Category Archives: Lịch sử

Báo nước ngoài ấn tượng với đội phá bom mìn toàn nữ ở Quảng Trị

Gần 44 năm sau khi chiến tranh kết thúc, những người phụ nữ địa phương vẫn bất chấp hiểm nguy giúp tìm lại sự bình yên cho xóm làng.

 Trong bộ đồng phục vải kaki cùng giày bốt chuyên dụng, Nguyễn Thị Thủy cột cao tóc đuôi gà dưới nón tai bèo. Cô cẩn thận bước trên bãi đất trống cằn cỗi với những dụng cụ gồm máy dò kim loại, chiếc xô và xẻng đơn giản.

Cô gái 29 tuổi cẩn thận đưa máy dò rà soát mặt đất, tiến từng centimet. Im lặng đồng nghĩa với an toàn. Một khi máy phát âm thanh cảnh báo kim loại, đội của Thủy lập tức bắt tay vào việc. 

Thủy là trưởng nhóm nữ rà phá bom mìn đầu tiên, được thành lập vào năm 2008, thuộc dự án RENEW của tỉnh Quảng Trị.

Bao nuoc ngoai an tuong voi doi pha bom min toan nu o Quang Tri hinh anh 1
 Nhóm của Lê Thị Hoa và Nguyễn Thị Thủy trong một buổi đi dọn mìn. (Ảnh: SCMP).

 Phụ nữ tham gia rà bom mìn ngày một nhiều

RENEW là chương trình hợp tác giữa tỉnh Quảng Trị với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài. Dự án có sứ mệnh phục hồi môi trường và khắc phục hậu quả chiến tranh với trọng tâm giải quyết bom mìn chưa nổ. Theo mô tả trên cổng thông tin của RENEW, đối tác chính của tổ chức hiện là chương trình Viện trợ Nhân dân Na Uy (NPA), một trong những tổ chức quốc tế nổi tiếng nhất thế giới hiện nay trong lĩnh vực giải trừ quân bị nhân đạo.

Tổ chức được thành lập vào năm 2001 và đã nhận được tài trợ từ hơn 17 tổ chức quốc tế. Ngoài NPA, dự án phục hồi môi trường và khắc phục hậu quả chiến tranh tại tỉnh Quảng Trị còn được hỗ trợ bởi Bộ Ngoại giao Mỹ, cơ quan Viện trợ Ireland và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF).

Theo South China Morning Post, ngày càng nhiều phụ nữ tham gia giải quyết bom mìn chưa nổtại địa phương. Từng được xem là công việc quá nguy hiểm đối với nữ giới, giờ dự án RENEW có hơn 60 nhân sự nữ tham gia hoạt động này. Riêng trong ba tháng đầu năm 2019, nhóm đã nhận thêm 12 nhân sự nữ.

Nhóm Cố vấn Bom mìn (MAG), tổ chức có trụ sở chính tại Anh và bắt đầu hỗ trợ Việt Nam từ năm 1999 với sứ mệnh tương tự, cũng ghi nhận số nhân sự nữ tăng gấp đôi trong 2 năm qua. Tổng số thành viên nữ của dự án tại địa phương đã lên đến 167 người.

Thủy tham gia RENEW vào năm 2013 sau khi biết được những mối hiểm họa nghiêm trọng của bom mìn chưa nổ còn sót lại sau chiến tranh. Cô sinh ra và lớn lên tại huyện Gio Linh, một trong những địa phương còn nhiều bom mìn chưa nổ đến mức trồng trọt cũng là công việc vô cùng nguy hiểm.

“Tôi từng nhìn thấy rất nhiều bom mìn chưa nổ khi còn nhỏ. Một người hàng xóm của gia đình đã bị thương nặng trong một vụ nổ vì các thiết bị này. Tôi muốn giúp cho tỉnh nhà trở nên an toàn hơn”, Thủy chia sẻ.

Cô gái 29 tuổi được chồng hết sức ủng hộ. Tuy nhiên, cha mẹ cô từng lo lắng và phản đối khi nghe tin con nhận một công việc phải thường trực đối mặt với tử thần. 

Năm 2015, Thủy được thăng chức làm trưởng đội rà phá bom mìn đầu tiên của tỉnh Quảng Trị với 100% thành viên là nữ giới. Cũng trong năm đó, cô nhận được tin vui rằng mình mang thai. Thủy bất chấp nguy hiểm và tiếp tục làm việc, cô chỉ nghỉ hơn một tháng trước khi sinh. Con trai của vợ chồng Thủy nay đã hơn 3 tuổi.

Bao nuoc ngoai an tuong voi doi pha bom min toan nu o Quang Tri hinh anh 2
Bộ dụng cụ rà mìn của Đức có giá gần 4.000 USD. (Ảnh: SCMP). 

Mong muốn một Quảng Trị không còn tiếng bom

Là một trong hai nữ trưởng nhóm trong đội ngũ RENEW, Thủy trở thành động lực truyền cảm hứng cho nhiều phụ nữ địa phương chung tay góp sức cho dự án. Nữ công nhân đồn điền cao su Lê Thị Hoa là một trong số đó.

Hoa cũng hiểu rõ nỗi đau khổ mà bom mìn còn sót lại sau chiến tranh gây ra khi từ nhỏ chứng kiến nhiều gia đình hàng xóm mất đi người thân vì những di sản của chiến tranh. Cô không khỏi trăn trở vì sao quê hương đã đi qua cuộc chiến từ rất lâu nhưng người dân quê cô vẫn đổ máu vì nó.

Những kiến thức và chương trình huấn luyện về an toàn khi tác nghiệp của dự án RENEW giúp gia đình Hoa yên tâm phần nào về công việc của cô. Trong hai tháng đầu làm việc, Hoa đã giải quyết được ít nhất 7 thiết bị nổ còn sót lại sau chiến tranh.

Ngoài chương trình rà soát, dự án RENEW và MAG còn chủ động tuyên truyền giáo dục người dân về mối hiểm họa của bom mìn còn sót lại sau chiến tranh, quy trình giải quyết và những khuyến nghị khi phát hiện mìn. Những nỗ lực tuyên truyền này đặc biệt tập trung đến trẻ nhỏ.

Bao nuoc ngoai an tuong voi doi pha bom min toan nu o Quang Tri hinh anh 3
Nhóm giải quyết bom mìn với toàn bộ thành viên là nữ giới đầu tiên của tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: SCMP). 

Theo Trung tâm Hành động Bom mìn Quảng Trị, cơ quan phụ trách về các dự án phi chính phủ liên quan đến bom mìn tại địa phương, đã có hàng nghìn trẻ em thương vong vì những thiết bị nổ còn sót lại sau chiến tranh. Kể từ khi cuộc chiến kết thúc vào năm 1975, đã có ít nhất 990 trường hợp trẻ từ 1-15 tuổi tử vong trong các vụ nổ. Số trẻ bị thương vì bom mìn là hơn 1.600 em.

Chương trình tuyên truyền về rủi ro bom mìn của RENEW chủ yếu nhắm đến trẻ em. Trong khi đó, đối tượng hướng đến của tổ chức phi chính phủ MAG là người trưởng thành. Hai dự án giúp kiến thức bảo vệ bản thân khi phát hiện bom mìn đến với hơn 400.000 người lớn và trẻ em tại Quảng Trị, gần 2/3 dân số của tỉnh.

44 năm sau khi cuộc chiến kết thúc, việc giải quyết hoàn toàn số bom mìn còn sót lại tại Quảng Trị vẫn được xem là gần như bất khả thi. Tuy nhiên, ông Ngô Xuân Hiền, quản lý truyền thông và phát triển của RENEW, vẫn tự tin có thể giúp cho người dân Quảng Trị có được tương lai an toàn hơn.

“Chúng tôi quyết tâm đạt được mục tiêu đến năm 2025 sẽ giúp Quảng Trị trở thành tỉnh đầu tiên của Việt Nam được tuyên bố không còn chịu tác động của bom mìn chiến tranh”, ông khẳng định.

Mỹ chính thức khởi động dự án tẩy độc dioxin lớn nhất ở sân bay Biên Hòa

Mỹ chính thức khởi động dự án tẩy độc dioxin lớn nhất ở sân bay Biên Hòa
Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID) và Quân chủng Phòng không – Không quân Việt Nam, hôm 20/4, chính thức khởi động dự án xử lý dioxin tại Sân bay Biên Hòa.

Quảng Trị: Phát hiện quả bom 340 kg dưới ruộng lúa

Quảng Trị: Phát hiện quả bom 340 kg dưới ruộng lúaCác chuyên gia của Dự án Renew Quảng Trị đã tiến hành hủy nổ an toàn quả bom nặng 340 kg được người dân rà phế liệu phát hiện ở độ sâu 5 m dưới một ruộng lúa trên địa bàn.


Nguồn: Zing News

Advertisements

Hải chiến với Pol Pot trên đảo Thổ Chu: Chuyện bây giờ mới kể

Ngày 10/5/1975, Khmer Đỏ dùng tàu đổ bộ LSM và 3 tàu tuần tra PCF đưa quân đánh chiếm đảo Thổ Chu, dồn hơn 500 người dân Việt Nam trên đảo đưa về Campuchia và tàn sát toàn bộ.

Hải chiến với Pol Pot trên đảo Thổ Chu: Chuyện bây giờ mới kể - ảnh 1
Sơ đồ (phỏng đoán) trận đánh giải phóng đảo Thổ Chu của lực lượng hỗn hợp HQNDVN và Quân khu 9 (24-27/5/1975)

Một số người dân trên đảo dùng xuồng máy chạy trốn vào bờ và báo tin cho chính quyền. Không thể nhún nhường được nữa, Việt Nam quyết định dùng sức mạnh quân sự để tái chiếm lại đảo Thổ Chu.

Lúc bấy giờ, lực lượng hải quân ta còn gặp rất nhiều khó khăn. Tám ngày sau khi Khmer Đỏ đánh chiếm đảo Thổ Chu, căn cứ hải quân An Thới, Phú Quốc mới được Quân khu 9 bàn giao cho Quân chủng Hải quân. Nhưng với quyết tâm bằng bất cứ giá nào cũng phải bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, Đoàn Hải quân Phú Quốc vẫn dốc toàn bộ lực lượng, phối hợp cùng bộ binh của Quân khu 9 tiến hành giành lại đảo Thổ Chu, trả nợ máu cho hàng trăm đồng bào bị quân Khmer Đỏ tàn sát.

Các tàu thuyền của chế độ cũ được nhanh chóng sửa chữa để sẵn sàng tham gia chiến đấu. Cũng trong ngày 18/5/1975, hội nghị quân sự Phú Quốc được tiến hành, hạ quyết tâm giành lại đảo Thổ Chu bằng sức mạnh quân sự.

Quần đảo Thổ Chu cách bờ trên 200km, gồm 8 đảo, trong đó Thổ Chu là đảo lớn nhất, rộng khoảng 10km2, các đảo còn lại có diện tích khoảng 1km2.

Lúc bấy giờ, thông tin về lực lượng địch còn rất sơ lược, chủ yếu thông qua những người dân trốn thoát về cho biết: Trên đảo Thổ Chu có khoảng 1 tiểu đoàn địch được tăng cường hỏa lực mạnh, có 3 trọng liên 12,7mm, 3 súng cối 60, 81 và 82mm, 1 khẩu ĐKZ 75mm và 1 khẩu ĐKZ 106,7mm.

Ở bãi Ngự phía tây nam đảo Thổ Chu có 1 trung đội địch, ở bãi Mun và bãi Giang phía đông nam đảo có 1 trung đội, ở bãi Cao và Hòn Từ có 2 trung đội.

19 giờ 35 phút ngày 23-5-1975, lực lượng tham gia chiến đấu tái chiếm đảo Thổ Chu đã tập hợp đội hình ở Bãi Cao Cát – chuẩn bị xuất phát đổ bộ. Hải quân Nhân dân Việt Nam tung vào trận 2 tàu vận tải (T-643 và T-657) của Đoàn 125, chở theo một phân đội đặc công 39 người, cùng với đó là 3 tàu tuần tiễu PCF (lượng giãn nước 16 tấn, trang bị trọng liên 12,7mm và súng cối 81mm). 

Lực lượng đổ bộ là 2 đại đội (140 người) của tiểu đoàn bộ binh 410, trung đoàn 95, Quân khu 9, cùng 1 trung đội địa phương (25 người) của đảo Phú Quốc và 11 cán bộ và dân địa phương đi cùng để dẫn đường. Lực lượng này được chở trên hai tàu đổ bộ cơ giới LCM-8 (lượng giãn nước 113 tấn, trang bị 2 trọng liên 12,7mm) của Rạch Giá. Do các tàu PCF, tàu LCM-8 mới tiếp thu được của chế độ cũ, nên ta phải sử dụng lái tàu và pháo thủ của Hải quân VNCH trước đây. 

Trên mỗi tàu tuần tiễu PCF có 4 lính chế độ cũ và 3 chiến sĩ đặc công đi kèm. Theo kế hoạch, quân ta sẽ bí mật đổ bộ lên đảo, sau đó đồng loạt nổ súng tấn công các vị trí phòng ngự của quân Khmer Đỏ, dưới sự yểm hộ của hỏa lực trên tàu chiến.

21 giờ 15 phút, tàu vận tải T-643 bắt đầu tiến vào bờ biển phía đông bắc đảo Thổ Chu, đưa phân đội đặc công lên chiếm bãi đổ bộ. 15 phút sau, đặc công chiếm bãi đổ bộ  thành công, 2 tàu đổ bộ LCM-8 bắt đầu đưa bộ binh tiến vào. Sau 45 phút, các phân đội bộ binh đổ bộ xong. Tuân thủ kế hoạch đã được vạch ra, phân đội đặc công sẽ tiến công bãi Mun, trung đội địa phương Phú Quốc sẽ chiếm bãi Giang, còn tiểu đoàn 410 sẽ giải quyết hai mục tiêu là bãi Ngự và bãi Nhất.

Hải chiến với Pol Pot trên đảo Thổ Chu: Chuyện bây giờ mới kể - ảnh 2
Biên đội tàu tuần tiễu K-62 của HQNDVN

3 giờ 45 phút sáng 24-5-1975, Sở Chỉ huy lệnh cho 2 tàu đổ bộ LCM-8 ở lại cảnh giới phía bắc đảo Thổ Chu, cách bãi đổ bộ chừng 1 hải lí. 3 tàu tuần tiễu PCF vòng qua hướng tây, dừng lại ở Hòn Khô, sẵn sàng chi viện cho mũi tiến công bãi Ngự. 2 tàu vận tải quân sự vòng qua hòn Cao Cát sang phía đông nam.

5 giờ 15 phút sáng 24-5-1975, tiểu đoàn 410 nổ súng đánh chiếm bãi Ngự. Các mũi khác cũng đồng loạt nổ súng theo hợp đồng. Ba tàu tuần tiễu PCF tiến vào trước bãi Ngự, dùng hỏa lực trên tàu chi viện cho bộ binh tiến công địch. Từ trên bờ, quân Khmer Đỏ bắn trả tàu hải quân ta bằng súng cối và ĐKZ, song hỏa lực không mạnh.

Ngay từ những phút đầu trận đánh, phân đội đặc công đã làm chủ bãi Mun. Đến 7 giờ sáng, trung đội địa phương đảo Phú Quốc cũng đã làm chủ được một phần bãi Đông, buộc địch phải co cụm trong công sự chống trả.

7 giờ 15 phút sáng, hai tàu LCM-8 cảnh giới ở phía bắc đảo phát hiện thấy một tàu lạ tiến tới. Lập tức, 3 tàu tuần tiễu PCF được lệnh vòng lên phía bắc để kiểm tra, nắm tình hình, sẵn sàng đánh địch. Từ hướng đông nam, tàu T-643 cũng chở theo một tổ đặc công đến chi viện. 3 tàu PCF tăng tốc tiếp cận và báo cáo: Trên tàu lạ có nhiều người, có vũ khí và treo cờ đỏ. Hải quân ta lập tức tổ chức vây bắt. Dưới sự yểm hộ của đồng đội, tàu T-643 và một tàu LCM-8 cập sát tàu lạ, bắt sống tàu cùng 40 tên địch. Tàu T-657 tiến về bãi Đông cũng phát hiện một thuyền máy của địch đi từ hòn Từ sang, lập tức nổ súng tiêu diệt. Đến 8 giờ 30 phút sáng, quân ta làm chủ bãi Đông. Nhưng cuộc chiến đấu vẫn diễn ra rất quyết liệt ở bãi Ngự trong suốt buổi sáng 24-5-1975. Quân địch dựa vào hai điểm tựa ở phía bắc và phía đông nam bãi Ngự để chống trả bộ đội ta.

14 giờ 30 phút chiều, tàu T-643 và 3 tàu tuần tiễu PCF bắt đầu nổ súng chi viện hỏa lực cho tiểu đoàn 410 trên bãi Ngự. Quân địch vẫn ngoan cố bắn trả tàu ta bằng súng cối và ĐKZ. Đến 16 giờ chiều, để nhanh chóng giải quyết trận đánh, Sở Chỉ huy tăng viện thêm cho lực lượng tái chiếm đảo 2 tàu tuần tiễu K-62 (lượng giãn nước 135 tấn, trang bị 2 pháo 37mm 2 nòng và 2 pháo 25mm 2 nòng). Tàu T-657 lập tức đi đón hai tàu tuần tiễu.

9 giờ sáng 25-5-1975, quân ta tiếp tục tấn công bãi Ngự. Được tăng cường thêm hai tàu tuẫn tiễu, hỏa lực yểm hộ bộ binh mạnh lên rõ rệt. Hải quân ta kiên quyết dùng pháo 37mm khống chế cao điểm đông nam bãi Ngự, và dùng 25mm bắn bộ binh địch. Kinh hoàng trước hỏa lực của tàu ta, quân Khmer Đỏ nhanh chóng tan rã. Điểm tựa phía bắc bãi Ngự bị chiếm, hơn 100 tên địch ra hàng. Đến 12 giờ trưa, điểm tựa phía đông nam cũng bị hạ, 56 tên địch ra hàng. 18 tên khác chạy ra bãi Mun cũng đã phải đầu hàng bộ đội đặc công ta ở đây. Quân ta giành lại đảo Thổ Chu, và sau đó triển khai đánh chiếm nốt các đảo còn lại. Đến ngày 27-5-1975, trận đánh kết thúc.

Như vậy, sau 3 ngày chiến đấu, lực lượng hỗn hợp của Hải quân Nhân dân Việt Nam và Quân khu 9 đã loại khỏi vòng chiến 1 tiểu đoàn tăng cường của địch, thu toàn bộ vũ khí, khí tài và trang thiết bị. Phía ta hi sinh 4 người, bị thương 14 người. 

Trong hoàn cảnh vừa hoàn thành giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mới tiếp quản các tàu chiến, căn cứ hải quân của chế độ cũ, nhưng Quân đội Nhân dân Việt Nam đã thể hiện tinh thần kiên quyết tiến công, thực hiện hàng loạt các trận đánh tái chiếm các đảo trên vùng biển Tây Nam, bước đầu làm thất bại âm mưu xâm lược của bè lũ diệt chủng Polpot – Khmer Đỏ.

Thanh Hoa

40 năm chiến tranh biên giới Tây Nam: Ký ức những người trong cuộc

Trong chiến tranh biên giới Tây Nam đã có biết bao cán bộ, chiến sĩ Việt Nam và Campuchia hy sinh hoặc để lại một phần máu, thịt của mình ở chiến trường.

40 năm chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam đã trôi qua nhưng ký ức của những người trong cuộc vẫn còn mãi đậm sâu. Nhớ lại những năm tháng ấy, những người trong cuộc luôn tự hào rằng bản thân đã được tham gia bảo vệ Tổ quốc, tham gia lật đổ chế độ Pol Pot, giải phóng nhân dân Campuchia có nguy cơ bị diệt chủng.

Quân tình nguyện Việt Nam ở mặt trận Campuchia. Nguồn: TTXVN Ông Lê Văn Hiển (hay còn gọi với tên thân quen là Sáu Hạnh) nhớ lại: Khi cuộc chiến tranh biên giới nổ ra, đất nước hòa bình chưa đầy 2 năm, nhiều cán bộ, chiến sĩ mới trải qua cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ thì tiếp tục quay trở lại cầm súng để bảo vệ biên giới Tây Nam, chống lại chế độ diệt chủng Pon Pot. 

Với ông, mỗi khi gặp lại đồng đội cùng tham gia chiến đấu thì những ký ức về cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam lại ùa về, với nhiều kỷ niệm vui buồn xen lẫn nhau. Nhưng có lẽ, niềm hạnh phúc lớn lao nhất mà đến giờ ông sẽ không bao giờ quên là mình đã hoàn thành được nhiệm vụ đất nước đã giao phó, cùng chung sức với quân và nhân dân Camphuchia chiến thắng chế độ diệt chủng Pon Pot và giúp nước bạn kiến thiết đất nước.

“Điều phấn khởi là đi tới đâu mình giúp bạn tới đó, đi tới đâu đùm bọc giúp bạn, giáo dục, cho thuốc men. Nhân dân Campuchia đều mừng vì bộ đội Việt Nam giúp, đi tới đâu người ta thương tới đó” – ông Lê Văn Hiển nhớ lại.

Trong ký ức những cán bộ, chiến sĩ tham gia cuộc chiến tranh thì có lẽ cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam phải chứng kiến những cảnh hoang tàn, đổ nát và sự tàn bạo của chế độ diệt chủng Pon Pot, đi tới đâu cũng thấy cảnh người dân bị giết hại một cách dã man.

Thiếu tướng Lê Thanh Sơn, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Cần Thơ chia sẻ, trong những năm tháng chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam nhiều khi chứng kiến cảnh tàn ác của Pon Pot, ông và các đồng đội đã không cầm được nước mắt. Cũng chính vì sự tàn bạo đó mà cán bộ, chiến sĩ phải quyết tâm chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, đồng thời cùng với quân và nhân dân Campuchia đánh thắng chế độ diệt chủng Pol Pot.

Trong cuộc chiến tranh, mỗi khi thấy người dân nước bạn đói khổ là bộ đội lại nhường cơm, sữa cho người dân nên được người dân nước bạn càng thêm tin yêu.

“Hòa bình chưa được bao nhiêu ngày, anh em chiến sĩ lại đi bảo vệ biên giới, giúp cho bạn, rồi hy sinh. Chúng tôi rất xúc động, nhớ mãi những đồng chí, đồng đội của mình đã hy sinh” – Thiếu tướng Lê Thanh Sơn xúc động nói.

Thiếu tướng Lê Xã Hội, nguyên Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu 9 cho biết, sự tàn bạo của chế độ Pon Pot đã làm cho tinh thần quyết tâm chiến đấu, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc. Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam thể hiện tinh thần đoàn kết, sẵn sàng hy sinh bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc và giúp bạn hồi sinh đất nước, để người dân Campuchia được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

Sau ngày nước bạn giải phóng vẫn còn nhiều cán bộ, chuyên gia, quân tình nguyện Việt Nam tiếp tục sát cánh cùng nhân dân nước bạn thực hiện công cuộc kiến thiết đất nước, xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế.

Trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam gian khổ, ác liệt đó đã biết bao cán bộ, chiến sĩ Việt Nam và Campuchia hy sinh hoặc để lại một phần máu, thịt của mình trên chiến trường. Với những người trực tiếp tham gia chiến đấu thì những ký ức lại ùa về mỗi khi được gặp lại đồng đội cùng chiến đấu để bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc./.

Theo Phạm Hải

vov.vn

Những hình ảnh xúc động về quân tình nguyện Việt Nam giúp Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng

05/06/2019 11:23    Sau 40 năm, ký ức về chiến thắng cũng như hình ảnh bộ đội Việt Nam trong cuộc chiến chống Khmer Đỏ vẫn còn rõ ràng trong tâm trí người dân Campuchia.

Bốn mươi năm trước, khi thực hiện quyền hợp pháp bảo vệ quốc gia, quân đội và nhân dân Việt Nam dọc biên giới Tây Nam đã đứng lên và chiến đấu chống lại sự tàn bạo của chế độ Khmer Đỏ để bảo vệ độc lập dân tộc và bảo vệ biên giới, và cũng để giúp đỡ người dân Campuchia lật đổ Khmer Đỏ bạo tàn, bước vào kỷ nguyên hòa bình, hòa hợp và phát triển quốc gia mới.

Khmer Đỏ dưới sự lãnh đạo của Pol Pot từ giữa năm 1975 nhiều lần tấn công vào lãnh thổ Việt Nam, giết hại hàng chục nghìn dân thường và đốt phá nhiều làng mạc. Trong ảnh, các tay súng Khmer Đỏ tiến vào Thủ đô Phnom Penh vào tháng 4/1975.

Sau khi mở chiến dịch phản công bảo vệ biên giới Tây Nam, tháng 1/1979, quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia tiến vào giải phóng Thủ đô Phnom Penh, lật đổ chế độ Khmer Đỏ.Trong ảnh, các chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam tuần tra trên đường phố Phnom Penh ngày 7/1/1979.

Quân tình nguyện Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng, huấn luyện và hỗ trợ lực lượng cách mạng Campuchia giải phóng đất nước khỏi họa diệt chủng Pol Pot. “Những người lính quân tình nguyện Việt Nam luôn ở tuyến đầu, hỗ trợ các chiến sĩ Campuchia chiến đấu”, Sin Khin, người từng sát cánh cùng bộ đội Việt Nam chống Khmer Đỏ cho biết.Người dân ở Ratanakiri, Đông Bắc Campuchia đón chào bộ đội tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia năm 1979.Khmer Đỏ đã biến một trường phổ thông trung học trở thành trại tập trung khét tiếng có tên Nhà tù S-21, giam và tra tấn 17.000 người. Sau khi giải phóng Phnom Penh, bộ đội Việt Nam đến nhà tù này và đưa những đứa trẻ sống sót đến bệnh viện.Nữ quân nhân Việt Nam và Campuchia phút giây trò chuyện.
Một phụ nữ Campuchia ở Xang ke, tỉnh Battambang, tặng hoa cho một người lính tình nguyện Việt Nam trước khi anh rời Campuchia về nhà vào đầu những năm 1980. Ảnh VNA / VNSNgười dân Campuchia chia tay những người lính tình nguyện Việt Nam. Ảnh: VNAChiến sĩ Việt Nam bảo vệ biên giới Tây Nam. Ảnh: VNA Sau năm 1986, nhận thấy chính quyền mới của Campuchia đã có thể tự đứng vững, Việt Nam dần rút quân và đến năm 1989 thì rút toàn bộ lực lượng.

Theo VTC news

Hai cựu lãnh đạo chế độ diệt chủng Khmer Đỏ nhận bản án chung thân

(VTC News) – Ngày 16/11, tại Thủ đô Phnom Penh, Tòa án đặc biệt xét xử tội ác chế độ Pol Pot – Khmer Đỏ ở Campuchia (ECCC) đã kết án tù chung thân đối với 2 cựu thủ lĩnh Khmer Đỏ Nuon Chea và Khieu Samphan.

Nuon Chea, 92 tuổi, chỉ huy thứ hai của Pol Pot và Khieu Samphan, 87 tuổi, là người đứng đầu nhà nước Campuchia dân chủ, bị kết án tù chung thân vì tội diệt chủng và tội ác chống lại loài người từ năm 1977 đến 1979.

Hai cuu lanh dao che do diet chung Khmer Do nhan ban an chung than hinh anh 1
 Nuon Chea và Khieu Samphan trong một phòng xử án ở Phnom Penh, Campuchia, ngày 16/11. (Ảnh: NHET SOK HENG / ECCC HANDOUT / EPA)

Tại vụ án thứ 2 mang số hiệu 002/02 lần này, hai tên đầu sỏ của Khmer Đỏ đã bị xét xử với các cáo buộc bổ sung của tội ác chống lại loài người như giết người, giết người hàng loạt, nô dịch, tra tấn, đàn áp chính trị, phân biệt chủng tộc, tôn giáo; tội ác diệt chủng liên quan tới giết hại các nhóm dân tộc thiểu số Chăm và Việt Nam tại Campuchia, cùng nhiều vi phạm đối với Công ước Geneva. Quá trình thẩm vấn, xét xử của phiên tòa lần thứ 2 đã kéo dài hơn 4 năm, từ tháng 10/2014.

Phán quyết đưa ra chi tiết về một số hành động khủng khiếp nhất được thực hiện dưới chế độ này, đặc biệt tập trung vào nhà tù an ninh S-21 khét tiếng và nơi xử tử khiến hàng chục nghìn người thiệt mạng. Việc thẩm vấn, hành quyết được thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của những người trong “cấp trên, bao gồm cả Nuon Chea”, người giám sát S-21 trong hai năm.

Khi danh sách các tội ác của chế độ được đọc chi tiết, Nuon Chea yêu cầu được rời khỏi tòa án do sức khỏe kém.

Hai cuu lanh dao che do diet chung Khmer Do nhan ban an chung than hinh anh 2
 Ảnh chụp các nạn nhân Khmer Đỏ được trưng bày tại Bảo tàng Diệt chủng Tuol Sleng ở Phnom Penh, Campuchia. (Ảnh: MAK REMISSA / EPA)

“Đó là một chế độ tàn ác và đó là ví dụ tồi tệ nhất về những gì một chính phủ có thể làm”, công tố viên Nicholas Koumjian nói. “Tôi nghĩ bản án này là rất kịp thời và rất cần thiết. Việc những tội ác này xảy ra cách đây 40 năm không hề giảm bớt tác động của phán quyết đối với những người bị tội ác ảnh hưởng, những người có cha mẹ bị tra tấn và bị giết. ”

“Hôm nay, tôi rất hạnh phúc vì cả hai nhà lãnh đạo Khmer Đỏ đã bị kết án tù chung thân. Bản án này đủ công bằng cho tôi và các nạn nhân Campuchia khác”, Rithy, người từng bị buộc tội là CIA và bị giam gần 2 năm, có 3 anh em chết vì chế độ Khmer Đỏ, cha thì chết đói cho biết. “Đêm qua, tôi không thể ngủ được vì tôi sợ rằng Nuon Chea và Khieu Samphan có thể chết trước khi bản án này được công bố.”

Campuchia không có án tử hình.

Vào tháng 8/2014, Tòa án đặc biệt xét xử tội ác chế độ Khmer Đỏ ở Campuchia đã tuyên án tù chung thân trong bản án lần thứ nhất đối với Nuon Chea và Khieu Samphan vì tội ác chống lại loài người, tội chỉ đạo giết người, đàn áp chính trị và những hành vi vô nhân đạo. Hai tên đầu sỏ này nằm trong số những kẻ phải chịu trách nhiệm lớn nhất cho cái chết của khoảng 2,2 triệu người dưới chế độ Khmer Đỏ.

Chuyện kinh hoàng ở vùng đất Tây Nam: Những hộp sọ u buồn và bức tường chùa đẫm máu

(VTC News) – Loài người trên thế gian, cho đến ngàn năm sau, cũng không thể hình dung nổi lại có loại tội ác khủng khiếp như thế này.

 Kỳ 1: Những trò giết người man rợ nơi ngôi chùa đẫm máuBài liên quan

Tiêu diệt bọn 'ác thú' Pol Pot trên hòn đảo giữa biển cả

Tiêu diệt bọn ‘ác thú’ Pol Pot trên hòn đảo giữa biển cả

Những số phận bi thảm mất tích ngoài biển bởi ác thú Pol Pot

Những số phận bi thảm mất tích ngoài biển bởi ác thú Pol Pot

Lịch sử nước Việt thời kỳ nào cũng nhiều nước mắt, đau thương, với rất nhiều vụ mà kẻ thù thảm sát người dân. Trong đó, vụ thảm sát Ba Chúc của “tập đoàn ác thú” Pol Pot, gây rúng động cả thế giới loài người. PV Báo điện tử VTC News đã dành nhiều ngày cùng sống với những người còn sót lại của vụ thảm sát ở vùng đất này, để ghi lại tội ác tày trời mà bọn ác thú Pol Pot đã gây ra cho người dân vô tội 40 năm trước.

Mảnh đất lạnh

Đến vùng đất Ba Chúc, quả thực, không còn nhận ra nơi đây từng có vụ thảm sát kinh hoàng. Nhà cửa san sát, phố xá đông người. Trong hình dung của tôi, vùng đất Ba Chúc xác xơ, u tịch, nơi từng là một biển lửa, biển máu, biển xác người.

Tròn 40 năm trôi qua, giờ chứng tích tội ác của bọn “ác thú”, và sự đau thương mất mát chỉ còn hiện diện ở khu nhà mồ, với chồng chất xương người.

Nhưng, bước chân vào mảnh đất này, vẫn có một cảm giác lành lạnh, u ám, khiến đôi chân như ríu lại. Dường như, mỗi tấc đất nơi đây, đều có xương thịt người vô tội và những oan hồn ẩn khuất chưa thể siêu thoát. Có lẽ, ở Việt Nam, đây là thị trấn duy nhất, vùng đất duy nhất chẳng có rượu, bia, chẳng có nơi hát hò, giải trí. Vài quán ăn lèo tèo, chủ yếu là cơm chay.

Bóng đêm buông, ít người đi lại. Đây đó, từ ngôi nhà sang trọng đến những túp lều gianh, phát ra tiếng tụng kinh, tiếng mõ. Nhà nào ở vùng đất này cũng có người chết thảm, thậm chí chết cả nhà, cả họ, nên bao nhiêu năm nay, người còn sống tụng kinh để những oan hồn được siêu sinh tịnh độ.

Nhà mồ Ba Chúc mới bị phá, để xây dựng lại khang trang hơn. Nơi nhà mồ ấy, xương cốt sẽ được trưng bày từng bộ, rồi nhiều vật chứng cũng được bày biện để thế hệ sau thấy được sự mất mát, đau thương của thế hệ trước, là cái giá cho những ngày yên bình này.

Những hộp sọ u buồn

Một ngôi nhà nhỏ, cỡ 30 mét vuông, tường kính được dựng tạm trước chùa Phi Lai. Trong ngôi nhà ấy, chất chồng xương cốt. Ông Nguyễn Văn Tiệm, dáng người mảnh khảnh, khuôn mặt u buồn, dẫn tôi đi một vòng quanh ngôi nhà tạm chứa xương. 1.159 bộ hài cốt, trong tổng số 3.157 mạng người Ba Chúc bị Pol Pot sát hại, xếp chồng chất trong nhà mồ.

Đủ 1.159 hộp sọ được phân loại theo độ tuổi, bày biện trên giá thép. Trên hộp sọ in một dãy số ký hiệu. Những hộp sọ to nhỏ, với 2 hốc mắt nhìn ra ngoài u uẩn.

Ông Tiệm kể, nhiều người yếu tim, đến khu nhà mồ, nhìn những hình ảnh sọ người, đã ngất xỉu, thậm chí mất kiểm soát tâm trí như thể bị ma nhập, nên phải khênh đi nơi khác.

Chuyen kinh hoang o vung dat Tay Nam: Nhung hop so u buon va buc tuong chua dam mau hinh anh 1
Ông Tiệm bên những hộp sọ u buồn. 

Ông Tiệm là cựu chiến binh, là nhân chứng sống của vụ thảm sát năm xưa. Gia đình ông ở mãi huyện Tân Châu, nằm sâu trong nội địa. Ông lấy vợ ở Ba Chúc, rồi ở rể, tham gia dân quân chiến đấu chống Pol Pot ở vùng biên giới. Ngày đó, gia cảnh nhà ông khá giả, nên ông sắm được xe Honda 67 và cũng chính nhờ chiếc xe đó, mà gia đình ông thoát chết.

Khi quân Pol Pot quấy nhiễu dọc biên giới, bộ đội đã sơ tán dân. Đã có cả ngàn cư dân Ba Chúc được sơ tán vào trong, nhưng đi được thời gian, thấy tình hình yên ổn, người dân lại tìm về.

Quê ông ở Tân Châu, bố mẹ vẫn ở đó, nên ông dùng xe máy chở vợ con về quê nội, rồi tiếp tục cầm súng quay lại Ba Chúc. Đó chính là lý do gia đình ông được vẹn toàn.

Nhưng, phía nhà vợ ông thì thực sự thảm khốc. Gần như đại gia đình bên vợ đều bị bọn “ác thú” Pol Pot giết sạch. Cả họ bên vợ chỉ còn lại vài mống người.

Là người chứng kiến toàn bộ cuộc thảm sát của bọn Pol Pot, nên ông được hội cựu chiến binh và chính quyền chọn làm “người kể chuyện” ở khu vực nhà mồ cho khách tham quan.

Kỹ nghệ giết người

Ông Tiệm từng tham gia gom xác, đốt xác để lấy xương, rồi cuốc đất tìm xương, lặn ngụp dưới sông vớt cốt, nên ông hiểu rất rõ về những bộ cốt trong nhà mồ. Nhìn vào mỗi hộp sọ, dù không biết đó là của ai, nhưng ông có thể thấy rõ hành động của bọn “ác thú” với những nạn nhân.

Trong số những hộp sọ trong nhà mồ, có rất nhiều hộp sọ có 3 đường nứt đều nhau, giao nhau ở đỉnh sọ, ngay dưới trán lên. Tôi thắc mắc, thì ông Tiệm giải thích rằng, những hộp sọ vỡ kiểu này là do bọn Pol Pot dùng chiếc vồ, hoặc gậy gỗ mun nhắm thẳng vào đỉnh đầu người vô tội rồi đập một cú trời giáng.

Ngày đó, mỗi nhóm Pol Pot có vài tên được trang bị gậy hoặc vồ bằng gỗ mun, thứ gỗ cứng như thép, nặng như thép, dai như thép. Bọn khốn nạn đó luôn kè kè cây gậy bên mình. Cây gậy đó lấy được càng nhiều mạng người, thì chủ nhân của nó càng được tôn trọng và trong con mắt của chúng, cây gậy đó mới đáng quý.

Chuyen kinh hoang o vung dat Tay Nam: Nhung hop so u buon va buc tuong chua dam mau hinh anh 2
 Cây gậy gỗ mun sát hại vô số người.

Những cây gậy gỗ mun là thứ ám ảnh kinh hoàng với 2 triệu đồng bào Campuchia vô tội, bị bọn Pol Pot hành hình. Chủ nhân của những cây gậy này chỉ cần vung lên một lần, là một mạng người bị cướp đi một cách oan khốc. Những chiếc sọ người với 3 đường nứt đều chằn chặn như thế, thể hiện “trình độ” giết người của bọn Pol Pot đã đạt đến mức độ nhuần nhuyễn.

Ông Nguyễn Văn Tiệm lọ mọ mở cánh cửa căn nhà cấp 4, gọi là Nhà trưng bày chứng tích tội ác của bọn Pol Pot. Bước vào ngôi nhà, dường như, đôi chân tôi muốn khụy xuống. Trên 4 bức tường là những hình ảnh không dành cho người yếu tim. Những xác người chất chồng chết theo tư thế thảm khốc nhất.

Cây gậy gỗ mun được tiện cầu kỳ nằm im lìm trong tủ kính với dòng chữ: “Dùi: bọn Pol Pot dùng đập đầu tàn sát nhân dân Ba Chúc năm 1978”. Cây gậy gỗ mun nặng trịch này giải mã cho cái chết của hàng ngàn nạn nhân Ba Chúc, hàng triệu người dân vô tội Campuchia, mà chứng tích để lại là những hộp sọ với 3 vết nứt chạy đều gặp nhau ở đỉnh sọ.

Trong chiếc tủ kính ấy, còn nhiều gậy nữa. Khúc tầm vông chỉ bằng cổ tay người lớn, dài cỡ 1m, nhưng nó đã giết hại vô số trẻ em vô tội. Bọn ác thú dùng khúc tầm vông vụt vào gáy, khiến những em nhỏ chết ngay tức khắc. Cú vụt của chúng mạnh đến nỗi, những hộp sọ trẻ em đều nứt một đường ngang, làm vỡ đôi hộp sọ, tách nửa trên với nửa dưới.

Nhưng, đau xót và căm phẫn nhất, là cây gậy tầm vông nhọn hoắt một đầu. Bất cứ một con người lương tri nào trên thế giới này, khi nhìn cây gậy, nhìn những tấm hình treo trên tường, và nghe lời thuyết minh của ông Tiệm, đều không khỏi phẫn uất, rùng mình. Những kẻ lạc loài ở bên kia biên giới đã dùng những cây gậy nhọn này thọc vào chỗ kín của phụ nữ, xuyên tận lên đến cổ.

Tội ác như thế này, loài người trên thế gian, có thể tin được không? Một cảm giác uất hận cứ nghèn nghẹn nơi cổ họng.

Chuyen kinh hoang o vung dat Tay Nam: Nhung hop so u buon va buc tuong chua dam mau hinh anh 3
Những hộp sọ u buồn. 

Những vết máu trong chùa

Ông Nguyễn Văn Tiệm dẫn tôi vào ngôi chùa Phi Lai, nằm ngay dưới chân núi Tượng, quả núi nằm trọn trong xã Ba Chúc (Tri Tôn, An Giang). Ngôi chùa nằm cách chân núi chỉ 300m, ngay phía sau Nhà trưng bày chứng tích tội ác của bọn Pol Pot. Ông Tiệm bảo, ngôi chùa này có quá nhiều âm khí, nên không phải ai cũng dám bước chân vào. Có lẽ, do ám ảnh quá kinh hoàng, hoặc từ những lời thuyết minh của ông, mà không ít người yếu bóng vía đã đánh mất cả lý trí khi bước chân vào ngôi chùa này.

Chùa Phi Lai do ông Ngô Lợi, cùng với các tín đồ xây dựng vào đầu năm 1887. Ngôi chùa này mới chỉ tồn tại hơn thế kỷ, nhưng đã có vố số lần bị thực dân Pháp đốt phá, hoặc nã pháo tan tành.

Nhà văn Sơn Nam từng bỏ nhiều công sức nghiên cứu ngôi chùa này. Ông cho rằng, chùa Phi Lai vốn là điện thờ đấng tối cao Ngọc Hoàng Huyền khung Cao thượng đế. Trong điện còn thờ “tứ đại thần châu”, tức 4 hòn đảo của cõi tiên.

Kim chỉ nam của những người tu trong chùa là đạo Lão và đạo Phật, lấy từ bi bác ái làm lành lánh dữ. Nhân dân Ba Chúc vốn coi ngôi chùa là nơi Phật ngự, Phật sẽ bảo vệ tính mạng của họ, nên lấy làm nơi trú ngụ. Thế nhưng, tính mạng người dân Ba Chúc thật vô cùng thảm khốc.

Chuyen kinh hoang o vung dat Tay Nam: Nhung hop so u buon va buc tuong chua dam mau hinh anh 4
Xác người nằm ngổn ngang cạnh chùa Phi Lai. 

Ông Nguyễn Văn Tiệm nhớ lại: “Ngày 30/4/1977, nhân dân Ba Chúc cùng nhân dân cả nước long trọng làm lễ kỷ niệm ngày miền Nam giải phóng lần thứ 2, thì bọn Pol Pot tấn công, nã pháo vào Ba Chúc, khiến người chết, nhà cháy, tiếng la khóc vang lên khắp nơi. Sau tui mới biết, đúng hôm đó, chúng tấn công cả 8 tỉnh biên giới nước ta”.

Từ đó, đến đầu năm 1978, nhân dân Ba Chúc chẳng được một ngày yên bình. Trong vòng 8 tháng, bọn Pol Pot tấn công vào Ba Chúc tổng số 30 lần.

Ông Nguyễn Văn Tiệm rưng rưng nhớ lại: “Thời điểm đó bộ đội chủ lực của ta được huy động xuống Hà Tiên để chống đỡ bọn Pol Pot, nên ở khu vực Ba Chúc chỉ còn lại rất ít bộ đội, chủ yếu là dân quân địa phương. Tui cùng anh em dân quân được trang bị súng ống đầy đủ, phục kích chặn đường chúng. Tuy nhiên, lực lượng Pol Pot rất đông, hỏa lực rất mạnh, mà người dân thì bị chúng bắt và khống chế rất nhiều, nên không thể tấn công tiêu diệt chúng.

Dân quân chúng tui thay vì đánh giặc, phải làm nhiệm vụ sơ tán người dân lên núi Dài, rồi bảo vệ nhân dân trên đó, chờ bộ đội chủ lực đến ứng cứu. Trong khi nhiều người dân Ba Chúc đã được sơ tán, chạy lên núi Dài, thì còn rất nhiều người dân kẹt lại. Pháo kích khắp nơi, súng bắn như vãi đạn, không kịp chạy, nên cả trăm người vào chùa Phi Lai trú ẩn những mong được Đức Phật che chở. Nào ngờ…”.

Ông Nguyễn Văn Tiệm dẫn tôi vào hậu cung chùa Phi Lai. Ông chỉ bức tường dài đến hơn chục mét. Dưới chân tường có những vết đỏ thẫm, chỗ cao, chỗ thấp. Tôi chợt lạnh người khi ông bảo, đó là vết máu của đồng bào Ba Chúc, thấm sâu vào bức tường vôi và ẩn trong tường đến nay.

Chuyen kinh hoang o vung dat Tay Nam: Nhung hop so u buon va buc tuong chua dam mau hinh anh 5
Vết máu thấm vào tường chùa Phi Lai. 

Khoảng 3 giờ chiều ngày 18/4/1978, bọn Pol Pot tràn vào giữa làng, bao vây chùa Phi Lai. Bất chấp chốn thiền môn, cuộc hành quyết kinh thiên động địa đã diễn ra tại ngôi chùa này. Bọn Pol Pot vây đặc quanh chùa, súng ống chĩa vào chùa tua tủa. Chúng gọi người dân ra hàng. Cả trăm con người sợ hãi không dám ra. Kêu gọi một lúc, không thấy ai ra, chúng xả súng, quăng lựu đạn bừa bãi vào trong chùa.

Cuộc bắn phá điên cuồng vào ngôi chùa Phi Lai, chỉ trong chớp mắt, đã cướp đi sinh mạng 80 người dân vô tội.

Biết rằng, nếu trốn ở trong chùa, chúng sẽ tiếp tục quăng lựu đạn đến sập chùa, thậm chí phóng hỏa đốt chùa nướng chín mọi người, nên 100 người giơ tay đầu hàng đi ra phía cửa.

Lần lượt từng người, vừa bước ra khỏi cửa, đã bị nòng súng đen ngòm gí vào đầu. 100 người dân vô tội bị chúng trói gô, bắt quỳ mọp bên hông chùa. Đàn bà, phụ nữ bị bọn “ác thú” lột quần áo cưỡng hiếp tại chỗ. Cưỡng hiếp xong, chúng giở trò tiêu khiển man rợ: xẻo vú, xiên gậy vào người cho đến chết.

Đàn ông bị bọn “ác thú” này hành quyết bằng những cú đập trời giáng vào đỉnh sọ bằng gậy gỗ mun. Trẻ em bị chúng giết hại bằng gậy tầm vông. Người nào chống đối, thì bị chúng nã đạn chết tại chỗ.

Ông Tiệm dẫn tôi đến ban thờ Phật trong hậu cung chùa. Ông bảo rằng, đã có 40 người trú dưới bàn thờ Phật bị mất mạng. Lịch sử nhà chùa ghi lại rõ rành như vậy, nhưng một số kẻ phản động chuyên bới lông tìm vết nói rằng, chuyện 40 người trốn dưới bàn thờ là bịa tạc, bởi chẳng có gầm bàn thờ nào chứa được tới 40 người.

Bọn phản động suy diễn nghe có vẻ có lý, nhưng với người Ba Chúc thì ai cũng biết rõ, gầm bàn thờ Phật trong chùa Phi Lai chứa được 40 người thật, và đã có 40 con người mất mạng dưới chân Đức Phật.

Thời kỳ chống Pháp, vùng đất Ba Chúc liên tục bị giặc Pháp tấn công. Nhà chùa đã xây dựng một phòng bí mật dưới bàn thờ Phật, để tăng ni, dân chúng trốn trong đó, mỗi khi giặc Pháp tấn công.

Khi bọn Pol Pot tràn vào, có tới 40 người dân chui vào căn hầm dưới bàn thời Phật. Sau khi giết 180 người trong chùa, bọn chúng vẫn không biết đến căn hầm bí mật này.

Thế nhưng, trốn trong hầm mấy ngày, không ăn, không uống, nên ai cũng đói khát. Một cháu bé không chịu nổi, đã khóc thét lên. Tên Pol Pot đứng gần chùa nghe tiếng khóc đã phát hiện căn phòng dưới bàn thờ Phật.

Chuyen kinh hoang o vung dat Tay Nam: Nhung hop so u buon va buc tuong chua dam mau hinh anh 6
 Trẻ em bị giết bên cánh đồng.

Toán Pol Pot sau khi kêu gọi, không thấy ai ra, đã quăng một trái lựu đạn vào trong hầm. Gian phòng nhỏ cỡ 10 mét vuông, có tới 40 người chen chúc, ngột ngạt, nên một quả lựu đạn đã tước đoạt đủ 40 mạng người.

Vài ngày sau, khi bọn Pol Pot bị bộ đội chủ lực của ta tấn công, tiêu diệt, đẩy lùi về bên kia biên giới, thì nhân dân Ba Chúc ở trên núi Dài tìm xuống, người dân di tản tìm về.

Cảnh tượng chết chóc bên trong và quanh ngôi chùa Phi Lai khiến không ai cầm nổi lòng mình. Rất nhiều vết bàn tay máu in trên tường, rồi vết máu hình người dựa vào tường. Cả một đoạn tường dài cả chục mét thấm đẫm máu người. Một vòng máu búng lên tường cao đến 4 mét. Máu đọng thành vũng dưới nền chùa, thấm dọc ven tường đến 20cm.

Bà con xã Ba Chúc gánh không biết bao nhiêu thùng nước mới rửa sạch được nền chùa. Những vết máu thấm sâu vào bức tường vữa, nên còn giữ được đến ngày nay.

Còn tiếp…

Video: Tội ác thấu trời xanh của ác thú Pol PotPHẠM DƯƠNG NGỌC

Chân trần chinh phục Trường Sơn

Trong vòng 4 năm với 1.089 ngày làm việc, Nguyễn Viết Sinh – người lính trẻ Đoàn 559 Trường Sơn – đã mang ngót 55 tấn hàng trên lưng đi qua quãng đường tổng chiều dài 41.025 km, hơn một vòng trái đất!

Dịp 2-9 vừa qua, nhân các hoạt động kỷ niệm Quốc khánh ở tỉnh Nghệ An, tôi đã gặp đại tá Nguyễn Viết Sinh (SN 1941). Tiếp xúc người mà mình từng nghe danh và ngưỡng mộ, tôi không khỏi ngỡ ngàng tự hỏi với thân hình gầy yếu như thế, làm sao ông có thể làm được những điều phi thường, lập nên một kỷ lục khó tin.

Chân trần, chí thép

Giữa tháng 9-2018, tôi quyết định tìm đến xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An thăm đại tá Nguyễn Viết Sinh. Trong căn nhà nhỏ của mình, kiện tướng gùi hàng trên đỉnh Trường Sơn những năm kháng chiến chống Mỹ ác liệt ngày nào giờ tóc đã bạc trắng nhưng vẫn nhanh nhẹn, minh mẫn.

Rót cốc nước chè mời khách, ông Sinh cho biết: “Trước đây, tôi ở TP Vinh. Mấy năm nay, vợ chồng tôi về quê ở gần anh em, bà con cho vui”. Nghe tôi gợi lại chuyện cùng đồng đội vận chuyển hàng, chiến đấu ở Trường Sơn năm xưa, ông trở nên phấn chấn hẳn. Ký ức một thời trai trẻ tham gia chiến đấu cách nay gần 60 năm ùa về với ông…

Ông Sinh cho biết năm 1961, khi vừa tròn 20 tuổi, ông hăm hở lên đường nhập ngũ. Từ Nghệ An, ông bí mật di chuyển vào huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, tham gia Tiểu đoàn 301 – Đoàn 559 nhận nhiệm vụ tải hàng vào chiến trường miền Nam.

“Sau khi vào đơn vị, công việc đầu tiên của tôi là làm quen với công việc gùi hàng. Ban đầu, tôi chỉ gùi được khoảng 10-20 kg gạo. Sau này quen dần, đến năm 1965, tôi có thể gùi 60-70 kg gạo hoặc vũ khí, đi bộ 30-40 km đường rừng” – ông Sinh nhớ lại.

Theo ông Sinh, trong giai đoạn 1960-1965, việc vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí chi viện cho miền Nam chỉ bằng sức người, cụ thể là gùi trên lưng. Những năm tháng gian khổ và ác liệt đó, ông Sinh cùng đơn vị đóng chốt tại các huyện miền núi Quảng Bình và nước bạn Lào. Ngày ngày, họ đi bộ xuyên rừng, miệt mài vận chuyển hàng cho tiền tuyến.

Chỉ với đôi dép cao su và chiếc gùi trên lưng, anh tân binh Đoàn 559 Trường Sơn đã làm được những việc khó tin. Theo thống kê, năm 1962, chiến sĩ Nguyễn Viết Sinh đã gùi 13.553 kg hàng trên đoạn đường 10.196 km; năm 1963 gùi 9.365 kg hàng và khiêng 23 cáng thương; năm 1964 mang vác 11.445 kg, thồ 8.230 kg, khiêng 62 thương binh trên đoạn đường 10.982 km…

“Thời điểm nhập ngũ, tôi chỉ nặng gần 50 kg. Trong những năm cùng đơn vị gùi hàng xuyên rừng, leo dốc vượt dãy Trường Sơn, mỗi ngày đi 30-40 km nhưng tôi không hề ốm đau, chưa một ngày nghỉ việc. Chiến tranh, bệnh sốt rét, ăn uống kham khổ – nhiều hôm chỉ có măng với rau rừng trừ bữa… nhưng lạ một điều là tôi chẳng hề ốm đau. Lúc đó, tinh thần phục vụ tiền tuyến át hết bệnh tật” – người lính già tự hào.

Năm 1966, trong một đợt bị máy bay Mỹ dội bom, đơn vị ông Sinh có 4 người hy sinh, 9 người bị thương. Ông may mắn sống sót nhưng cũng bị bom bi xuyên nách vào phổi, phải phẫu thuật. Sau khi điều trị lành vết thương, ông lại tiếp tục cùng anh em đơn vị ngày đêm vận chuyển hàng cho tiền tuyến.

Nhận xét về đại tá Nguyễn Viết Sinh, trong cuốn “Chân trần chí thép” viết về đường mòn Hồ Chí Minh, được xuất bản vào tháng 4-2010, trung tá thủy quân lục chiến người Mỹ James G.Zumwalt nêu rõ: “Nguyễn Viết Sinh có lẽ là nhân vật minh họa rõ nhất quyết tâm của người tải hàng với mỗi lần gùi được 45-50 kg. Trong vòng 4 năm với 1.089 ngày làm việc, anh đã mang được hơn 55 tấn hàng trên lưng và đi qua quãng đường có tổng chiều dài 41.025 km – tương đương một vòng trái đất theo đường xích đạo và mang theo một lượng hàng bằng với trọng lượng cơ thể”.

Chân trần chinh phục Trường Sơn - Ảnh 1.

Đại tá Nguyễn Viết Sinh với những kỷ vật một thời

Lỡ cơ hội gặp Bác

Với những chiến công suốt nhiều năm tham gia gùi hàng chi viện cho chiến trường miền Nam, ngày 1-1-1967, ông Nguyễn Viết Sinh đã vinh dự trở thành một trong 3 người lính Trường Sơn đầu tiên được Bác Hồ phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang và được ra Hà Nội báo cáo điển hình.

“Nghe tin được ra Hà Nội, tôi mừng lắm, nhiều đêm trằn trọc không ngủ được, cứ mong sớm được gặp Bác” – ông Sinh hồi tưởng. Theo ông, thời điểm đó, ông đang chiến đấu ở Lào, ôtô chỉ ưu tiên cho việc vận tải súng đạn, lương thực, thực phẩm. Vì vậy, để về nước và ra Hà Nội, ông phải đi bộ xuyên rừng suốt nhiều ngày.

“Do ở sâu trong nước bạn Lào nên tôi đi bộ suốt 10 ngày mới về tới Quảng Bình. Gặp Binh trạm 14 ở khu vực Cổng Trời, tôi vào nghỉ thì tối hôm đó bất ngờ nghe đài phát thanh đưa tin hội nghị tuyên dương anh hùng. Biết là không còn có cơ hội gặp Bác nên tôi lại đi bộ trở về đơn vị” – ông Sinh tiếc nuối.

Chiến tranh kết thúc, ông Sinh tiếp tục công tác trong quân đội và giữ những chức vụ quan trọng như: Phó Chính ủy Trung đoàn 15, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 185 ở Lào. Đến đầu những năm 1990, ông về hưu.

“Tháng 8-1974, khi đang ở Lào, tôi được cử ra Hà Nội học. Mười mấy năm tham gia kháng chiến chống Mỹ, điều đáng tiếc nhất với tôi là không được phục vụ chiến dịch giải phóng miền Nam vào năm 1975” – ông Sinh tâm sự khi được hỏi về cuộc đời binh nghiệp của mình, điều gì khiến ông cảm thấy tiếc nuối nhất.

Khi chúng tôi đang trò chuyện thì vợ đại tá Nguyễn Viết Sinh, bà Đinh Thị Vân, xuất hiện. Ông Sinh cho biết vợ ông là người cùng quê Nam Đàn. Hai người bén duyên nhau sau một lần ông về thăm nhà vào năm 1964.

“Năm 1965, nhận được thư của người yêu nói về nguyện vọng gia nhập lực lượng thanh niên xung phong, tôi đã động viên cô ấy tham gia. Yêu nhau nhưng chúng tôi rất ít có cơ hội gặp nhau vì cô ấy công tác ở các tuyến đường Nghệ An, còn tôi thì lại ở Lào. Chiến tranh, xa nhau, không biết chết lúc nào nhưng chúng tôi luôn tin vào tình yêu, tin vào ngày đất nước thống nhất để được ở bên nhau” – ông Sinh thổ lộ.

Đến năm 1969, ông Sinh và bà Vân tổ chức đám cưới, rồi có với nhau 3 người con. Hiện đại tá Nguyễn Viết Sinh ở cùng vợ và con trai trong một căn nhà nhỏ tại xã Xuân Hòa. Ông sống bình dị, hòa đồng với xóm làng. Ngoài công việc gia đình, ông thường đứng ra kêu gọi, tổ chức cho đồng đội đi thăm lại chiến trường xưa, tri ân những người đã ngã xuống. 

nhan vat box

Kỷ lục Việt Nam của Anh hùng Nguyễn Viết Sinh do Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam xác nhận

Kỷ lục Việt Nam

Ngày 21-4-2012, đại diện Ban Tổ chức chương trình “Nghĩa tình Trường Sơn” phối hợp với Hội Cựu chiến binh tỉnh Nghệ An đã tổ chức lễ trao bằng kỷ lục Việt Nam cho Anh hùng Nguyễn Viết Sinh là “Chiến sĩ giao liên Trường Sơn gùi thồ hàng và dẫn quân với đoạn đường dài nhất”.

Nói về đại tá Nguyễn Viết Sinh, ông Bùi Danh Sơn, Phó Chủ tịch UBND xã Xuân Hòa, tự hào: “Ông là tấm gương sáng được mọi người trong xã kính mến, nể phục. Ông sống giản dị, hòa đồng, gần gũi với mọi người”.Bài và ảnh: ĐỨC NGỌC

Tài liệu tuyệt mật của CIA về vụ thảm sát Thiên An Môn 1989.

Đội quân tiên phong bị giải thể trong Chương trình Cải cách Quân đội của Đảng Cộng sản TC là Quân đoàn 27, sự kiện gây chú ý vì đây là đội quân chính gây ra vụ thảm sát Thiên An Môn ngày 4/6/1989.


Trang tin Next Magazine ở Hồng Kông gần đây đã đăng bài viết tiết lộ nguồn tin về hồ sơ mật của Tòa Bạch Ốc, Mỹ, theo đó Tình báo Washington từng thu thập được tài liệu của nội bộ Trung Nam Hải đánh giá về số thương vong trong sự kiện thảm sát Thiên An Môn lên đến 40 nghìn người, trong đó có 10.454 người bị giết.

Thảm sát tại Thiên An Môn ngày 4/6/1989

Thảm sát tại Thiên An Môn ngày 4/6/1989.
  Trong cuộc thảm sát này, Quân đoàn 27 là thủ phạm chính. Sau vụ thảm sát,  Giang Trạch Dân được  Đặng Tiểu Bình tín nhiệm, và cho thay thế  Triệu Tử Dương.  Họ Giang được chọn là vì đã thẳng tay trừng phạt và biết nghe lời Lãnh đạo ra tay đàn áp phong trào dân chủ tại Thiên An Môn.
Trong “Nhật ký Lý Bằng” cũng khẳng định: Họ Giang là “kẻ Lãnh đạo và quyết định” đàn áp tại Quảng trường Thiên An Môn.

Khác biệt về số lượng thương vong trong tài liệu mật:

Có nhiều số liệu khác nhau liên quan đến số người thương vong trong sự kiện Thiên An Môn. Theo số liệu của Hội Hồng  Thập Tự TC: số người chết từ 2.600 ~ 3.000 người.
Vào ngày 16/6 năm đó, Tổng Lãnh sự quán Mỹ trú tại Hồng Kông đã chia sẻ một nguồn tin có được từ tài liệu nội bộ của chính quyền Đảng CS TC, theo số liệu này thì từ ngày 3 – 4/6, tại Thiên An Môn và phố Trường An có 8.726 người bị giết; từ ngày 3 – 9/6, vùng ngoại vi Thiên An Môn thuộc nội thành Bắc Kinh có 1.728 người bị giết.

Vụ thảm sát Thiên An Môn

Vụ thảm sát Thiên An Môn. 
Như vậy, tổng số người chết là 10.454 người, còn số người bị thương thì lên đến 28.796 người. Người Mỹ khẳng định: Nguồn tin tình báo của họ đáng tin cậy, cho dù hiện không có cách nào kiểm chứng được nguồn tin trong tài liệu gốc này.

Theo truyền thông Hồng Kông, tài liệu nội bộ của Trung Nam Hải đánh giá về số thương vong trong sự kiện thảm sát Thiên An Môn và những chi tiết liên quan đến Quân đoàn 27 gây tội ác thảm sát, mà người Mỹ thu thập được là chưa từng được biết đến.

Theo Next Magazine, tin Tình báo của Mỹ có được qua tài liệu nội bộ của Trung Nam Hải đánh giá về số người thương vong trong sự kiện thảm sát Thiên An Môn lên đến 40 nghìn người, trong đó 10.454 người bị giết.

Chứng cứ này trái ngược hoàn toàn với công bố công khai của chính quyền Đảng CS TC với cộng đồng quốc tế rằng: “Không có người chết trong Sự kiện Thiên An Môn 1989.”

Quân đoàn 27 gây ra vụ thảm sát là đội quân mù chữ:

Tối ngày 9/2 năm nay, chương trình “Tin tức Quân sự” của Đài Truyền hình Trung ương TC đưa tin, Quân đoàn 27 đã từ Thạch Gia Trang chuyển tới Sơn Tây.
Vào tháng 12 năm ngoái, tờ Minh Báo của Hồng Kông đưa tin: Quân đoàn 27 thuộc Quân khu Bắc Kinh bị giải thể, vào tối ngày 29/12 đã chuyển một bộ phận quân đến doanh trại xe tăng tại quận Giao, thuộc Thái Nguyên – Sơn Tây, đổi tên Sư Lục Quân đoàn 27, Tổng bộ trú tại Thạch Gia Trang – Hà Bắc được chuyển đến Ban Lục quân Chiến khu Trung phần.

Vụ thảm sát Thiên An Môn

Vụ thảm sát Thiên An Môn Next Magazine chia sẻ thông tin theo hồ sơ mật của Washington, Quân đoàn 27 là đội quân chính ra tay thảm sát, khiến nhiều người thiệt mạng tại Quảng trường Thiên An Môn ngày 4/6.Vào sáng sớm ngày 4/6, đội quân này mang theo vũ khí tiến vào Quảng trường Thiên An Môn thực hiện cuộc thảm sát, trong những người bị giết hại có cả lính của những đơn vị khác, vì thế mà tại đây còn xảy ra một cuộc chiến trong nội bộ lực lượng quân đội Trung Cộng.Theo lời của Gián điệp Mỹ, Quân đoàn 27 là đội quân được tín nhiệm và luôn biết phục tùng, Tướng chỉ huy là Yang Jianhua, em trai cựu Chủ tịch nước Dương Thượng Côn, còn Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị khi đó là con của Tướng Dương Bạch Băng, còn gọi là Dương Thượng Chính.Nhưng nhân vật bí ẩn này không thấy có bất cứ tài liệu nào nhắc đến, không thể tìm được tên gốc bằng tiếng Trung Cộng. Theo nguồn tin, Quân đoàn 27 là đội quân đặc biệt được tuyển từ những nông dân vùng hẻo lánh, có đến 60% là mù chữ.
Doanh trại Quân đoàn 27 ở Thạch Gia Trang, cách Bắc Kinh TC khoảng 4 tiếng chạy xe, trước ngày vào thành Bắc Kinh họ được thông báo tới Bắc Kinh TC để huấn luyện. Trên đường đi vào thành Bắc Kinh, lại được thông báo được cho đi thăm viếng, ai nấy đều thích thú.

Vụ thảm sát Thiên An Môn

Vụ thảm sát Thiên An Môn. 

Vào ngày 20/5, sau khi Bắc Kinh TC thực thi lệnh giới nghiêm, họ mới biết “có lực lượng làm loạn.” Khi đó tiến vào Bắc Kinh còn có đội quân của Thẩm Dương và Thành Đô, nhưng chỉ có Quân đoàn 27 mang theo vũ khí chiến đấu, bao gồm: xe tăng, xe thiết giáp, súng ống đạn dược… Hồ sơ nhắc đến vụ thảm sát diễn ra vào sáng ngày 4/6, vụ thảm sát xảy ra tại Lục Bộ Khẩu (Liubukou) ở phía Tây Trung Nam Hải. Khi người dân cản trở đường đi của quân nhân, đội quân mù chữ Quân đoàn 27 đã chạy xe tăng lao thẳng vào các quân nhân và người đi đường, những họng súng cũng nhắm thẳng vào người dân khai hỏa. Quân đoàn 27 đã nhận được mệnh lệnh: “Không được cho bất cứ ai chạy thoát, không được cho bất cứ ai sống sót !.” Khi xe bọc thép chạy vào Quảng trường Thiên An Môn đã chuyển sang lao vào các học sinh, Sinh viên, phụ nữ và trẻ em, giết đến đâu thì dùng máy ủi gom thi thể đến đó, và dùng lửa hỏa thiêu.
Bọn lính man rợ được thông báo có khoảng 1000 học sinh trốn ở gần khách sạn Bắc Kinh TC, khu đường Chính Nghĩa, khi những học sinh này vừa kéo vào thì bị lính mai phục chờ sẵn và nổ súng càn quét. Ngay cả xe cấp cứu của Quân đoàn 27 đến Thiên An Môn chi viện cũng bị chính những tên đồng đội điên cuồng này xả súng vào.
Gián điệp của Mỹ nằm trong Quân đoàn 27 còn cho biết: Bọn chúng ra tay khủng khiếp như thế là hoàn toàn là phục tùng mệnh lệnh của cấp trên.
Nhưng hồ sơ của Tòa Bạch Ốc còn kể lại tình hình nội bộ trong quân đội TC khi đó, ví dụ như một quan chức trong đội quân ở Thẩm Dương sau khi biết tin bạn mình bị Quân đoàn 27 giết hại liền đến trước xe bọc thép của Quân đoàn 27 chửi mắng, và lập tức bị một phát súng vào đùi; một quân nhân Thẩm Dương về quê nhà lấy vũ khí rồi trở lại Bắc Kinh TC liều chết với Quân đoàn 27.

Vụ thảm sát Thiên An Môn

Vụ thảm sát Thiên An Môn.

  Quân đội ở Tân Cương, Giang Tây, Sơn Đông cũng đến Bắc Kinh TC đối đầu với Quân đoàn 27.Giang Trạch Dân được chọn vì “công lao” tắm máu người dân tại Quảng trường Thiên An Môn.
Nhiều người đều biết,  Giang Trạch Dân được lên nắm quyền lực tối cao sau sự kiện Thiên An Môn. Hồ sơ mật của Tòa Bạch Ốc cũng đề cập, Bí thư Thành ủy CS Thượng Hải đương nhiệm Giang Trạch Dân được xem là kẻ được lợi nhiều nhất nhờ công tắm máu tại Thiên An Môn.
Năm 1989,  họ Giang là Bí thư CS Thành ủy Thượng Hải, vào trung tuần tháng 5/1989 làn sóng dân vận lan tới Thượng Hải, mũi nhọn dân chúng chĩa vào hắn ta, thời điểm đó báo Kinh tế Thế giới ở Thượng Hải là tờ báo ủng hộ cải cách, vì đăng bài viết tưởng nhớ  Hồ Diệu Bang nên đã bị họ Giang đến chỉnh đốn và bị đình bản.
Sau sự kiện Thiên An Môn, người Mỹ mới biết rằng: Khi thực hiện lệnh giới nghiêm vào ngày 20/5 tại Bắc Kinh TC,  họ Giang đã được Đặng Tiểu Bình hứa sẽ cho lên thay  Triệu Tử Dương. Họ Giang được chọn là vì mạnh tay xử lý Báo Kinh tế Thế giới, và hùa theo bài Xã luận 426 trên Nhân dân Nhật báo.
Trong đó, sự kiện của Báo Kinh tế Thế giới là tâm điểm dẫn đến Phong trào Dân chủ Học sinh Sinh viên năm 1989.
Trong “Nhật ký Lý Bằng” viết, trong đêm xảy sự kiện Thiên An Môn,  Giang Trạch Dân ở ngay gần Thiên An Môn để chỉ huy “chiến trường”.
Cuốn Nhật ký còn nêu ra: Ngày 3/6/1989,  Đặng Tiểu Bình đã phê chuẩn phương cách đàn áp phong trào vào tối hôm đó, họ Giang “trú tại lầu 4 tòa nhà của lực lượng Cảnh vệ, có thể quan sát mọi hành động  tại Quảng trường Thiên An Môn qua cửa sổ.”

Giang Trạch Dân bước lên đỉnh quyền lực sau sự kiện Thiên An Môn

Giang Trạch Dân bước lên đỉnh quyền lực sau sự kiện Thiên An Môn. 

Tháng 1/2011, nhà Đấu tranh nhân quyền Ngụy Kinh Sinh sống lưu vong ở ngoài Trung Cộng Đại Lục đã có bài viết tiết lộ, nhiều người không biết, trước sự kiện Thiên An Môn ngày 4/6/1989,  Giang Trạch Dân đã được xem như là Tổng Bí thư CS, vì thế mới có thể vào thành Bắc Kinh TC chỉ huy cuộc tàn sát. Tội ác của họ Giang trong vụ thảm sát này là rõ như ban ngày Cùng với việc họ Giang lên nắm quyền,  Triệu Tử Dương vì phản đối đàn áp phong trào dân chủ Thiên An Môn 1989 nên đã bị mất chức, sau đó bị giam lỏng tại số 6 Hồ Đồng, Phú Cường, Bắc Kinh TC, đến năm 2005 thì qua đời ở tuổi 85.

Vào năm 2002, khi họ Giang mãn nhiệm kỳ Tổng Bí thư CS và Chủ tịch nước CS, hắn ta đã đưa ra một số quy định cho các Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị CS, trong đó có quy định là “không được lật lại vụ án tại Quảng trường Thiên An Môn.”
Nguyên nhân của Quy định này là vì chính hắn ta là nhân vật chủ mưu, và cũng là kẻ giành được lợi ích nhiều nhất.

Những liên hệ rợn người giữa 2 cái chết của 2 tổng thống Kennedy và Lincoln

Abraham Lincoln (phải ảnh) và John F. Kennedy (trái ảnh) là hai trong số những Tổng thống
Mỹ nổi tiếng nhất lịch sử. Điều bất ngờ là hai ông chủ Nhà Trắng này có nhiều điểm trùng hợp kỳ lạ.
Cụ thể, điều trùng hợp đầu tiên là tên của Tổng thống Lincoln và Kennedy đều có 7 chữ cái.
Tổng thống Lincoln (trong ảnh) và Tổng thống Kennedy có sự trùng hợp lạ kỳ gắn liền với con số 100. Ông Lincoln được bầu vào Quốc hội năm 1846 và đắc cử tổng thống năm 1860. Ông John Kennedy được bầu vào Quốc hội năm 1946 và đảm nhiệm vị trí ông chủ Nhà Trắng năm 1960. Các sự kiện trên xảy ra cách nhau đúng 100 năm.
Tổng thống Lincoln và Tổng thống Kennedy (trong ảnh) đều có Phó tổng thống mang họ Johnson là: ông Andrew Johnson và Lyndon Johnson. Tên họ của hai người này đều có 13 chữ cái.

Kỳ lạ hơn nữa là ông Andrew (trái ảnh) sinh năm 1808 trong khi ông Lyndon (phải ảnh) sinh năm 1908. Hai người sinh cách nhau 100 năm.
Không những vậy, 2 người thực hiện vụ ám sát Tổng thống Lincoln và Kennedy cũng có điểm trùng hợp khó tin. Cả 2 tên sát thủ này đều sinh cách nhau 100 năm.
Kẻ ám sát Tổng thống Lincoln là John Wilkes Booth (trái ảnh) sinh năm 1839 trong khi Lee Harvey Oswald (phải ảnh) – kẻ ám sát Tổng thống Kennedy – sinh năm 1939. Cả hai tên tội phạm này đều chết trước khi bị đưa ra xét xử. Thêm nữa, tên họ của hai kẻ thủ ác này đều có 15 chữ cái.
Tổng thống Lincoln và Tổng thống Kennedy đều bị ám sát vào ngày thứ Sáu khi đi cùng Đệ nhất phu nhân.
Thêm nữa, Tổng thống Kennedy (trong ảnh) có một thư ký tên Lincoln (Evelyn Lincoln) trong khi Tổng thống Lincoln lại có một thư ký tên là Kennedy.

Chính những sự trùng hợp đến khó tin giữa Tổng thống Lincoln (trong ảnh) và Tổng thống Kennedy đã trở thành chủ đề nghiên cứu, tranh luận của giới học giả, chuyên gia để tìm hiểu vì sao lại liên tiếp có những điểm chung như vậy.

NPH2019_226: Hiệp định Paris 1973

Toàn thể diễn bến và hệ quả trươc và sau Hiệp định Paris
Vui lòng bấm “Đăng Ký” (màu đỏ góc phải bên dưới) để nhận thông báo video mới nhất của kênh
https://youtube.com/thacmac52
https://facebook.com/bac.ha.9655
Email: bacha52@gmail.com
ĐT: (+00) 1-714-469-3202
VN 0327941647