Category Archives: Lịch sử

65 năm Ngày Tiếp quản Hà Nội (10/10/1954 – 10/10/2019)


Bác sĩ Trần Duy Hưng và Thủ đô Hà Nội những năm đầu độc lập


(Tác giả: Ngô Thế Long)

Trong hình ảnh có thể có: 6 người, mọi người đang đứng
Năm 1946: Bác sĩ Trần Duy Hưng, chủ hôn lễ cưới Ông Phạm Văn Đồng và Bà Phạm Thị Cúc. Trong ảnh còn có Ông Trường Chinh, Ông Phạm Quang Chúc (anh trai Bà Cúc) và Ông Võ Nguyên Giáp


Ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, Uỷ ban Nhân dân cách mạng lâm thời Hà Nội đã mời các nhân sĩ Hà Nội như cụ Nguyễn Văn Tố, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện … và Ông tham gia chính quyền nhân dân, các “sĩ phu Bắc Hà” đã vui vẻ nhận lời (theo lời kể của Đại tá Lê Trọng Nghĩa, một trong những người lãnh đạo Khởi nghĩa tại Hà Nội).

Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội, nhận thấy ở Ông một nhân cách, một tấm lòng son sắt vì nước, vì dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp Ông và đề nghị Ông làm Chủ tịch Thành phố Hà Nội, Ông đã đáp lại rằng: “Thưa Cụ, chức Chủ tịch xin Cụ chọn người khác xứng đáng hơn, tôi không quen làm…”. Nghe vậy, Cụ Hồ đã động viên: “Tôi có quen việc làm Chủ tịch nước đâu, chúng ta cứ làm rồi sẽ quen…”. Và từ ngày 30/8/1945, ở tuổi 33 Ông đã là người Chủ tịch đầu tiên của Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội.

Trong hình ảnh có thể có: 3 người, mọi người đang cười, ảnh tự sướng
Ba anh em Bá sĩ Trần Duy Hưng


Ông là Bác sĩ Trần Duy Hưng, còn có bí danh là Phạm Thư, sinh ngày 16 tháng 1 năm 1912, con trưởng trong một gia đình trung lưu và có truyền thống hiếu học. Cha Ông là Trần Duy Quý, một viên chức tại toà Công chính, quê ở thôn Hoè Thị, nay thuộc xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm Hà Nội (hiện tại Thư viện khoa học xã hội còn lưu hai bản sắc phong cho cụ Quý do vua Khải Định ban năm 1921 là Thị giảng Phụng nghị đại phu Hàn lâm Viện và vua Bảo Đại ban năm 1936 là Thị độc Phụng nghị đại phu Hàn lâm Viện). Mẹ Ông là Phạm Thị Châu, con gái của một dòng họ lớn ở làng hoa Ngọc Hà, Hà Nội. Ông và vợ Ông, Bà Nhữ Thị Tý, có 7 người con, trong đó có 2 con tham gia quân đội thời kỳ chiến tranh.


Ông đã sống và học tại Hà Nội từ thời niên thiếu. Sau khi tốt nghiệp trường Bưởi (nay là Trường Chu Văn An), Ông theo học Bác sĩ tại trường Y khoa Đông Dương, cùng khoa với các bác sĩ Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ. Ngay trong thời kỳ này, Ông cùng với Tạ Quang Bửu, Lưu Hữu Phước, Tôn Thất Tùng… là những người sáng lập Hướng đạo sinh ở Việt Nam, một phong trào có uy tín của thanh niên trí thức lúc đó, do Hoàng Đạo Thuý làm thủ lĩnh.

Ông làm Đoàn trưởng Đoàn Vạn Kiếp 2 và có tên là Trâu Mơ mộng. Với cây đàn violon và cùng các bạn bè, Ông đã nhiều lần về các vùng quê đàn hát những bài ca yêu nước và để giải toả sau những giờ làm việc vất vả sau này.

Trong hình ảnh có thể có: 3 người, mọi người đang đứng
BS Trần Duy Hưng và thân phụ cùng em trai


Sau khi tốt nghiệp Bác sĩ, Ông và em gái Ông mở phòng khám tại nhà riêng ở số nhà 73 phố Hàng Bông Ruộm.

Là một Bác sĩ đa khoa giỏi, nhưng điều Ông được đồng nghiệp và người dân Hà Nội thời đó yêu quý nhiều hơn là ở tấm lòng đức độ của một người thầy thuốc sẵn sàng cưu mang và cứu giúp dân nghèo.

Em gái ông, bà Trần Thị Mỹ, lúc đó đã tham gia Việt Minh, nên chính tại cơ sở chữa bệnh này, Ông đã cứu giúp và chở che cho những cán bộ Việt Minh như Nguyễn Đình Thi, Văn Cao … giữa vòng vây ráp của mật thám Pháp.


Với cương vị là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Hà Nội (theo sắc lệnh ngày 22/11/1945, được đổi thành Uỷ ban Hành chính) trong những ngày đầu của chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Ông đã tập hợp được đông đảo các tầng lớp quần chúng nhân dân thủ đô ủng hộ cách mạng, bảo vệ chính quyền non trẻ, “diệt giặc đói khổ, diệt giặc dốt nát, diệt giặc ngoại xâm”. Ông được người dân nhắc đến với tác phong giản dị, gần gũi dân, lắng nghe và giải quyết kịp thời các phản ánh và tâm tư, nguyện vọng chính đáng của dân.

Đêm giao thừa Bính Tuất năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bác sĩ đã đi thăm các gia đình nghèo ở Hà Nội. Là Chủ tịch của một thành phố lớn, nhưng Ông tự soạn thảo các công văn, diễn văn, thư từ, điện tín và tự lái ô tô.

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, ngoài trời
Thiếu tướng Vương Thừa Vũ và Bác sĩ Trần Duy Hưng cùng bộ đội tiếp quản thủ đô trong buổi lễ chào cờ tại sân Cột cờ Hà Nội.
(Ảnh của Phan Xuân Thuý) 


Ngày 6/1/1946, nhân dân cả nước đi bầu đại biểu quốc hội khoá đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Nhân dân Hà Nội đã lựa chọn được 6 đại biểu. Chủ tịch Hồ Chí Minh được số phiếu cao nhất và sau đó là bác sĩ Trần Duy Hưng. Tại cuộc họp Quốc hội thứ nhất vào ngày 2/3/1946 tại Nhà hát lớn Hà Nội, Ông đã được Quốc hội bầu vào trong Ban soạn thảo hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có 11 thành viên.

Với trọng trách này, Ông không chỉ chăm lo tới người dân trong nước mà kể cả người Việt Nam ở nước ngoài, cũng được Ông quan tâm. Báo Cứu quốc, cơ quan của Tổng bộ Việt Minh số 398, ra ngày 6/11/1946, có tường thuật lại ý kiến của Bác sĩ Trần Duy Hưng trong buổi họp Quốc hội góp ý kiến về nghĩa vụ và quyền lợi công dân cho bản Hiến pháp 1946: Ông đề nghị “Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bảo đảm về quyền lợi” với mục đích “là để nước ngoài nhận cái địa vị của nước Việt Nam và nhận cái chủ quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”


Chính vì vai trò và sự tận tâm của Bác sĩ với thủ đô và nhân dân Hà Nội, nên kẻ thù luôn tìm cách mua chuộc, hãm hại Ông, nhằm làm giảm uy tín của Chính quyền cách mạng. Nhiều báo những năm đó đã đăng tải vụ kẻ thù tiến hành bắt cóc Ông.

Trong hình ảnh có thể có: 3 người
Các đại biểu Quốc hội của Hà Nội ra mắt cử tri ngày 12/1/1946, trên sân vận động ở khu Việt Nam Học xá (Trường Đại học Bách khoa hiện nay). Từ trái sang phải: Kỹ sư Nông lâm Hoàng Văn Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bác sĩ Trần Duy Hưng, Bác sĩ Nguyễn Văn Luyện, Luật sư Vũ Đình Hoè, Nhà giáo Nguyễn Thị Thục Viên.

Báo Dân quốc số ra ngày 21/12/1945 có bài viết về vụ này: “Hồi hơn 12 giờ trưa ngày 19/12/1945, Bác sĩ Trần Duy Hưng, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hà Nội, bị một bọn 3 tên mang súng định bắt cóc ở ngay trước cửa nhà Ông ở phố Hàng Bông thợ Nhuộm. Một trong 3 tên đó mặc giả lính Trung Hoa, hai tên kia mặc âu phục. Trong khi ông Hưng đang quay xe để vào nhà thì nhân lúc không để ý, 3 tên Việt gian đã ngồi chờ sẵn ở một hàng nước trước cửa, nhẩy xổ lên ô tô dí súng vào người Ông và bắt Ông lái xe đi. Nhưng ông Hưng vẫn giữ được cấp trí, tắt ngay máy đi và bóp còi lên. Kẻ gian thấy bị lộ bèn xô ông Hưng vào một bên giữ chặt lấy Ông và định cầm lấy tay lái nhưng không vặn được xe đi. Trong khi ấy, người nhà bác sĩ Hưng biết có sự biến chạy ra và đồng thời anh em tự vệ trong phố cùng đổ đến. Thấy nguy, 3 tên Việt gian bỏ chạy, ông Hưng được tự do, rút súng bắn chỉ thiên, nhưng bọn bắt cóc cứ chạy, 2 tên tẩu thoát được, còn 1 tên đến đầu phố thì bị anh em tự vệ bắt”

BS Trần Duy Hưng chủ tịch thành phố của dân, vì dân: Hà Nội.


Cũng trong giai đoạn này, thực hiện Thông cáo của Chính phủ “về việc đặt tên đường phố và công viên tại các thành phố và tỉnh lỵ” và cũng là mong muốn của nhân dân thủ đô được sống trong một đất nước độc lập, Bác sĩ Trần Duy Hưng đã cho tiến hành việc đặt lại tên đường phố và công viên Hà Nội.

BS Trần Duy Hưng một người của Hà Nội

Ngày 1/12/1945, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hà Nội Trần Duy Hưng đã ký tờ trình về việc đặt tên phố và công viên Hà Nội. Nguyên tắc đặt tên phố là : Giữ nguyên tên cũ của Hà Nội 36 phố phường; đường phố Hà Nội mang tên các “anh quân, danh tướng, văn gia, chiến công, các nhà cách mạng cũ và mới”, các “danh nhân ngoại quốc có liên lạc với Việt Nam; các tên phố và vườn hoa trong từng khu vực có liên lạc với nhau; các vĩ nhân danh tiếng nhất đặt phố to nhất, và được chia ra từng khu vực có liên quan đến nhau. Ví dụ : Khu độc lập có vườn hoa Độc lập (nay là quảng trường Ba Đình) và các phố Dân chủ Cộng hòa (nay là Điện Biên phủ), Tự do (nay là Bà Huyện Thanh quan), Hạnh phúc (nay là Tôn Thất Đạm), Dân quyền (nay là Hoàng Văn Thụ), Hùng Vương (nay vẫn giữ tên cũ); Khu Quốc Tử Giám có các phố như Chu Văn An, Ngô Sĩ Liên …; Khu Trường Đại học có các phố Lê Thánh Tôn, Trạng Trình, Hàn Thuyên …; Khu quanh thành cổ có tên các phố Phan Đình Phùng, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu …; Khu Bờ sông tên phố là tên các chiến công ở bờ sông và các tướng đã đánh các trận đó Bạch Đằng, Tây Kết, Vạn Kiếp, Vân Đồn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Nguyễn Khoái …Khu hồ Hoàn Kiếm: có Vườn hoa Chí Linh, các phố Lê Thái Tổ, Nguyễn Trãi, Lê Lai, Lê Thạch …; Khu Giải phóng có phố Gia Phong, Đô Lương, Thái Nguyên, Tân Trào. Ngoài ra có mấy khu không liên lạc với tên phố nhưng để nhắc lại cảnh đau đớn của ách nô lệ: Cổ Am, Nghĩa Lộ … . Theo nguyên tắc trên, tên một số phố thời kỳ Bác sĩ Trần Văn Lai (Đốc lý Hà Nội thời chính phủ Trần Trọng Kim) đã cho đổi tên vẫn được giữ.

BS Trần Duy Hưng dạy con


Tháng 2/1947, sau hai tháng chiến đấu anh dũng chống quân Pháp, Chính quyền Hà Nội rút lên Việt Bắc. Quân Pháp tạm chiếm Hà Nội. Tại chiến khu, Bác sĩ Trần Duy Hưng được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ (năm 1947), Thứ trưởng Bộ Y tế (năm 1954). Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 10-10-1954 Bác sĩ Trần Duy Hưng, lúc này là Phó chủ tịch Ủy ban Quân chính Hà Nội, đã cùng đoàn quân chiến thắng vào tiếp quản Thủ đô.

Sau đó Ông trở lại với chức danh Chủ tịch Ủy ban Hành chính, rồi Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. Năm 1977 Ông xin nghỉ hưu. Ông mất ngày 2/10/1988 tại Hà Nội.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có nhận xét về Ông : “Một con người của nhân dân, vì nhân dân; là một trí thức để lại tấm gương sáng cho các thế hệ trí thức cả hôm nay và mai sau học tập, noi theo”.

Các đại biểu Quốc hội của Hà Nội ra mắt cử tri ngày 12/1/1946, trên sân vận động ở khu Việt Nam Học xá (Trường Đại học Bách khoa hiện nay). Từ trái sang phải: Kỹ sư Nông lâm Hoàng Văn Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bác sĩ Trần Duy Hưng, Bác sĩ Nguyễn Văn Luyện, Luật sư Vũ Đình Hoè, Nhà giáo Nguyễn Thị Thục Viên.


Để ghi nhận công lao của Ông, năm 2005 Nhà nước đã truy tặng Ông Huân chương Hồ Chí Minh. Tháng 1/1999, một con đường đẹp của thủ đô mới được mở trong thời kỳ đổi mới mang tên Ông : Phố Trần Duy Hưng. Các đường phố quanh đó mang tên những người đã từng lãnh đạo Hà Nội như Nguyễn Ngọc Vũ, Lê Văn Lương, Nguyễn Khang, Khuất Duy Tiến. Và mới đây, chuẩn bị cho đại lễ một nghìn năm Thăng Long – Hà Nội, tại cuộc họp chiều 14/7/2010 của Hội đồng Nhân dân Thành phố Hà Nội, các đại biểu đã nhất trí đặt tên đoạn đường nối dài từ phố Trần Duy Hưng đến Hòa Lạc là đại lộ Thăng Long.


(Bài đã đăng trên Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng, số 201, tháng 9/2010, có bổ xung của chính tác giả).

Advertisements

Cháu ngoại GS Phan Huy Lê nhận giải nhất giải thưởng Phạm Thận Duật

TTO – Tiến sĩ Phạm Lê Huy – cháu ngoại của cố GS Phan Huy Lê – chia sẻ những khó khăn của các nhà sử học Việt khi tìm kiếm chân lý lịch sử, khi ông lên nhận giải thưởng cho luận án tiến sĩ về thời đô hộ Tùy Đường.

Cháu ngoại GS Phan Huy Lê nhận giải nhất giải thưởng Phạm Thận Duật - Ảnh 1.

TS Phạm Lê Huy (phải) nhận giải nhất giải thưởng sử học Phạm Thận Duật năm 2018 – Ảnh: THIÊN ĐIỂU

Tiến sĩ Phạm Lê Huy được trao giải nhất giải thưởng sử học Phạm Thận Duật lần thứ 19 năm 2018 của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam vào ngày 29-11 tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội).

Trong niềm xúc động khi được trao giải thưởng mà ông ngoại mình – cố GS Phan Huy Lê, nguyên chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam – là người gắn bó ngay từ những ngày đầu thành lập, tiến sĩ Phạm Lê Huy nói mắt ông rưng rưng khi nhìn xuống hàng ghế đại biểu hôm nay thấy vắng bóng ông mình.

Tiến sĩ trẻ Phạm Lê Huy nhận định luận án của mình cũng như các đồng nghiệp nhận giải thưởng lần này là những tìm tòi, khám phá nhỏ nhoi góp phần vào việc xây dựng một nhận thức lịch sử trung thực, khách quan và công bằng hơn.

Ông cũng lạc quan rằng ông và các nhà sử học không đơn độc trên hành trình tìm kiếm chân lý lịch sử. Giải thưởng lịch sử Phạm Thận Duật hàng năm chính là một sự động viên của xã hội đối với những nỗ lực thường nhật của những người làm sử.

Cháu ngoại GS Phan Huy Lê nhận giải nhất giải thưởng Phạm Thận Duật - Ảnh 2.

TS Phạm Lê Huy phát biểu khi nhận giải – Ảnh: THIÊN ĐIỂU

Luận án tiến sĩ Tầng lớp thủ lĩnh tại Giao Châu – An Nam thời đô hộ Tùy Đường của Phạm Lê Huy đã được hội đồng xét giải thưởng đánh giá rất cao và quyết định trao giải nhất. Trong lịch sử 19 năm của giải thưởng lịch sử này, mới chỉ có 9 giải nhất được trao tặng, 10 lần trao giải khác không có giải nhất.

GS.TSKH.NGND Vũ Minh Giang – chủ tịch hội đồng xét thưởng – đánh giá rất cao giá trị của luận án tiến sĩ được trao giải nhất năm nay. Ông nói luận án này là một công trình nghiên cứu đặc sắc, đóng góp rất nhiều vào khoảng trống trong hiểu biết về thời kỳ lịch sử này.

Giáo sư Vũ Minh Giang nói thời kỳ Bắc thuộc là một thời kỳ lịch sử quan trọng của dân tộc nhưng trước đây lại chưa được hiểu, được lý giải đầy đủ. Trong một lần phát biểu tại hội thảo khoa học quốc tế về Việt Nam học lần thứ nhất, cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi ấy là chủ tịch danh dự của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam nhắc nhở giới sử học phải phải lý giải nhiều hơn về việc làm sao mà dân tộc chúng ta đã nổi dậy và nổi dậy thành công sau 1.000 năm bị đô hộ.

Luận án này của Phạm Lê Huy đã đi sâu nghiên cứu về sự hình thành của tầng lớp hào trưởng, tầng lớp thủ lĩnh địa phương và cho thấy chính họ là lực lượng liên kết lại, giúp Ngô Quyền tạo nên chiến thắng Bạch Đằng năm 938.

Giáo sư Vũ Minh Giang nói chuyện này xưa nay chỉ được biết đến rất mơ hồ, nhưng luận án tiến sĩ của Phạm Lê Huy, với trình độ nghiên cứu chuyên nghiệp, nguồn tư liệu đáng tin cậy đã đưa ra một bức tranh rất rõ ràng. Rất nhiều kết quả nghiên cứu trong luận án này đã được chọn đưa vào những công trình nghiên cứu lớn hơn, như bộ Quốc sử.

Cháu ngoại GS Phan Huy Lê nhận giải nhất giải thưởng Phạm Thận Duật - Ảnh 3.

Hai tác giả nhận giải nhì – Ảnh: THIÊN ĐIỂU

Tiến sĩ Phạm Lê Huy cho biết ông đã được giao viết 2 chương liên quan tới thời Tùy Đường trong tập 3 của bộ Quốc sử do cố GS Phan Huy Lê làm chủ biên. 1 chương về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội thời Tùy Đường; chương thứ 2 về các cuộc khởi nghĩa thời Tùy Đường. Hai chương này được ông lấy từ các kết quả nghiên cứu mới nhất trong luận án tiến sĩ của mình.

Tiến sĩ Phạm Huy Lê hi vọng độc giả sẽ có được cái nhìn mới, khác biệt với các cuốn thông sử trước đây về thời kỳ lịch sử này. Theo kế hoạch, tập 3 của bộ Quốc sử này sẽ hoàn thành vào năm 2019.

Cháu ngoại GS Phan Huy Lê nhận giải nhất giải thưởng Phạm Thận Duật - Ảnh 4.

Ba nữ tiến sĩ nhận giải ba – Ảnh: THIÊN ĐIỂU

Ngoài giải nhất cho luận án của Tiến sĩ Phạm Lê Huy, giải thưởng lịch sử Phạm Thận Duật năm 2018 còn trao hai giải nhì cho luận án Các thương cảng ven biển Bắc Trung Bộ trong quan hệ hương mại khu vực và quốc tế thế kỷ XI-XIX của tiến sĩ Nguyễn Văn Chuyên (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) và luận án Các di tích đền – tháp, thành – lũy Champa ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế của Tiến sĩ Nguyễn Văn Quảng (khoa lịch sử, Trường ĐH Khoa học, Đại học Huế).

Ba giải ba cho luận án Thủ công nghiệp và thương nghiệp Đàng Ngoài thế kỷ XVII-XVIII của tiến sĩ Lê Thùy Linh (Viện Sử học, Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam); luận án Cuộc chiến giữa lực lượng Tây Sơn và Nguyễn Ánh giai đoạn 1778-1802 của tiến sĩ Nguyễn Thị Hằng Nga (Trường THPT Nguyễn Duy Trinh, Nghệ An); luận án Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bắc Giang từ năm 1997 đến năm 2015 của tiến sĩ Nguyễn Thị Vân (Trường ĐH Kỹ thuật công nghiệp, Đại học Thái Nguyên).

Tính đến nay, qua 19 mùa trao giải, quỹ giải thưởng Phạm Thận Duật đã xét tặng cho 101 giải thưởng, bao gồm 9 giải nhất, 41 giải nhì, 51 giải ba, trong đó có 2 tiến sĩ người nước ngoài.

THIÊN ĐIỂU

Cuộc đời nhân sĩ Nguyễn Hữu Hạnh

TP HCM – Nguyên Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh – người kêu gọi binh sĩ Việt Nam Cộng hoà buông súng ngày 30/4/1975, đã qua đời ở tuổi 95.

Ngày 30/9, rất đông người đến viếng nhân sĩ Nguyễn Hữu Hạnh tại nhà riêng của ông thuộc ấp Cây Da, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi. Trong đó có nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, nguyên Chủ tịch UBND TP HCM Lê Hoàng Quân, Phó bí thư Thành ủy Võ Thị Dung…

Ông Hạnh sinh năm 1924, là cựu tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông được biết với vai trò Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, người đã tác động để Tổng thống Dương Văn Minh quyết định kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng hòa buông vũ khí trước sức tấn công của Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam vào sáng 30/4/1975, chấm dứt cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh. Ảnh tư liệu.
Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh. Ảnh tư liệu.

Dù là một sĩ quan cao cấp của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, ông Nguyễn Hữu Hạnh đã được Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam móc nối tạo quan hệ từ năm 1963.

Trong nhiều lần đối mặt với lực lượng cách mạng, ông đều lệnh cho binh sĩ đánh ở thế giằng co mà không tiến chiếm mục tiêu. Khi quân giải phóng rút, ông cũng ra lệnh rút quân về. Các cố vấn Mỹ mỉa mai gọi ông là “Tư lệnh thận trọng”, “Tư lệnh không bao giờ chiếm mục tiêu”.

Ngày 28/4/1975, sau khi Đại tướng Dương Văn Minh lên nắm chức vụ Tổng thống, ông được phân công giữ chức Phụ tá cho tân Tổng tham mưu trưởng, Trung tướng Vĩnh Lộc. Tuy nhiên, không lâu thì tướng Vĩnh Lộc đào nhiệm. Vì vậy, nhân danh Tổng tham mưu trưởng, ông Nguyễn Hữu Hạnh đã ra tuyên bố kêu gọi binh sĩ buông súng. Ông cũng là một trong 2 vị tướng bên cạnh Tổng thống Dương Văn Minh trong giờ phút cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa.

Sau năm 1975, ông được bầu làm ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tư cách nhân sĩ yêu nước.

Ông Nguyễn Hữu Hạnh (trái) trong hội nghị Mặt trận tổ quốc tại TP HCM năm 1976. Ảnh tư liệu.
Ông Nguyễn Hữu Hạnh (trái) trong hội nghị Mặt trận tổ quốc tại TP HCM năm 1976. Ảnh tư liệu.

Ông Nguyễn Hữu Hạnh có 14 người con. Gia đình cho biết, dù ở tuổi 95 nhưng ông vẫn minh mẫn, thường xuyên đi lại từ nhà ở Tiền Giang lên Củ Chi và thích vui thú điền viên. Một tháng trước ông ốm nặng, được cấp cứu tại Bệnh viện Thống Nhất rồi trút hơi thở cuối cùng ngày 29/9. Trong ký ức của người thân, ông là người nghĩa khí, trung thực, tác phong nghiêm chỉnh theo lề lối quân đội.

Nhiều lần gặp gỡ với tư cách bạn bè, ông Phạm Văn Thắng (74 tuổi, nguyên cán bộ Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam) nhận xét ông Hạnh là người hiền từ, tốt bụng. Trước 30/4/1975, hai người chưa biết nhau. Sau ngày thống nhất đất nước họ mới có cơ hội gặp gỡ, thăm hỏi, hàn huyên nhiều câu chuyện cũ.

Trong sổ tang, ông Thắng với vai trò Phó chủ nhiệm Câu lạc bộ kháng chiến khối Binh vận TP HCM bày tỏ lòng thương tiếc với người anh hùng thầm lặng. “Nhân dân nhớ ơn anh”, ông viết.

Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang viết sổ tang nhân sĩ Nguyễn Hữu Hạnh. Ảnh: SGGP.
Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang viết sổ tang nhân sĩ Nguyễn Hữu Hạnh. Ảnh: SGGP.

Nhiều lãnh đạo đương nhiệm của TP HCM cũng bày tỏ lòng biết ơn với nhân sĩ Nguyễn Hữu Hạnh và những đóng góp của ông cho đất nước và sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang viết trong sổ tang: “Vô cùng thương tiếc Anh. Chúng tôi mãi mãi ghi nhớ những đóng góp quan trọng của Anh trong những ngày tháng sôi sục của cuộc kháng chiến giành độc lập và thống nhất tổ quốc. Xin vĩnh biệt Anh”.

Còn ông Lê Hoàng Quân, nguyên Chủ tịch UBND TP HCM viết: “Xin chân thành chúc hương hồn chú Nguyễn Hữu Hạnh – người nhân sĩ yêu nước – an giấc ngàn thu. Xin chia buồn sâu sắc tới thân bằng quyến thuộc chú Hạnh”.

Tang lễ nhân sĩ Nguyễn Hữu Hạnh do bà Tô Thị Bích Châu, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TP HCM làm trưởng ban. Lễ truy điệu lúc 5h30 ngày 2/10, lễ động quan lúc 6h cùng ngày.

Mạnh Tùng – Hữu Nguyên

Tưởng niệm không quân Nguyễn Văn Bảy trong chuyến hội ngộ tại Hoa Kỳ

THS2018 – Ngày 21/9/2017 những cựu thù 2 nước từng săn đuổi trên không đã cùng nhau gác chuyện hận thù để “đáp an toàn” trong hăng-ga của HKMH USS Midway. Mời các bạn xem toàn bộ video do KBCHN ghi hình trọn bộ cuộc gặp gỡ lịch sử.

Gặp “huyền thoại Côn Đảo” Lê Quang Vịnh

TTH – Lê Quang Vịnh – cái tên “huyền thoại Côn Đảo”, được mọi người biết đến: Một nhà giáo yêu nước, một chiến sĩ cách mạng kiên trung, bất khuất đã 3 lần bị Mỹ – Diệm tuyên án tử hình và lưu đày 14 năm ở ngục tù Côn Đảo. Trong đó, có 8 năm ròng rã bị đày đọa, cấm cố trong các “Chuồng cọp”, “Chuồng Bò”, “Hầm Đá”… Dù bị đánh đập, tra khảo tàn bạo, dã man, ông vẫn luôn một lòng, một dạ sắt son, giữ vững lý tưởng của người cộng sản…

“Huyền thoại” người cựu tử tù…Tôi tìm đến cựu tử tù Côn Đảo – Lê Quang Vịnh vào một ngày Huế mưa lắc rắc. Ông tiếp tôi với nụ cười giản dị, giọng nói ấm áp, rành rọt, khúc chiết trong câu chuyện hồi tưởng về quá khứ. “Cuộc đời tôi không phải chỉ được dệt bằng những chiến công hiển hách, những tấm lòng trung dũng, kiên cường, những tình cảm cao đẹp, mà bao giờ cũng có hai mặt đối chọi nhau rất dữ dội. Nhà tù của thực dân đế quốc là để đày ải, giam cầm, khủng bố cách mạng và những người cách mạng. Nhà tù là nơi thử thách của những người cách mạng. Tôi đúc rút ra bài học cho mình: “Đi trên đường cách mạng chân chính, chúng ta sẽ được đồng bào, đồng chí, quần chúng nhân dân đồng tình, ủng hộ; nỗi bất hạnh sẽ biến thành niềm hạnh phúc”, Lê Quang Vịnh mở đầu câu chuyện với tôi bằng những lời nói rất thật của một người cộng sản, mà thế hệ như tôi thật khó để hình dung. 

Ông Lê Quang Vịnh bênchân dung của mình Trong câu chuyện với tôi về những năm tháng lao tù, nhiều lần Lê Quang Vịnh rưng rưng nước mắt. Ông khóc không phải vì quá đau khổ, quá cùng cực ở chốn lao tù, mà vì niềm tin, vì lòng quả cảm vượt qua gian khó của một người cộng sản. Ông dẫn tôi đi khắp căn phòng, hướng dẫn, giới thiệu cho tôi những kỷ vật, hiện vật đáng nhớ nhất trong cuộc đời ông. Giở từng lá thư của mẹ gửi cho ông, khi ông đang ngồi ở nhà tù Côn Đảo, tay ông run run, mắt đỏ hoe vì cảm động, vì thương nhớ. Chiếc còng kia giờ đã nằm trong tủ trưng bày, nhưng đã chứng kiến biết bao đau thương thể xác của Lê Quang Vịnh và các đồng chí, đồng đội của ông trong những lúc bị còng chân, còng tay ngồi trong xà lim dành cho người tử tù. Nắm đất kia, hòn đá kia… tất cả đều là kỷ niệm ở Côn Đảo mà thời bình ông mới có dịp sưu tầm, để cất giữ và xem đó là những kỷ vật quý giá nhất của đời mình. Sách, báo, phim ảnh trong và ngoài nước nói về “huyền thoại” tử tù Lê Quang Vịnh đã nhiều, nhưng sao tôi vẫn muốn được nghe ông kể chuyện về những người tử tù Côn Đảo…
 Phiên tòa lịch sử mang tên “Hội sinh viên học sinh Việt cộng ngày 23-5-1962 xét xử vụ mưu sát Đại sứ Mỹ Nâu – ting với 12 bị cáo tuổi đời còn rất trẻ, trong đó có vị Giáo sư 26 tuổi Lê Quang Vịnh, Ủy viên BCH Đoàn Thanh niên Lao động miền Nam, Việt Nam khu Sài Gòn – Gia Định, Trưởng ban cán sự Sinh viên. Phiên tòa đã trở thành diễn đàn biểu dương lực lượng cách mạng và tố cáo tội ác của giặc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước. Kết thúc phiên tòa, trong số 12 bị cáo trẻ tuổi đó có 4 án tử hình (trong đó có Lê Quang Vịnh), 4 án chung thân, 4 án khác từ 5 đến 15 năm tù. Từ nhà lao Chí Hòa, Côn Đảo, Chuồng Cọp, Chuồng Bò, Hầm Đá… suốt 14 năm ròng rã với những đòn roi chí mạng, kẻ thù vẫn không làm lung lay ý chí người cộng sản Lê Quang Vịnh. Người ta thường nói, những người cộng sản biến nhà tù của bọn đế quốc trở thành trường học lớn cho mình, thật không sai chút nào. Đối với Lê Quang Vịnh, còn hơn thế nữa, năm 14 tuổi ông đã tham gia cách mạng rồi bị bắt, bị tù 7 tháng (giai đoạn 1950-1951) tại Lao Thừa Phủ, vì hoạt động Đoàn học sinh kháng chiến tỉnh Thừa Thiên Huế. Trong các giai đoạn 1955-1956; 1961-1975 ông tiếp tục bị bắt, tù đày trong các nhà tù của bọn đế quốc và bè lũ tay sai bán nước. Nhưng trường học mà Lê Quang Vịnh trưởng thành nhanh nhất chính là “địa ngục trần gian” – Côn Đảo. Một “khóa học” kéo dài 14 năm trời, với 8 năm ròng rã, Lê Quang Vịnh nằm trong xà lim nhà tù Côn Đảo bị còng tay, còng chân. Trước phong trào đấu tranh cách mạng, trước khí tiết quả cảm của người cộng sản, Mỹ – Diệm không thể xử tử Lê Quang Vịnh. Chúng muốn ông phải chết dần, chết mòn trong lao tù bằng những đòn tra tấn tàn bạo, dã man nhất. “Trong 8 năm ấy, phần lớn tôi sống một mình. Ngoài việc tập trung trí tuệ để chống lại kẻ địch, tôi có một thú vui duy nhất là làm thơ, sáng tác nhạc với đề tài liên quan đến cuộc chiến đấu, bảo vệ khí tiết cách mạng. Tính lại tôi đã làm hàng trăm bài thơ, hàng chục bản nhạc. Những lần được nghe thơ Bác Hồ, lòng tôi lại xúc động và thế là tôi phổ nhạc bài thơ ấy. Tôi tự hát cho mình nghe và nguyện sẽ làm theo những lời Bác dạy”, cựu tử tù Lê Quang Vịnh xúc động.
Nhớ những cái “Tết” trong lao tù…
 Đã là tử tù chính trị bị còng chân ở Chuồng Cọp, Hầm Đá thì tuyệt đối không có Tết đúng nghĩa. Người tù nằm một mình trong bốn bức tường đá lạnh, chỉ biết Tết qua âm thanh, mùi vị bên ngoài vọng vào. Khi giao thừa đến, nghe tiếng pháo bên ngoài vọng vào, người tử tù đứng dậy nghiêm trang, tưởng tượng mình đang chào cờ Tổ quốc để thầm hát Quốc ca. Nhắc đến những cái “Tết” trong tù ngục, Lê Quang Vịnh đọc cho tôi nghe 2 câu đối được ông và các đồng chí trong tù kết nên từ những lá bàng khô: “Ngoài ngục, đào mai khoe sắc thắm. Trong tù, lý tưởng chói lòng son”.
 Cựu tử tù Lê Quang Vịnh kể lại: “Cũng có giao thừa, bốc quá, hát to: “Nước mắt rưng rưng tràn má hóp. Quốc ca ta hát vọng ra ngoài”. Thế là bọn lính canh Chuồng Cọp lấy sào thọc tới tấp từ trên song sắt xuống. Nếu còn hát tiếp, nó rắc vôi bột xuống trắng cả tóc tai. Thế mà anh em tù Chuồng Cọp, Hầm Đá cứ Tết đến, hay ngày Quốc khánh 2-9 là đứng nghiêm trang “chào cờ tưởng tượng”, rồi hát Quốc ca, Lãnh tụ ca. “Chúa Đảo” quy định tiêu chuẩn cho tử tù ăn 3 tháng được 100g thịt, một ngày 450g cơm (hai dĩa). Nhưng ngày Tết chúng cho thêm trên đĩa cơm mang vào chuồng một hai miếng thịt. Có thể gọi đó là “Khẩu phần Tết”. Anh em tù đi lao động khổ sai thì Tết nhất có khá hơn. Khi đi làm ở các “Sở” (tổ chức lao động khổ sai theo nghề, như sở vôi, sở đá…) họ kiếm được con cá dưới ruộng, bông hoa rừng, làm cho cái Tết cũng tươi hơn chút ít. Đêm giao thừa cả gian 14 Hầm Đá tổ chức văn nghệ, thay nhau hát các bài hát cách mạng, rồi ngâm thơ”.Báo chí dăng tin, viết bài về 4 chiến sĩ cộng sản bị tuyên án tử hình Nói rồi, ông lại suy tư: “Trong 8 năm biệt giam trong Chuồng Cọp, Hầm Đá và 4 năm chung thân khổ sai, có hai cái Tết ấn tượng nhất đối với tôi. Đó là Tết Mậu Thân 1968 và Tết năm 1971”. Ngày mùng 2 Tết Mậu Thân, cựu tử tù Lê Quang Vịnh đang ở Chuồng Cọp II, bỗng nhiên địch mở cửa, tháo còng, lôi ra khỏi chuồng. Sau đó chúng đưa anh cùng các tử tù Lê Hồng Tư, Lê Minh Châu, Trương Thanh Danh lên tàu thủy Mỹ chở về Sài Gòn. Tuy vẫn bị còng chân, nhưng 4 người tù được hít thở khí Xuân đất trời. Trên đường về Tổng Nha cảnh sát ngụy, nhiều khu quân sự của địch bị phá nát. Khu căn cứ Hàng Xanh gần như sụp đổ hoàn toàn. Dinh Độc Lập cũng bị nhiều vết tích của một cuộc tấn công. Đường phố Sài Gòn mọc lên nhiều công sự bằng bao cát. Như vậy, các anh đã được chứng kiến tận mắt một trận đánh rất lớn của quân ta vào đầu não Sài Gòn.
 Kể cho tôi nghe xong những ký ức về Tết ở Chuồng Cọp, Hầm Đá, Côn Đảo, cựu tử tù Lê Quang Vịnh bỗng trầm ngâm, rưng rưng nước mắt: “Đã 36 cái Tết trên đất nước hoà bình, bên vợ con sum vầy làm cỗ đón Xuân, đi chơi chúc Tết bà con bè bạn… nhưng không có cái Tết nào tôi không cồn cào nhớ đến những người bạn tù của mình còn sống hay đã nằm xuống ở nghĩa trang Hàng Dương Côn Đảo. Nhớ lắm, nhớ lắm… ”. Nói rồi ông rút khăn mùi xoa chấm nước mắt.
Luôn giữ vững lý tưởng người cộng sản…
 Năm 1975 – đất nước yên tiếng súng, cựu tử tù Lê Quang Vịnh thoát khỏi xiềng xích của nhà tù Côn Đảo, trở về với Đảng, với nhân dân. Mặc dù trên thân mình mang đầy thương tích, bệnh tật – hậu quả của những năm tháng tù đày, nhưng Lê Quang Vịnh vẫn được tiếp tục hoạt động cách mạng với nhiều cương vị công tác khác nhau. Ông được bố trí nhiều công việc quan trọng như: Thường vụ Đặc khu ủy Vũng Tàu – Côn Đảo, kiêm Bí thư Huyện ủy Côn Đảo; Giám đốc Sở Giáo dục – Đào tạo TP Hồ Chí Minh; Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội LHTN Việt Nam; Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ, kiêm Phó ban Dân vận Trung ương Đảng và nay là Chủ tịch Hội tù yêu nước tỉnh Thừa Thiên Huế.
 Dù ở cương vị công tác nào ông cũng luôn phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Cựu tù Lê Quang Vịnh tâm sự: “Tôi tham gia vào việc gì cũng bắt đầu bằng sự thất bại, bằng sự non kém, thiếu kinh nghiệm, yếu ớt, vụng về. Khó nhọc lắm, bầm dập lắm! Tuy nhiên, tôi không bỏ cuộc, tôi vẫn tiếp tục. Càng về sau, tôi càng được sự giúp đỡ, ủng hộ của những người tốt và cuối cùng là đi đến thành công. Tôi có lòng tin sắt đá về phương hướng mà đời mình đã xác định là đúng. Vấn đề chủ yếu là đúc rút kinh nghiệm, tìm ra nguyên nhân và phương pháp khắc phục, thì nhất định thất bại sẽ dẫn đến thành công. Không có Đảng, không có cách mạng thì tôi cũng không còn. Tôi bằng lòng tất cả, không tính toán so đo. Quan điểm của tôi khi làm việc thấy đúng thì bảo vệ, thấy sai thì đấu tranh. Thế thôi!”
 Ngày nghỉ hưu (2004), sau hơn 50 năm xa quê hương, Lê Quang Vịnh đã tìm về với quê nội – làng Xuân Hòa, phường Kim Long, TP Huế, sống cuộc sống thanh bình với đầy ắp những hoài niệm. Vợ chồng ông giờ đã có một tổ ấm hạnh phúc bên 2 người con Lê Quang Tự Do và Lê Quang Hạnh Phúc. Cả hai đã trưởng thành, đã có công việc ổn định và giữ những cương vị quan trọng trong công việc. Ngôi nhà của ông ở địa chỉ 58/24B Nguyễn Phúc Nguyên, TP Huế cũng chính là nhà lưu niệm Lê Quang Vịnh. Đây vừa là nơi gặp gỡ, hàn huyên tâm sự của những người bạn, người đồng chí, đồng đội vào sinh ra tử với ông. Bạn của ông là những người bạn tù Côn Đảo, ở khám Chí Hòa, Lao Thừa Phủ, những người bạn nước ngoài, hay những em nhỏ đang còn cắp sách đến trường. Họ đến với ông không chỉ để nhìn, ngắm những hình ảnh, gợi nhớ những kỷ niệm của chính mình qua những tư liệu, hiện vật mang đậm dấu ấn về những năm tháng không thể nào quên, về một thời đấu tranh cách mạng gian lao mà vinh quang, mà đến còn vì sự cảm thông, sẻ chia, kính phục trước một con người cộng sản “huyền thoại Côn Đảo” – Lê Quang Vịnh. 

Anh Phong

Tử tù Lê Quang Vịnh và câu chuyện sau nửa thế kỷ về bài hát Người con quang vinh

Người tử tù Lê Quang Vịnh  đã  trở về từ cõi chết sau 14 năm bị giam cầm tra tấn dã man ở địa ngục Côn Đảo,  hiện  sống tại TP Huế và đang có ý định khắc bản nhạc ngợi ca cái chết của mình năm xưa vào bia đá trưng bày tại Nhà lưu niệm Lê Quang Vịnh cùng bài thơ của Tố Hữu viết về anh…

Còn  bản nhạc viết tặng người anh hùng liệt sĩ Lê Quang Vịnh thì hơn 50 năm nay vẫn được cất lên trên khắp đất nước, và  tác giả – nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ cho đến hôm nay vẫn  nhận được nhuận bút  tác quyền…

Không ai có lỗi trong câu chuyện âm nhạc hy hữu ấy đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Đó là một “sự cố” thuộc về lịch sử khi người tử tù nổi tiếng thoát  chết sau án tử hình và một bài hát ngợi ca người anh hùng được viết quá nhanh bởi cảm xúc anh hùng ca mãnh liệt cổ vũ cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà…

Lai lịch một Bài ca đi cùng năm tháng…

Bài hát ngỡ có số phận ngắn ngủi ấy không ngờ vẫn được tiếp tục phổ biến, được các thế hệ người Việt khắp miền hát đến hôm nay, dù nhân vật của tác phẩm vẫn còn lẫm liệt sống sau những biến cố bi hùng.

Lê Quang Vịnh, người con quang vinh/ Tôi khắc tên anh vào trái tim tôi/ Tôi hát tên anh trong triệu muôn người…./ Dâng cả tuổi yêu đời/ Dâng cuộc sống cho muôn triệu người… Căm thù trào lên muôn nơi… Tuổi thơ tôi còn nhớ mãi giọng ca Quốc Hương khi ông hát ngợi ca người liệt sĩ anh hùng Lê Quang Vịnh. Rồi chúng tôi được các anh chị  tập cho bài hát ấy. Chúng tôi hát với tất cả niềm tự hào, đau đớn xen lẫn kính trọng mà đâu biết người tử tù ấy may mắn sống sót… Anh đã không bị tử hình như án của kẻ thù đã tuyên mà bị đày ra Côn Đảo cho đến ngày toàn thắng được trở về, làm Tổng thư ký Hội LHTNVN, Phó ban dân vận TƯ, Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ… Nhưng có điều mãi đến bây giờ tình tiết của câu chuyện ấy vẫn là một điều chưa mấy người hiểu.

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ kể rằng: Chỉ có Bác Hồ, lãnh tụ thiên tài với giá trị ngoại hạng, được ngợi ca khi Người còn tại thế, còn lại, tất cả chỉ có thể được tôn vinh khi nhân vật ấy đã hy sinh cho dân cho nước. Và Lê Quang Vịnh – người con quang vinh đã được viết trong hoàn cảnh ấy, bằng tâm thế ngợi ca một anh hùng liệt sĩ vừa hy sinh… Và vì sao lại có một “ngoại lệ” như vậy?.

Lê Quang Vịnh, một cái tên tuổi trẻ hồi ấy khá nổi tiếng trong giới học sinh sinh viên miền Nam. 14 tuổi cậu bé Vịnh đã nếm cảnh lao tù vì tham gia hoạt động trong đoàn học sinh kháng chiến Huế. 19 tuổi xong tú tài toàn phần đã tham gia làm báo Ngày Mai, một tờ báo cách mạng ở Huế trong vai trò Thư ký tòa soạn. Lại bị bắt chịu tù 1 năm. 21 tuổi chuyển vào Sài Gòn. 24 tuổi Tốt nghiệp thủ khoa Toán Đại học Sư phạm Sài Gòn và được kết nạp Đảng, được cử làm Tổng thư ký Hội Liên hiệp SVHS Sài Gòn Gia Định…

Lê Quang Vịnh được bổ nhiệm là Giáo sư Trung học trường Petrus Ký… Hè năm 1961,  bị bắt, anh bị kết án tử hình… Tin anh Lê Quang Vịnh bị tòa án Mỹ – Diệm ở Sài Gòn kết án tử hình lan ra miền Bắc gây xúc động với hàng triệu người hướng về miền Nam thân yêu đang tranh đấu cho ngày thống nhất… Ban Thống nhất Trung ương ra thông báo phát động một phong trào noi gương anh hùng dũng cảm của nhà trí thức trẻ Lê Quang Vịnh và tiểu đội anh hùng…

Giới văn nghệ sĩ hào hứng tham gia sáng tác về tấm gương chiến đấu và ý chí bất khuất trước kẻ thù của các anh. Nhà thơ Tố Hữu có bài thơ Tiểu đội anh hùng: Lê Quang Vịnh và các anh/ Tiểu đội anh hùng của tuổi xanh/ Mười hai tên, mạnh như tên lửa/ Chấp hết gươm treo, án tử hình… Nữ sĩ Anh Thơ có bài thơ Đôi dòng nước mắt viết về tình cảm của Tuyết Ngọc, một nữ sinh, một đồng chí của Lê Quang Vịnh khi  anh bị khép án tử hình: Em không lau mặc cho dòng nước mắt/ Chảy dài chảy mãi, chảy triền miên/ Nhìn anh đó hiên ngang bất khuất/ Trán rạng ngời mắt chói niềm tin/ Anh của em ơi, người anh thi sĩ/ Những ý thơ nào ru thắm tình ta/ Những ý thơ nào ước mơ hạnh phúc/ Cho chúng mình cho những lứa đôi ca…

Anh hùng Lê Quang Vịnh và vợ thời trẻ.

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ kể: Một lần đi họp ở CLB Thống nhất gần Bờ Hồ, nhạc sĩ Trần Kiết Tường cho biết Lê Quang Vịnh đã bị Mỹ – Diệm xử bắn ở Côn Đảo rồi. Nghe tin ấy, ai ai cũng sục sôi căm thù quân Mỹ Diệm và tỏ lòng tiếc thương vị giáo sư trẻ tuổi kiên trung bất khuất có tên Lê Quang Vịnh… Rất nhanh, ý nhạc hình thành trong đầu người nhạc sĩ trẻ tài hoa: Bao vinh quang chiến công anh tôi ca/ Khi tin đau xót xa trong lòng ta…

Nhưng điều bất ngờ với tôi là tác giả sau này cũng không hiểu vì sao đã viết nên một bản anh hùng ca cực nhanh như vậy và ý nhạc lời ca đẹp thế! Nhạc sĩ tâm sự: Khi biết tin anh Vịnh không bị xử tử mà bị đày ra Côn Đảo, rồi giảm xuống chung thân thì bài hát đã được phổ biến và nhanh chóng lan tỏa trong công chúng. Tuổi trẻ khắp nơi hào hứng truyền nhau bài hát ấy. Bài hát vang khắp nước, vào cả trong ngục tù Côn Đảo…

Nhưng tác giả và nhân vật bài hát đâu có lỗi! Đúng là không ai có lỗi trong câu chuyện ấy cả. Anh Vịnh thì trong ngục tù Côn Đảo, tác giả thì hưởng ứng sáng tác. Đúng là một câu chuyện có một không hai trong lịch sử. Và tác giả bài hát lẽ ra phải thấy tự hào vì viết nhanh đến thế, hay đến thế, một bản hùng ca mà vẫn tha thiết cháy bỏng…

…Và cuộc đời người tử tù có số phận đặc biệt

 Lê Quang Vịnh có một tuổi thơ gian khó. Cha bị kẻ thù bắn chết khi đang là một luật sư tham gia hoạt động cách mạng. Vốn thông minh sáng dạ, học giỏi, từng đỗ thủ khoa Toán, Đại học Sư phạm Sài Gòn, được quốc trưởng Bảo Đại cấp học bổng du học Pháp. Những tưởng anh chọn con đường học vấn thênh thang ấy, nhưng con đường anh chọn lại là con đường tranh đấu, con đường cứu nước…

Có lần tôi được anh kể cho nghe lý do của sự lựa chọn ấy: “Sau khi cha mất, trước bàn thờ cha, chị em tôi đã thề cùng nhau là sẽ trả thù cho cha. Quyết tâm ấy bắt đầu từ khi còn thiếu niên”. Năm 14 tuổi bị bắt vào nhà lao Thừa Phủ. Hai năm sau lại bị bắt vào tù vì hoạt động trong phong trào học sinh. Bị cấm hoạt động tại Huế, năm 1957, Lê Quang Vịnh chuyển vào Sài Gòn tiếp tục học hành và tham gia tranh đấu…

Tại đây năm 24 tuổi, anh được kết nạp Đảng, được Khu ủy Sài Gòn – Gia Định chỉ định làm Bí thư chi bộ sinh viên các trường ĐH Sài Gòn, Tổng Thư ký Hội Liên hiệp SVHS khu Sài Gòn Gia Định. Cùng lúc anh tốt nghiệp thủ khoa Toán tại Đại học Sư phạm Sài Gòn… Năm 1961, theo điều động của Khu ủy, Giáo sư Lê Quang Vịnh được lệnh ra căn cứ để chuẩn bị cho hoạt động thoát ly. Trong khi đang viết báo cáo gửi Đại hội SV quốc tế họp tại Hà Nội, căn cứ bị địch càn và Lê Quang Vịnh rơi vào tay chúng.

Tại tòa án quân sự đặc biệt của chính quyền Sài Gòn ngày 23/5/1962, anh bị khép án tử hình cùng với 11 người khác, trong đó 4 án tử hình, 4 chung thân… tại phiên tòa, có một chi tiết oái oăm là chúng đưa thầy giáo cũ của Lê Quang Vịnh, nay là Phó chủ tịch quốc hội Trịnh Hổ Uy của chính quyền Ngô Đình Diệm đến thẩm vấn anh.

Trước vị “quan tòa” đặc biệt này, chính Lê Quang Vịnh đã nói một câu nổi tiếng:  “Tôi ân hận vì bị chết quá sớm mà chưa thực hiện được chí nguyện đuổi Mỹ, lật Diệm!” Tiếp đó, những ngày trong ngục, tử tù Lê Quang Vịnh được viên đại tá Lê Văn Khoa, Ủy viên chính quyền Sài Gòn đưa giấy bút vào xui anh viết đơn ân xá gửi Ngô Đình Diệm, nhưng anh đã dùng giấy bút ấy để viết bài thơ Tiếng hát người tử tù gửi ra miền Bắc: Đi cho trọn con đường đi quá nửa/ Vững niềm tin sắt đá đời đời/ Kẻ thù dù giết được một mình tôi/ Đâu giết được cả loài người đang đứng dậy/ Trao đồng chí tâm tình tôi đấy/ Trước khi lên máy chém. Của quân thù

Điều kỳ diệu là không ngờ bài thơ ấy sau mấy tuần được gửi đi từ nhà ngục Chí Hòa, đã được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam làm xúc động hàng triệu con tim yêu nước… Bài thơ được nhiều HSSV miền Nam chép vào sổ tay, học thuộc  và được đọc lên trên các diễn đàn tranh đấu. Mười bốn năm trong ngục tối, từ năm 1962, khi bài hát Lê Quang Vịnh – người con quang vinh ra đời, Lê Quang Vịnh đâu có biết bên ngoài  cả nước hát về mình.

Ngay bạn tù Côn Đảo hát về anh mà anh đâu có biết. Mãi đến Tết năm Tân Hợi 1971, giao thừa, cả gian 14 hầm tổ chức văn nghệ, những người bạn tù thay nhau hát và ngâm thơ. Một anh bộ đội đã hát bài hát Lê Quang Vịnh – người con quang vinh của Nguyễn Tài Tuệ, nhờ đó mà sau 9 năm, anh mới được nghe bài ca viết về tấm gương dũng liệt của… chính mình.

Ngày toàn thắng 1975, sáng  ngày 1/5/1975, bạn tù đạp ngục báo tin toàn thắng. Lúc này sau 8 năm trong hầm tối, chuồng cọp, đôi chân bị cùm của Lê Quang Vịnh đã được tháo ra, anh cảm nhận giá trị của tự do và được trở về từ địa ngục Côn Đảo khi đã ở tuổi 40. Vẫn có một người con gái Hà Nội, em gái của người bạn tù nổi tiếng Trần Trọng Tân chờ đợi như chờ đợi một thần tượng của mình. Họ đã gặp nhau và có hạnh phúc bên nhau…

Tiếp tôi tại căn nhà Công vụ trên khu Hoàng Cầu trong buổi chiều trung tuần tháng bảy, vợ chồng anh Lê Quang Vịnh chỉ có một mong ước, là làm sao để đừng ai hiểu nhầm đó là một “sự cố”. Vâng! Không là sự cố mà là niềm tự hào bởi nhân vật của bài ca ấy đã sống và đấu tranh bất khuất cho đến ngày đất nước toàn thắng trở về. Cuộc đời anh xứng đáng được ngợi ca, học tập… Và bài hát ấy hình như cũng bất tử như chính nhân vật được ngợi ca… 

Nhắc đến sự kiện bài hát Lê Quang Vịnh – người con quang vinh, anh tâm sự: “Dù địch không hành quyết tôi cũng như hàng trăm tử tù khác, và sau đó chúng tự ý hoán giảm xuống án chung thân, nhưng tôi không hổ thẹn về cuộc chiến đấu trong lao tù đế quốc.  Có lẽ lúc bên ngoài không được tin tức gì về tôi và nghĩ tôi đã bị giết, chính là lúc tôi bị giam biệt lập sống một mình trong xiềng xích xung quanh toàn lính ác ôn…”.

Lê Quang Vịnh và tác giả bài ca về anh cùng tuổi với nhau, cùng sinh năm 1936 và vẫn còn sống… Lâu lâu họ vẫn liên lạc với nhau. Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ thì ở với gia đình tại Hà Nội, còn Lê Quang Vịnh thì đi về giữa Huế, Hà Nội, nơi làm việc của người con trai Lê Quang Tự Do và TP Hồ Chí Minh, nơi cô con gái Lê Quang Hạnh Phúc sống và làm việc.

Mọi chuyện đã lui về quá khứ, nhưng sự kiện hy hữu về bài hát ca ngợi anh hùng liệt sĩ Lê Quang Vịnh từ ấy đến nay không một ai, không có cơ quan nào có ý kiến hoặc phân xử, cho nên ca khúc nổi tiếng ấy mặc nhiên thành “Bài ca đi cùng năm tháng”. Nó vẫn được hát lên khắp nơi. Và như tác giả cho biết, nhuận bút tác quyền vẫn được trả. Nói rồi ông cho tôi xem danh mục các bài hát vừa được Trung tâm bản quyền Âm nhạc VN thu hộ tác quyền… Điều đó chứng tỏ 50 năm tròn đã qua, bài hát vẫn có sức sống và vẫn được người Việt hát lên như một bản hùng ca bất tử…

Chuyện về tử tù huyền thoại và bài hát ca ngợi Lê Quang Vịnh là một câu chuyện đẹp, hy hữu, bi hùng và rất đáng tự hào trong lịch sử và trong nghệ thuật âm nhạc Việt NamTân Linh

Giấc mơ cao cả

“Nhờ các đồng chí báo cáo với Đảng, chúng tôi đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng. Hãy trả thù cho chúng tôi. Vĩnh biệt các đồng chí!”.

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, cây, thực vật và ngoài trời

“Năm 1978, bầu trời sáng lóa, chớp giật bởi hàng loạt tiếng nổ rền vang, mặt đất rung chuyển dữ dội bởi hàng vạn quả cối 82, 60 & pháo 105, 130mm cùng hàng ngàn khẩu AK, B40, B41, M79, thủ pháo, lựu đạn… Đồn biên phòng Hoa Lư (đồn 717) nằm trên Quốc Lộ 13 giáp ranh Bình Phước – Krochie bị tấn công.

Gần 2.000 tên lính Polpot thiện chiến dồn dập đột kích vào đồn biên phòng bé nhỏ heo hút chỉ có 90 tay súng trấn giữ. Trận đánh dai dẳng từ 4 giờ sáng đến tối mịt, cách chục cây số mà vẫn nghe văng vẳng tiếng hô xung phong của bọn Polpot, tiếng súng chống cự yếu ớt dần, thưa dần cho tới khuya hôm sau.

Trên đoạn biên giới Lộc Ninh khi đó có các trung đoàn 88, 205, 174, Q16.. cùng 3 đơn vị pháo binh & 1 lữ đoàn tăng thiết giáp. Hơn 20.000 người lính ko ăn ko ngủ suốt 2 ngày đó. Tất cả nai nịt gọn gàng, súng ống lăm lăm trong tay, mắt quắc lên rực lửa. Tất cả các nòng pháo của pháo binh, xe tăng đều lấy sẵn tọa độ bắn, các pháo thủ ôm đạn đứng chờ mệnh lệnh. Tất cả chỉ chờ đợi mệnh lệnh xuất kích, các máy bộ đàm đều mở kênh liên lạc với đồn 717, từ trong đó vang lên tiếng gọi thống thiết của vị đồn trưởng:

“Các đồng chí hãy tập trung hỏa lực pháo bắn vào mục tiêu là chỉ huy sở của đồn. Chúng tôi sắp hết đạn, địch đang tràn vào sân đồn, anh em đang đánh giáp lá cà, tình thế nguy ngập rồi, làm ơn bắn đi!…”

– Mười phút sau, cũng tiếng nói ấy:

“Nhờ các đồng chí báo cáo với Đảng, chúng tôi đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng. Hãy trả thù cho chúng tôi. Vĩnh biệt các đồng chí!”.

Tất cả chúng tôi mắt nhòe lệ, những người lính già nghiến răng trèo trẹo, quai hàm bạnh ra, mắt trừng trừng như muốn nổ con ngươi. Nhưng là người lính, chúng tôi phải phục tùng mệnh lệnh cấp trên. Có lẽ chỉ có những người có hiểu biết và có trách nhiệm trước Tổ Quốc cao hơn chúng tôi mới hiểu và tin rằng họ cũng đau lòng như chúng tôi. Từ hôm đó những người lính trẻ ko còn bông đùa nghịch ngợm nữa, tất cả như già đi dăm tuổi. Chúng tôi ngồi lặng lẽ lau súng, chuốt lại lưỡi lê, thủ thỉ trò chuyện với những viên đạn. Ko ai bảo ai, trên vành mũ cối xuất hiện những khẩu hiệu:

“Ôi Tổ Quốc mà ta yêu quý nhất
Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi, Việt Nam ơi!”
Hoặc: “Hãy yên nghỉ, hỡi những người anh hùng. Chúng tôi sẽ trả thù!”..

Ngày tấn công được mòn mỏi trông chờ rồi cũng tới. Chúng tôi ào ạt xông lên tấn công vỗ mặt tiền duyên, thọc sâu – dùi xuyên hông, xẻ sườn phòng tuyến địch, vu hồi chặn đường chi viện/tháo chạy của chúng. Thê đội 1 tổn thất nặng thì thê đội 2 tràn lên như thác lũ, chúng tôi như dòng thép nung chảy tưới vào kẻ thù.

Tiếng chính trị viên sang sảng: “Đánh cho chúng biết thế nào là khí phách Việt Nam!”.
Chưa đầy 3 giờ, 2.000 tên đồ tể khát máu Polpot bị đẩy xuống địa ngục. Trận đánh đó ko hề có tù binh! Gần 1/3 trung đoàn tôi hy sinh trong trận đánh mở màn, có nghĩa hơn 800 chàng trai ưu tú của nước Việt nằm xuống ở tuổi đôi mươi…”

(Trích “Giấc mơ cao cả” – CCB Lê Văn Lực).

18 năm ký ức kinh hoàng, ám ảnh thảm họa khủng bố 11/9

(VTC News) – Vào ngày này 18 năm trước, nỗi kinh hoàng bao trùm nước Mỹ khi những máy bay bị khủng bố khống chế tấn công tòa nhà Tháp đôi, cướp đi hàng nghìn sinh mạng.

Ngày 11/9/2001, bốn chuyến bay thương mại bị khủng bố tấn công, kiểm soát và điều hướng đâm vào các địa điểm trong đó có Tháp đôi New York City, Mỹ. Thảm họa xảy ra khi người dân New York đang trong giờ cao điểm vội vã đến công sở hoặc trường học.

8 giờ 46 phút, chuyến bay 11 của American Airlines, đến Los Angeles, bị các thành viên của Al-Qaeda chiếm quyền điều khiển tại sân bay Boston và bay vào Tháp Bắc của Trung tâm Thương mại Thế giới.

Người dân sững sờ và hoài nghi khi khói từ tòa nhà bốc lên nghi ngút, tự hỏi liệu có lẽ đó là một tai nạn, cho đến 17 phút sau, máy bay thứ hai, chuyến bay 175 của United Airlines, đâm vào Tháp Nam lúc 9h03.

Đến 10h30, Tòa tháp đôi sụp đổ, khiến mọi người phải chạy trốn vì khắp nơi phủ đầy bụi và mảnh vụn. Cách đó 370 km, chuyến bay 77 của American Airlines bay vào tòa nhà Lầu năm góc ở Virginia lúc 9h37 và chuyến bay 93 của United Airlines rơi xuống một cánh đồng gần Shanksville, Pennsylvania, lúc 10h03.

Trong vòng chưa đầy hai giờ, 2.996 người thiệt mạng và hơn 6000 người bị thương.

Nước Mỹ chấn động. Thế giới bàng hoàng.

18 nam ky uc kinh hoang, am anh tham hoa khung bo 11/9 hinh anh 1
HÌnh ảnh máy bay 175 của United Airlines bị cướp quyền kiểm soát sắp đâm vào tòa tháp thứ hai của Trung tâm Thương mại Thế giới. (Ảnh: AP).
18 nam ky uc kinh hoang, am anh tham hoa khung bo 11/9 hinh anh 2
 
18 nam ky uc kinh hoang, am anh tham hoa khung bo 11/9 hinh anh 3
 
18 nam ky uc kinh hoang, am anh tham hoa khung bo 11/9 hinh anh 4
Một vụ nổ dữ dội làm rung chuyển tòa tháp phía nam của Trung tâm Thương mại Thế giới khi chuyến bay 175 của United Airlines bị cướp đâm vào tòa nhà. Ảnh: Spencer Platt / Getty Images
18 nam ky uc kinh hoang, am anh tham hoa khung bo 11/9 hinh anh 5
Người dân nhìn lên khi Trung tâm Thương mại Thế giới bốc cháy vào ngày 11/9/2001. (Ảnh: Spencer Platt / Getty Images)
18 nam ky uc kinh hoang, am anh tham hoa khung bo 11/9 hinh anh 6
Một số người mắc kẹt bên ngoài cửa sổ Tháp Bắc của Trung tâm Thương mại Thế giới sau khi máy bay tấn công vào tòa nhà. (Ảnh: Jose Jimenez / Primera Hora / Getty Images)
18 nam ky uc kinh hoang, am anh tham hoa khung bo 11/9 hinh anh 7
Một người đàn ông phủ đầy bụi bên ngoài Trung tâm Thương mại Thế giới. (Ảnh: Spencer Platt / Getty Images)
18 nam ky uc kinh hoang, am anh tham hoa khung bo 11/9 hinh anh 8
 
18 nam ky uc kinh hoang, am anh tham hoa khung bo 11/9 hinh anh 9
Người dân khóc trên đường phố khi họ chứng kiến các cuộc tấn công khủng bố. (Ảnh: Ernesto Mora / AP).
18 nam ky uc kinh hoang, am anh tham hoa khung bo 11/9 hinh anh 10
Người đàn ông không rõ danh tính bị rơi từ Tháp Bắc. (Ảnh: AP)
18 nam ky uc kinh hoang, am anh tham hoa khung bo 11/9 hinh anh 11
Nhân viên mật vụ Thomas Armas đưa một phụ nữ bị thương lên xe cứu thương. (Ảnh: Thomas Monaster / NY).
18 nam ky uc kinh hoang, am anh tham hoa khung bo 11/9 hinh anh 12
Cựu chánh văn phòng Nhà Trắng Andy Card thì thầm vào tai tổng thống khi đó, ông George W. Bush để cho ông biết về vụ máy bay đâm vào Trung tâm Thương mại Thế giới trong chuyến thăm Trường tiểu học Emma E. Booker ở Sarasota, Florida. (Ảnh: Doug Mills / AP)
18 nam ky uc kinh hoang, am anh tham hoa khung bo 11/9 hinh anh 13
 
18 nam ky uc kinh hoang, am anh tham hoa khung bo 11/9 hinh anh 14
Người dân chạy khi một trong những tòa tháp của Trung tâm Thương mại Thế giới sụp đổ. (Ảnh: AP)
18 nam ky uc kinh hoang, am anh tham hoa khung bo 11/9 hinh anh 15
 
18 nam ky uc kinh hoang, am anh tham hoa khung bo 11/9 hinh anh 16
 
18 nam ky uc kinh hoang, am anh tham hoa khung bo 11/9 hinh anh 17
 
18 nam ky uc kinh hoang, am anh tham hoa khung bo 11/9 hinh anh 18
Các nhân viên FBI, lính cứu hỏa, nhân viên cứu hộ và kỹ sư làm việc tại nơi xảy ra vụ việc ở Lầu Năm Góc. (Ảnh: Bộ Quốc phòng Mỹ)
18 nam ky uc kinh hoang, am anh tham hoa khung bo 11/9 hinh anh 19
Một bức ảnh trong đống đổ nát. (Ảnh: Nathan Edwards)
18 nam ky uc kinh hoang, am anh tham hoa khung bo 11/9 hinh anh 20
 
18 nam ky uc kinh hoang, am anh tham hoa khung bo 11/9 hinh anh 21
Tổng thống George W. Bush theo dõi tin tức về các cuộc tấn công.
18 nam ky uc kinh hoang, am anh tham hoa khung bo 11/9 hinh anh 22
Một chiếc đồng hồ đã ngừng tại Lầu Năm Góc.
Truyền thông Mỹ: Nghi can chủ mưu vụ tấn công khủng bố 11/9 sẵn sàng ra làm chứng?

Truyền thông Mỹ: Nghi can chủ mưu vụ tấn công khủng bố 11/9 sẵn sàng ra làm chứng?Khalid Sheikh Mohammed sẵn sàng ra làm chứng nếu chính quyền Mỹ miễn trừ án tử hình đối với mình – The Wall Street Journal dẫn lời luật sư tên này cho hay.

Tổng thống Putin từng gọi điện cảnh báo đồng cấp Mỹ 2 ngày trước thảm kịch 11/9?

Tổng thống Putin từng gọi điện cảnh báo đồng cấp Mỹ 2 ngày trước thảm kịch 11/9?Tổng thống Putin có thể đã gọi cho người đồng cấp George W. Bush cảnh báo về vụ khủng bố 11/9 hai ngày trước khi nó xảy ra, một nguồn tin tiết lộ.

 (Nguồn: News.com.au)PHƯƠNG ANH

CUỘC CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC CỦA TỔ QUỐC – 40 năm nhìn lại (1979 – 2019)

Trong hình ảnh có thể có: 1 người

Tròn 40 năm trôi qua, kể từ ngày bắt đầu cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc (17-02-1979 – 17-02-2019). Nhân sự kiện lịch sử này, ngày 15-02, tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Hội thảo quốc gia “Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc – 40 năm nhìn lại (1979 – 2019)”. TCCSĐT giới thiệu bài phát biểu đề dẫn của PGS, TS. Trần Đức Cường, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tại Hội thảo.

Ngày 30-4-1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi. Đất nước thu về một mối.

Để giành được độc lập – tự do và thống nhất cho Tổ quốc, nhân dân Việt Nam phải trải qua một cuộc chiến đấu lâu dài gần 30 năm kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, và sau đó lại tiến hành các cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ chống thực dân Pháp (1945 – 1954) và chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954 – 1975).

Đất nước giành được độc lập và thống nhất nhưng thân mình đầy thương tích bởi hậu quả chiến tranh: hàng triệu người chết, bị thương và chịu ảnh hưởng lâu dài của các di chứng chiến tranh, hàng ngàn thành phố, làng mạc bị tàn phá, nhiều cầu cống, đường sá và công trình công cộng bị phá hủy… Người dân Việt Nam – trong đó có hàng chục vạn người lính đã trải qua nhiều năm tháng chiến đấu quyết liệt chống kẻ thù xâm lược, không có nguyện vọng nào hơn là xếp vũ khí lại, bắt tay xây dựng cuộc sống mới từ trong đổ nát của chiến tranh, để khôi phục đất nước hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Nhưng, trên một đất nước đã trải qua nhiều chiến tranh và mất mát này, cuộc sống thanh bình như ước vọng của người dân đã không trọn vẹn. Và máu lại đổ, thành phố, làng mạc lại bị bom đạn thù cày nát. Ngay sau tháng 4-1975 không lâu, nhân dân Việt Nam đã phải đối đầu với cuộc tấn công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Tây Nam do quân đội Camphuchia Dân chủ tiến hành với sự hỗ trợ về nhiều mặt của các thế lực bên ngoài. Và nghiêm trọng hơn, cách đây đúng 40 năm, rạng sáng ngày 17-02-1979, hơn 60 vạn quân Trung Quốc với 9 quân đoàn chủ lực và 32 sư đoàn bộ binh độc lập, 6 trung đoàn với 550 xe tăng, 4 sư đoàn và trung đoàn pháo binh, phòng không với 2.559 khẩu pháo trong đó có nhiều dàn phóng hỏa tiễn bất ngờ vượt qua biên giới kéo dài 1.400km tấn công 6 tỉnh của Việt Nam gồm Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Tuyên (Hà Giang, Tuyên Quang), Hoàng Liên Sơn (Lào Cai, Yên Bái), Lai Châu… Quân Trung Quốc đã vào sâu trong đất Lạng Sơn, Lai Châu 10km – 15km, vào sâu trong đất Cao Bằng 40km – 50km.

Quân dân Việt Nam, trước hết là dân quân, du kích và bộ đội địa phương ở 6 tỉnh biên giới và tiếp đó là quân chủ lực được tăng cường đã kiên cường chiến đấu bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc, loại khỏi vòng chiến đấu 62.500 quân xâm lược, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn, 18 tiểu đoàn, bắn cháy và phá hủy 550 xe quân sự trong đó có 280 xe tăng, xe bọc thép, phá hỏng 115 khẩu pháo và súng cối hạng nặng, thu nhiều vũ khí, bắt sống nhiều sĩ quan và binh lính của đội quân xâm lược.

Cuộc tấn công xâm lược Việt Nam của Trung Quốc thoạt đầu đẩy Việt Nam vào thế “lưỡng đầu thọ địch” và phải trải qua một thử thách vô cùng khó khăn do bị bao vây cấm vận của Mỹ và các nước phương Tây có thể so sánh với thế “ngàn cân treo sợi tóc” của đất nước khi mới giành được độc lập năm 1945 – 1946. Cuộc tiến công xâm lược Việt Nam của quân đội Trung Quốc cũng làm cho thế giới sửng sốt. Từ chỗ là đồng minh trong “chiến tranh Lạnh”, nhà cầm quyền Trung Quốc đã coi Việt Nam là kẻ thù… Những người bình thường trên thế giới không ai nghĩ rằng, một dân tộc vừa trải qua 30 năm chiến tranh với thương tích đầy mình và có biết bao nhiêu công việc phải làm để xây dựng lại đất nước lại đi khiêu khích rồi xâm lược một nước khác – lại là nước lớn hơn, thậm chí là nước đã từng là đồng minh trong hai cuộc kháng chiến trước đó, như một số người Trung Quốc cho đến nay vẫn nói rằng cuộc chiến tranh chống Việt Nam của họ chỉ là một “cuộc phản công tự vệ”.

Thực hiện cuộc tiến công này, những người lãnh đạo Trung Quốc bất chấp pháp lý và đạo lý.

Cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc chống Việt Nam – một quốc gia độc lập, có chủ quyền – đã bị nhân dân thế giới phản đối. Chính phủ nhiều nước như Liên Xô, Cộng hòa Dân chủ Đức, Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, Hội đồng nhân dân cách mạng Campuchia, nhiều tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể quần chúng ở Liên Xô, Hungary, Tiệp Khắc, Ấn Độ, Nhật Bản, Thụy Điển, Pháp, Mỹ, Phần Lan, Anh, Ôxtrâylia, Etiôpi… tổ chức biểu tình, ra Tuyên bố với khẩu hiệu “Không được đụng đến Việt Nam”, đòi “nhà cầm quyền Trung Quốc rút ngay quân đội ra khỏi lãnh thổ Việt Nam”.

40 năm trôi qua, thế giới có nhiều biến đổi. Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được bình thường hóa và đang trong quá trình phát triển trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, dù còn có những trở ngại cần vượt qua…

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức cuộc Hội thảo khoa học quốc gia này, với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạt động chính trị, xã hội trong cả nước không phải để khoét sâu mối hận thù mà để nhắc lại một sự thật lịch sử, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa của Việt Nam trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc, bắt đầu từ ngày 17-02-1979 và kéo dài đến tận tháng 9-1989, vì lúc đó quân Trung Quốc mới lần lượt rút khỏi các vị trí chiếm đóng còn lại trên lãnh thổ Việt Nam. Cuộc hội thảo nhằm tôn vinh những đồng bào, chiến sĩ từng chiến đấu, hy sinh bảo vệ từng tấc đất biên cương của Tổ quốc, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc và lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân ta, đặc biệt là của tuổi trẻ đối với các thế hệ cha anh đã không tiếc tuổi xuân và xương máu để bảo vệ nền độc lập, tự do, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

Cuộc hội thảo nhằm rút ra những bài học lịch sử cho cả thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau, luôn phải tăng cường đoàn kết, xây dựng đất nước giàu mạnh đủ sức đối phó với mọi tình huống trong một thế giới tiềm ẩn nhiều nguy cơ, bất trắc ngày nay. Xin nhắc lại lời của G. Phu xích – nhà văn Tiệp Khắc viết năm 1943 trong tác phẩm Viết dưới giá treo cổ: “Hỡi những con người mà ta hằng yêu thương, hãy cảnh giác”. Cảnh giác với mọi mưu toan nhằm phá hoại cuộc sống bình yên của nhân dân, cản trở sự phát triển của Tổ quốc muôn vàn yêu quý của chúng ta.

Cuộc hội thảo còn nhằm góp phần khẳng định chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc, gác lại quá khứ đau thương, xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng và cùng có lợi giữa hai nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; Nêu rõ nỗ lực của Đảng và Nhà nước cùng nguyện vọng của nhân dân trong việc gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định trên Biển Đông, trong khu vực và trên thế giới; Biểu dương và cổ vũ những việc làm góp phần gìn giữ và tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc, đồng thời phê phán những biểu hiện sai trái, thù địch, xuyên tạc, vu cáo, lợi dụng sự kiện này để kích động, chống phá Đảng và Nhà nước ta, chia rẽ mối quan hệ hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc./.

PGS, TS. Trần Đức Cường
Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

nguồn: www.tapchicongsan. org.vn