hiện sóng góc tà. Chiếc B-52 có mật danh liên lạc Charcoal 1 của Bob Certain bị bắn hạ khi đã tới sát mục tiêu rải bom, 3 trong số 6 phi công tử trận. Đó là chiếc B-52 đầu tiên bị hạ trong chiến dịch.[45]

Tại Vinh, Nghệ An, Tư lệnh Sư đoàn phòng không 365 Nguyễn Văn Giáo phụ trách không phận Khu 4 đã chỉ huy các trung đoàn tên lửa 263, 267 và 275 đón đánh B-52 trên đường bay ra sau khi ném bom Hà Nội. Lúc 20 giờ 16 phút tối 18-12-1972, các trắc thủ của các tiểu đoàn tên lửa 52 và 53 của Trung đoàn 267 (Đoàn Điện Biên) đóng tại trận địa Đất Thịt báo cáo phát hiện dải nhiễu B-52 trôi đề từ hướng Tây Bắc xuống. Bộ đội Radar xác nhận đó là tốp B-52 số hiệu 675 đang trên đường bay ra. Tiểu đoàn 52 và Tiểu đoàn 53 được lệnh phóng 4 đạn vào tâm dải nhiễu mục tiêu. Chiến B-52 bay đầu tốp trúng đạn, bị thương nặng và phải hạ cánh xuống sân bay Đà Nẵng. Sau đó, nó bị tháo dỡ, chất lên tàu biển đưa về Mỹ vì sân bay Đà Nẵng không đủ nđiều kiện vật chất và kỹ thuật để sửa chữa lớn máy bay B-52.

Ngày 21/12/1972

Địa điểm và thời gian bắn rơi tại chỗ 16 chiếc B52.

Đêm 20 rạng ngày 21 tháng 12 chứng kiến nỗ lực phòng thủ mãnh liệt nhất của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chống lại các máy bay B-52, đó là ngày B-52 phải chịu tổn thất cao nhất trong toàn chiến dịch. Đôi khi Quân đội Nhân dân Việt Nam không tấn công biên đội đầu tiên trên vùng trời mục tiêu mà dùng nó để xác định đường bay và các điểm lượn vòng, tiếp đó các biên đội sau phải chịu hỏa lực mạnh ở gần các điểm thả bom, nơi mà họ phải bay ổn định, và trên đường rút khỏi mục tiêu. Trong đêm đó, lực lượng phòng không Việt Nam đã phóng 36 tên lửa SAM trong suốt 3 đợt tấn công. Các loạt phóng tên lửa được tổ chức và điều khiển rất khôn ngoan, đạt xác suất trúng đích rất cao: bắn rơi tại chỗ 6 chiếc B-52 và bắn trúng 1 chiếc B-52 khác (không rơi tại chỗ).

Trong một tình huống có tới cả ba tiểu đoàn tên lửa cùng phóng đạn vào một chiếc B-52 vừa mở khoang bom khiến nó nổ tung. Chớp lửa từ vụ nổ của 30 tấn bom mạnh đến nỗi một máy bay trinh sát của Mĩ hoạt động trên Vịnh Bắc bộ cách đó tới 80 dặm vẫn còn nhìn thấy. Chỉ 2 trong số 6 thành viên kíp lái trên chiếc máy bay này sống sót. Tại hầm Sở chỉ huy Sư đoàn 361 nữ phát thanh viên liên tục thông báo tình hình chiến sự cho biết hết chiếc này tới chiếc khác B-52 bị bắn rơi. Tư lệnh Quân chủng phòng không Lê Văn Tri điện xuống Sư đoàn 361 thông báo: “Đội hình tấn công của đối phương đã rối loạn. Chúng đang réo gọi nhau một cách hoảng loạn và kêu gào lực lượng tìm cứu phi công…”.

Vào nửa đêm hôm đó, Bộ tư lệnh Không quân chiến lược Hoa Kỳ đã hủy lệnh cho B-52 ném bom đợt 2 xuống các mục tiêu ở Hà Nội mà chuyển sang mục tiêu khác ở tít trên phía bắc. Các kíp tên lửa phòng không Việt Nam đã làm được cái điều mà người Nhật, Đức, Bắc Triều Tiên, Trung Quốc chịu không làm được trong các cuộc chiến trước, đó là lần đầu tiên và duy nhất trong lịch sử các chiến dịch tập kích đường không của Mĩ, đội hình máy bay ném bom đang trên đường tới tấn công mục tiêu đã phải thúc thủ quay về vì vấp phải hệ thống phòng không của đối phương. Dù đã cho hủy lệnh tấn công đợt hai nhưng SAC vẫn cố tung đợt tấn công thứ 3 tới đánh phá Hà Nội vào 4 giờ sáng ngày hôm sau, lúc mà lực lượng tên lửa phòng không Việt Nam đã được tiếp đạn đầy đủ, thêm 3 chiếc B-52 bị hạ. Tổng cộng trong đêm đó, 4 máy bay B-52G và 2 máy bay B-52B bị bắn rơi, một máy bay B-52D bị bắn hỏng.[45]

Ngày 25/12/1972

Các chuyên gia Liên Xô và các sĩ quan phòng không Việt Nam xem xét xác một chiếc B-52 bị bắn rơi ngày 23/12/1972 tại Hà Nội

Trong ngày này, Mỹ ngừng ném bom để nghỉ lễ Giáng sinh. Sáng 25/12/1972, Tổng thống Mỹ Richard Nixon tổ chức hop báo ở Nhà Trắng, tuyên bố rằng việc ném bom diễn ra chính xác và nhân đạo, chỉ nhằm vào các mục tiêu quân sự. Nhưng trên kênh truyền hình CNN của Mỹ lại để xuất hiện trên phông nền phía sau Nixon cảnh tượng các khu dân cư ở Hà Nội và Hải Phòng bị tàn phá. Tối 25-12-1972, sau khi xem lại kênh CNN, Richard Nixon đã quát mắng John Ehrlichman, trợ lý các vấn đề đối nội kiêm thư ký báo chí Nhà Trắng. Nixon lập tức ra lệnh phong tỏa thông tin về chiến dịch, đặc biệt là các thông tin về thiệt hại của B-52. Những người phát ngôn của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc chỉ được phép thông tin về số lượng các phi vụ và các mục tiêu đánh phá không sớm hơn 24 giờ sau khi các phi vụ đã hoàn tất.

Một số phi công B-52 đã chống lại lệnh bay nếu bộ chỉ huy Mỹ không thay đổi chiến thuật mà họ cho là rất ngu ngốc. Đại úy Michael Heig ở căn cứ Anderson đã trả lại bản kế hoạch ngay tại cuộc giao ban và từ chối thực thi nhiệm vụ. Một số phi công đã đòi gặp các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ để khiếu nại. Những người này lập tức bị bắt và đưa về Mỹ, vài người bị đưa ra xét xử tại tòa án quân sự của Bộ Chỉ huy Không quân chiến lược Mỹ (SAC).

Phía Việt Nam cũng tận dụng ngày này để tái bố trí lực lượng, sửa chữa khí tài và bổ sung đạn dược. Lực lượng tên lửa bảo vệ Hà Nội đã tăng lên 13 tiểu đoàn so với 9 tiểu đoàn trong giai đoạn đầu. Hướng Đông Bắc Hà Nội đã có thêm các tiểu đoàn hỏa lực tên lửa 71 và 72 của Đoàn Nam Triệu lên tăng cường. Hướng Đông Nam Hà Nội đã có hai tiểu đoàn 87 và 88 (Đoàn Hùng Vương) vừa sửa chữa xong khí tài, có nhiệm vụ đánh B-52 sau khi chúng ném bom và thoát ly ra hướng Đông và Đông Nam. Pháo cao xạ bảo vệ Hà Nội được tăng cường lên tới 7 trung đoàn, gồm 42 đại đội pháo các cỡ và 2 đại đội pháo 100mm của tự vệ Thủ đô. Gần 200 trung đội dân quân, tự vệ sử dụng các cỡ súng bộ binh cá nhân đến súng máy 14,5 mm bắn máy bay địch bay thấp đã được triển khai, 49 vọng quan sát phòng không đã được bố trí quanh Hà Nội.

Bộ Tư lệnh Quân chủng đề nghị trong trường hợp Mỹ đánh lâu dài hơn, Bộ Tổng tham mưu cho phép rút 2 tiếu đoàn hỏa lực 62 và 64 của Trung đoàn 236 (Đoàn Sông Đà) ở Vĩnh Linh (Quảng Trị) ra tăng cường cho Hà Nội. Cục Kỹ thuật quân chủng tập trung khôi phục các khí tài bị hỏng, bảo dưỡng các khí tài hiện có, điều hàng trăm đạn tên lửa dự trữ từ Thanh Hóa và Quân khu 4 ra tăng cường cho Hà Nội. Đến chiều tối 26/12/1972, các tiểu đoàn tên lửa bảo vệ Hà Nội đã có 125 quả đạn SA-2 sẵn sàng chiến đấu.

Ngày 26/12/1972

Từ 22 giờ 15 phút đến 23 giờ 42 phút, Mỹ huy động 120 lần chiếc B-52 và 113 lần chiếc máy bay cường kích dồn dập tấn công liên tục, ném bom, phóng tên lửa với mật độ dày đặc chưa từng có vào Hà Nội, Hải Phòng và Thái Nguyên cùng một lúc, không chia thành các đợt như những hôm trước. Đây là cuộc tấn công dữ dội nhất của Mỹ trong chiến dịch.

Không quân Mỹ đánh phá hủy diệt vào các khu dân cư Khâm Thiên, An Dương, Khu tập thể Nhà máy dệt 8-3, Khu tập thể Mai Hương… các sân bay Bạch Mai, Gia Lâm, các ga và điểm tập kết hàng tại Ngã Tư Vọng, Yên Viên, Gia Lâm, Văn Điển, Giáp Bát, Cổ Loa, Đông Anh, Bắc Hồng. Lúc 22 giờ 47 phút, khu phố Khâm Thiên bị trúng 3 vệt bom B-52 kéo dài từ Ô Chợ Dừa đến sát Công viên Thống Nhất, các loạt bom trùm lên cả hai bên dãy phố dài tới 1,2 km. 278 người chết, trong đó có 91 phụ nữ, 40 cụ già, 55 trẻ em, làm cho 178 cháu nhỏ bị mồ côi, trong đó có 66 cháu bị mồ côi cả cha lẫn mẹ, hơn 290 người bị thương. Hơn 2.000 căn nhà bị sập, trong đó có 534 ngôi nhà bị phá hủy hoàn toàn.

Các đài Radar điều khiển – dẫn bắn SNR-75 của hệ thống SAM-2 được ngụy trang kỹ để tránh bị không quân Mỹ oanh tạc

Lúc 22 giờ 25 phút đến 22 giờ 28 phút, bốn tiểu đoàn tên lửa (57, 79, 86, 87) đánh 7 trận, bắn 13 đạn vào các tốp 600 và 602, chỉ được công nhận đánh trúng 1 B-52 nhưng không rơi tại chỗ. Hồi 22 giờ 29 phút, 1 tốp B-52 số hiệu 602 đang rải bom xuống ga Giáp Bát đã bị Tiểu đoàn tên lửa 78 (Đoàn Cờ Đỏ) ở trận địa Thanh Mai đánh trúng; rơi tại Định Công (Thanh Trì, Hà Nội). Đến 22 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 76 (Đoàn Cờ Đỏ) đóng ở Dương Tế tiếp tục đánh trúng tốp 602. Chiếc B-52 thứ hai của tốp này rơi tại Tương Mai (Hai Bà Trưng, Hà Nội). Hồi 22 giờ 33 phút, Tiểu đoàn 93 (Đoàn Thành Loa) tại Phú Thụy đánh trúng chiếc B-52 thuộc tốp 603 trên không phận sân bay Nội Bài. Máy bay rơi tại Đèo Khế (Sơn Dương, Tuyên Quang). Lúc 22 giờ 42 phút, Tiểu đoàn 79 (Đoàn Cờ Đỏ) tại Yên Nghĩa đánh trúng một chiếc B-52 thuộc tốp 406, máy bay rơi tại Pa Háng (Sơn La). Trận đánh lớn kết thúc hồi 22 giờ 52 phút khi Tiểu đoàn 59 phóng quả đạn cuối cùng vào tốp B-52 mang số hiệu 401.

Tại Hải Phòng, lúc 22 giờ 24 phút, các Đại đội 172 và 174 cao xạ 100 mm thuộc Trung đoàn 252 đánh rơi một B-52 thuộc tốp 402 tại toạ độ 760 trên Vịnh Bắc Bộ. Đến 22 giờ 36 phút, Tiểu đoàn tên lửa 81 (Đoàn Hạ Long) tại An Hồng đánh trúng một B-52 thuộc tốp 404, rơi tại toạ độ 770 (Vịnh Bắc Bộ). Hồi 22 giờ 48 phút, Đoàn 256 cao xạ 100 mm của Quân khu Việt Bắc tại Thái Nguyên cũng đánh trúng B-52 trong tốp 415 nhưng không rơi tại chỗ.

Đây là trận đánh then chốt có tính quyết định và cũng là trận mà số liệu thống kê máy bay rơi của hai bên mâu thuẫn nhiều nhất. Các tiểu đoàn tên lửa phòng không bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng đã đánh 27 trận, tiêu thụ 49 tên lửa, được ghi nhận đã bắn rơi 8 chiếc B-52, trong đó có 4 chiếc rơi tại chỗ. Phía Hoa Kỳ chỉ thừa nhận có 1 chiếc rơi tại chỗ (B-52D số đuôi 56-0674, mật danh “Ebony 02”, xuất phát từ U-Tapao) và 1 chiếc rơi tại Thái Lan (B-52D số đuôi 55-0584, mật danh “Ash 01”, xuất phát từ U-Tapao).[50] Ngoài ra, theo thống kê của bộ phận bảo trì hãng Boeing còn có ba chiếc B-52D bị bắn hỏng (chiếc 55-0062, mật danh “Cream 01” và chiếc 55-0090, mật danh “Cream 02” đều xuất phát từ Andersen và chiếc 56-0629, mật danh “Black 03” xuất phát từ U-Tapao).[51]

Một điều thú vị và cũng rất quan trọng là trong buồng lái (cockpit) của chiếc máy bay B-52 rơi xuống Tương Mai, Bộ Tư lệnh Thủ đô đã thu được một chiếc cặp trong đó có chứa các tài liệu kế hoạch bay, lịch bay, đội hình bay, mục tiêu đánh phá của B-52 và bản đồ các mục tiêu, lộ trình bay kèm theo. Các tài liệu được gửi khẩn cấp lên Bộ Tổng tham mưu và được giao cho Cục Tình báo tổ chức nghiên cứu, phân tích ngay. Bộ Tổng tham mưu đã giữ bí mật tuyệt đối về chiếc cặp chứa nhiều tài liệu quan trọng thu được trên chiếc máy bay bị bắn rơi. Mãi đến gần đây, các tài liệu đó mới được tiết lộ.

Ngày 27/12/1972

Phi công Phạm Tuân được ghi nhận đã bắn rơi 1 máy bay B-52 trong đêm 27/12/1972

Đến ngày 27/12, tình trạng thiếu đạn trên bệ phóng đã được khắc phục. Lực lượng tên lửa phòng không đánh B-52 được bổ sung một khối lượng đạn khá lớn từ Thanh Hóa và Quân khu IV chuyển ra. Số lượng tên lửa dự trữ của các trung đoàn tên lửa phòng không quanh Hà Nội và Hải Phòng đã lên đến hàng trăm quả, các tiểu đoàn tên lửa đã được cung cấp tới 3 cơ số đạn. Tại mỗi tiểu đoàn kỹ thuật cũng đã có dự trữ hơn 60 quả tên lửa chưa lắp ráp.

Sau trận đánh lớn đêm 26/12, những đêm tiếp theo, số phi vụ hoạt động của B-52 sụt hẳn, mỗi đêm Mỹ chỉ cho khoảng 60 chiếc B-52 cất cánh. Đêm 27 tháng 12, Không lực Hoa Kỳ huy động 60 chiếc B-52, đồng thời tiếp tục sử dụng 26 chiếc A-7 và 29 chiếc F-4 đánh phá ban ngày để dọn đường cho B-52 tập kích ban đêm. Phán đoán sự “xuống sức” của Mỹ, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân hạ quyết tâm đánh một trận tiêu diệt lớn. Các đơn vị tên lửa được lệnh bắn không hạn chế, không cần tiết kiệm để có thể đánh rơi nhiều B-52 hết mức có thể, gây thêm sức ép để buộc Mỹ phải chấm dứt chiến dịch.

Hồi 23 giờ 00 phút, Tiểu đoàn tên lửa 94 (Đoàn Thành Loa) ở Tam Sơn bắn rơi một B-52 tại Quế Võ (Bắc Ninh). Lúc 23 giờ 03 phút, Tiểu đoàn tên lửa 72 (Đoàn Nam Triệu) từ trận địa Đại Chu bắn rơi tại chỗ một B-52 trên đường Hoàng Hoa Thám và hồ Hữu Tiệp (Ba Đình, Hà Nội); cách Hội trường Ba Đình khoảng 800 m. Đến 23 giờ 04 phút, Tiểu đoàn 77 (Đoàn Cờ Đỏ) từ trận địa Chèm đánh trúng một B-52 nhưng không rơi tại chỗ. Tiểu đoàn 59 (Đoàn Cờ Đỏ) ở trận địa Xuân Đồng cũng bắn trúng một B-52 nhưng không rơi tại chỗ. Phía Hoa Kỳ thừa nhận chiếc B-52 số đuôi 56-0605, mật danh “Cobalt 02” cất cánh từ Andersen bị bắn rơi tại chỗ lúc 23 giờ 03 phút; chiếc B-52 số đuôi 56-0599, mật danh “Ash 02” bị trúng SA-2 lúc 23 giờ và rơi tại Lào. Ngoài ra hãng Boeing còn ghi nhận thêm một chiếc B-52 bị hư hại do MiG bắn (số hiệu 56-0083).

Cũng trong đêm 27 tháng 12, không quân chiến thuật Hoa Kỳ xác nhận chiếc trực thăng HH-53 mật danh “Jolly Green” bị súng phòng không tầm thấp bắn hạ khi đang làm nhiệm vụ tìm cứu phi công ở Hòa Bình.[52]

Chiếc máy bay MIG21MF mang số hiệu 5121 mà Phạm Tuân đã điều khiển và bắn rơi một máy bay B52 vào ngày 27/12/1972

Cũng trong đêm ngày 27 tháng 12, lần đầu pháo đài bay B-52 bị hạ bởi một máy bay tiêm kích MiG-21, do Phạm Tuân điều khiển. B-52 tuy chỉ có khả năng không chiến yếu, nhưng nó luôn có đội hình gồm hàng chục chiếc tiêm kích F-4 bay theo để bảo vệ, nên việc công kích là rất khó. Phạm Tuân kể lại: Do B-52 trang bị nhiều mồi nhiệt làm nhiễu đầu dò tên lửa nên ông đã cố gắng áp sát B-52 ở cự ly 2–3 km rồi mới phóng tên lửa (dù tầm bắn của tên lửa là 8 km), ở cự ly này tên lửa chỉ mất 2-3 giây để tới mục tiêu nên chiếc B-52 sẽ không kịp thả mồi nhiễu. Rút kinh nghiệm từ vụ của Vũ Đình Rạng (chỉ phóng 1 quả tên lửa thì không đủ để hạ tại chỗ B-52) nên ông đã phóng liền cả hai tên lửa vào mục tiêu, không giữ lại tên lửa dự phòng. Sau khi bắn, Phạm Tuân giảm tốc, kéo máy bay lên cao và lật ngửa để thoát ly thì nhìn thấy chiếc B-52 nổ, sau đó máy bay lao vượt qua phía trên điểm nổ. Tuy nhiên do động tác cơ động thoát ly cấp tốc này nên máy ảnh phía mũi chiếc MiG-21 đã không thể chụp lại khoảnh khắc đó làm tư liệu.

Phạm Tuân kể tiếp: “Khi lên trời rồi, phi công phải nhanh chóng đi vào điều kiện thuận lợi, vậy chúng ta phải phán đoán F-4 thường chặn chúng ta ở đâu, tầm cao nào để chúng ta tránh. Nếu F-4 bay ở độ cao 3 km thì chúng ta phải bay cao hơn, tốc độ hơn. Tất cả những kinh nghiệm đó để xây dựng thành phương án bay để tránh F-4. Lên thấy F-4 nhiều lắm, bên phải có, bên trái có. Bên dưới chỉ huy là vượt qua mà đi. Vậy vượt qua bằng cách nào? Ở đây là bản lĩnh của phi công, phải phán đoán được tình huống như thế nào. Trận đánh B-52 của tôi rất nhanh, tiếp cận B-52 chưa đầy một phút. Khi tiếp cận đằng sau B-52 với tốc độ rất cao, 1.500 km/h so với tốc độ của B52 là 900 km/h nên đã vượt qua tất cả. Vượt qua phải bao gồm tất cả nỗ lực, từ tổ chức chỉ huy, sân bay cất cánh, dẫn đường, để có được điều kiện tốt nhất. Hiệp đồng với binh chủng tên lửa phải chặt, khi tên lửa bắn lên F-4 phải dạt ra tránh, chúng tôi tranh thủ để vượt qua. Rồi lựa chọn hướng vào tiếp cận B-52 như thế nào. Tất cả tạo nên điều kiện thuận lợi nhất đánh B-52. Tôi bắn B-52 xong rồi mà F-4 vẫn ở đằng sau nhưng không làm gì được.”

Một số nguồn tài liệu Hoa Kỳ cho rằng tên lửa của ông đã bắn trượt, chiếc B-52 đã trúng tên lửa SA-2 rồi nổ trên không trung, khiến Phạm Tuân nghĩ rằng tên lửa của ông đã phá hủy mục tiêu.[53] Nhưng nếu phân tích, điều này là rất khó xảy ra. Thời gian từ khi phóng tên lửa tới khi thoát ly của Phạm Tuân chỉ kéo dài 4-5 giây. Trong số các phi công Mỹ bị bắt, trung úy Paul Louis Granger, phi công phụ lái B-52 khai máy bay của anh ta bị MiG bắn trước, sau đó lại bị tên lửa SA-2 bồi thêm.[54] Tuy nhiên đó là trường hợp của chiếc B-52D số hiệu 56-0622, mật danh “Orange 03” bị bắn rơi tại Yên Viên lúc 20 giờ 32 phút (tức 13 giờ 32 phút giờ GMT) ngày 20 tháng 12 năm 1972.[55][56]

Ngày 28/12/1972

Trong ngày 28/12, phi công Hoàng Tam Hùng với chiếc MiG-21 đã bắn hạ 1 chiếc RA-5C, khi quay về thì quần nhau với 12 chiếc F-4 của địch. Hoàng Tam Hùng dùng quả tên lửa thứ hai hạ thêm 1 chiếc F-4J rồi máy bay của anh bị trúng một quả tên lửa AIM-78 của máy bay Mỹ tấn công từ phía sau. Hoàng Tam Hùng hy sinh cùng máy bay khi 24 tuổi.

Đêm 28 tháng 12, Không quân Mỹ sử dụng 36 chiếc B-52 vào ném bom Đông Anh, Đa Phúc, Yên Viên, Gia Lâm; 24 chiếc B-52 ném bom Đồng Mỏ (Lạng Sơn). Phi công Vũ Xuân Thiều được ghi nhận đã hạ được B-52 trên bầu trời Sơn La, nhưng máy bay bị rơi cùng với máy bay địch và Vũ Xuân Thiều tử trận.

Ngày 29/12/1972

Trong ngày 29-12-1972, không quân Mỹ tiếp tục sử dụng 50 máy bay chiến thuật đánh vào các trận địa phòng không và các đầu mối giao thông quanh Hà Nội. Tuy nhiên, đêm 29/12/1972, Không quân Mỹ không vào đánh Hà Nội mà sử dụng 24 chiếc B-52 đánh thành phố Thái Nguyên, 9 chiếc B-52 đánh sân bay Hòa Lạc, 21 chiếc B-52 đánh cụm kho – ga Đồng Mỏ (Lạng Sơn). Do B-52 không bay vào Hà Nội nên ở ngoài tầm bắn của phần lớn các hệ thống SA-2 xung quanh Hà Nội, chỉ có 3 tiểu đoàn SA-2 đóng ở ngoại ô phía bắc Hà Nội là có thể tham chiến (đánh tốp B-52 bay vào sân bay Hòa Lạc và thành phố Thái Nguyên).

Lúc 23 giờ 24 phút đêm 29/12/1972, Tiểu đoàn hỏa lực 79 đóng tại trận địa Yên Nghĩa báo cáo đã bắn cháy 1 chiếc B-52 nhưng không rơi tại chỗ.

Đến sáng 30-12-1972, bằng những nỗ lực khôi phục giao thông đường sắt, hệ thống tên lửa S-125 Pechora (Mỹ gọi là SAM-3) đầu tiên đã về đến Hà Nội. Tiểu đoàn hỏa lực 169 lập tức triển khai trận địa và bố trí trực chiến, đã lắp ráp được 4 quả đạn để chuẩn bị chiến đấu vào đêm hôm đó. Trong những ngày tiếp theo, sẽ có tổng cộng 2 trung đoàn tên lửa S-125 Pechora (mỗi trung đoàn gồm 6 tiểu đoàn hỏa lực và 1 tiểu đoàn kỹ thuật) cùng hơn 200 tên lửa được triển khai chiến đấu.

So với SAM-2 thì SAM-3 có tầm bắn ngắn hơn (28 km so với 34 km) nhưng vẫn đủ để với tới B-52, trong khi lại gọn nhẹ và tốc độ bắn nhanh hơn (có 2 tên lửa/1 bệ phóng thay vì 1 tên lửa như SA-2), radar của SAM-3 dùng tần số quét khác với SAM-2 nên sẽ tạo yếu tố bất ngờ (Mỹ chưa đề ra các biện pháp gây nhiễu tần số này). Nếu tham chiến thì SAM-3 có thể đạt xác suất trúng mục tiêu cao hơn SAM-2. Nhưng hôm đó, Tổng thống Mỹ Nixon ra lệnh chấm dứt ném bom phía Bắc vĩ tuyến 20. Các đơn vị SAM-3 đã không có cơ hội đối đầu với B-52 của Không quân chiến lược Mỹ.

Kết quả

Số lượng máy bay Mỹ bị bắn hạ

Thiệt hại của Không quân Mỹ theo phía Mỹ công bố là 11 chiếc B-52 đã bị bắn rơi trên lãnh thổ Bắc Việt Nam, 5 chiếc khác rơi tại Lào hoặc Thái Lan. 26 phi công B-52 được cứu thoát, 33 người khác bị chết hoặc mất tích, 33 bị bắt làm tù binh chiến tranh. Đồng thời không quân chiến thuật Mỹ mất 12 máy bay (2 F-111, 3 F-4, 2 A-7, 2 A-6, 1 EB-66, 1 trực thăng cứu hộ HH-53 và 1 máy bay RA-5C), 10 phi công chiến thuật bị chết, 8 bị bắt, và 11 được cứu thoát. Trong số 28 máy bay cả B-52 và chiến thuật bị bắn rơi, 17 trường hợp do trúng tên lửa SA-2, 3 trường hợp do bị máy bay MiG tấn công vào ban ngày, 3 do pháo phòng không, và 3 trường hợp không rõ nguyên nhân.

Tuy nhiên, số liệu của không quân Mỹ bị nghi ngờ do cách tính thiệt hại của họ có phần mập mờ. Nếu một chiếc máy bay bị hư hỏng nặng, nhưng vẫn quay về được sân bay, thì Mỹ sẽ không tính chiếc máy bay đó bị tiêu diệt, ngay cả khi nó bị hỏng nặng tới mức không thể bay trở lại. Trong chiến dịch, Không quân Mỹ nói với báo chí rằng 17 chiếc B-52 đã bị mất. Sau đó, Không quân Mỹ lại báo cáo với Quốc hội rằng chỉ có 13 chiếc B-52 bị mất. Chín chiếc B-52 trở về sân bay U-Tapao bị hư hỏng quá nặng để có thể bay trở lại. Số lượng B-52 hư hại quay về được sân bay đảo Guam thì vẫn chưa được biết. Như vậy, số B-52 bị mất (rơi tại chỗ hoặc hỏng nặng không thể bay trở lại) có lẽ là từ 22 đến 27 chiếc.

Theo số liệu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tổng cộng trong 12 ngày đêm có 81 máy bay các loại bị bắn rơi, trong đó có 34 chiếc B-52 (có 16 chiếc rơi tại chỗ), 5 chiếc F-111 (có 2 chiếc rơi tại chỗ). Trong số 34 B-52 bị bắn rơi, 23 chiếc là do lực lượng phòng không bảo vệ Hà Nội bắn rơi, 11 chiếc khác do lực lượng phòng không các tỉnh/thành phố khác bắn rơi.

Lực lượng Không quân Việt Nam đã xuất kích 31 phi vụ, trong đó có 27 phi vụ MiG-21 và bốn phi vụ MiG-17, tiến hành tám trận không chiến, tuyên bố bắn rơi 2 chiếc B-52, bốn chiếc F-4 Phantom và một RA-5C. Tổn thất của Việt Nam là ba chiếc MiG-21 bị bắn rơi.

Ngoài số máy bay bị rơi tại chỗ, có 4 chiếc B-52 khác bị trúng đạn hư hại nặng nhưng vẫn bay về được sân bay và 5 chiếc khác bị hỏng mức trung bình. Trong số B-52 bị bắn hỏng nặng, một số chiếc có thể bị hỏng nặng đến mức không bay được nữa, nhưng Mỹ lại không tính là “bị bắn rơi”, vì vậy số B-52 bị diệt trong thực tế có lẽ phải cao hơn con số 16 chiếc mà Mỹ công nhận (khi giám sát việc tiêu hủy B-52 theo hiệp ước cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược giai đoạn 2 (SALT-II), các chuyên gia Liên Xô phát hiện nhiều máy bay B-52 tại sa mạc Nevada thực chất là các B-52 đã bị bắn hỏng nặng tại Việt Nam, chúng không còn bay được nữa và được tập kết về đây để tiêu hủy).

Một mảnh xác máy bay B-52 bị bắn rơi tại hồ Hữu Tiệp, Hà Nội, trong Chiến dịch Linebacker II

Một số thống kê khác của Việt Nam:

  • Trong 34 B-52 bị bắn rơi, 29 chiếc là do tên lửa phòng không, 3 chiếc là do pháo cao xạ 100mm, 2 chiếc là do tiêm kích MiG-21.
  • Tên lửa phòng không bắn rơi 36 máy bay các loại, không quân tiêm kích bắn rơi 12 máy bay, còn lại là pháo hoặc súng máy cao xạ bắn rơi.
  • Đơn vị phát hiện B-52 đầu tiên: Đại đội radar 16 trung đoàn 291 – 19h10 ngày 18 tháng 12.
  • Đơn vị đầu tiên đánh B-52: Tiểu đoàn 78 trung đoàn 257 – 19h44 ngày 18 tháng 12.
  • Đơn vị bắn rơi B-52 đầu tiên: Tiểu đoàn 59 trung đoàn 261 – 20h13 ngày 18 tháng 12.
  • Trung đoàn 261 bắn rơi nhiều B-52 nhất: 12 chiếc.
  • Trung đoàn 257 bắn rơi tại chỗ nhiều B-52 nhất: 8 chiếc.
  • Tiểu đoàn 57 (trung đoàn 261) bắn rơi nhiều B-52 nhất: 4 chiếc.
  • Tiểu đoàn bắn rơi tại chỗ nhiều B-52 nhất: Tiểu đoàn 77 (trung đoàn 257) và Tiểu đoàn 93 (trung đoàn 261): mỗi tiểu đoàn bắn rơi 3 chiếc B-52.
  • Tiểu đoàn 79 (trung đoàn 257) bắn rơi chiếc B-52 cuối cùng: 23h16 ngày 29 tháng 12
  • Tiểu đoàn 72 (trung đoàn 285) bắn quả tên lửa cuối cùng trong chiến dịch: 23h29 ngày 29 tháng 12

Về dự trữ đạn dược của Việt Nam

Theo ước tính của Hoa Kỳ, Việt Nam đã phóng hơn 1.000 tên lửa sau 12 ngày đêm. Nghĩa là theo Mỹ ước tính thì lượng đạn tên lửa của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã sắp cạn kiệt, vì vậy có những ý kiến cho rằng nếu Hoa Kỳ kiên trì đánh phá thêm vài ngày thì có thể đã giành được chiến thắng. Tuy nhiên theo thống kê của Quân đội Nhân dân Việt Nam, thực ra trong toàn chiến dịch họ chỉ phóng 334 đạn tên lửa SA-2 (bao gồm 241 tên lửa phóng ở Hà Nội), bằng 60% dự trữ số đạn tốt của Hà Nội, Hải Phòng. Việc Hoa Kỳ ước tính sai số tên lửa đã phóng (cao gấp 3 lần thực tế) là do chiến thuật bắn “tên lửa giả” của Việt Nam (tên lửa vẫn nằm trên bệ phóng nhưng lại phát sóng điều khiển tên lửa ra ngoài để làm đội hình F-4 bảo vệ B-52 của Mỹ tưởng bị nhắm bắn, phải tìm cách né tránh làm rối loạn đội hình) Mặt khác, trong 12 ngày đêm, quân đội Việt Nam cũng phục hồi được hơn 300 tên lửa cũ để tái sử dụng, như vậy thực ra kho tên lửa dự trữ của Việt Nam chỉ sụt đi khoảng 6% (khoảng 30 quả).

Tuy dự trữ tên lửa trong kho còn nhiều, nhưng SA-2 là tên lửa phòng không thế hệ đầu, muốn sử dụng thì phải lắp ráp lại và bơm nhiên liệu. Đến ngày 24/12, một số đơn vị bị thiếu đạn trên bệ phóng do cục kỹ thuật không lắp ráp kịp. Tận dụng ngày nghỉ Noel (25/12), Việt Nam đã lắp ráp được hàng trăm quả tên lửa, nên từ ngày 26/12, tình trạng thiếu đạn trên bệ phóng đã được khắc phục. Số lượng đạn tên lửa mà các trung đoàn tên lửa phòng không quanh Hà Nội và Hải Phòng đang có đã lên đến hàng trăm quả. Tại mỗi tiểu đoàn kỹ thuật đã có dự trữ hơn 60 quả đạn chưa lắp ráp. Đến đêm 29 tháng 12, các đơn vị tên lửa phòng không Hà Nội được lệnh bắn không hạn chế số lượng đạn tên lửa, không có chuyện bị thiếu tên lửa vào cuối chiến dịch.

Cùng với đạn tên lửa, Việt Nam đã sử dụng 2.036 viên đạn pháo 100mm, 15.669 viên đạn 57mm, 19.454 viên đạn 37mm, 1.147 viên đạn 14.5mm đã được bắn, chiếm 66% lượng dự trữ của Hà Nội và Hải Phòng.

Như vậy, nếu tiếp tục duy trì cường độ chiến đấu, Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn có đủ đạn dược để chiến đấu thêm 20 ngày nữa. Ngoài ra, trong trường hợp kho đạn tại Hà Nội-Hải Phòng cạn kiệt thì có thể huy động hàng trăm đạn tên lửa từ các kho ở Khu IV (Thanh HóaNghệ An) để tiếp tục chiến đấu thêm khoảng 10 ngày. Chưa kể 2 trung đoàn tên lửa SA-3 mới có năng lực cao hơn SA-2 kèm thêm 200 tên lửa SA-3 được dự kiến sẽ đưa vào chiến đấu vào ngày 31 tháng 12 năm 1972. Như vậy, tổng cộng lượng tên lửa dự trữ có thể kéo dài chiến đấu thêm tới 40 ngày. Trên thực tế, khi các cuộc không kích của Hoa Kỳ tiếp diễn tại Khu IV trong tháng 1 năm 1973, các đơn vị tên lửa SA-2 của Việt Nam đóng ở Thanh Hóa vẫn đủ sức tiếp tục chiến đấu, bắn rơi và bắn hỏng thêm 4 chiếc B-52.

Kết quả sau chiến dịch

Các tác giả Dana Drenkowsky và Lester Grau cho rằng, Bộ chỉ huy Không quân chiến lược Mỹ (SAC) “mắc những sai lầm nghiêm trọng, chịu những tổn thất nặng nề trong một chiến dịch được xem là thất bại”:[28]Đòn phủ đầu với ba B-52 bị SAM bắn rơi tại chỗ, hai chiếc nữa bị bắn hỏng nặng ngay đêm đầu (số liệu của Mỹ) đã làm các nguyên soái Không quân Mỹ bị choáng váng. Tin này có vẻ đã bị giấu nhẹm, vì đến ngày 20-12 (6 chiếc B-52 bị bắn rụng, một chiếc khác bị hỏng nặng, vẫn theo số liệu của Lầu Năm Góc mà nhiều học giả Mỹ cho là không đáng tin) mới xuất hiện các ghi chép của Chánh văn phòng Nhà Trắng về sự “đau lòng nhức óc” của Tổng thống Richard Nixon trong một Nhà Trắng như tối sầm dưới sức đè những tổn thất quá lớn về B-52. Đâm lao phải theo lao, Nixon ra lệnh tiếp tục ném bom, nhưng ở quy mô nhỏ hơn và chuyển hướng không kích ra ngoài Hà Nội để tránh SAM-2. Đến đây đã có thể xem Linebacker II đã thất bại về chiến lược, tan ảo mộng chiến thắng, giúp làm nguội cái đầu nóng của ông chủ Nhà Trắng. Tác giả Drenkowsky viết: “Đêm 22 rạng ngày 23-12, trên đà thắng của bộ đội phòng không Hà Nội, không một cuộc không kích nào nhằm vào mục tiêu chính là Thủ đô của Việt Nam. Thay vào đó, 30 chiếc B-52 tiến công Cảng Hải Phòng, nơi được bảo vệ về phòng không kém hơn”.Không quân Mỹ sau ngày Noel tỏ ra biết thay đổi chiến thuật và kế hoạch không kích, thực ra là rút ngắn thời gian không kích và đánh phá các địa bàn ở xa Hà Nội, nhưng máy bay Mỹ vẫn tiếp tục bị bắn rụng như sung. Thậm chí, B-52 rơi không phải do một salvos (loạt đạn tên lửa) mà chỉ do một quả SAM-2 “đồ cổ” trên bầu trời Sơn La.Sách báo thời chiến của Mỹ ghi nhận một sự suy sụp về tinh thần chưa từng có trong các đơn vị Không quân Mỹ. Một đỉnh điểm của nó là có tới 9 chuyến bay B-52 bị đình chỉ đêm 26 rạng ngày 27-12, do trục trặc “cơ khí”. Đây là những “vết thương” từ các cuộc “dạo chơi” những đêm trước trên bầu trời Hà Nội, hay còn cả những cảm nhận “mở nắp buồng lái như mở cửa nhà mồ” của các tay lái “Pháo đài bay”?

Ngày 30 tháng 12 năm 1972, Tổng thống Nixon ra lệnh chấm dứt ném bom (với lý do duy nhất được phát ngôn viên của ông đưa ra là “có dấu hiệu rõ ràng rằng đàm phán nghiêm túc có thể được nối lại”) và hội đàm lại để ký kết hiệp định. Có hai xu hướng bình luận về sự kiện này. Một xu hướng cho rằng đó là do áp lực của dư luận thế giới và nhân dân Mỹ, và thất bại trong việc buộc Hà Nội nhượng bộ. Xu hướng khác lại cho rằng đó là do chiến dịch đã đạt được mục tiêu là chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tỏ ý muốn quay lại đàm phán. Nhưng đại tướng Võ Nguyên Giáp thì khẳng định phía Mỹ bỏ họp trước và chính phía Mỹ đề nghị nhóm họp lại bằng một công điện gửi vào ngày 22/12 (1 ngày sau khi 7 chiếc B-52 bị bắn hạ chỉ trong 1 đêm).

Trong bản ghi âm được giải mật sau này về cuộc trao đổi giữa Tổng thống Mỹ Richard Nixon và ngoại trưởng Henry Kissinger, Nixon nói rõ việc ông đã quyết định sẽ bỏ mặc “đứa con” Việt Nam Cộng hòa để có thể thoát khỏi cuộc chiến ở Việt Nam. Henry Kissinger: Tôi nghĩ Thiệu nói đúng đấy. Hiệp định đó (Hiệp định Paris) sẽ đẩy Việt Nam Cộng hòa vào thế nguy hiểm. Richard Nixon: Nó (Việt Nam Cộng hòa) phải tự chống đỡ thôi… Nếu nó chết thì cứ để cho nó chết. Nó lớn rồi, chúng ta không thể cứ cho nó bú mớm mãi được

Theo hồi ký Henry Kissinger, ngày 6/1/1973, Nixon đã chỉ thị cho Kissinger trở lại Paris, phải đạt cho được một giải pháp dù đối phương đưa ra những điều kiện nào, với “bộ dạng hoàn toàn khác ngày thường” (ý nói không còn tỏ ra ở thế thượng phong được nữa). Tổng thống Mỹ nhấn mạnh sẵn sàng chấp nhận trở lại văn bản đã thỏa thuận vào tháng 10/1972. Vậy là Hiệp định Paris đã được ký với nội dung về cơ bản không khác mấy so với phương án đã được ký tắt trước khi đàm phán bị đình trệ do Hoa Kỳ từ chối ký kết. Hoa Kỳ đã mất hàng chục máy bay để rồi vẫn phải ký vào văn bản mà họ không muốn ký, điều này có nghĩa rằng mục tiêu chủ chốt của Mỹ khi tiến hành Chiến dịch Linebacker II đã thất bại.

Sự phản đối của quốc tế

Thủ tướng Thụy Điển Olof Palme dẫn đầu đoàn biểu tình đòi Mỹ chấm dứt ném bom Việt Nam. Stockholm năm 1972

Chiến dịch ném bom bị phản đối rất mạnh mẽ trên khắp thế giới, công dân ở các nước Xã hội Chủ nghĩa gây áp lực để yêu cầu chính phủ của mình chính thức lên án các cuộc ném bom. Trung Quốc và Liên Xô đều đặn thể hiện sự bất bình trước việc tái ném bom, nhưng họ đã không có một động thái nào khác. Thực tế, các chỉ trích mạnh mẽ hơn lại là ở các nước phương Tây. Tại Paris, báo Le Monde so sánh với cuộc ném bom hủy diệt Guernica do Phát-xít Đức thực hiện trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Tờ báo lớn nhất của Anh, the Daily Mirror, bình luận: “Việc Mỹ quay lại ném bom Bắc Việt Nam đã làm cho cả thế giới lùi lại vì ghê sợ”. Các chính phủ Anh, Ý và Thụy Điển đã lên tiếng. Một trong những phản ứng dữ dội nhất là của Thủ tướng Thụy Điển, ông đã lên án cuộc ném bom là một tội ác chống lại loài người trên quy mô đạo đức của sự tàn bạo của phát xít tại trại tập trung Treblinka. Palme còn đích thân đến một cửa hàng tổng hợp để thu thập chữ ký cho một kiến nghị toàn quốc đòi chấm dứt ném bom – để gửi tới Nixon.

Tại Mỹ, Nixon bị chỉ trích là điên rồ (madman). Nhiều người trong số những người đã từng ủng hộ cuộc ném bom hồi tháng 5 nay chất vấn cả sự cần thiết và tính tàn bạo bất thường của Linebacker II. Quyển Võ Nguyên Giáp – Tổng tập hồi ký dẫn bài báo của hãng AP có đăng lời của Nguyễn Văn Thiệu vào tháng 8/1972 kêu gọi Mỹ “hãy ném bom tan nát miền Bắc Việt Nam”. Quyển hồi ký của Võ Nguyên Giáp cũng dẫn bài trên báo Nhân đạo (L’humanité) của Pháp bình luận rằng: “Ngay cả trong Chiến tranh thế giới thứ hai, những viên tướng Pháp phản bội cũng không dám đề nghị đồng minh của chúng (Đức Quốc xã) tàn phá Paris (để ngăn quân Anh-Mỹ). Thế mà nay Thiệu lại muốn Mỹ ném bom tàn phá đất nước mình. Thiệu thật đáng xấu hổ hơn cả sự xấu hổ”.

Đánh giá

Danh sách các đơn vị phòng không và không quân Việt Nam đã bắn hạ máy bay B52 được trưng bày tại Bảo tàng Phòng không Không quân, Hà Nội.

Sách báo Việt Nam gọi chiến dịch Linebacker II này là trận Điện Biên Phủ trên không, như một cách nêu bật thắng lợi của lực lượng phòng không Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong chiến dịch.

Charles Barrows, đại úy hoa tiêu B-52 bị bắt làm tù binh đặt vấn đề ngay khi còn ngồi ở Hỏa Lò“Hệ thống điện tử trên máy bay B-52 rất tinh vi và đắt tiền nhưng vẫn không gây nhiễu nổi rađa Bắc Việt Nam. Siêu pháo đài bay B-52 đã cải tiến nhiều lần, máy móc rất tốt… Các phi công B-52 được huấn luyện công phu, thành thạo các chiến thuật hiện đại và B-52 được bảo vệ dày đặc, nhưng vẫn bị bắn rơi vì đạn phòng không… Không quân chiến lược của Mỹ không thể chịu đựng nổi tỷ lệ tổn thất về B.52 trên bầu trời Hà Nội”.

Trên tạp chí Không quân Mỹ, John L. Frisbee viết: “Trong thời kỳ Thế chiến thứ 2, tổn thất máy bay ném bom bị phòng không hay máy bay chiến đấu đối phương bắn hạ tại hai chiến trường chính yếu được ước tính trung bình: cứ 64 phi xuất thì có 1 chiếc bị bắn hạ. Trái lại, trên không phận Hà Nội và Hải Phòng thì cứ 49 phi xuất lại có một B-52 bị bắn rơi”.

Cựu Phó Tham mưu trưởng không quân Mỹ khi trả lời tạp chí AirForce vào tháng 6/1973 cũng thừa nhận: “Bắc Việt Nam rõ ràng là có nhiều kinh nghiệm bắn tên lửa SAM cũng như các loại súng phòng không khác. Họ cũng có nhiều kinh nghiệm trong việc phát hiện máy bay từ các đài điều khiển mặt đất… Không quân Mỹ đã tiến hành chiến tranh điện tử trên quy mô lớn, nhưng các máy bay vẫn dễ bị tổn thương. Chúng tôi cho rằng Bắc Việt Nam đã phát triển được các lực lượng phòng không dày dạn kinh nghiệm nhất thế giới. Rõ ràng họ có kinh nghiệm hơn bất cứ nước nào trong việc phóng tên lửa để hạ máy bay”.

Ngay khi mặt trời mọc vào sáng hôm 19-12, 2 chiếc B-52 đã bị hạ ngay trong đêm đầu tiên. Điện mừng từ khắp nơi tới tấp gửi về Bộ tư lệnh phòng không Thủ đô. Tướng Nhẫn nhớ lại: “Một bầu không khí đặc biệt tràn ngập sở chỉ huy các cấp từ các tiểu đoàn tới Bộ tổng tham mưu, từ hậu phương miền Bắc tới tiền tuyến miền Nam. Việc lực lượng phòng không Thủ đô đã đương đầu và giáng trả được loại vũ khí mạnh nhất của Mĩ, điều đó đã làm nức lòng quân dân cả nước”.

Đại tá Markov Lev Nicolayevich, từ tháng 10-1971 đến tháng 8-1972 từng giảng dạy tại Trường Sĩ quan Phòng không và huấn luyện các kíp trắc thủ tên lửa cho Việt Nam. Ông cho rằng: “Tôi đã nghiên cứu kỹ chiến lược chiến tranh của nhiều nước và thấy rằng, trên thế giới ít có cuộc chiến nào mà bên phòng vệ thắng bên tấn công, nhất là khi có sự chênh lệch quá lớn về tiềm lực quân sự, vũ khí trang bị như giữa quân đội Việt Nam và quân đội Mỹ, đặc biệt là “siêu pháo đài bay B-52“, mà người Mỹ khoe là không thể bị bắn hạ! Vậy mà Việt Nam đã đánh thắng rất giòn giã. Đó thực sự là cuộc chiến tranh của trí tuệ với trí tuệ, thông minh “chọi” thông minh, chứ không phải là cuộc chiến tranh thông thường!”.

Tác giả Marshall Michael viết: “Sau này hai phía mới chỉ dừng ở việc cùng công nhận rằng Linebacker II là trận đấu quan trọng quyết định cục diện chiến tranh. Đối với người Mỹ, Hiệp định hòa bình Paris đã giúp tổng thống Nixon hoàn thành mục tiêu đưa tù binh về nước và chấm dứt sự can dự của Mỹ vào cuộc chiến Việt Nam mà vẫn thực hiện cam kết làm chỗ dựa cho chính quyền Nam Việt Nam. Người Việt Nam lại cho rằng chiến dịch ném bom của Mỹ là nhằm mục đích buộc họ khuất phục và rút quân khỏi Miền Nam. Vậy nên khi bản Hiệp định cho phép họ vẫn được giữ quân ở Miền Nam, người Việt Nam cho rằng chiến dịch Linebacker II đã thất bại và niềm tin này càng được củng cố khi quân đội của họ trú quân ở phía nam tiến hành chiến dịch tổng tiến công thống nhất đất nước vào năm 1975. Nhưng để hiểu một cách tường tận sự khác biệt quan điểm này, tôi đã phải ghi nhận cách hiểu của người Việt rằng Linebacker II đơn giản chỉ là một thắng lợi trong chuỗi thắng lợi trong suốt 30 năm kháng chiến giành độc lập. Bằng chứng cho thắng lợi đó là việc họ đã hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước.”

Thông tin liên quan

Trong thời gian diễn ra chiến dịch, Mỹ và quân đội Sài Gòn cũng tận dụng để tung ra các thông tin tâm lý chiến nhằm làm lung lay tinh thần đối phương. Ví dụ như ngày 24/12/1972, trên trang nhất tờ The Sunday Times (Mỹ) đăng tin: “Tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng Bắc Việt Nam, đã thiệt mạng trong một vụ nổ ngày hôm qua khi thị sát những tổn thất sau các đợt ném bom tại Hải Phòng, theo nguồn tin tình báo Nam Việt Nam. Nguồn tin này cho biết một quả “mìn nổ chậm” đã phát nổ khi Tướng Giáp thị sát kho quân sự Trần Hưng Đạo tại thành phố cảng. Không có thêm chi tiết về vụ việc…” Thông tin này sau đó vài ngày được chứng minh là bịa đặt.

Tưởng nhớ

Khu phố Khâm Thiên, Hà Nội sau trận ném bom của B-52 đêm 26 tháng 12 năm 1972

Trong trận bom rải thảm phố Khâm Thiên, Hà Nội đêm 26 tháng 12 năm 1972 đã làm chết 278 người, trong đó có 91 phụ nữ, 40 cụ già, 55 trẻ em; làm cho 178 cháu mồ côi trong đó có 66 cháu mồ côi cả cha lẫn mẹ; 290 người bị thương, 2.000 ngôi nhà, trường học, đền chùa, rạp hát, trạm xá bị sập, trong đó có 534 ngôi nhà bị phá hủy hoàn toàn.

Ngôi nhà số 51 phố Khâm Thiên chỉ còn là một hố bom, bảy người sống trong ngôi nhà này không còn ai sống sót. Mảnh đất này trở thành một đài tưởng niệm với một tấm bia mang dòng chữ “Khâm Thiên khắc sâu căm thù giặc Mỹ” và một bức tượng bằng đồng tạc hình một phụ nữ bế trên tay một đứa trẻ đã chết vì bom Mỹ, tượng được lấy nguyên mẫu từ chính chủ nhân của ngôi nhà bị hủy diệt này. Kể từ sau trận bom ấy, hàng năm, đến những ngày kỉ niệm trận bom, người dân trên phố, và nhiều nơi khác tới đây thắp hương tưởng niệm những người đã chết vì bom Mỹ.

Trong sân bệnh viện Bạch Mai có tấm bia mang chữ “Căm thù” để ghi nhớ về vụ B-52 ném bom trúng bệnh viện này vào ngày 22 tháng 12. khiến 1 bệnh nhân và 30 y tá, bác sĩ thiệt mạng, có 1 y tá đang mang thai 3 tháng[70]. (khi đó hầu hết bác sĩ, bệnh nhân đã được sơ tán. Mỗi khoa chỉ giữ lại vài ba người để trực cấp cứu. Có khoảng 300 bệnh nhân ở dưới hầm).

Nữ dân quân tự vệ Phạm Thị Viễn thuộc Đội tự vệ của Nhà máy Cơ khí Mai Động, đã tham gia bắn hạ một chiếc cường kích hạng nặng hiện đại F-111 bằng 19 phát đạn súng máy phòng không 14,5mm. Năm 1967, mẹ cô bị bom Mỹ giết hại, đến ngày 26/12/1972 thì cha cô cũng bị bom Mỹ giết. Cô đã chít khăn tang rồi trở lại trận địa, trực chiến cùng đồng đội. Trong bài thơ “Việt Nam – Máu và Hoa”, nhà thơ Tố Hữu đã viết dành tặng cho cô:

Trắng khăn tang, em chẳng khóc đâu
Hỡi em gái mất cha mất mẹ
Nước mắt rơi không nhòa mặt quân thù
Em phải bắn, trúng đầu giặc Mỹ…
Lịch sử muốn bay cúi đầu tội lỗi
Dưới gươm thiêng hùng khí Thủ đô
Cả bốn biển hoan hô Hà Nội
Pháo đài bay rụng đỏ mặt hồ…
Không nỗi đau nào của riêng ai
Của chung nhân loại chiến công này
Việt Nam ơi, máu và hoa ấy
Có đủ mai sau, thắm những ngày?”

NPH2019_694: Trận oanh tạc Linebacker 1 bắt đầu ngày 16/4/1972 và thời sự cộng đồng.

Ngày 18/12 bắt đầu Điện Biên Phủ trên không (Linebacker 2) nhưng ít người biết Linebacker 1, ngày 16/4/1972.
Vui lòng bấm “Đăng Ký” (màu đỏ góc phải bên dưới) để nhận thông báo video mới nhất của kênh
https://www.youtube.com/KBCHNTV/
https://youtube.com/thacmac52
https://facebook.com/bac.ha.9655
Email: bacha52@gmail.com
ĐT: (+00) 1-714-469-3202
VN 0327941647

CHIẾN DỊCH LINEBACKER

Để giải tỏa áp lực tiến công của Quân giải phóng trong Chiến dịch hè 1972Hoa Kỳ quyết định mở Chiến dịch Linebacker, ném bom miền bắc Việt Nam, thả thủy lôi phong tỏa cảng Hải Phòng, nhằm làm kiệt quệ miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện cho miền Nam. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gọi chiến dịch này là “Chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai”.

Chiến dịch Linebacker bắt đầu ngày 16 tháng 4 năm 1972, thực sự là một đòn bất ngờ đối với miền Bắc, vì phần lớn lực lượng phòng không đã được điều động bảo vệ hậu phương của Chiến dịch hè 1972. Mặt khác, lần này Hoa Kỳ đã tung ra những loại máy bay và những đòn tiến công mạnh mẽ, ác liệt hơn so với cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1964-1968). Ngay ngày đầu tiên của cuộc chiến, Hà Nội bị đánh phá ác liệt. Tổng kho xăng dầu Đức Giang bốc cháy hơn 1 tuần lễ liền. Lần đầu tiên Hải Phòng bị B-52 rải thảm. Các cuộc oanh tạc Hà Nội và Hải Phòng cùng những hoạt động phóng ngư lôi phong toả các hải cảng ở miền Bắc Việt Nam, do Tổng thống Nixon ra lệnh vào tháng 5 để trả đũa Chiến dịch Xuân Hè 1972, đã giáng một đòn nặng nề vào kinh tế Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hoạt động vận chuyển hàng hóa từ bên ngoài vào miền Bắc, cũng như hoạt động tiếp tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho các chiến trường miền Nam Việt Nam bị suy giảm rõ rệt, dẫn đến những thay đổi lớn trong chiến cục năm 1972 tại Việt Nam.

Cho đến trước chiến dịch phòng không Hà Nội – Hải Phòng, chiến cuộc diễn ra ác liệt khắp miền Bắc. Cơ sở hạ tầng của miền Bắc từ đường bộđường sắt, cầu, cảng, nhà máy, cơ sở sản xuất cho đến đê điều đều bị tàn phá nặng nề. Đổi lại, về phía Hoa Kỳ cũng đã có 674 máy bay các loại bị bắn hạ (số liệu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Trong số các máy bay bị bắn rơi có 34 chiếc B-52, 4 chiếc F111.

Long Bien Bridge destroyed by LGBs 1972.jpg
Cầu Long Biên (Hà Nội) bị bom Mỹ phá hỏng, tháng 5 năm 1972
Chiến dịch Linebacker Một phần của Chiến tranh Việt Nam

Thông tin chung
Thời gian 9 tháng 5 – 23 tháng 10 năm 1972
0 năm, 167 ngày Địa điểm Miền Bắc Việt Nam Kết quả Cả hai bên đều tuyên bố chiến thắng
Tham chiến
 Hoa Kỳ
 Việt Nam Cộng hòa
 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Chỉ huy và lãnh đạo
Melvin R. Laird
Thomas H. Moorer
John Dale Ryan
John C. Meyer
John W. Vogt, Jr.
Võ Nguyên Giáp
Văn Tiến Dũng
Phùng Thế Tài
Lê Văn Tri
Hoàng Phương
Thương vong và tổn thất
VNDCCH tuyên bố: 674 máy bay Hoa Kỳ bị bắn hạ hoặc bị phá hủy tại căn cứ 125 tàu chiến Mỹ bị bắn chìm hoặc hư hại Hoa Kỳ tuyên bố: 134 máy bay Hoa Kỳ và 10 máy bay VNCH bị bắn hạ
(chưa tính số máy bay bị phá hủy tại căn cứ)
60 máy bay bị hạ (51 chiếc trong không chiến và 9 do tai nạn), thương vong lớn về thường dân
 

Diễn biến

Đợt 1 “Chiến thuật nhảy cừu”

Mở đầu chiến dịch này, ngày 6 tháng 4, Không lực Hoa Kỳ huy động hơn 150 lần chiếc máy bay, trong đó có 18 lần chiếc B-52 phối hợp với các pháo hạm ném bom, bắn phá các kho hàng, chân hàng và trận địa tên lửa của QĐNDVN tại Quảng Bình và Vĩnh Linh. Tiểu đoàn 52 Trung đoàn tên lửa 267 thuộc Sư đoàn phòng không 363B đã bắn rơi tại chỗ 1 chiếc F-4 tại Quảng HưngQuảng TrạchQuảng Bình. Đây là chiếc máy bay đầu tiên bị hạ trong Chiến dịch Linebacker.

Ngày 7 tháng 4 Không lực Hoa Kỳ tổ chức nhiều trận không kích lớn vào các đơn vị phòng không của QĐNDVN tại Vĩnh Linh và Quảng Bình; đánh hỏng 6 bộ khí tài, 7 tiểu đoàn tên lửa của các Sư đoàn phòng không 367 và 377 mất sức chiến đấu. Đợt tấn công đầu tiên của Không lực Hoa Kỳ kết thúc ngày 10 tháng 4. Tuy được công nhận bắn rơi 18 máy bay nhưng đợt tấn công này đã làm suy yếu đáng kể sự yểm hộ đất đối không của QĐNDVN cho chiến dịch Trị-Thiên. Phía Việt Nam phản ứng thận trọng. Ngày 7 tháng 4, Quân ủy Trung ương QĐNDVN ra chỉ thị: “Tăng cường sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết bảo vệ miền Bắc và làm tốt nhiệm vụ chi viện tiền tuyến trong tình hình mới”. Đến ngày 9 tháng 4, Bộ Tổng tham mưu QĐNDVN mới ban hành mệnh lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cho tất cả các lực lượng vũ trang trên toàn miền Bắc.

Đêm 9 rạng ngày 10 tháng 4, Không lực Hoa Kỳ huy động 50 lần chiếc máy bay, trong đó có 12 chiếc B-52 ném bom khu vực Vinh – Bến Thủy. Ngày 13 tháng 4, 64 lần chiếc máy bay cường kích và 6 chiếc B-52 không kích cầu Hàm Rồng và sân bay Thọ Xuân (căn cứ của MiG-21). Sư đoàn phòng không 365 của QĐNDVN ở khu vực này không bắn rơi được chiếc nào. 3 giờ sáng ngày 16 tháng 4. Không lực Hoa Kỳ tổ chức một trận đánh quy mô vào Hải Phòng; sử dụng 261 phi vụ chiến thuật và 9 phi vụ B-52 dội bom xuống thành phố kết hợp với sử dụng nhiễu điện tử ồ ạt và dày đặc. Các Trung đoàn tên lửa 285 và 238 QĐNDVN bảo vệ thành phố Hải Phòng đã bắn lên 93 quả đạn tên lửa nhưng không trúng chiếc B-52 nào. Sau trận này, tướng Mormoyer, tham mưu trưởng Không lực Hoa Kỳ tuyên bố: “B-52 của Không quân chiến lược Hoa Kỳ có thể đánh bất cứ địa điểm nào trên miền Bắc Việt Nam mà không gặp phải sự kháng cự đáng kể của đối phương”.

This image has an empty alt attribute; its file name is ThanhHoaBridge1.jpg
Cầu Hàm Rồng bị máy bay Mỹ sử dụng bom LORAN đánh hỏng năm 1972 (ảnh chụp từ trên không)

Trong các trận đánh tháng 4 năm 1972 ở miền Bắc, Không lực Hoa Kỳ đã sử dụng phổ biến các loại máy gây nhiễu điện tử có công suất lớn: ALQ (các phiên bản 51, 87, 100, 101) gây nhiễu radar điều khiển tên lửa đất đối không; ALR-18 gây nhiều radar của MiG-21ALQ-76 và QTR-13 gây nhiều ra đa pháo phòng không COH-9A. Các máy bay thế hệ mới được sử dụng có F-4D và E thay cho F-4C, F-105G thay cho F-105F, A-6 và A-7 thay cho A-4. Các kỹ thuật điều khiển vũ khí hiện đại có: hệ thống điều khiển bom bằng laser ZOT và KNIGHT. Các loại tên lửa chống ra đa mới như AGM-78AGM-88 cũng được đưa vào sử dụng kết hợp với loại AGM-45 cũ.

Sáng ngày 9 tháng 5, phân hạm đội tuần dương và khu trục số 11 thuộc Hạm đội 7 (Hải quân Hoa Kỳ) bắt đầu chiến dịch rải thủy lôi ngăn chặn, cô lập bờ biển Bắc Việt Nam với 7.963 quả ở 43 khu vực bến cảng, cửa sông của 10 tỉnh ven biển từ Quảng Bình đến Quảng Ninh; tập trung nhiều nhất ở các khu vực Hải Phòng, Cửa Hội, Hòn La và cửa sông Gianh.

Về chiến thuật, Không lực Hoa Kỳ không leo thang theo từng địa điểm từ Nam ra Bắc mà đánh theo lối “nhảy cừu”: từ Quảng Bình ra Vinh, Thanh Hóa (bỏ qua Hà Tĩnh) đến Hải Phòng, Hà Nội (bỏ qua Nam đồng bằng Bắc Bộ). Từ ngày 6 tháng 4 đến ngày 8 tháng 5, Không lực Hoa Kỳ và không quân của Hải quân Hoa Kỳ đã không kích 857 điểm trên miền Bắc, trong đó có: 345 mục tiêu giao thông, 215 mục tiêu dân sự, 85 mục tiêu quân sự. Các pháo hạm của Hạm đội 7 đã bắn 12.870 quả đạn vào các mục tiêu ven biển từ Đồ Sơn đến Vĩnh Linh. Theo phía VNDCCH, họ đã bắn rơi 89 máy bay của đối phương. Hoa Kỳ chỉ công nhận mất 15 chiếc.

Đợt 2-“Vùng 6”

This image has an empty alt attribute; its file name is 256px-F-4B_Phantoms_of_VF-161_and_A-7C_Corsairs_of_VA-86_drop_bombs_on_Vietnam_in_March_1973.jpg
Đội hình F-4 phối hợp với A-7 không kích miền Bắc Việt Nam

“Vùng 6” là mật danh của Không lực Hoa Kỳ chỉ không phận Hà Nội và các vùng lân cận có bán kính 50 dặm. Ngày 10 và 11 tháng 5, Không lực Hoa Kỳ tổ chức các trận đánh quy mô lớn vào Hà Nội và các khu vực lân cận. Tên lửa phòng không của QĐNDVN không bắn rơi được chiếc nào do bị gây nhiễu nặng bao gồm cả nhiễu trong đội hình từ các máy phát nhiều gắn trên máy bay ném bom, máy bay tiêm kích gây ra cũng như nhiễu ngoài đội hình từ các máy bay EB-66 và EC-121 gây ra. Các đầu mối giao thông chiến lược như cầu Long Biên, cầu Đuống, Cầu Phú Lương và nhiều khu công nghiệp ở miền Bắc bị máy bay Mỹ đánh hỏng trong thời gian ngắn. Bộ Tham mưu quân chủng phòng không – không quân QĐNDVN phải tổ chức điều chỉnh lại khí tài và tập huấn tác chiến tên lửa đối không để đối phó với các biện pháp chống tên lửa hiện đại của Không lực Hoa Kỳ và tổ chức lại thế trận phòng không trên toàn miền Bắc. Không quân tiêm kích của QĐNDVN bắn rơi 9 máy bay của đối phương (Hoa Kỳ công nhận rơi 5 chiếc). Trung đoàn không quân tiêm kích 923 (QĐNDVN) mất 2 chiếc MiG-17 trong trận bảo vệ cầu Phú Lương (Hải Dương) 

Song song với các cuộc không kích vào Hà Nội, Không lực Hoa Kỳ còn tổ chức các đợt tấn công vào các đầu mối giao thông quan trọng ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ. Trong các ngày từ 7 đến 30 tháng 5, hàng trăm lần chiếc cường kích tổ chức hơn 10 trận không kích cầu Ninh Bình nhưng không phá được cầu, chỉ đánh hỏng được các đoạn đường giao thông ở hai đầu cầu và mất 8 máy bay.

Từ ngày 15 tháng 5 đến cuối tháng 6, Không lực Hoa Kỳ tiếp tục tổ chức các trận đánh lẻ vào “Vùng 6” và các khu vực lân cận. Ngày 6 tháng 6, Trung đoàn tên lửa 261 bắn rơi một chiếc F-4 ở Yên Bái chấm dứt 2 tháng thúc thủ không đánh rơi máy bay đối phương của tên lửa phòng không. Ngày 27 tháng 6, Trung đoàn 261 hạ một F-4 rơi ở Đại Kim (Hà Nội); Trung đoàn 257 đánh rơi 1 F-105G ở Thanh Sơn (Phú Thọ). Đầu tháng 7 năm 1972, Không lực Hoa Kỳ phối hợp với không quân của hải quân Hoa Kỳ tổ chức 6 trận đánh lớn vào Hà Nội. Các đơn vị tên lửa quanh Hà Nội đã cơ động ra vòng ngoài, hình thành thế ngoài đánh vào, bắn rơi 6 chiếc F-4 và F-105. Trong tháng 6, các Trung đoàn không quân tiêm kích 921 và 923 Không quân Nhân dân Việt Nam cũng bắn rơi 16 máy bay của đối phương và chịu tổn thất 4 chiếc. Lực lượng dân quân tự vệ của các tỉnh miền Bắc cùng tham gia với quân đội chính quy đánh các máy bay bay thấp của Hải quân Hoa Kỳ. Trong các ngày 12, 17, 19 và 21 tháng 7 các đơn vị này đã bắn rơi 3 chiếc A-7 và 1 chiếc F-4H. Ngày 27 tháng 6, Không quân Mỹ tổ chức một trận tập kích lớn vào Hà Nội với 24 máy bay cường kích và 20 máy bay tiêm kích F-4 yểm hộ. 5 chiếc MiG-21MF của Không quân Nhân dân Việt Nam hạ 4 chiếc F-4E của các Liên đội không quân chiến thuật số 366 và 423 của Không quân Hoa Kỳ tại vùng trời Tây Bắc Việt Nam (các F-4 bị rơi có số hiệu 68-0314, 67-0248, 69-7271, 69-7296); bắn bị thương 1 F-4E (số hiệu 67-0243).

Trong tháng 7 năm 1972, VNDCCH công bố bắn rơi 43 máy bay của không quân và hải quân Hoa Kỳ. Phía Hoa Kỳ ghi nhận từ ngày 10 tháng 5 đến 30 tháng 7, họ chỉ mất mất 35 chiếc.

Đợt 3-“Không kích mở rộng”

This image has an empty alt attribute; its file name is 256px-RF-4C_Phantom_II_of_the_11th_TRS_is_shot_down_by_a_S-75_missile_over_Vietnam%2C_12_August_1967.jpg
Một chiếc F-4 của Không lực Hoa Kỳ bị trúng tên lửa SAM-2 khi đang không kích miền Bắc Việt Nam

Từ tháng 8 đến tháng 9 năm 1972, Không lực Hoa Kỳ giảm bớt cường độ các đợt đánh phá vào Vùng 6 và mở rộng đánh phá ra các tuyến giao thông quan trọng ở phía Bắc, phía Nam Hà Nội (quốc lộ số 1) và phía Đông (quốc lộ số 5, quốc lộ số 10). Trọng điểm không kích trong thời gian này là các cầu, phà đầu mối (Sông Hóa, Bắc Giang, Đáp Cầu, Tân Đệ, Phú Lương, Ninh Bình, Hàm Rồng…), các chân hàng, kho hàng (Hải Phòng, Đồng Mỏ, Đông Anh), các trận địa tên lửa phòng không, các sân bay, các nhà ga đầu mối trên các tuyến đường sắt Hà Nội-Thanh Hóa-Vinh, Hà Nội-Đồng Đăng, Hà Nội-Hải Phòng, Hà Nội-Yên Bái và các kho xăng, dầu. Quân chủng phòng không-không quân QĐNDVN tổ chức thêm 3 trung đoàn pháo cao xạ, bố trí lại thế trận từ tập trung bảo vệ yếu địa Hà Nội sang phân tán ra các địa bàn đường 1 Bắc, đường 1 Nam… tổ chức các cụm phòng không bảo vệ các đầu mối giao thông.

Ngày 25 tháng 9, Bộ tư lệnh Không lực Hoa Kỳ điều 2 đại đội gồm 48 máy bay cường kích F-111A thuộc Liên đội không quân chiến thuật số 47 đến căn cứ Takhli (Thái Lan) với nhiệm vụ phối hợp với các máy bay tầm thấp A-6 và A-7 của không lực Hải quân Hoa Kỳ tiêu diệt các trận địa tên lửa SAM. F-111A có góc cánh thay đổi (cụp-xòe), có vận tốc siêu âm, mang được 8 tấn bom, có thể bay thấp cách mặt đất 60 m, lần đầu tiên xuất hiện trong chiến tranh Việt Nam. Cũng trong tháng 9, Quân chủng phòng không – không quân QĐNDVN đã xây dựng xong phương án đối phó với các cuộc tập kích đường không lớn bằng B-52.

Ngày 6 tháng 10, Không lực Hoa Kỳ tổ chức cuộc oanh kích lớn vào Hà Nội với đội hình hơn 40 máy bay tiêm kích và cường kích, tập trung đánh các trận địa tên lửa phòng không của QĐNDVN ở Chèm, Dục Tú, Đại Chu, Yên Nghĩa, Bắc Hồng, Song Mai. Ngày 8 tháng 10, Không quân chiến thuật Hoa Kỳ tiếp tục tấn công các sân bay quanh Hà Nội. Ngày 11 tháng 10, máy bay của Hải quân Mỹ tập kích Hải Dương. Trong loạt trận này, các đơn vị tên lửa của QĐNDVN đã áp dụng thành công các biện pháp chống tên lửa tự dẫn AGM-87 và AGM-88 của không quân Hoa Kỳ, không những không bị tổn thất mà còn bắn rơi 4 máy bay cường kích. Đêm 17 tháng 10, một máy bay F-111A bị súng phòng không tầm thấp hạ tại cầu Tiền Châu, Phúc Yên, Vĩnh Phúc. Từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1972, VNDCCH công bố kết quả bắn rơi 221 máy bay của đối phương. Tuy nhiên, phía Hoa Kỳ chỉ thừa nhận mất 93 chiếc.

Đợt 4-“Kéo dãn đối phương”

Ngày 8 tháng 10, tại Hội nghị Paris, phía VNDCCH đưa ra Dự thảo hiệp định hòa bình. Đoàn Hoa Kỳ do Henry Kissinger dẫn đầu đã cùng đoàn VNDCCH thảo luận, tu chỉnh dự thảo này trong ba ngày và đi đến thoả thuận sẽ ký tắt Hiệp định vào ngày 23 tháng 10 tại Hà Hội, ký chính thức vào ngày 26 tháng 10 tại Paris. Trước đó, Hoa Kỳ sẽ chấm dứt ném bom miền Bắc từ ngày 18 tháng 10. Ngày 20 tháng 10, phía Hoa Kỳ đề nghị lùi thời gian biểu lại năm ngày. Phía VNDCCH chấp nhận. Đến ngày 23 tháng 10, Tổng thống Richard Nixon tuyên bố đơn phương ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam nhưng không phải là tất cả mà chỉ từ vĩ tuyến 20 trở ra. Cùng ngày, Tổng thống Richard Nixon cũng gửi công hàm cho Phạm Văn Đồng đề nghị có thêm một cuộc gặp riêng nữa ở Paris vì có nhiều vấn đề kỹ thuật xuất hiện. Vấn đề đó chính là bốn điều kiện mà Nguyễn Văn Thiệu đòi phải đáp ứng để ký kết hiệp định:

This image has an empty alt attribute; its file name is RF-4C_Phantom_II_of_the_11th_TRS_is_shot_down_by_a_S-75_missile_over_Vietnam%2C_12_August_1967.jpg
Một chiếc B-52D (số đuôi 56-0110) cùng kiểu với chiếc trong ảnh này đã bị SAM-2 bắn trúng ngày 22/11/1972, rơi cách sân bay Nakhon Phanom 20 km

1- Không có chính phủ liên hiệp;
2- Quân miền Bắc phải rút khỏi miền Nam;
3- Tôn trọng tính trung lập của khu phi quân sự;
4- Giải quyết những bất đồng chính trị còn lại giữa hai miền mà không có sự can thiệp nước ngoài.

Từ ngày 23 tháng 10, Không lực Hoa Kỳ tập trung đánh phá các tuyến giao thông ở các tỉnh từ Thanh Hóa trở vào. Các khu vực trọng điểm Tân Kỳ, Triều Dương, Đô Lương (trên tuyến đường 15) thường xuyên bị B-52 oanh kích. Từ cuối tháng 10 đến giữa tháng, Không lực Hoa Kỳ đã ném xuống các mục tiêu ở khu 4 hơn 1.000 tấn bom trong hơn 60 trận đánh nhưng không ngăn chặn được việc vận chuyển 21.000 tấn hàng qua khu vực này, còn bị mất thêm 11 máy bay cường kích. Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 11, các Tiểu đoàn tên lửa 43, 44 của Sư đoàn phòng không 365 bắn trúng 1 chiếc B-52D có số đuôi 55-0110, mật danh liên lạc Olive 2, trên độ cao 25.000 ft tại vùng trời Nghệ An. Chiếc máy bay này cố gắng bay về hạ cánh xuống sân bay Nakhon Phanom nhưng khi còn cách sân bay 20 km thì bị rơi. Theo thống kê của Marshall, chiếc này bị MiG-21 bắn, nhưng theo thống kê của Hobson, nó bị SA-2 bắn.

This image has an empty alt attribute; its file name is 256px-Hai_Duong_bridge_bombing_1972.jpg
Cầu Phú Lương (Hải Dương) bị Không quân Mỹ ném bom

Đầu tháng 11, Bộ Tổng tham mưu và Bộ tư lệnh quân chủng phòng không-không quân QĐNDVN đứng trước hai sự lựa chọn, hoặc co các đơn vị tên lửa về quanh Hà Nội và Hải Phòng, hoặc phòng thủ Hà Nội từ xa. Ngày 15 tháng 11, Bộ Tổng tham mưu thực hiện nghị quyết của Quân uỷ Trung ương điều Trung đoàn tên lửa 267 vào bảo vệ địa bàn Thanh Hóa. Tuy nhận được Trung đoàn 274 từ Quảng Bình ra tăng cường cho lực lượng tên lửa bảo vệ Hà Nội nhưng trung đoàn này chỉ còn 1 tiểu đoàn đủ khí tài, có thể tác chiến được. Ngày 8 tháng 12, Bộ tổng tham mưu tiếp tục ra lệnh điều Trung đoàn 261 vào phía Nam. Bộ tư lệnh phòng không-không quân phải mất hai ngày thuyết phục, Bộ Tổng tham mưu mới đồng ý giữ trung đoàn này lại. Trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” chính Trung đoàn 261 là một trong hai đơn vị chủ công, bắn rơi nhiều B-52 nhất. Do sự điều động thay đổi lực lượng này, các tướng lĩnh và sĩ quan cao cấp của lực lượng phòng không QĐNDVN quyết định bố trí các đơn vị tác chiến theo các hướng chủ yếu, thứ yếu và phối hợp bổ trợ, tạo ra càng nhiều vùng “trùng hỏa lực” càng tốt.

Với các biện pháp điều động binh lực phòng không được ghi nhận như trên, về hình thức, có vẻ như phía Mỹ đã đạt được mục đích kéo giãn lực lượng tên lửa phòng không của QĐNDVN ra xa khu vực Hà Nội và Hải Phòng. Lực lượng tên lửa SA-2 bảo vệ Hà Nội chỉ còn bằng 1/3 so với năm 1967. Đầu tháng 12 năm 1972, lực lượng phòng không của QĐNDVN phòng thủ miền Bắc như sau:

  • Sư đoàn phòng không Hà Nội (361) gồm 2 trung đoàn + 1 tiểu đoàn tên lửa SA-2 (tổng cộng 9 tiểu đoàn hỏa lực), 5 trung đoàn pháo cao xạ. Các đơn vị khác tham gia bảo vệ Hà Nội có 3 trung đoàn không quân tiêm kích (thuộc Bộ tư lệnh phòng không-không quân, 4 đại đội pháo 100 mm và 226 trung đội súng máy phòng không (thuộc Bộ tư lệnh Thủ đô). Các Trung đoàn 276 và 277 trang bị tên lửa SA-3 mới từ Azerbaijan và Armenia về nước nhưng khí tài không về kịp nên coi như không tham chiến.
  • Sư đoàn phòng không Hải Phòng (363) gồm 2 trung đoàn tên lửa SA-2 (mỗi trung đoàn chỉ có 3 tiểu đoàn hỏa lực); Trung đoàn cao xạ 252 (4 tiểu đoàn, có 2 đại đội pháo 100 mm), một cụm súng máy cao xạ hạng nặng gồm 36 khẩu kiểu ZPU-2ZPU-4 và 12 khẩu DShK 12,7 mm; hơn 80 trung đội súng máy tầm thấp.
  • Hướng vùng núi phía Bắc có Trung đoàn 268 trang bị tên lửa Hongqi-2 của Trung Quốc nhưng không chiến đấu được do khí tài bị đánh hỏng trong trận các oanh kích tháng 8 tại Bắc Giang, 5 trung đoàn pháo cao xạ, trong đó có trung đoàn 256 pháo 100 mm bảo vệ Thái Nguyên.
  • Hướng Nam Hà Nội có Sư đoàn phòng không 365 ở Thanh Hóa, Nghệ An, Sư đoàn phòng không 367 ở Quảng Bình, Vĩnh Linh và Trung đoàn không quân tiêm kích 927 (thuộc Bộ tư lệnh phòng không – không quân).
This image has an empty alt attribute; its file name is 256px-North_Guam_from_space.jpg
Phần Bắc lãnh thổ Guam (USA) nhìn từ trên không; phía trên, bên phải là căn cứ không quân Anderson

Cùng thời gian này, Không lực Hoa Kỳ một mặt tiếp tục oanh kích các mục tiêu đường giao thông, nhà ga, cầu phà, bến cảng, kho hàng… ở phía nam vĩ tuyến 20; mặt khác, tích cực chuẩn bị cho Chiến dịch Linebacker II. Đến ngày 16 tháng 12, Không lực Hoa Kỳ đã tập trung xong Tập đoàn không quân chiến lược số 8 (SAC-8AF) gồm 3 không đoàn: Không đoàn lâm thời số 57 (57AD-P) ở Anderson (Guam), Không đoàn lâm thời số 17 (17AD-P) ở U-Tapao (Thái Lan) và Không đoàn phục vụ chiến đấu số 376 (376SW) ở căn cứ Kadena trên đảo Okinawa (Nhật Bản). Phối hợp và yểm hộ cho lực lượng này có Tập đoàn không quân chiến thuật số 7 (TAC-7AF) ở Đông Nam Á và Lực lượng đặc nhiệm 77 gồm các máy bay của hải quân trên các tàu sân bay đậu tại “Trạm Yankee” trên Vịnh Bắc Bộ. Toàn bộ lực lượng gồm có:

  • Máy bay ném bom chiến lược B-52D: 107 chiếc; tại U-Tapao (Thái Lan): 54 chiếc thuộc Liên đoàn 307 (có 4 chiếc đang sửa chữa, bảo dưỡng), tại Guam: 53 chiếc thuộc Liên đoàn 43; (có 3 chiếc đang sửa chữa, bảo dưỡng)
  • Máy bay ném bom chiến lược B-52G: 99 chiếc thuộc Liên đoàn 72, đều ở Guam (có 2 chiếc đang sửa chữa-bảo dưỡng);
  • Máy bay tiếp dầu KC-135 (các version A và Q): 53 chiếc thuộc liên đoàn 310 ở U-Tapao; 96 chiếc thuộc không đoàn 376 ở Okinawa và căn cứ Clark (Philippines);
  • Máy bay trinh sát SR-71: 10 chiếc tại Okinawa;
  • Máy bay trinh sát U-2C và DC-130: mỗi loại 2 chiếc tại U-Tapao.
  • Máy bay ném bom F-111A: 48 chiếc tại Takhli (Thái Lan);
  • Máy bay tiêm kích-ném bom F-4 (các version C, D, E): 267 chiếc; tại Udorn (Thái Lan) 99 chiếc, tại Korat (Thái Lan) 30 chiếc, tại Ubon (Thái Lan) 111 chiếc, tại Nậm Phong (Thái Lan) 27 chiếc;
  • Máy bay cường kích-gây nhiễu điện tử F-105G: 23 chiếc tại Korat;
  • Máy bay cường kích A-7C: 72 chiếc tại Korat;
  • Máy bay tác chiến điện tử EB-66: 17 chiếc tại Korat;
  • Máy bay trinh sát-chỉ huy tác chiến trên không EC-121: tại Korat (không rõ số lượng);
  • Máy bay tìm kiếm-cứu hộ C-130: tại Korat (không rõ số lượng);
  • Trực thăng tìm kiếm-cứu hộ HH-53: tại Nakhon Phanom (Thái Lan) (không rõ số lượng).
This image has an empty alt attribute; its file name is 300px-Yankee_Station_Location_1.gif
Vị trí của “Trạm Yankee”, nơi đậu các tàu sân bay Hoa Kỳ ở Biển Đông

Lực lượng hải quân của hạm đội 7 Hoa Kỳ tham gia chiến dịch Linebacker II có:

  • Tàu sân bay USS America (CVA-66) có 75 máy bay
  • Tàu sân bay USS Enterprise (CVAN-65) có 75 máy bay
  • Tàu sân bay USS Midway (CVA-41) có 55 máy bay
  • Tàu sân bay USS Oriskany (CVA-34) có 45 máy bay
  • Tàu sân bay USS Saratoga (CVA-60) có 65 máy bay
  • Tàu sân bay USS Ranger (CVA-61) có 65 máy bay

Ngoài ra còn có hơn 30 tuần dương hạm, khu trục hạm và hơn 20 tàu chở bom đạn, chở dầu, hậu cần, bệnh viện… Không quân và hải quân vận tải của Hoa Kỳ đã vận chuyển hàng vạn tấn xăng dầu, hơn 500 nghìn tấn bom đến các căn cứ không quân Kadena (Okinawa, Nhật Bản), Anderson (Guam), U-Tapao và các căn cứ khác ở (Thái Lan).

Qua kinh nghiệm chiến đấu trong Chiến dịch Sấm Rền và tổng kết các cuộc không kích của máy bay Mỹ từ tháng 4 đến cuối tháng 11 năm 1972. Bộ tư lệnh quân chủng phòng không – không quân QĐNDVN dự báo B-52 sẽ tấn công Hà Nội từ bốn hướng. Trong đó, có hai hướng chủ yếu và hai hướng thứ yếu:

  • Hướng thứ nhất (chủ yếu): lấy ngã ba sông Việt Trì làm điểm kiểm tra tập hợp đội hình và tấn công Hà Nội theo trục sông Hồng (Tây Bắc – Đông Nam); sau khi cắt bom thoát ly ra biển theo hướng Đông Nam hoặc sang Lào Theo hướng Tây Nam.
  • Hướng thứ hai (chủ yếu): lấy núi Viên Nam (nam Ba Vì) là điểm kiểm tra tập hợp đội hình đột nhập không phận Hà Nội từ phía Tây; thoát ly theo hướng Đông Nam ra biển hoặc “uốn móc câu” trở lại Lào.
  • Hướng thứ ba (thứ yếu): lấy ngã ba sông Lục Nam và Sông Thương làm điểm kiểm tra, tập hợp đội hình và bay vào Hà Nội từ phía Đông Bắc qua Hà Bắc; thoát ly ra biển hoặc bay thẳng sang Lào.
  • Hướng thứ tư (thứ yếu): lấy cửa Ba Lạt làm điểm kiểm tra tập hợp đội hình và bay thẳng lên Hà Nội theo trục sông Hồng (Đông Nam-Tây Bắc); thoát ly phía Tây, Tây Bắc, Tây Nam sang Lào.

Thực tế Chiến dịch Linebacker II sau đó cho thấy các tốp B-52 sử dụng hướng thứ nhất và thứ hai trong 2/3 số phi vụ, các hướng thứ hai và thứ tư được sử dụng ít hơn.

Các đường bay đột kích của B-52 vào Hải Phòng được dự báo có hai hướng:

  • Hướng thứ nhất: lấy cửa Nam Triệu làm điểm kiểm tra và đột nhập Hải phòng từ phía chính Đông
  • Hướng thứ hai: lấy cửa sông Văn Úc làm điểm kiểm tra tập hợp đội hình vào đánh Hải Phòng từ phía Tây Nam.

Trên thực tế, các tốp B-52 vào Hải Phòng từ ngày 22 tháng 12 đến ngày 26 tháng 12 đều sử dụng cả hai đường bay này.

Tại Paris, cuộc đàm phán Việt Nam – Hoa Kỳ một lần nữa lâm vào bế tắc và đây cũng là lần bế tắc cuối cùng. Đêm 12 tháng 12, Chánh văn phòng Nhà trắng Heizman thừa uỷ quyền của Richard Nixon gửi một bức điện cho Kissinger có đoạn viết: Chúng ta cần tránh làm bất cứ điều gì có vẻ như là chúng ta phá vỡ thương lượng một cách đột ngột. Nếu xảy ra tan vỡ thì phải làm như là do họ chứ không phải do chúng ta. Trong bất cứ trường hợp nào, Hoa Kỳ không được chủ động cắt đứt cuộc nói chuyện. Chúng ta cần yêu cầu hoãn cuộc họp để tham khảo thêm”. Ngày 15 tháng 12, đàm phán ở Paris bế tắc, Lê Đức Thọ và Kissinger chia tay nhau tại sân bay Le Bourger (Paris). Ngày 16 tháng 12, Kissinger họp báo tại Washington DC đổ lỗi cho VNDCCH kéo dài đàm phán. Tối 18 tháng 12, khi Lê Đức Thọ vừa về đến nhà (sau khi ghé qua Maskva và Bắc Kinh) thì những trái bom đầu tiên từ B-52 trong chiến dịch Linebacker II rơi xuống Hà Nội.

Tổng thống Nixon viết: “Phải nói thẳng với Brezhnev rằng chừng nào người Bắc Việt Nam tiếp tục sát hại người miền Nam và người Mỹ ở đó, thì chừng đó Tổng thống Mỹ sẽ còn phải thường xuyên cho oanh tạc các căn cứ quân sự ở miền Bắc” Và ông cũng đã bày tỏ với công luận: “Nếu như sự hiểu biết của chúng ta đối với người Nga luôn cho thấy rằng chúng đã bắt đầu và cuối cùng là giảm bớt mức độ cuộc oanh tạc trong khi kẻ thù vẫn tiếp tục quy mô chiến tranh của nó, thì chúng ta sẽ phải chuốc lấy những điều tồi tệ nhất của hai phái: sự coi thường của phía tả và sự chán nản hoàn toàn của phía hữu”.

Tưởng niệm không quân Nguyễn Văn Bảy trong chuyến hội ngộ tại Hoa Kỳ

THS2018 – Ngày 21/9/2017 những cựu thù 2 nước từng săn đuổi trên không đã cùng nhau gác chuyện hận thù để “đáp an toàn” trong hăng-ga của HKMH USS Midway. Mời các bạn xem toàn bộ video do KBCHN ghi hình trọn bộ cuộc gặp gỡ lịch sử.

Gặp “huyền thoại Côn Đảo” Lê Quang Vịnh

TTH – Lê Quang Vịnh – cái tên “huyền thoại Côn Đảo”, được mọi người biết đến: Một nhà giáo yêu nước, một chiến sĩ cách mạng kiên trung, bất khuất đã 3 lần bị Mỹ – Diệm tuyên án tử hình và lưu đày 14 năm ở ngục tù Côn Đảo. Trong đó, có 8 năm ròng rã bị đày đọa, cấm cố trong các “Chuồng cọp”, “Chuồng Bò”, “Hầm Đá”… Dù bị đánh đập, tra khảo tàn bạo, dã man, ông vẫn luôn một lòng, một dạ sắt son, giữ vững lý tưởng của người cộng sản…

“Huyền thoại” người cựu tử tù…Tôi tìm đến cựu tử tù Côn Đảo – Lê Quang Vịnh vào một ngày Huế mưa lắc rắc. Ông tiếp tôi với nụ cười giản dị, giọng nói ấm áp, rành rọt, khúc chiết trong câu chuyện hồi tưởng về quá khứ. “Cuộc đời tôi không phải chỉ được dệt bằng những chiến công hiển hách, những tấm lòng trung dũng, kiên cường, những tình cảm cao đẹp, mà bao giờ cũng có hai mặt đối chọi nhau rất dữ dội. Nhà tù của thực dân đế quốc là để đày ải, giam cầm, khủng bố cách mạng và những người cách mạng. Nhà tù là nơi thử thách của những người cách mạng. Tôi đúc rút ra bài học cho mình: “Đi trên đường cách mạng chân chính, chúng ta sẽ được đồng bào, đồng chí, quần chúng nhân dân đồng tình, ủng hộ; nỗi bất hạnh sẽ biến thành niềm hạnh phúc”, Lê Quang Vịnh mở đầu câu chuyện với tôi bằng những lời nói rất thật của một người cộng sản, mà thế hệ như tôi thật khó để hình dung. 

Ông Lê Quang Vịnh bênchân dung của mình Trong câu chuyện với tôi về những năm tháng lao tù, nhiều lần Lê Quang Vịnh rưng rưng nước mắt. Ông khóc không phải vì quá đau khổ, quá cùng cực ở chốn lao tù, mà vì niềm tin, vì lòng quả cảm vượt qua gian khó của một người cộng sản. Ông dẫn tôi đi khắp căn phòng, hướng dẫn, giới thiệu cho tôi những kỷ vật, hiện vật đáng nhớ nhất trong cuộc đời ông. Giở từng lá thư của mẹ gửi cho ông, khi ông đang ngồi ở nhà tù Côn Đảo, tay ông run run, mắt đỏ hoe vì cảm động, vì thương nhớ. Chiếc còng kia giờ đã nằm trong tủ trưng bày, nhưng đã chứng kiến biết bao đau thương thể xác của Lê Quang Vịnh và các đồng chí, đồng đội của ông trong những lúc bị còng chân, còng tay ngồi trong xà lim dành cho người tử tù. Nắm đất kia, hòn đá kia… tất cả đều là kỷ niệm ở Côn Đảo mà thời bình ông mới có dịp sưu tầm, để cất giữ và xem đó là những kỷ vật quý giá nhất của đời mình. Sách, báo, phim ảnh trong và ngoài nước nói về “huyền thoại” tử tù Lê Quang Vịnh đã nhiều, nhưng sao tôi vẫn muốn được nghe ông kể chuyện về những người tử tù Côn Đảo…
 Phiên tòa lịch sử mang tên “Hội sinh viên học sinh Việt cộng ngày 23-5-1962 xét xử vụ mưu sát Đại sứ Mỹ Nâu – ting với 12 bị cáo tuổi đời còn rất trẻ, trong đó có vị Giáo sư 26 tuổi Lê Quang Vịnh, Ủy viên BCH Đoàn Thanh niên Lao động miền Nam, Việt Nam khu Sài Gòn – Gia Định, Trưởng ban cán sự Sinh viên. Phiên tòa đã trở thành diễn đàn biểu dương lực lượng cách mạng và tố cáo tội ác của giặc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước. Kết thúc phiên tòa, trong số 12 bị cáo trẻ tuổi đó có 4 án tử hình (trong đó có Lê Quang Vịnh), 4 án chung thân, 4 án khác từ 5 đến 15 năm tù. Từ nhà lao Chí Hòa, Côn Đảo, Chuồng Cọp, Chuồng Bò, Hầm Đá… suốt 14 năm ròng rã với những đòn roi chí mạng, kẻ thù vẫn không làm lung lay ý chí người cộng sản Lê Quang Vịnh. Người ta thường nói, những người cộng sản biến nhà tù của bọn đế quốc trở thành trường học lớn cho mình, thật không sai chút nào. Đối với Lê Quang Vịnh, còn hơn thế nữa, năm 14 tuổi ông đã tham gia cách mạng rồi bị bắt, bị tù 7 tháng (giai đoạn 1950-1951) tại Lao Thừa Phủ, vì hoạt động Đoàn học sinh kháng chiến tỉnh Thừa Thiên Huế. Trong các giai đoạn 1955-1956; 1961-1975 ông tiếp tục bị bắt, tù đày trong các nhà tù của bọn đế quốc và bè lũ tay sai bán nước. Nhưng trường học mà Lê Quang Vịnh trưởng thành nhanh nhất chính là “địa ngục trần gian” – Côn Đảo. Một “khóa học” kéo dài 14 năm trời, với 8 năm ròng rã, Lê Quang Vịnh nằm trong xà lim nhà tù Côn Đảo bị còng tay, còng chân. Trước phong trào đấu tranh cách mạng, trước khí tiết quả cảm của người cộng sản, Mỹ – Diệm không thể xử tử Lê Quang Vịnh. Chúng muốn ông phải chết dần, chết mòn trong lao tù bằng những đòn tra tấn tàn bạo, dã man nhất. “Trong 8 năm ấy, phần lớn tôi sống một mình. Ngoài việc tập trung trí tuệ để chống lại kẻ địch, tôi có một thú vui duy nhất là làm thơ, sáng tác nhạc với đề tài liên quan đến cuộc chiến đấu, bảo vệ khí tiết cách mạng. Tính lại tôi đã làm hàng trăm bài thơ, hàng chục bản nhạc. Những lần được nghe thơ Bác Hồ, lòng tôi lại xúc động và thế là tôi phổ nhạc bài thơ ấy. Tôi tự hát cho mình nghe và nguyện sẽ làm theo những lời Bác dạy”, cựu tử tù Lê Quang Vịnh xúc động.
Nhớ những cái “Tết” trong lao tù…
 Đã là tử tù chính trị bị còng chân ở Chuồng Cọp, Hầm Đá thì tuyệt đối không có Tết đúng nghĩa. Người tù nằm một mình trong bốn bức tường đá lạnh, chỉ biết Tết qua âm thanh, mùi vị bên ngoài vọng vào. Khi giao thừa đến, nghe tiếng pháo bên ngoài vọng vào, người tử tù đứng dậy nghiêm trang, tưởng tượng mình đang chào cờ Tổ quốc để thầm hát Quốc ca. Nhắc đến những cái “Tết” trong tù ngục, Lê Quang Vịnh đọc cho tôi nghe 2 câu đối được ông và các đồng chí trong tù kết nên từ những lá bàng khô: “Ngoài ngục, đào mai khoe sắc thắm. Trong tù, lý tưởng chói lòng son”.
 Cựu tử tù Lê Quang Vịnh kể lại: “Cũng có giao thừa, bốc quá, hát to: “Nước mắt rưng rưng tràn má hóp. Quốc ca ta hát vọng ra ngoài”. Thế là bọn lính canh Chuồng Cọp lấy sào thọc tới tấp từ trên song sắt xuống. Nếu còn hát tiếp, nó rắc vôi bột xuống trắng cả tóc tai. Thế mà anh em tù Chuồng Cọp, Hầm Đá cứ Tết đến, hay ngày Quốc khánh 2-9 là đứng nghiêm trang “chào cờ tưởng tượng”, rồi hát Quốc ca, Lãnh tụ ca. “Chúa Đảo” quy định tiêu chuẩn cho tử tù ăn 3 tháng được 100g thịt, một ngày 450g cơm (hai dĩa). Nhưng ngày Tết chúng cho thêm trên đĩa cơm mang vào chuồng một hai miếng thịt. Có thể gọi đó là “Khẩu phần Tết”. Anh em tù đi lao động khổ sai thì Tết nhất có khá hơn. Khi đi làm ở các “Sở” (tổ chức lao động khổ sai theo nghề, như sở vôi, sở đá…) họ kiếm được con cá dưới ruộng, bông hoa rừng, làm cho cái Tết cũng tươi hơn chút ít. Đêm giao thừa cả gian 14 Hầm Đá tổ chức văn nghệ, thay nhau hát các bài hát cách mạng, rồi ngâm thơ”.Báo chí dăng tin, viết bài về 4 chiến sĩ cộng sản bị tuyên án tử hình Nói rồi, ông lại suy tư: “Trong 8 năm biệt giam trong Chuồng Cọp, Hầm Đá và 4 năm chung thân khổ sai, có hai cái Tết ấn tượng nhất đối với tôi. Đó là Tết Mậu Thân 1968 và Tết năm 1971”. Ngày mùng 2 Tết Mậu Thân, cựu tử tù Lê Quang Vịnh đang ở Chuồng Cọp II, bỗng nhiên địch mở cửa, tháo còng, lôi ra khỏi chuồng. Sau đó chúng đưa anh cùng các tử tù Lê Hồng Tư, Lê Minh Châu, Trương Thanh Danh lên tàu thủy Mỹ chở về Sài Gòn. Tuy vẫn bị còng chân, nhưng 4 người tù được hít thở khí Xuân đất trời. Trên đường về Tổng Nha cảnh sát ngụy, nhiều khu quân sự của địch bị phá nát. Khu căn cứ Hàng Xanh gần như sụp đổ hoàn toàn. Dinh Độc Lập cũng bị nhiều vết tích của một cuộc tấn công. Đường phố Sài Gòn mọc lên nhiều công sự bằng bao cát. Như vậy, các anh đã được chứng kiến tận mắt một trận đánh rất lớn của quân ta vào đầu não Sài Gòn.
 Kể cho tôi nghe xong những ký ức về Tết ở Chuồng Cọp, Hầm Đá, Côn Đảo, cựu tử tù Lê Quang Vịnh bỗng trầm ngâm, rưng rưng nước mắt: “Đã 36 cái Tết trên đất nước hoà bình, bên vợ con sum vầy làm cỗ đón Xuân, đi chơi chúc Tết bà con bè bạn… nhưng không có cái Tết nào tôi không cồn cào nhớ đến những người bạn tù của mình còn sống hay đã nằm xuống ở nghĩa trang Hàng Dương Côn Đảo. Nhớ lắm, nhớ lắm… ”. Nói rồi ông rút khăn mùi xoa chấm nước mắt.
Luôn giữ vững lý tưởng người cộng sản…
 Năm 1975 – đất nước yên tiếng súng, cựu tử tù Lê Quang Vịnh thoát khỏi xiềng xích của nhà tù Côn Đảo, trở về với Đảng, với nhân dân. Mặc dù trên thân mình mang đầy thương tích, bệnh tật – hậu quả của những năm tháng tù đày, nhưng Lê Quang Vịnh vẫn được tiếp tục hoạt động cách mạng với nhiều cương vị công tác khác nhau. Ông được bố trí nhiều công việc quan trọng như: Thường vụ Đặc khu ủy Vũng Tàu – Côn Đảo, kiêm Bí thư Huyện ủy Côn Đảo; Giám đốc Sở Giáo dục – Đào tạo TP Hồ Chí Minh; Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội LHTN Việt Nam; Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ, kiêm Phó ban Dân vận Trung ương Đảng và nay là Chủ tịch Hội tù yêu nước tỉnh Thừa Thiên Huế.
 Dù ở cương vị công tác nào ông cũng luôn phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Cựu tù Lê Quang Vịnh tâm sự: “Tôi tham gia vào việc gì cũng bắt đầu bằng sự thất bại, bằng sự non kém, thiếu kinh nghiệm, yếu ớt, vụng về. Khó nhọc lắm, bầm dập lắm! Tuy nhiên, tôi không bỏ cuộc, tôi vẫn tiếp tục. Càng về sau, tôi càng được sự giúp đỡ, ủng hộ của những người tốt và cuối cùng là đi đến thành công. Tôi có lòng tin sắt đá về phương hướng mà đời mình đã xác định là đúng. Vấn đề chủ yếu là đúc rút kinh nghiệm, tìm ra nguyên nhân và phương pháp khắc phục, thì nhất định thất bại sẽ dẫn đến thành công. Không có Đảng, không có cách mạng thì tôi cũng không còn. Tôi bằng lòng tất cả, không tính toán so đo. Quan điểm của tôi khi làm việc thấy đúng thì bảo vệ, thấy sai thì đấu tranh. Thế thôi!”
 Ngày nghỉ hưu (2004), sau hơn 50 năm xa quê hương, Lê Quang Vịnh đã tìm về với quê nội – làng Xuân Hòa, phường Kim Long, TP Huế, sống cuộc sống thanh bình với đầy ắp những hoài niệm. Vợ chồng ông giờ đã có một tổ ấm hạnh phúc bên 2 người con Lê Quang Tự Do và Lê Quang Hạnh Phúc. Cả hai đã trưởng thành, đã có công việc ổn định và giữ những cương vị quan trọng trong công việc. Ngôi nhà của ông ở địa chỉ 58/24B Nguyễn Phúc Nguyên, TP Huế cũng chính là nhà lưu niệm Lê Quang Vịnh. Đây vừa là nơi gặp gỡ, hàn huyên tâm sự của những người bạn, người đồng chí, đồng đội vào sinh ra tử với ông. Bạn của ông là những người bạn tù Côn Đảo, ở khám Chí Hòa, Lao Thừa Phủ, những người bạn nước ngoài, hay những em nhỏ đang còn cắp sách đến trường. Họ đến với ông không chỉ để nhìn, ngắm những hình ảnh, gợi nhớ những kỷ niệm của chính mình qua những tư liệu, hiện vật mang đậm dấu ấn về những năm tháng không thể nào quên, về một thời đấu tranh cách mạng gian lao mà vinh quang, mà đến còn vì sự cảm thông, sẻ chia, kính phục trước một con người cộng sản “huyền thoại Côn Đảo” – Lê Quang Vịnh. 

Anh Phong

Tử tù Lê Quang Vịnh và câu chuyện sau nửa thế kỷ về bài hát Người con quang vinh

Người tử tù Lê Quang Vịnh  đã  trở về từ cõi chết sau 14 năm bị giam cầm tra tấn dã man ở địa ngục Côn Đảo,  hiện  sống tại TP Huế và đang có ý định khắc bản nhạc ngợi ca cái chết của mình năm xưa vào bia đá trưng bày tại Nhà lưu niệm Lê Quang Vịnh cùng bài thơ của Tố Hữu viết về anh…

Còn  bản nhạc viết tặng người anh hùng liệt sĩ Lê Quang Vịnh thì hơn 50 năm nay vẫn được cất lên trên khắp đất nước, và  tác giả – nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ cho đến hôm nay vẫn  nhận được nhuận bút  tác quyền…

Không ai có lỗi trong câu chuyện âm nhạc hy hữu ấy đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Đó là một “sự cố” thuộc về lịch sử khi người tử tù nổi tiếng thoát  chết sau án tử hình và một bài hát ngợi ca người anh hùng được viết quá nhanh bởi cảm xúc anh hùng ca mãnh liệt cổ vũ cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà…

Lai lịch một Bài ca đi cùng năm tháng…

Bài hát ngỡ có số phận ngắn ngủi ấy không ngờ vẫn được tiếp tục phổ biến, được các thế hệ người Việt khắp miền hát đến hôm nay, dù nhân vật của tác phẩm vẫn còn lẫm liệt sống sau những biến cố bi hùng.

Lê Quang Vịnh, người con quang vinh/ Tôi khắc tên anh vào trái tim tôi/ Tôi hát tên anh trong triệu muôn người…./ Dâng cả tuổi yêu đời/ Dâng cuộc sống cho muôn triệu người… Căm thù trào lên muôn nơi… Tuổi thơ tôi còn nhớ mãi giọng ca Quốc Hương khi ông hát ngợi ca người liệt sĩ anh hùng Lê Quang Vịnh. Rồi chúng tôi được các anh chị  tập cho bài hát ấy. Chúng tôi hát với tất cả niềm tự hào, đau đớn xen lẫn kính trọng mà đâu biết người tử tù ấy may mắn sống sót… Anh đã không bị tử hình như án của kẻ thù đã tuyên mà bị đày ra Côn Đảo cho đến ngày toàn thắng được trở về, làm Tổng thư ký Hội LHTNVN, Phó ban dân vận TƯ, Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ… Nhưng có điều mãi đến bây giờ tình tiết của câu chuyện ấy vẫn là một điều chưa mấy người hiểu.

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ kể rằng: Chỉ có Bác Hồ, lãnh tụ thiên tài với giá trị ngoại hạng, được ngợi ca khi Người còn tại thế, còn lại, tất cả chỉ có thể được tôn vinh khi nhân vật ấy đã hy sinh cho dân cho nước. Và Lê Quang Vịnh – người con quang vinh đã được viết trong hoàn cảnh ấy, bằng tâm thế ngợi ca một anh hùng liệt sĩ vừa hy sinh… Và vì sao lại có một “ngoại lệ” như vậy?.

Lê Quang Vịnh, một cái tên tuổi trẻ hồi ấy khá nổi tiếng trong giới học sinh sinh viên miền Nam. 14 tuổi cậu bé Vịnh đã nếm cảnh lao tù vì tham gia hoạt động trong đoàn học sinh kháng chiến Huế. 19 tuổi xong tú tài toàn phần đã tham gia làm báo Ngày Mai, một tờ báo cách mạng ở Huế trong vai trò Thư ký tòa soạn. Lại bị bắt chịu tù 1 năm. 21 tuổi chuyển vào Sài Gòn. 24 tuổi Tốt nghiệp thủ khoa Toán Đại học Sư phạm Sài Gòn và được kết nạp Đảng, được cử làm Tổng thư ký Hội Liên hiệp SVHS Sài Gòn Gia Định…

Lê Quang Vịnh được bổ nhiệm là Giáo sư Trung học trường Petrus Ký… Hè năm 1961,  bị bắt, anh bị kết án tử hình… Tin anh Lê Quang Vịnh bị tòa án Mỹ – Diệm ở Sài Gòn kết án tử hình lan ra miền Bắc gây xúc động với hàng triệu người hướng về miền Nam thân yêu đang tranh đấu cho ngày thống nhất… Ban Thống nhất Trung ương ra thông báo phát động một phong trào noi gương anh hùng dũng cảm của nhà trí thức trẻ Lê Quang Vịnh và tiểu đội anh hùng…

Giới văn nghệ sĩ hào hứng tham gia sáng tác về tấm gương chiến đấu và ý chí bất khuất trước kẻ thù của các anh. Nhà thơ Tố Hữu có bài thơ Tiểu đội anh hùng: Lê Quang Vịnh và các anh/ Tiểu đội anh hùng của tuổi xanh/ Mười hai tên, mạnh như tên lửa/ Chấp hết gươm treo, án tử hình… Nữ sĩ Anh Thơ có bài thơ Đôi dòng nước mắt viết về tình cảm của Tuyết Ngọc, một nữ sinh, một đồng chí của Lê Quang Vịnh khi  anh bị khép án tử hình: Em không lau mặc cho dòng nước mắt/ Chảy dài chảy mãi, chảy triền miên/ Nhìn anh đó hiên ngang bất khuất/ Trán rạng ngời mắt chói niềm tin/ Anh của em ơi, người anh thi sĩ/ Những ý thơ nào ru thắm tình ta/ Những ý thơ nào ước mơ hạnh phúc/ Cho chúng mình cho những lứa đôi ca…

Anh hùng Lê Quang Vịnh và vợ thời trẻ.

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ kể: Một lần đi họp ở CLB Thống nhất gần Bờ Hồ, nhạc sĩ Trần Kiết Tường cho biết Lê Quang Vịnh đã bị Mỹ – Diệm xử bắn ở Côn Đảo rồi. Nghe tin ấy, ai ai cũng sục sôi căm thù quân Mỹ Diệm và tỏ lòng tiếc thương vị giáo sư trẻ tuổi kiên trung bất khuất có tên Lê Quang Vịnh… Rất nhanh, ý nhạc hình thành trong đầu người nhạc sĩ trẻ tài hoa: Bao vinh quang chiến công anh tôi ca/ Khi tin đau xót xa trong lòng ta…

Nhưng điều bất ngờ với tôi là tác giả sau này cũng không hiểu vì sao đã viết nên một bản anh hùng ca cực nhanh như vậy và ý nhạc lời ca đẹp thế! Nhạc sĩ tâm sự: Khi biết tin anh Vịnh không bị xử tử mà bị đày ra Côn Đảo, rồi giảm xuống chung thân thì bài hát đã được phổ biến và nhanh chóng lan tỏa trong công chúng. Tuổi trẻ khắp nơi hào hứng truyền nhau bài hát ấy. Bài hát vang khắp nước, vào cả trong ngục tù Côn Đảo…

Nhưng tác giả và nhân vật bài hát đâu có lỗi! Đúng là không ai có lỗi trong câu chuyện ấy cả. Anh Vịnh thì trong ngục tù Côn Đảo, tác giả thì hưởng ứng sáng tác. Đúng là một câu chuyện có một không hai trong lịch sử. Và tác giả bài hát lẽ ra phải thấy tự hào vì viết nhanh đến thế, hay đến thế, một bản hùng ca mà vẫn tha thiết cháy bỏng…

…Và cuộc đời người tử tù có số phận đặc biệt

 Lê Quang Vịnh có một tuổi thơ gian khó. Cha bị kẻ thù bắn chết khi đang là một luật sư tham gia hoạt động cách mạng. Vốn thông minh sáng dạ, học giỏi, từng đỗ thủ khoa Toán, Đại học Sư phạm Sài Gòn, được quốc trưởng Bảo Đại cấp học bổng du học Pháp. Những tưởng anh chọn con đường học vấn thênh thang ấy, nhưng con đường anh chọn lại là con đường tranh đấu, con đường cứu nước…

Có lần tôi được anh kể cho nghe lý do của sự lựa chọn ấy: “Sau khi cha mất, trước bàn thờ cha, chị em tôi đã thề cùng nhau là sẽ trả thù cho cha. Quyết tâm ấy bắt đầu từ khi còn thiếu niên”. Năm 14 tuổi bị bắt vào nhà lao Thừa Phủ. Hai năm sau lại bị bắt vào tù vì hoạt động trong phong trào học sinh. Bị cấm hoạt động tại Huế, năm 1957, Lê Quang Vịnh chuyển vào Sài Gòn tiếp tục học hành và tham gia tranh đấu…

Tại đây năm 24 tuổi, anh được kết nạp Đảng, được Khu ủy Sài Gòn – Gia Định chỉ định làm Bí thư chi bộ sinh viên các trường ĐH Sài Gòn, Tổng Thư ký Hội Liên hiệp SVHS khu Sài Gòn Gia Định. Cùng lúc anh tốt nghiệp thủ khoa Toán tại Đại học Sư phạm Sài Gòn… Năm 1961, theo điều động của Khu ủy, Giáo sư Lê Quang Vịnh được lệnh ra căn cứ để chuẩn bị cho hoạt động thoát ly. Trong khi đang viết báo cáo gửi Đại hội SV quốc tế họp tại Hà Nội, căn cứ bị địch càn và Lê Quang Vịnh rơi vào tay chúng.

Tại tòa án quân sự đặc biệt của chính quyền Sài Gòn ngày 23/5/1962, anh bị khép án tử hình cùng với 11 người khác, trong đó 4 án tử hình, 4 chung thân… tại phiên tòa, có một chi tiết oái oăm là chúng đưa thầy giáo cũ của Lê Quang Vịnh, nay là Phó chủ tịch quốc hội Trịnh Hổ Uy của chính quyền Ngô Đình Diệm đến thẩm vấn anh.

Trước vị “quan tòa” đặc biệt này, chính Lê Quang Vịnh đã nói một câu nổi tiếng:  “Tôi ân hận vì bị chết quá sớm mà chưa thực hiện được chí nguyện đuổi Mỹ, lật Diệm!” Tiếp đó, những ngày trong ngục, tử tù Lê Quang Vịnh được viên đại tá Lê Văn Khoa, Ủy viên chính quyền Sài Gòn đưa giấy bút vào xui anh viết đơn ân xá gửi Ngô Đình Diệm, nhưng anh đã dùng giấy bút ấy để viết bài thơ Tiếng hát người tử tù gửi ra miền Bắc: Đi cho trọn con đường đi quá nửa/ Vững niềm tin sắt đá đời đời/ Kẻ thù dù giết được một mình tôi/ Đâu giết được cả loài người đang đứng dậy/ Trao đồng chí tâm tình tôi đấy/ Trước khi lên máy chém. Của quân thù

Điều kỳ diệu là không ngờ bài thơ ấy sau mấy tuần được gửi đi từ nhà ngục Chí Hòa, đã được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam làm xúc động hàng triệu con tim yêu nước… Bài thơ được nhiều HSSV miền Nam chép vào sổ tay, học thuộc  và được đọc lên trên các diễn đàn tranh đấu. Mười bốn năm trong ngục tối, từ năm 1962, khi bài hát Lê Quang Vịnh – người con quang vinh ra đời, Lê Quang Vịnh đâu có biết bên ngoài  cả nước hát về mình.

Ngay bạn tù Côn Đảo hát về anh mà anh đâu có biết. Mãi đến Tết năm Tân Hợi 1971, giao thừa, cả gian 14 hầm tổ chức văn nghệ, những người bạn tù thay nhau hát và ngâm thơ. Một anh bộ đội đã hát bài hát Lê Quang Vịnh – người con quang vinh của Nguyễn Tài Tuệ, nhờ đó mà sau 9 năm, anh mới được nghe bài ca viết về tấm gương dũng liệt của… chính mình.

Ngày toàn thắng 1975, sáng  ngày 1/5/1975, bạn tù đạp ngục báo tin toàn thắng. Lúc này sau 8 năm trong hầm tối, chuồng cọp, đôi chân bị cùm của Lê Quang Vịnh đã được tháo ra, anh cảm nhận giá trị của tự do và được trở về từ địa ngục Côn Đảo khi đã ở tuổi 40. Vẫn có một người con gái Hà Nội, em gái của người bạn tù nổi tiếng Trần Trọng Tân chờ đợi như chờ đợi một thần tượng của mình. Họ đã gặp nhau và có hạnh phúc bên nhau…

Tiếp tôi tại căn nhà Công vụ trên khu Hoàng Cầu trong buổi chiều trung tuần tháng bảy, vợ chồng anh Lê Quang Vịnh chỉ có một mong ước, là làm sao để đừng ai hiểu nhầm đó là một “sự cố”. Vâng! Không là sự cố mà là niềm tự hào bởi nhân vật của bài ca ấy đã sống và đấu tranh bất khuất cho đến ngày đất nước toàn thắng trở về. Cuộc đời anh xứng đáng được ngợi ca, học tập… Và bài hát ấy hình như cũng bất tử như chính nhân vật được ngợi ca… 

Nhắc đến sự kiện bài hát Lê Quang Vịnh – người con quang vinh, anh tâm sự: “Dù địch không hành quyết tôi cũng như hàng trăm tử tù khác, và sau đó chúng tự ý hoán giảm xuống án chung thân, nhưng tôi không hổ thẹn về cuộc chiến đấu trong lao tù đế quốc.  Có lẽ lúc bên ngoài không được tin tức gì về tôi và nghĩ tôi đã bị giết, chính là lúc tôi bị giam biệt lập sống một mình trong xiềng xích xung quanh toàn lính ác ôn…”.

Lê Quang Vịnh và tác giả bài ca về anh cùng tuổi với nhau, cùng sinh năm 1936 và vẫn còn sống… Lâu lâu họ vẫn liên lạc với nhau. Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ thì ở với gia đình tại Hà Nội, còn Lê Quang Vịnh thì đi về giữa Huế, Hà Nội, nơi làm việc của người con trai Lê Quang Tự Do và TP Hồ Chí Minh, nơi cô con gái Lê Quang Hạnh Phúc sống và làm việc.

Mọi chuyện đã lui về quá khứ, nhưng sự kiện hy hữu về bài hát ca ngợi anh hùng liệt sĩ Lê Quang Vịnh từ ấy đến nay không một ai, không có cơ quan nào có ý kiến hoặc phân xử, cho nên ca khúc nổi tiếng ấy mặc nhiên thành “Bài ca đi cùng năm tháng”. Nó vẫn được hát lên khắp nơi. Và như tác giả cho biết, nhuận bút tác quyền vẫn được trả. Nói rồi ông cho tôi xem danh mục các bài hát vừa được Trung tâm bản quyền Âm nhạc VN thu hộ tác quyền… Điều đó chứng tỏ 50 năm tròn đã qua, bài hát vẫn có sức sống và vẫn được người Việt hát lên như một bản hùng ca bất tử…

Chuyện về tử tù huyền thoại và bài hát ca ngợi Lê Quang Vịnh là một câu chuyện đẹp, hy hữu, bi hùng và rất đáng tự hào trong lịch sử và trong nghệ thuật âm nhạc Việt NamTân Linh

Về “Lữ đoàn thép” 172, đơn vị Hải quân đánh thắng trận đầu

VOV.VN – Ngày 5/8 là ngày kỷ niệm Hải quân nhân dân Việt Nam đánh thắng trận đầu (5/8/1964-5/8/2019). Đơn vị lập chiến công chính là “Lữ đoàn thép” 172.

Kể từ ngày Phân đội 3 tàu phóng lôi, tiểu đoàn 135 (đơn vị tiền thân của Lữ đoàn 172) dũng cảm chiến đấu đánh đuổi tàu Khu trục Madox của Mỹ ra khỏi vùng biển nước ta ngày 2&5 tháng 8/1964, 55 năm đã trôi qua, kế tục truyền thống vẻ vang của cha anh, những bài học kinh nghiệm từ chiến thắng trận đầu được thế hệ cán bộ chiến sĩ Lữ đoàn 172, Bộ Tư lệnh Vùng 3 Hải quân hôm nay vận dụng trong thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu để hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

ve "lu doan thep" 172, don vi hai quan danh thang tran dau hinh 1
Luyện tập các phương án sẵn sàng chiến đấu ở Lữ đoàn 172

Trong những ngày đầu tháng 8 lịch sử, chúng tôi đến thăm cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 172, Bộ Tư lệnh Vùng 3 Hải quân tại bán đảo Sơn Trà – Đà Nẵng.

Dưới cái nắng gay gắt của miền Trung nhưng trên quân cảng và trên các thao trường của đơn vị, chúng tôi được chứng kiến không khí thi đua sôi nổi trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 172. Buổi diễn tập huấn luyện chiến đấu công kích ngư lôi của cán bộ chiến sĩ tàu 331 diễn ra nhanh và chính xác. Từ đài chỉ huy của tàu, khẩu lệnh của thuyền trưởng dõng dạc, dứt khoát, hành động của các bộ phận nhịp nhàng, tác nghiệp chuẩn xác.

Trong vòng chưa đầy 7 phút, tàu 331 đã luyện tập xong bảng bố trí chuẩn bị chiến đấu công kích ngư lôi, tiếp tục chuyển sang các bảng chiến đấu đối không, đối hải, công kích tên lửa, chuẩn bị đi biển khẩn cấp…Mỗi khoa mục huấn luyện được các ngành, các vị trí phối hợp thực hành thuần thục, chính xác.

Thiếu tá Hồ Minh Tuấn, Thuyền trưởng tàu 331 cho biết, luyện tập các tình huống sẵn sàng chiến đấu là nhiệm vụ thường xuyên của tàu, nhưng trong những ngày hướng tới kỷ niệm 55 năm chiến thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam, những hình ảnh của đội tàu phóng lôi 135 năm xưa lại khơi dậy trong mỗi cán bộ chiến sĩ tàu 331 nói riêng và đội tàu của Lữ đoàn 172 nói chung âm vang chiến thắng trận đầu của quân, dân miền Bắc, trong đó có Hải đội 135 – tiền thân của Lữ đoàn 172 hôm nay.

ve "lu doan thep" 172, don vi hai quan danh thang tran dau hinh 2
Thiếu tá Hồ Minh Tuấn, Thuyền trưởng tàu 331 đang hô khẩu lệnh diễn tập công kích ngư lôi

Cấp ủy, Chỉ huy tàu  thường xuyên giáo dục về tuyền thống đơn vị anh hùng – đơn vị góp phần quan trọng làm nên chiến thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam để mỗi cán bộ chiến sĩ của tàu đều nhận thức rõ niềm vinh dự và tự hào khi được học tập, công tác, huấn luyện ở đơn vị đánh thắng trận đầu, từ đó noi gương thế hệ đi trước, giữ vững và quyết tâm phấn đấu, phát huy truyền thống vẻ vang của đơn vị.

Đại úy Nguyễn Văn Long, Chính trị viên tàu 360 chia sẻ: Phát huy  truyền thống đánh thắng trận đầu của cha anh đi trước, mỗi cán bộ, chiến sỹ của tàu 360, Lữ đoàn 172 hôm nay đã thường xuyên được quán triệt, nhận thức sâu sắc về ý nghĩa lịch sử và giá trị to lớn của những bài học chiến thắng trận đầu, đặc biệt là ý nghĩa bài học chiến thắng của sức mạnh chính trị tinh thần, đó là ý chí quyết tâm chiến đấu “dám đánh, quyết đánh và biết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Chính vì vậy mỗi cán bộ chiến sĩ tàu 360 luôn nỗ lực học tập và rèn luyện, không ngại khó, ngại khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Trong huấn luyện, khai thác sử dụng vũ khí trang bị kỹ thuật, luôn bám sát phương châm huấn luyện “cơ bản, thiết thực, vững chắc”.

ve "lu doan thep" 172, don vi hai quan danh thang tran dau hinh 3
Biên đội tàu huấn luyện công kích tên lửa

Làm việc trên những con tàu phóng lôi, tàu tên lửa, Hải đội 131, Lữ đoàn 172 hiện nay đa phần các cán bộ chiến sĩ có tuổi đời còn rất trẻ nhưng tất cả đều tự hào, đam mê, nhiệt huyết, yêu biển, đảo, yêu con tàu. Chiến sĩ Lê Hữu Hạnh, tàu 331 tự hào: phát huy truyền thống của đơn vị đánh thắng trận đầu năm xưa, cán bộ, chiến sĩ tàu 360 không ngừng học tập nâng cao trình độ về mọi mặt, huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, xây dựng nền nếp chính quy, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc trong tình hình mới.

Trực tiếp chỉ huy các biên đội tàu huấn luyện, Thượng tá Vũ Đình Hiển, Lữ đoàn trưởng, Lữ đoàn 172 khẳng định: Cán bộ chiến sĩ Lữ đoàn 172 hôm nay luôn nhận thức sâu sắc về truyền thống của các thế hệ cha anh đi trước đã xây dựng, đặc biệt là truyền thống đánh thắng trận đầu của Phân đội 3 – Tiểu đoàn 135, đơn vị tiền thân của Lữ doàn 172. Tập thể Lữ đoàn đã và đang ra sức nỗ lực, phấn đấu viết tiếp truyền thống hào hùng của cha anh đi trước. Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ chiến thắng trận đầu được CBCS Lữ đoàn vận dụng trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu để đáp ứng thực hiện nhiệm vụ trong tình hình mới. Chính vì vậy, nhiều năm liên tục, Lữ đoàn 172luôn đạt đơn vị huấn luyện giỏi cấp Bộ Quốc Phòng, đạt danh hiệu đơn vị sẵn sàng chiến đấu bảo vệ biển, đảo tiêu biểu, xuất sắc nhất Quân chủng Hải quân.

ve "lu doan thep" 172, don vi hai quan danh thang tran dau hinh 4


Luyện tập sẵn sàng chiến đấu ở Lữ đoàn 172

Được mệnh danh là “Lữ đoàn thép” của Vùng 3, Quân chủng Hải quân, những năm qua, Lữ đoàn 172 đã phát huy tinh thần đoàn kết, tự lực tự cường, chủ động khắc phục khó khăn, quyết tâm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, trong đó xác định công tác huấn luyện chiến đấu là nội dung trọng tâm, là yếu tố cơ bản để nâng cao sức mạnh tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu của Lữ đoàn. 

Để có được thành tích này, theo Chuẩn đô đốc Mai Trọng Định, Chính ủy Bộ Tư lệnh Vùng 3, những năm qua, Đảng ủy, Chỉ huy đơn vị luôn phát huy nhân tố chính trị tinh thần, khơi dậy tình yêu biển, đảo, con tàu, đặc biệt giáo dục cho cán bộ chiến sĩ bản lĩnh chính trị và bản lĩnh chiến đấu “Dám đánh, quyết chiến, quyết thắng, không sợ kẻ thù” được đúc rút từ bài học kinh nghiệm đánh thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Bên cạnh đó thường xuyên coi trọng giáo dục về lịch sử, nghệ thuật quân sự, cách đánh truyền thống của Bộ đội Hải quân, ý nghĩa, tầm quan trọng về chiến thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam… từ đó mỗi cán bộ chiến sĩ xác định ý thức, trách nhiệm trong việc xây dựng lực lượng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. 

Hiện nay, tình hình trên biển có nhiều diễn biến phức tạp. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, tiếp tục tô thắm truyền thống của đơn vị đánh thắng trận đầu, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 172 luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, đoàn kết, khắc phục khó khăn, lập nên nhiều chiến công xuất sắc, góp phần cùng các đơn vị của Vùng 3 và Quân chủng Hải quân bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo và thềm lục địa của Tổ quốc, luôn xứng đáng là một trong những lực lượng chiến đấu chủ công của Hải quân Nhân dân Việt Nam, xây đắp nên truyền thống: “Chủ động sáng tạo, khắc phục khó khăn, sẵn sàng chiến đấu, đoàn kết quyết thắng”./.Cách đây 55 năm, mặc dù khi đó lực lượng của đơn vị nhỏ bé, các tàu của Hải quân nhân dân Việt Nam còn hạn chế về tính năng kỹ thuật, chiến thuật, lại phải tác chiến độc lập với tàu khu trục lớn, hiện đại của Hải quân Mỹ, nhưng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 135 với tinh thần dũng cảm, ý thức trách nhiệm làm chủ vùng biển đã đánh trận đầu xuất sắc, bắn cháy một máy bay, bắn bị thương một chiếc khác, buộc tàu khu trục Ma-đốc phải rút khỏi vùng biển miền Bắc. Những năm qua, nhiệm vụ trên giao ngày càng nặng nề, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo đòi hỏi cao hơn, khẩn trương hơn. Phát huy truyền thống, lớp cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 172 hôm nay luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc các mục tiêu được phân công. Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ chiến thắng trận đầu của Tiểu đoàn 135-đơn vị tiền thân của Lữ đoàn 172 vẫn được CBCS Lữ đoàn hôm nay vận dụng vào thực tiễn, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu.

Bài học sâu sắc từ chiến thắng trận đầu của Hải quân 55 năm trước

VOV.VN -Chiến thắng trận đầu ngày 5/8/1964 là một mốc son lịch sử trong quá trình chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Thu Lan/VOV1