Category Archives: Lịch sử

Danh-Sách 74 Anh-Hùng Tử-Sĩ Hoàng-Sa

Xin Quý Vị giúp cho tài-liệu để chúng tôi nhật-tu. Chân-thành cảm ơn trước.

Anh-Hùng Tử-Sĩ đã hy sinh Hoàng-Sa trong khi bảo vệ Tổ Quốc, chống trả lại sự xâm lăng của ngoại bang xâm lược, cần thiết phải được vinh danh. Hình ảnh chân dung của họ là những di vật quý hoá muôn đời sau.

Xin chân-thành cảm ơn Ông Vũ Đình Thiện (Email 19-1-2012). Chúng tôi xin sửa chữa tên một vị thuộc HQ-5: anh-hùng tử-sĩ Vũ-Đình-Quang, SQ: 62A700 710.

Xin chân-thành cảm ơn Cháu Lương Nguyễn Trãi (Email 21-8-2012). Chúng tôi xin sửa chữa tên một vị thuộc HQ-10: anh-hùng tử-sĩ Lương Thanh Thú, SQ: 70A/700.494.

Xin chân-thành cảm ơn Cháu Nguyễn Lê Bội Liên. Chúng tôi xin sửa chữa tên một vị thuộc HQ-5: anh-hùng tử-sĩ Nguyễn Phú Hảo.

Xin chân-thành cảm ơn gia đình trung sĩ Phạm Ngọc Đa (thân mẫu còn sống tại Long Xuyên), Chúng tôi xin sửa chữa tên họ một vị thuộc HQ-10: anh-hùng tử-sĩ Phạm Ngọc Đa, SQ: 71A/703.001.

vuhuusan@yahoo.com 

HQ.10 &Tường-Trình  Ủy-Khúc / Tài liệu Họ Tên Số Quân 
1  Sách “LượcSử HQVNCH”    HQ.Th/TáNgụy-VănThà63A/700.824HT
2     121BTL/HmĐHQ.Đ/UýNguyễn-ThànhTrí61A702.714HP
3   Sách “LượcSử HQVNCH”  ThS.1/TPNguyễn-HồngChâu59A700126 QNT
4     121BTL/HmĐTS./GLVươngThương64A700.777 
5     121BTL/HmĐTS./VChPham-NgọcĐa71A703.001 
6     121BTL/HmĐTS./TPVõ-VănNam71A705.697 
7     121BTL/HmĐThS./ĐTTrần-VănThọ71A706.845 
8     121BTL/HmĐTS./QKNguyễn-VănTuấn71A700.206 
9     157BTL/HmĐHQ.Tr/UýVũ-VănBang66A/702.337 
10   157BTL/HmĐHQ.Tr/UýPhạm-VănĐồng67A/701.990 
11   157BTL/HmĐHQ.Tr/UýHuỳnh-DuyThạch63A/702.639CKT
12   157BTL/HmĐHQ.Tr/UýNgô-ChíThành68A/702.453 
13   157BTL/HmĐHQ.Tr/UýVũ-ĐìnhHuân69A/703.058 
14   157BTL/HmĐTHS.1/CKPhan-TânLiêng56A/700.190 
15   157BTL/HmĐTHS.1/ĐKVõ-ThếKiệt61A/700.579 
16   157BTL/HmĐTHS./VCHoàng-Ngọc53A/700.030 
17   157BTL/HmĐTRS.1/VTPhan-TiếnChung66A/701.539 
18   157BTL/HmĐTRS./TPHuỳnh-KimSang70A/702.678 
19   157BTL/HmĐTRS./TXLê-AnhDũng70A/700.820 
20   157BTL/HmĐTRS./ĐKLai-ViếtLuận69A/700.599 
21   157BTL/HmĐTRS./VChNgô-TấnSơn71A/705.471 
22   157BTL/HmĐTRS./GLNgô-VănƠn69A/701.695 
23   157BTL/HmĐTRS./TPNguyễn-ThànhTrong72A/700.861 
24   157BTL/HmĐTRS./TPNguyễn-VinhXuân70A/703.062 
25   157BTL/HmĐTRS./CKPhạm-VănQuý71A/703.502 
26   157BTL/HmĐTRS./CKNguyễn-Tấn66A/701.761 
27   157BTL/HmĐTRS./CKTrần-VănBa65A/700.365 
28   157BTL/HmĐTRS./ĐTNguyễn-QuangXuân70A/703.755 
29   157BTL/HmĐTRS./BTTrần-VănĐảm64A/701.108 
30   157BTL/HmĐHS.1/VChLê-VănTây68A/700.434 
31   157BTL/HmĐHS.1/VChLương-ThanhThú70A/700.494 
32   157BTL/HmĐHS.1/TPNguyễn-QuangMén65A/702.384 
33   157BTL/HmĐHS.1/VChNgôSáu68A/700.546 
34   157BTL/HmĐHS.1/CKĐinh-HoàngMai70A/700.729 
35   157BTL/HmĐHS.1/CKTrần-VănMộng71A/703.890 
36   157BTL/HmĐHS.1/DVTrần-VănĐịnh69A/700.627 
37   157BTL/HmĐHS./VChTrương-HồngĐào71A/704.001 
38   157BTL/HmĐHS./VChHuỳnh-CôngTrứ71A/701.671 
39   157BTL/HmĐHS./GLNguyễn-XuânCường71A/700.550 
40   157BTL/HmĐHS./GLNguyễn-VănHoàng72A/702.678 
41   157BTL/HmĐHS./TPPhan-VănHùng71A/706.091 
42   157BTL/HmĐHS./TPNguyễn-VănThân71A/702.606 
43   157BTL/HmĐHS./TPNguyễn-VănLợi62A/700.162 
44   157BTL/HmĐHS./CKTrần-VănBảy68A/701.244 
45   157BTL/HmĐHS./CKNguyễn-VănĐông71A/703.792 
46   157BTL/HmĐHS./PTTrần-VănThêm61A/701.842 
47   157BTL/HmĐHS./CKPhạm-VănBa71A/702.200 
48   157BTL/HmĐHS./DKNguyễn-NgọcHoà71A/705.756 
49   157BTL/HmĐHS./DKTrần-VănCường72A/701.122 
50   157BTL/HmĐHS./PTNguyễn-VănPhương71A/705.951 
51   157BTL/HmĐHS./PTPhan-VănThép70A/703.166 
52   157BTL/HmĐTT.1/TPNguyễn-VănNghĩa72A/703.928 
53   157BTL/HmĐTT.1/TPNguyễn-VănĐức73A/701.604 
54   157BTL/HmĐTT.1/TPThi-VănSinh72A/703.039 
55   157BTL/HmĐTT.1/TPLý-PhùngQuí71A/704.165 
56   157BTL/HmĐTT.1/VTPhạm-VănThu70A/702.198 
57   157BTL/HmĐTT.1/PTNguyễn-HữuPhương73A/702.542 
58   157BTL/HmĐTT.1/TXPhạm-VănLèo73A/702.651 
59   157BTL/HmĐTT.1/CKDương-VănLợi73A/701.643 
60   157BTL/HmĐTT.1/CKChâu-TuỳTuấn73A/702.206 
61   157BTL/HmĐTT.1/DTĐinh-VănThục71A/704.487 
62   157BTL/HmĐTT /VChNguyễn-VănLai71A/703.668 
     
HQ. 4     
Sách “TàiLiệu HảiChiến HSa”HQ Th/UýNguyễn-Phúc Tr. Khẩu 20
Sách “TàiLiệu HảiChiến HSa”HS1/VCBùi-QuốcDanh Xạ Thủ
Sách “TàiLiệu HảiChiến HSa”Biệt-HảiNguyễn-VănVượngXung-phongTiếp Đạn
     
 HQ.5      
   Sách “LượcSử HQVNCH”HQ Tr/UýNguyễn-VănĐồng Tr. Khẩu 127 
   Sách “LượcSử HQVNCH”ThSI/ĐTNguyễn-PhúHảo  
   Sách “LượcSử HQVNCH”TS1TPVũ-ĐìnhQuang62A700 710  
     
HQ.16     
    Sách “LượcSử HQVNCH”TSI/ĐK Trần VănXuân68A/701.074 
    Sách “LượcSử HQVNCH”HS/QKNguyễn-VănDuyên  
     
Người-Nhái     
    Sách “LượcSử HQVNCH”Tr/Uý NNLê-VănĐơn Tr. Toán
    Sách “LượcSử HQVNCH”TS/NNĐinh-KhắcTừ  
    Sách “LượcSử HQVNCH”HS/NNĐỗ-VănLong  
    Sách “LượcSử HQVNCH”NNNguyễn-VănTiến  

Phụ-Chú:

– Tử sĩ của HQ-4, HQ-5, HQ-16 và Người Nhái được các Đơn Vị Trưởng liên hệ đang sinh sống tại Hoa Kỳ xác nhận.  

– Tử sĩ của HQ-10 là 7 SQ + 23 HSQ + 32 ĐV = 62 người (Hải-Sử Tuyển-Tập, HQVN. 2004, trang 310).

– Cùng với danh tính của vị Hạm-Trưởng Nguỵ Văn Thà và Quản Nội Trưởng Nguyễn Hồng Châu, số 60 Tử-Sĩ của HQ-10 được xác nhận với đầy đủ: Cấp bậc, Họ Tên, Quân Số; bởi 2 bản:

(1)- Tường-Trình Ủy-Khúc # 121/BTL/HmĐ/NV/TTUK/K ngày 16-2-1974: (6 người) &

(2)- Tường-Trình Ủy-Khúc # 157/BTL/HmĐ/NV/TTUK/K ngày 02-3-1974 (54 người), do Hải-Quân Đại-Tá Nguyễn-Xuân-Sơn, Tư-Lệnh Hạm-Đội, ký tên & đóng dấu.

– Sách “Lược Sử Hải Quân VNCH”, Tác-giả Vũ Hữu San, 2009, tái bản 2012.

 # 121/BTL/HmĐ/NV/TTUK/K ngày 16-2-1974 &

– Sách “Lược Sử Hải Quân VNCH”, Tác-giả Vũ Hữu San, 2009, tái bản 2012.

– Cố HQ Chuẩn-Uý Vũ-Văn-Ấn, Sĩ-Quan Nhân-Viên Hạm-Đội, trước khi qua đời, có nhắn lại là:

(1) Ông đã viết các bản Tường-Trình Ủy-Khúc khác nữa cho HQ-4, HQ-5, HQ-16

(2) Có một Đoàn-Viên trong Danh-Sách Tường-Trình Ủy-Khúc # 157 về trình-diện Hạm-Đội sau ngày 02-3-1974. Rất tiếc, Ông không còn nhớ ra danh-tính Đoàn-Viên này sau 30-4-1975,

vì kinh qua nhiều ngày trốn-tránh, tù tội, vất vả, gian-truân, vượt biên, xin tị-nạn, làm lại cuộc đời mới tại Canada, rồi bệnh-hoạn…

  http://biendong.freetzi.com/HinhAnhHaiChien/TTUK121.jpg   http://biendong.freetzi.com/HinhAnhHaiChien/TTUK001.jpg   http://biendong.freetzi.com/HinhAnhHaiChien/TTUK002.jpg   http://biendong.freetzi.com/HinhAnhHaiChien/TTUK003.jpg     http://biendong.freetzi.com/HinhAnhHaiChien/TuSiHoangSa-30Nguoi.jpg

Nguyễn Văn Thiệu (Kỳ 1): Chuyện ly kỳ về lá số tử vi

http://danviet.vn/dong-tay-kim-co/nguyen-van-thieu-ky-1-chuyen-ly-ky-ve-la-so-tu-vi-1036259.html

Dường như số phận của cả một chế độ cũng ứng nghiệm hoàn toàn với lá số tử vi của người đứng đầu chế độ – ít nhất là trên những…giai thoại!

Đề cập đến sự sụp đổ hoàn toàn của chính quyền Sài Gòn, người ta lại thường gắn nó với vai trò của Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống thứ 3 nếu đếm ngược từ dưới lên. Hai người đi sau, Trần Văn Hương và Dương Văn Minh, thời gian làm “chủ nhân ông” tại Phủ Đầu Rồng chỉ tính bằng ngày, bằng giờ. Khi họ lên làm Tổng thống, miền Nam đã trong cơn hấp hối và không còn cơ hội để cứu vãn sự sụp đổ. Đó là “di sản” cay đắng mà họ được người tiền nhiệm Nguyễn Văn Thiệu miễn cưỡng trao lại.

Thật thú vị, dường như số phận của cả một chế độ cũng ứng nghiệm hoàn toàn với lá số tử vi của người đứng đầu chế độ – ít nhất là trên  những…giai thoại!

nguyen van thieu (ky 1): chuyen ly ky ve la so tu vi hinh anh 1

 Nguyễn Văn Thiệu trong lễ duyệt binh 19/6/1966 kỷ niệm 1 năm Chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ.

Ngày 29/9/2001, tại TP Boston, bang Massachusetts, Mỹ, cựu Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu  đã hóa người thiên cổ. Đến dự đám tang của ông có nhiều cựu quan chức, tướng lĩnh quân đội Sài Gòn, trong  đó có Ngô Quang Trưởng, Phạm Quốc Thuần, Lê Minh Đảo, Đào Duy Ân, Mạch Văn Trường, Phan Hòa Hiệp, Lâm Ngươn Tánh, Trần Bá Di, Văn Thành Cao…, những người không chỉ là thuộc cấp mà còn từng là đồng ngũ lâu năm, hiểu Nguyễn Văn Thiệu rất rõ. Họ đã hết sức ngạc nhiên vì trong cáo phó do gia đình soạn, ông Thiệu cầm tinh Quý Hợi, sinh ngày 5/4/1923. Điều này ngược hẳn với hiểu biết của họ, và cũng là hiểu  biết của số đông dân chúng miền Nam, rằng ông Thiệu cầm tinh Giáp Tý, sinh ngày 24/12/1924. Lá tử vi “tam trùng quý số” gồm sinh giờ Tý, tháng Tý và năm Tý của ông Thiệu một thời đã từng là đề tài tốn không ít  giấy mực của báo chí miền Nam.

Nếu ngày sinh tháng đẻ này không đúng, sinh thời không được ông Thiệu công nhận, uống mật gấu cũng chẳng có “cao thủ”  nào trong giới bốc phệ, giới nhâm cầm độn toán hay anh ký giả ti toe nào dám công khai lên báo bàn tán nhăng cuội. Và nếu không đúng, chẳng lẽ suốt 10 năm ngự trị trên cương vị lãnh đạo chóp bu của miền Nam (1965-1975), ông Thiệu lại không hề đính chính, mặc cho thiên hạ bàn tán đủ  kiểu? Chưa hết, khai xuân năm Nhâm Tý 1972, ông Thiệu còn cho phép ba thầy Huỳnh Liên, Minh Nguyệt và Khánh Sơn – những cao thủ trong nghề chiêm tinh, tử vi đẩu số và bói toán mà ông tin tưởng và ưu ái nhất lên đài truyền hình nói trước dân chúng về vận mạng quốc gia. Lá tử vi quý số “tam Tý” của  vị tổng thống đương nhiệm lại được ba thầy tranh nhau nhắc đến, gắn “chân mạng đế vương” của người đứng đầu thể chế với “một nền hòa bình và vĩnh cửu, cho dân chúng miền Nam, đang đến rất gần”. Nếu thế, cái tuổi Quý Hợi 1923 ghi trong cáo phó là lấy ở đâu ra?

Người ngoài có thể nhầm nhưng người thân trong gia đình của ông Thiệu thì tuyệt đối không thể nhầm. Đã có hơn một lần, vị cựu Tổng thống chính quyền Sài Gòn đã từng giải thích điều này. Trong hồi ký “Từ Tòa Bạch Ốc đến Dinh Độc Lập” xuất bản năm 1988, đã được in và phát hành trong nước, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, nguyên phụ tá kinh tế của Nguyễn Văn Thiệu thuật lại: Ông Thiệu cho biết, ngày sinh của ông là 5/4/1923. Khi ghi danh đi học, phải khai  giấy tờ, ông Thiệu không nhớ, lại không có người lớn trong gia đình ở bên cạnh để hỏi nên ông đã khai đại thành 24/12/1924, vì biết đó là ngày đẹp “Tý trùng”, cộng với việc ông sinh giờ Tý để thành “Tam trùng” – “tam tý vi vương”. Khai xong, ông mới có điều kiện hỏi lại để biết chính xác ngày sinh tháng đẻ của mình.

Nếu những gì viên tiến sĩ phụ tá nhớ lại là sự thật thì sự thật này chỉ hợp lý có… một nửa. Không như đa số người nghèo ở miền Trung hồi đầu thế kỷ XX, con  em sinh ra ít khi nhớ rõ ngày tháng thật, ông Thiệu sinh ra  trong một gia đình theo truyền thống Nho học. Nhà Thiệu ở làng Tri Thủy, xã Tri Hải, quận Thanh Hải, nhưng quê thì ở thôn Dư Khánh, xã Khánh Hải, (cách nhau một cửa biển hẹp), nay là thị trấn Khánh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, một vùng có cảnh quan khá đẹp. Ông Nguyễn Văn Chung, thân sinh của Nguyễn Văn Thiệu là một nhân sĩ Nho học. Hai người anh lớn Nguyễn Văn Hiếu và Nguyễn Văn Kiểu cũng là trí thức, từng dạy học. Do đó, việc ông Thiệu có ngày  sinh tháng đẻ chính xác, có lá số tử vi chính xác là điều dễ hiểu và hợp lý. Tuy nhiên, ở tuổi học trò tiểu học, khó có thể tin là cậu bé Nguyễn Văn Thiệu đủ tri thức chọn một ngày sinh “quý số tam trùng” để “khai đại” cho đời mình. Nếu thế, ông Thiệu có thể được coi là một thầy tử vi đại tài, năng khiếu phát lộ từ tấm bé!

nguyen van thieu (ky 1): chuyen ly ky ve la so tu vi hinh anh 2

 Nguyễn Văn Thiệu và Nixon trong cuộc gặp trên đảo Midway ngày 8/6/1969.

Ngày sinh 5/4/1923 chẳng ăn nhập gì đến yếu tố Tý, chính xác rơi vào ngày Mậu Thân, tháng Ất Mão, năm Quý Hợi. Người có lá số  này  “tuổi thơ nghèo khổ, ít học, nhưng khôn ngoan và ương ngạnh. Tuy háo sắc nhưng rất kín đáo để che giấu tình cảm. Là người có vóc dáng thanh tú, điềm đạm, thông minh, mưu trí và nhất là biết chụp thời cơ. Có khiếu về văn nghệ và ngoại ngữ, lấy vợ sớm và phải có người mai mối”. Về tính cách, “đây là người ôn hòa, mềm mỏng, đa nghi, có nhiều mưu trí. Suốt cả cuộc đời đều được yên thân và hưởng giàu có sau 33 tuổi. Khuyết điểm của người tuổi này là: chủ quan, liều lĩnh, thô bạo, nóng nảy…”.

Tử vi Tây phương cho tuổi Quý Hợi (1923) xác định ông Thiệu tuổi Miên Dương (Aries), mang các đặc điểm: “Mạng Hỏa tinh (Mars, thần Chiến tranh),  là người nghị lực, rất can cường, tự tin, cá tính độc lập, có tài lãnh đạo nhưng độc tài, hiếu thắng và liều lĩnh. Mạng hỏa  nên rất có uy quyền, óc sáng tạo, có tài ngoại giao nhờ ăn nói bặt thiệp. Người tuổi này hợp với việc điều binh, khiển tướng…”.

Quả thật, ông Thiệu mồ côi cha từ năm 11 tuổi, tuổi thơ khá vất vả. Học xong lớp 9, Nguyễn Văn Thiệu rời quê vào Sài Gòn, tá túc tại nhà người anh cả là Nguyễn Văn Hiếu (thời đệ nhị Cộng hòa là đại sứ VNCH tại Italia) để học nghề ở Trường Kỹ thuật Đỗ Hữu Vị. Sau đó, ông Thiệu được người anh này giúp đưa vào học trường dòng của Pellerin của Pháp tại Huế. Sau năm 1945, ông  vào Sài Gòn nhờ ông Nguyễn Văn Hiếu xin cho học trường Hàng hải.

Nguyễn Văn Thiệu quả thật có duyên với đường binh nghiệp và thăng tiến rất nhanh. Pháp chủ trương “Việt Nam hóa chiến tranh”, hà hơi tiếp sức cho Bảo Đại lập nên cái gọi là Quân đội Quốc gia Việt Nam, Thiệu ghi tên vào học khóa sĩ quan khinh quân đầu tiên và trở thành thiếu úy trong Quân đội Liên hiệp Pháp vào năm 1949.

Năm 1955, Quân đội VNCH được thành lập, Nguyễn Văn Thiệu đã đeo lon trung tá, giữ chức Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Đà Lạt. Lúc này ông Thiệu 33 tuổi, theo tuổi âm. Không lâu sau đó, ông ta lại được Ngô Đình Diệm thăng hàm đại tá, cất nhắc vào vị trí Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh, thay cho Đại tá Woòng A Sáng, một tay chỉ huy thiện chiến nhưng bất trị mà Diệm luôn nghi ngại.

Năm 1951, Thiệu cưới vợ, bà Nguyễn Thị Mai Anh, con gái một gia đình Công giáo toàn tòng ở Mỹ Tho, Tiền Giang. Do đó, năm 1957, Nguyễn Văn Thiệu được rửa tội và trở thành tín đồ Thiên Chúa giáo. Mai mối cho cuộc hôn nhân là Đặng Văn Quang, một người  bạn đồng ngũ. Bà Mai Anh là cháu họ của Đặng Văn Quang. Khi Nguyễn Văn Thiệu làm Tổng thống, Đặng Văn Quang đeo lon trung tướng, được Thiệu mời làm Cố vấn Tổng thống về quân sự, Phụ tá An ninh và Tình báo Quốc gia, Tổng thư ký Hội đồng An ninh Quốc gia, trở thành người có quyền lực hàng thứ 4 trong hàng  ngũ quyền lực cao nhất  ở  miền Nam.

Nguyễn Văn Thiệu quả thật  rất có  khiếu ngoại ngữ. Thời đi học, vốn tiếng Pháp của ông không tồi. Tiếng Anh, ông ta chỉ học qua các phụ tá của  mình, không theo lớp nhưng rất giỏi. Trong hồi ký “Từ Tòa Bạch Ốc đến Dinh Độc lập”, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng có đề cập đến chuyện  ngày 8/6/1969, trong cuộc gặp thượng đỉnh với Tổng thống Mỹ R. Nixon tại đảo Midway ở Thái Bình Dương để bàn về vấn đề Việt Nam hóa chiến tranh, Nguyễn Văn Thiệu đã tranh luận trực tiếp bằng tiếng Anh trong 8 giờ liền mà không cần phiên dịch.

Riêng về chuyện “háo sắc nhưng rất kín đáo để che giấu tình cảm” của ông thì trước năm 1975, báo chí đối  lập đã phanh phui khá nhiều, với người dân miền Nam thời đó đã không còn là chuyện lạ. Ngoài ra, ông còn là người có  năng khiếu văn nghệ, từng tham gia thủ trống biểu diễn trong một cuộc giao lưu với Hướng đạo sinh tại Suối Tiên vào năm 1972…

Tuy nhiên, Đại tá Đỗ Mậu, nguyên Giám đốc Nha An ninh Quân đội thì luôn tin rằng Nguyễn Văn Thiệu sinh vào nửa đêm (giờ Tý) ngày 24/12/1924, tức ngày 28/11 âm lịch, nhằm vào ngày Đinh Sửu, tháng Bính Tý của năm Giáp Tý. Đỗ Mậu là  người rất am tường khoa “Tử vi đẩu số”. Theo ông, Nguyễn Văn Thiệu không chỉ “trùng tam Tý” mà còn “trùng tứ Tý”.  Trong hồi ký “Việt Nam máu lửa quê hương tôi” (được in  trong nước dưới tựa “Tâm sự tướng lưu vong” – NXB Công an nhân dân 1994), ông viết: “Thiệu sinh tuổi Giáp Tý (1924), sinh vào giờ Tý (nửa đêm), tháng Tý (tháng 11 Âm lịch) và cung Mệnh Viên cũng nằm ở Tý.

Lại nữa, mệnh của Thiệu là mệnh Kim mà lại nằm vào cung Thủy là đắc cách. Năm 1965, khi Thiệu đúng 41 tuổi đi vào cung Thổ, mà Thổ lại sinh Kim, lại gặp Khoa, Quyền, Lộc, Binh, Hình, Tướng, Ấn hội chiếu là thượng cách, vì thế Thiệu giữ chức Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, rồi sau đó lên chức Tổng thống. Vì cung Phúc Đức là gốc của lá số cho nên tuy hết làm Tổng thống mà Thiệu vẫn được thụ hưởng giàu sang, an nhàn cho đến năm 1985, nghĩa là vào hạn Chính Hòa ở cung Ngọ”.

Khi nhóm tướng lĩnh âm mưu đảo chính anh em Ngô Đình Diệm, Sư đoàn 5 do Thiệu chỉ huy vẫn đóng ở Biên Hòa.  Khi có sự cố, đó chính là đơn vị có thể điều quân cơ động, nhanh chóng nhất về Sài Gòn, cho dù là để tấn công hay phòng thủ, giải vây. Nhóm tướng lĩnh đảo chính đã tìm đủ cách để lôi kéo Nguyễn Văn Thiệu tham gia vào âm mưu, chí ít cũng là án binh bất động không can thiệp, để đề phòng bất trắc. Đại tá Đỗ Mậu, một trong những “công trình sư” chủ chốt của âm mưu  đảo chính anh em Diệm – Nhu đã trực tiếp đứng ra lo liệu việc lôi kéo Nguyễn Văn Thiệu.

Biết viên tư lệnh trẻ là người nặng đầu óc mê tín, rất tin vào tướng số, Đỗ Mậu đã đút tiền cho thầy chiêm tinh Huỳnh Liên trên đường Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần), người được mệnh danh là Quỷ Cốc tiên sinh để tay này “vẽ bùa”  Nguyễn Văn Thiệu, do chính Đỗ Mậu dắt tới. Quỷ Cốc tại thế phán: “Thầy cầm tinh Giáp Tý, năm Quý Mão (1963) tất gặp chông gai. Thầy phải đích thân đứng ra đẩy bật tảng đá chắn đường mình đi, nếu không thì mạng vận của thầy sẽ bị tảng đá này đè nát”.

Thiệu tin sái cổ. Quỷ Cốc tiên sinh còn phán thêm: “Số phần đã vạch, thầy chớ có nhị tâm mà rước họa vào thân, chết không toàn mạng”. Theo yêu cầu của thầy tướng số – mà kỳ thực là yêu cầu của chính Đỗ Mậu – Nguyễn Văn Thiệu đã líu ríu thề độc sẽ theo phe đảo chính, chính thức ký tên vào danh sách những kẻ sẽ nhúng tay vào máu anh em Ngô Đình Diệm.

Một nguồn thông tin khác lại cho rằng, tuổi “Tý trùng” của Nguyễn Văn Thiệu hoàn toàn là bịp bợm. Người ngụy tạo ra nó là một bác sĩ, nhân viên tình báo thời đệ nhất Cộng hòa tên là Trần Đại Sỹ, ông này từng sắm vai ký giả, ký bút danh Trần Hoàng Quân, từng là trưởng nhóm nghiên cứu Tử Vi Đông A. Việc ngụy tạo được tiến hành theo đơn đặt hàng của dược sĩ Nguyễn Cao Thăng trước khi đảo chính anh em Diệm nổ ra.

Sau này, sống lưu vong tại Pháp, ông Trần Đại Sỹ có xuất bản cuốn “Tử Vi cho tuổi Tý”, không tiếc lời mạt sát lá số thật của Nguyễn Văn Thiệu. Ông ta cũng xin lỗi các “cao thủ” khác trong nghề “xủ quẻ” và thú nhận thời trẻ nông nổi, ham danh lợi nên ông ta đã làm bậy, nhắm mắt chấm cho Nguyễn Văn Thiệu một lá số có mạng đế vương!

Điều kỳ lạ là sau này, Nguyễn Văn Thiệu lại tuyệt đối tin rằng ông ta có chân mạng “tứ Tý quý trùng”, nhất nhất xây dựng cơ đồ quyền lực trên nền tảng của một trò bịp bợm!

(Còn nữa…)Theo PV (An ninh Thế giới)

Nguyễn Văn Thiệu (Kỳ 2): Mạng “tứ Tý quý trùng”

http://danviet.vn/dong-tay-kim-co/nguyen-van-thieu-ky-2-mang-tu-ty-quy-trung-1036263.html

Đầu năm 1975, Quân Giải phóng đã đánh chiếm Phước Long, “Giáp Tý Kị Ất Mão” như lời thầy tử vi phán cho đời Thiệu bắt đầu.

Những kẻ từng ca tụng Nguyễn Văn Thiệu lên mây như một Tổng thống chống Cộng khét tiếng chắc sẽ bật ngửa khi biết xuất phát điểm, gia đình Thiệu lại có cảm tình và từng… ủng hộ Cộng Sản.

Người từng nêu ra và xác nhận quan điểm này là ông Nguyễn Văn Hoàng, tức nhà tình báo lỗi lạc Hoàng Đạo, người nổi tiếng với chiến công tình báo nổ mìn phá hỏng Thông báo hạm Amyot d’Inville của Pháp trên biển Sầm Sơn, Thanh Hóa (1950). Cuối  năm 1933, ông Nguyễn Văn Hoàng đã được Đảng Cộng sản cử từ depot xe lửa Dĩ An ra depot xe lửa Tháp Chàm chỉ huy phong trào đình công của công nhân đường sắt. Mật thám Pháp chờ sẵn, bắt Nguyễn Văn Hoàng tại depot Tháp Chàm và đưa lên giam giữ tại nhà thương Phan Rang, định từ đó đưa về Sài Gòn xét xử.

Tin liên quan

nguyen van thieu (ky 2): mang “tu ty quy trung” hinh anh 1

Nguyễn Văn Thiệu (Kỳ 1): Chuyện ly kỳ về lá số tử vi

Cuộc biểu tình của công nhân đường sắt đòi thả Nguyễn Văn Hoàng đã được quần chúng nhân dân nhiều ngành nghề khác ủng hộ, biến thành một cuộc đấu tranh lớn. Mật thám nhượng bộ, phải thả, Nguyễn Văn Hoàng được hàng ngàn dân chúng hộ tống, đã quay lại Tháp Chàm tổ chức một cuộc diễn thuyết hô hào đấu tranh tại cầu Bảo, ngay trước Biệt điện Bảo Đại.

Trong  số các nhân sĩ, trí thức các tổng An Sơn, Ninh Hải, An Phước (tỉnh Ninh Thuận) đến dự có ông Nguyễn Văn Chung, cha của Nguyễn Văn Thiệu. Khi đi nghe diễn thuyết, ông Chung có cõng theo cậu con trai Nguyễn Văn Thiệu, lúc đó mới 10 tuổi.

Lương thực dự trữ cho công nhân đấu tranh cạn dần, ông chủ hãng buôn Hiệp Thạnh Võ Văn Vi ở Phan Rang và ông Nguyễn Văn Chung ở Tri Thủy đã tặng cho công nhân đấu tranh một số tiền đủ mua 600 kg gạo. Cô chủ nhà máy xay Cầu Bảo cũng “học tập”, không những không lấy tiền xay xát mà còn góp thêm cho anh em công nhân một số gạo để cho tròn 1 tấn.

Một người anh ruột của Nguyễn Văn Thiệu là Giáo sư Nguyễn Văn Kiểu (sau này làm Đại sứ VNCH tại Đài Loan), khi còn dạy học tại khu vực chợ Bàn Cờ cũng thường xuyên tham gia phong trào đấu tranh, bãi thị, bãi khóa và biểu tình của sinh viên – học sinh nhằm đuổi tàu chiến Mỹ ra khỏi cảng Sài Gòn (1-1950).

Riêng Nguyễn Văn Thiệu, ngay từ bé đã tỏ ra là một người đa nghi, thận trọng. Năm 1949, Thiệu trở thành một sĩ quan trong quân đội Liên hiệp Pháp, chống lại Việt Minh, đứng hẳn sang bên kia chiến tuyến với những người Cộng sản. Chọn quan lộ, Thiệu đã rời bỏ truyền thống và khuynh hướng của gia đình.

Cựu Đại tướng VNCH Cao Văn Viên từng nhận xét: “Ông Thiệu có phẩm chất  của một mưu sĩ”. Nghĩa là ông ta thức thời, biết nắm bắt và khai  thác cơ hội để thăng tiến nhanh, vì thế  Nguyễn Văn Thiệu đã phải vứt bỏ yếu tố đạo đức sang một bên.

Chọn Nguyễn Văn Thiệu để trao chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 5, chứng tỏ Ngô Đình Diệm rất tin cậy và ưu ái đối với viên sĩ quan trẻ tuổi này. Đáp lại ân sủng, ngày 1/11/1963, Nguyễn Văn Thiệu đã đưa Sư đoàn 5… bao vây và tấn công Dinh Gia Long để buộc anh em Ngô Đình Diệm – Ngô Đình Nhu phải đầu hàng. Sau này, Thiệu lấp  liếm rằng ông ta chỉ ra lệnh  bắn vào Dinh Gia Long khi đã biết chắc Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu đã thoát ra ngoài!

nguyen van thieu (ky 2): mang “tu ty quy trung” hinh anh 2

 Nguyễn Văn Thiệu và Kissinger tại Dinh Độc Lập.

Sau đảo chính, Thiệu được phong hàm Thiếu tướng. Chỉ hơn một năm sau, năm 1965, Thiệu lại được gắn lon Trung tướng.  Nhờ có sự hậu thuẫn của nhóm tướng trẻ, Thiệu đã được bầu làm Chủ tịch Hội đồng lãnh đạo Quốc gia, trở thành Quốc trưởng của miền Nam. Trên cương vị này, ngày 31/10/1966, Nguyễn Văn Thiệu đã đứng chủ tọa, cắt băng khánh thành Dinh Độc Lập. Nguyên thủy, nó là Dinh Norodom, bị 2 phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc lái 2 máy bay AD6 ném bom đánh sập vào ngày 27/2/1962.

Đầu tháng 7/1962, Ngô Đình Diệm quyết định xây dựng lại dinh còn bản thân ông và gia đình người em Ngô Đình Nhu thì dọn sang sống tạm bên Dinh Gia Long (nay là Bảo tàng Tp HCM). Ngô Đình Diệm đã không bao giờ còn cơ hội quay lại chốn quyền lực cũ.

Ám ảnh về sự trả thù và lo sợ bị đảo chính, Nguyễn Văn Thiệu đã hai lần tổ chức cầu siêu theo nghi lễ Thiên Chúa giáo cho anh em cố Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Vẫn chưa yên, năm 1967, ông ta lại cho triệu một thầy địa lý người Hoa vào Dinh Độc Lập yểm bùa. Thầy phán: “Dinh được xây trên long mạch, trấn ngay vị trí đầu rồng. Đuôi rồng nằm cách đó non 1km, rơi vào vị trí Công trường Chiến Sĩ. Cần phải dùng một con rùa lớn yểm đuôi rồng lại, sự nghiệp của Tổng thống mới mong bền vững”.

Nguyễn Văn Thiệu tin theo, cho xây hồ nước tại công trường thành hình bát giác, từ trên cao nhìn xuống giống hệt ô bát giác trên mai rùa. Vị trí của hồ được đặt ngay chính vị trí cửa Khảm Khuyết của thành Gia Định xưa (còn gọi là thành Bát quái hay thành Qui). Giữa trung tâm hồ nước là một đài tưởng niệm, trên có đúc một con rùa lớn bằng kim loại đội bia ở trên lưng và một cột cao có hình cánh hoa xòe ở phía trên, xem như một chiếc đinh đóng xuống giữa hồ để ghim đuôi rồng lại! Năm 1972, Công trường Chiến sĩ được đổi tên thành Công trường Quốc tế, dân Sài Gòn vẫn quen gọi đó là hồ Con Rùa.

Bày trò bầu cử độc diễn, ngày 6/3/1971, Thiệu tuyên bố tái đắc cử ghế Tổng thống với tỉ lệ 94,36% số phiếu và được Tối cao Pháp viện Sài Gòn công nhận kết quả vào ngày 22/10/1971. Để tạ ơn, Thiệu đã đưa gia đình về quê thắp hương mộ tổ. Ông cho gom mồ mả của dòng họ cải táng về một nghĩa trang lập riêng sau Trường tiểu học Dư Khánh và lệnh cho tỉnh trưởng Ninh Thuận phải thường xuyên cắt hai lính bảo an ôm súng đứng gác.

Ông cũng cho sửa sang lại Trùng Sơn tự trên đỉnh núi và Văn Thánh miếu ở lưng chừng núi Đá Chồng nằm giữa hai xã Khánh Hải và Văn Hải. Trùng Sơn tự là nơi mẹ của Tổng thống chọn làm nơi quy y cửa Phật lúc xế chiều. Còn Văn Thánh miếu, đó là nơi thờ tự, lễ lạt của những thành viên Hội Khổng học Ninh Thuận. Ông muốn chứng tỏ, dù đã cải sang đạo Thiên Chúa, mang tên Thánh Martino Nguyễn Văn Thiệu, ông vẫn chưa hề quên truyền thống Nho học của gia đình.

Mục đích chính, Nguyễn Văn Thiệu muốn đưa thầy địa lý theo chấm, trấn, yểm long mạch trên núi Đá Chồng, nhằm bảo vệ sự vững bền cho ngôi vị Tổng thống. Chóp phía bắc ngọn núi  Đá Chồng có một tảng đá rất lớn, hình lưỡi dao, gọi  là Hòn Đá Dao, được thầy phán là vật “yểm mệnh” của Tổng thống. Ngọn Đá Dao đứng chênh vênh nhìn về phía đông bắc, hướng thôn Dư Khánh, quê Thiệu. Ngay trước mặt nó còn có 3 tảng đá lớn chồng lên nhau, dân gian gọi là tảng đá Mặt Quỷ.

Để “ém” long mạch ngay phía trước mặt hai tảng Đá Dao và Mặt Quỷ, Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho tỉnh trưởng tỉnh Ninh Thuận điều một trung đội Công binh gấp rút xây lại Văn Thánh miếu thành 3 ngôi nhà lớn tạo hình chữ Công (I),  án chóp phía bắc núi Đá Chồng, sau đó làm gấp một con đường trải nhựa chạy thành hình vòng cung từ dưới tỉnh lộ lên đến Văn Thánh miếu. Công trình hoàn tất, một trung đội Biệt động quân đã được điều về để ngày đêm bảo vệ.

Âm dương bài bố đầy đủ, Nguyễn Văn Thiệu yên tâm, hứng khởi và tin tưởng đến mức gửi trọn tiền đồ quốc gia cho những phán truyền sấp ngửa. Đầu xuân năm 1972, theo lệnh của Nguyễn Văn Thiệu, Đại tá Trần Văn Lâm Giám đốc Việt Tấn xã đã long trọng mời 3 ông thầy Huỳnh Liên, Minh Nguyệt và Khánh Sơn – lên đài truyền hình nói trước dân chúng về vận mạng quốc gia. Cả 3 thầy đều thao thao bất tuyệt về “một nền hòa bình vĩnh cửu đang đến rất gần”, về “quốc gia may mắn có một vị tổng thống anh minh và sáng suốt, có chân mạng đế vương tất sẽ lãnh đạo binh sĩ và dân chúng giành thắng lợi tuyệt đối trước Cộng sản”.

Đầu năm 1975, Quân Giải phóng đã đánh chiếm Phước Long, “Giáp Tý Kị Ất Mão” như lời thầy tử vi phán cho đời Thiệu bắt đầu. Nhưng trên mặt báo vẫn còn có những kẻ xu nịnh ca tụng “quý số” và tài năng của ông Thiệu hết lời, đại loại như: “Người lãnh tụ phải biết trị quốc. Cụ Ngô Đình Diệm cầm quyền 9 năm bị 2 lần đảo chánh, vậy không biết trị quốc và quá tin người nên chết thảm. Đại tướng Dương Văn Minh cầm quyền 3 tháng bị 1 lần đảo chánh, vì không biết trị quốc nên thân bại danh liệt. Nguyễn Khánh cầm quyền 13 tháng, Phan Huy Quát 5 tháng, Nguyễn Cao Kỳ 2 năm, tất cả đều bị lật đổ, vậy không biết trị quốc nên sự nghiệp tiêu tùng. Riêng ông Nguyễn Văn Thiệu cầm quyền 10 năm không một lần đảo chánh, vậy là người biết trị quốc – xứng danh là lãnh tụ” (!)

Đùng một phát, từ lưng chừng núi, ngọn Đá Dao – linh vật giữ vận mạng đời Thiệu như lời thầy phán bị vỡ đôi lăn lông lốc xuống, đánh vỡ ba hòn đá Mặt Quỷ và lăn xuống chân núi giữa một chiều không mưa, trời quang mây  tạnh…

Đại tá Võ Thứ, hiện nay là Trưởng Công an TP Phan Rang – Tháp Chàm, Ninh Thuận thuật lại: Tiết Kinh trập (sâu nở) mùa xuân năm 1975, toàn vùng Văn Sơn, Bình Sơn, Khánh Hải, Ninh Chữ đột nhiên xảy ra một trận thiên địch lớn chưa từng thấy. Hàng đàn sâu các loại xuất hiện dày đặc, quét hết đợt này, đợt khác lại xuất hiện. Tại núi Đá Chồng, trong các hốc đá của hòn Đá Dao bị vỡ, sâu và bọ hung cũng xuất hiện lũ lượt. Chúng túa ra, bò hàng đàn qua lộ và nối nhau mất hút ra phía biển. Dân chúng kháo nhau: vận ông Thiệu đã hết.

Ngày 2/4/1975, Nha Trang giải phóng. Các sắc lính VNCH cuống cuồng kéo nhau theo Quốc lộ 1 chạy về phía Phan Rang. Theo đề xuất của tướng Feredrich C.Weyand – Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ, đến Sài Gòn ngày 28/3/1975, Nguyễn Văn Thiệu quyết định lập phòng tuyến Phan Rang để chặn bước tiến của Quân Giải phóng. Thiệu ra lệnh sáp nhập 2 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận của Quân khu II vào Quân khu III, lập Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn III, cử Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi làm Tư lệnh, đại bản doanh đặt tại Sân bay Thành Sơn, Phan Rang. Trên khắp mặt trận mới mở thuộc hai tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Thiệu đã ném vào canh bạc cuối cùng hơn 75.000 quân các loại.

Nhưng chỉ hai tuần sau đó, sức tiến công vũ bão của Quân Giải phóng đã đập nát tuyến phòng thủ Phan Rang, bắt sống 1.665 binh sĩ VNCH, 11 xe tăng, thiết giáp và 51 máy bay nguyên vẹn. Ngày 16/4/1975, tại xóm Dừa, phường Đô Vinh (Tháp Chàm) Bộ Tư lệnh tiền phương của Quân đoàn III VNCH gồm Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang và toàn bộ sĩ quan tùy tùng đã bị bắt gọn trên 3 chiếc xe bọc thép. Trước đó, ngày 13/4/1975, trung đội lính bảo vệ núi Đá Chồng đã bắn chết người cai quản Văn Thánh miếu, rồi xô vào đập nát các bệ thờ, cạy cả mái ngói để “tìm vàng ông Thiệu giấu”.

Ngày 21/4/1975, Nguyễn Văn Thiệu đã phải ngậm ngùi lên đài đọc lời từ chức, thú nhận sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn và chính bản thân ông ta, để rồi sau đó chạy ra nước ngoài sống hết những năm còn lại trong kiếp lưu vong không Tổ quốc.

Thầy số Huỳnh Liên – nhân vật nắm chặt tử vi của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu số  phận còn bi thảm hơn. Không chỉ đoán sai bét vận mệnh “quý tướng” của ngài Tổng thống, ông thầy “đại tài” còn mù tịt, chẳng đoán được tí gì về số phận của chính bản thân. Quân giải phóng làm chủ Sài Gòn, thầy đoán không ra nên không kịp di tản để tháo thân. Ở lại không lâu, nhâm cầm độn toán trật lất, thầy rước hai gã thợ điện về sửa nhà (ở Sông Bé) mà không hay đó là hai thằng kẻ cướp giả dạng. Thánh không vật tội một đời bịp bợm, nhưng thầy lại bị hai thằng cướp đè ra siết cổ bằng dây điện cho đến khi lè lưỡi chết thẳng cổ ngay giữa ban ngày!

Theo PV (An Ninh Thế Giới)

'Lịch sử Việt Nam' đã nhìn nhận lại chiến tranh biên giới phía Bắc

https://tuoitre.vn/lich-su-viet-nam-nhin-nhan-lai-chien-tranh-bien-gioi-phia-bac-1371610.htm

TTO – Sáng 18-8, nhiều bộ sách đồ sộ được giới thiệu ở HN như Văn hoá biển đảo VN, 400 chữ quốc ngữ – sự hình thành, phát triển và đóng góp vào văn hoá VN, Lược sử Việt ngữ học… nhưng bộ Lịch sử VN thu hút sự quan tâm nhất…

Bộ Lịch sử Việt Nam tái bản lần thứ nhất gồm 15 tập với nhiều điểm mới – Ảnh: V.V.TUÂN
Lịch sử Việt Nam là bộ sử dựa trên những thành quả nghiên cứu mới nhất và khắc phục được những khiếm khuyết trước đây. Bộ sử phản ánh toàn diện lịch sử Việt Nam từ chính trị, kinh tế, ngoại giao, quân sự, an ninh quốc phòng, văn hóa, xã hội… Có thể nói đây là bộ sử đáp ứng được yêu cầu việc hiểu biết về lịch sử, văn hóa Việt Nam.
PGS.TS ĐINH QUANG HẢI (viện trưởng Viện Sử học)

Bộ Lịch sử Việt Nam gồm 15 tập với hơn 10.000 trang được xem là bộ thông sử quy mô chưa từng có từ trước đến nay ở Việt Nam, từ thời khởi thủy đến những năm 2000 và có nhiều điểm mới trong các đánh giá.

Bên cạnh bộ Lịch sử VN (15 tập), các bộ sách khác được giới thiệu trong sáng 18-8 gồm: bộ Lịch sử VN (15 tập), Văn hoá biển đảo VN, Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh (60 tác phẩm), 400 chữ quốc ngữ – sự hình thành, phát triển và đóng góp vào văn hoá VN, Lược sử Việt ngữ học, Hiên ngang Trường Sa…

GS Lê Hồng Lý, nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hoá giới thiệu bộ sách Văn hoá biển đảo VN dưới góc nhìn văn hoá dân gian, tuyển chọn 189 bài viết, được trình bày có hệ thống theo từng thành tố của khoa học nghiên cứu văn hoá dân gian liên quan đến biển đảo VN.

Ông nói cùng với chính trị, quân sự thì văn hoá cũng là một cách khẳng định chủ quyền biển đảo. Ông lấy một dẫn chứng trong bộ sách là lễ khao lề thế lính vừa là nghi lễ nhân văn vừa là minh chứng rõ nhất khẳng định chủ quyền của VN với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. 

Bộ sách Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh giới thiệu đến độc giả những ấn phẩm tiêu biểu như: cốt cách Hồ Chí Minh, Văn hoá minh triết Hồ Chí Minh, Tấm gương tự học của Bác Hồ…

Đây là những câu chuyện chân thực, sinh động về chủ tịch Hồ Chí Minh của các tác giả trong và ngoài nước.

“Trong lúc nhân dân ta còn đang gặp rất nhiều khó khăn mà tôi lại thấy có rất nhiều địa phương xây tượng đài Hồ Chí Minh. Sinh thời Người chắc chắn không đồng ý với việc này”, ông Nguyễn Xuân Trường, Giám đốc – Tổng biên tập NXB Thanh Niên chia sẻ khi giới thiệu bộ sách về Bác Hồ.  

Tôi là người chủ biên các tập về lịch sử cận đại trong bộ Lịch sử Việt Nam. Công trình này cho thấy rõ bức tranh về lịch sử cận đại Việt Nam gồm cả hai mặt, một mặt gồm sự hiện diện của chủ nghĩa thực dân với tất cả những tiêu cực mà nó đem đến cho người bản xứ và những mặt “tích cực ngoài ý muốn” mang đến cho Việt Nam như về văn hóa, yếu tố hiện đại của kinh tế thị trường…
TS TẠ THỊ THÚY (Viện Sử học, chủ biên ba tập trong bộ Lịch sử Việt Nam)

Sách 400 năm chữ quốc ngữ – sự hình thành, phát triển và đóng góp vào văn hoá VN góp phần làm rõ những vấn đề sự hình thành, biến đổi và định dạnh chữ quốc ngữ; dấu ấn các địa phương và phương ngữ trong chữ quốc ngữ; vai trò chữ quốc ngữ trong sự phát triển tiếng Việt; hạn chế và bất hợp lý của chữ quốc ngữ…

Sách cũng nói đến những đề xuất cải tiến chữ quốc ngữ, xây dựng chuẩn cho chữ quốc ngữ. Sách Lược sử Việt ngữ học, nghiên cứu sự hình thành và phát triển của Việt ngữ học trong thời gian hàng nghìn năm đến nay. Đây là ngành khoa học nghiên cứu tiếng Việt. 

Đáng chú ý bên các bộ sách đồ sộ trên là cuốn sách ảnh mang tính thời sự Hiên ngang Trường Sa của tác giả Trần Quốc Dũng.

Sách gồm hơn 200 bức ảnh với ba phần: Con người và cuộc sống Trường Sa, Vững mạnh để bảo vệ Trường Sa, Cả nước sát cánh cùng Trường Sa. Tác giả trình bày ảnh theo phong cách ấn tượng, thu hút sự quan tâm của người xem. 

Nhìn thẳng vào sự thật là cách khôn ngoan nhấtThực tiễn hôm nay đòi hỏi chúng ta phải có cái nhìn khách quan, công bằng hơn.

Đó là một xu thế làm sử, mà bộ Lịch sử Việt Nam là trải nghiệm đầu tiên và chắc chắn được thể hiện rõ hơn trong bộ Lịch sử Việt Nam (25 tập) mà chúng tôi đang làm.

Lịch sử diễn ra một lần, nhưng nhận thức là một quá trình.Lùi lại một thời gian, chúng ta sẽ có cái nhìn khách quan hơn.

Trước đây, trong thời gian rất dài chúng ta thực hiện việc phản đế, phản phong nên bất cứ thứ gì có liên quan đến phong kiến là chúng ta phê phán.

Nhưng dần dần, quy luật của cuộc sống đòi hỏi chúng ta phải có cái nhìn khách quan hơn.

Nếu cứ nói chính quyền nhà Nguyễn là “ngụy” thì chúng ta sẽ bảo vệ chủ quyền thế nào khi chủ quyền được trao truyền qua nhiều thế hệ khác nhau?
Và nếu gọi chính quyền Việt Nam cộng hòa là “ngụy” thì những tuyên bố bảo vệ chủ quyền dân tộc còn giá trị không?

Ta phải nhìn nhận lại tất cả hiện tượng đã xảy ra trên tinh thần khách quan, công bằng. Như trước đây có những khoảng trống lịch sử chúng ta né tránh, không phân tích đến nơi đến chốn như hiện tượng thuyền nhân Việt Nam, cuộc cải cách ruộng đất…

Nhìn thẳng vào sự thật là cách khôn ngoan nhất.Bộ Lịch sử Việt Nam của Viện Sử học cũng trên tiến trình ấy, cũng là bước tiến mới nhưng thực tiễn đòi hỏi cao hơn.

Nhà sử học DƯƠNG TRUNG QUỐC

VŨ VIẾT TUÂN ghi

Hải chiến Hoàng Sa 1974 sẽ có trong sách sử Việt Nam

https://tuoitre.vn/hai-chien-hoang-sa-1974-se-co-trong-sach-su-viet-nam-1372861.htm

TTO – Bên cạnh bộ Lịch sử Việt Nam do Viện Sử học thực hiện và đã ra mắt còn có bộ Lịch sử Việt Nam (gồm 25 tập thông sử và 5 tập biên niên sự kiện) là đề án cấp nhà nước, do GS Phan Huy Lê làm chủ nhiệm.

*** Error ***
Bốn chiến hạm của hải quân Việt Nam cộng hòa tham dự trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 – Ảnh tư liệu
Thay đổi cách gọi đối với chế độ Việt Nam cộng hoà là thái độ khách quan của những người làm sử, bởi Việt Nam cộng hoà là một thực thể đã tồn tại trong lịch sử nước ta.Không dùng cách gọi mang màu sắc chủ quan là đúng đắn và thể hiện tinh thần hoà hợp, hoà giải dân tộc.

Tôi mong rằng, đồng bào ở hải ngoại cũng nên có cách nhìn nhận khách quan về các thực thể chính quyền đã từng tồn tại ở Việt Nam trong giai đoạn lịch sử 1954-1975.

Thời kỳ đó, trên lãnh thổ Việt Nam hình thành hai chế độ Việt Nam dân chủ cộng hoà ở miền Bắc và Việt Nam cộng hoà ở miền Nam.Bỏ qua sự khác nhau về ý thức hệ thì mỗi chế độ đều lo phát triển kinh tế, đảm bảo cuộc sống của người dân, đảm bảo chủ quyền của đất nước. Những việc này phải mô tả việc khách quan trong lịch sử.  
GS NGUYỄN MINH THUYẾT (nguyên phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội)

Đề án huy động hơn 250 nhà khoa học lịch sử, một số chuyên gia nước ngoài cùng một hội đồng khoa học gồm 21 nhà khoa học làm nhiệm vụ tư vấn.

Trả lời Tuổi Trẻ, GS.TSKH VŨ MINH GIANG (phó chủ nhiệm đề án Nghiên cứu và biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam) cho biết sẽ có những điểm mới trong bộ quốc sử đang được triển khai.

* Bộ thông sử quốc gia này sẽ có những điểm gì mới, thưa ông?

GS.TSKH VŨ MINH GIANG – Ảnh: NVCC 

– Bộ thông sử sau khi hoàn thành sẽ được công bố trước dư luận trong nước và quốc tế là bộ sử tầm cỡ quốc gia.

Một trong những điểm mới căn bản của việc biên soạn bộ sử này là đề cao nguyên tắc toàn bộ (Entire history) và toàn diện (Complete history), đồng thời cố gắng cập nhật những kết quả nghiên cứu mới nhất về lịch sử Việt Nam cả trong và ngoài nước.

Nguyên tắc toàn bộ, hay còn gọi là lịch sử đầy đủ, là trình bày đầy đủ các biến cố lịch sử quan trọng từng diễn ra trên lãnh thổ nước mình một cách khách quan, khoa học.

Việt Nam là quốc gia có lịch sử lâu đời với những nội dung vô cùng phong phú.

Tuy nhiên, vì nhiều lý do, suốt một thời gian dài trước đây các bộ lịch sử Việt Nam thường được trình bày theo hướng nhấn mạnh dòng chảy của lịch sử người Việt (Kinh).

Theo đó, các nền văn minh và các vương quốc cổ đại phía Nam được thể hiện rất mờ nhạt, thậm chí hoàn toàn thiếu vắng trong các bộ thông sử.

Và trong thời hiện đại, bên cạnh Nhà nước cách mạng từng tồn tại những thực thể chính quyền như chính phủ quốc gia Việt Nam, Việt Nam cộng hòa.Nếu bỏ qua, không nhắc tới những thực thể lịch sử này sẽ dẫn tới thiếu hụt trong nhận thức lịch sử.

Tất nhiên trình bày lịch sử phải có lợi cho dân tộc, nhưng phải diễn đạt khách quan, khoa học. Bộ Lịch sử Việt Nam sẽ trình bày toàn vẹn các thực thể chính quyền đã tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam.

Chính phủ quốc gia Bảo Đại cũng sẽ được đề cập.

Ông Trần Văn Hữu, là thủ tướng chính phủ quốc gia Việt Nam, từng đứng trước hội nghị quốc tế hơn 50 nước tại San Francisco tuyên bố rõ ràng chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam. Những sự kiện này rất cần phải đưa vào sách sử.

Những thực thể lịch sử đóng góp đến mức độ nào đối với tiến trình lịch sử Việt Nam đều cần được đặt ra xem xét. Đây là lần đầu tiên bộ thông sử quốc gia đặt vấn đề này.

* Nếu vậy, trong bộ sử này có đề cập đến những câu chuyện trong lịch sử hiện đại Việt Nam như thuyền nhân Việt Nam, cải cách ruộng đất…?

– Nói tới quan điểm toàn bộ không có nghĩa là tất cả những điều chưa được nói tới trước đây đều đưa vào bộ sử này.

Không phải né tránh, nhưng khi đưa nội dung nào vào bộ sử cũng phải đảm bảo rằng sự kiện đó đã được nghiên cứu thấu đáo.

Đây là công trình khoa học nên khi chưa có nghiên cứu đầy đủ thì chưa thể thành nội dung trình bày trong bộ thông sử.

Chẳng hạn như vấn đề cải cách ruộng đất, tuy đến giờ chưa thể nói là đã có những nghiên cứu sâu sắc nhưng khi đã có những kết luận tương đối khoa học thì sẽ đưa vào.

Hoặc vấn đề thuyền nhân Việt Nam. Đó là thời kỳ mà đất nước chúng ta cực kỳ khó khăn: lạm phát phi mã đến mấy trăm phần trăm; chính trị vẫn còn những vấn đề chưa giải quyết được sau năm 1975; kinh tế thiếu đói; đời sống khó khăn. Đó là hệ quả tất yếu của câu chuyện thuyền nhân Việt Nam mà cần trình bày để mọi người chấp nhận được.

* Bộ thông sử quốc gia có nói về cuộc kháng chiến chống quân Trung Quốc xâm lược trên mặt trận biên giới phía Bắc từ năm 1979 không, thưa ông?

– Dù quan hệ giữa ta và Trung Quốc như thế nào, việc Trung Quốc huy động 600.000 quân tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam vào tháng 2-1979 là một sự kiện lớn trong lịch sử nước ta.

Bởi nếu không viết về cuộc chiến này thì truyền thống chống ngoại xâm của Việt Nam có một lỗ hổng lớn. Điều này không có lợi trong việc duy trì sức mạnh của dân tộc.

Cách định danh sự kiện có dùng cụm từ “Trung Quốc xâm lược Việt Nam” hay không thì cần cân nhắc và không quá câu nệ.

Bởi chữ “xâm lược” là từ đầy biểu cảm, hiện nay trên thế giới cũng hạn chế dùng, mà thay bằng các thuật ngữ quân sự.

* Những cuộc hải chiến bảo vệ chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam có xuất hiện trong bộ sử này hay không?

– Bộ sử sẽ đề cập toàn bộ quá trình từ khi ông cha chúng ta bắt đầu xác lập chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa đến bây giờ.

Những cuộc hải chiến bảo vệ chủ quyền hai quần đảo này của Việt Nam cũng được viết có hệ thống.

Đó là sự kiện năm 1974 Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, cuộc hải chiến năm 1988 của các chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam giữ Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

* Những quan điểm sử học mới đang được xác lập, nhưng làm sao để những thành tựu này đi vào sách giáo khoa, đến được với học sinh và đại đa số công chúng?

– Việc đưa các thành tựu sử học vào sách giáo khoa nhanh hay chậm đều tùy thuộc Bộ GD-ĐT.

Đây là việc không đơn giản, nên phải tìm cách để những thành tựu này được đến với học sinh và người dân nhanh nhất.

Thành tựu văn học nghệ thuật ở miền Nam trước năm 1975 cần được ghi nhận

Tôi đồng tình với những quan điểm phản ánh lịch sử theo đúng sự thật mà nó đã diễn ra trong quá trình phát triển của dân tộc và nhân loại.

Dù không phải là người làm sử, nhưng tôi hiểu rằng trước đây chúng ta đánh giá thấp nhà Mạc, nhà Hồ… vì chúng ta theo quan điểm phò chính thống.

Nhưng khi một triều đại suy thoái thì có một triều đại mới thay thế là điều bình thường trong lịch sử.Nên nhìn nhận xem triều đại đó có đóng góp gì và đóng góp như thế nào cho tiến trình lịch sử dân tộc.Những tác phẩm khoa học, văn học, nghệ thuật ở cả hai miền Nam – Bắc thời kỳ đó ra sao cũng cần được đánh giá công bằng. Những tác phẩm có giá trị phải được ghi nhận.

Hiện nay chúng ta nghiên cứu về văn học miền Nam dưới chế độ Việt Nam cộng hoà còn rất ít và chưa phản ánh được đầy đủ, khách quan.Những tác phẩm có giá trị nhân văn của cộng đồng 3 triệu đồng bào ở hải ngoại cũng cũng phải được nghiên cứu về đề cập.

Các nhà nghiên cứu phải nỗ lực để có thể ghi nhận được thành tựu đó ở cả hai miền.Các chế độ chính trị trong một lãnh thổ quốc gia là sự nối tiếp liên tục.Chính quyền Việt Nam cộng hoà đã tiếp nối các triều đại trước mà quản lý các vùng biển, đảo của nước ta như: dựng bia chủ quyền, cử người ra bảo vệ đảo, dựng các đài quan trắc, chiến đấu bảo vệ đảo khi có kẻ xâm lược…

Chúng ta phải thừa nhận sự khách quan ấy và đó cũng là cách khẳng định chủ quyền liên tục của VN đối với hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa.Sách giáo khoa phổ thông phải phản ánh thành tựu ổn định của giới nghiên cứu.

Nên các nhà nghiên cứu luôn là người đi trước.Những quan điểm, thành tựu mới của giới sử học trong bộ sách Lịch sử VN (Viện Sử học biên soạn) cũng phải được cập nhật trong sách giáo khoa.

Các sách giáo khoa văn học cũng phải viết về thành tựu nghiên cứu văn học ở cả hai miền Nam – Bắc bởi đó đều là tài sản chung của cả dân tộc.

GS NGUYỄN MINH THUYẾT
(nguyên phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội)

VŨ VIẾT TUÂN thực hiện

Nhà trưng bày Hoàng Sa là điểm hành hương về lòng yêu nước

https://tuoitre.vn/nha-trung-bay-hoang-sa-la-diem-hanh-huong-ve-long-yeu-nuoc-20190112164511468.htm

TTO – Sáng 12-1, UBND huyện Hoàng Sa, TP Đà Nẵng đã tổ chức Hội thảo khoa học nghiên cứu và truyền thống giáo dục về quần đảo Hoàng Sa trong giai đoạn hiện nay với sự tham dự của gần 50 các chuyên gia, nhà khoa học.

Nhà trưng bày Hoàng Sa là điểm hành hương về lòng yêu nước - Ảnh 1.

Nhà trưng bày Hoàng Sa, TP Đà Nẵng – Ảnh: ĐOÀN CƯỜNG

Theo ông Võ Ngọc Đồng – giám đốc Sở Nội vụ-Chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa, TP Đà Nẵng: cách đây 45 năm, vào ngày 19-1-1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực cưỡng chiếm và tổ chức nhiều hoạt động phi pháp trên quần đảo Hoàng Sa. 

Mặc dù bị chiếm giữ song Nhà nước Việt Nam luôn đấu tranh, tuyên truyền nhằm khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo này.

Nhà trưng bày Hoàng Sa là điểm hành hương về lòng yêu nước - Ảnh 2.

Ông Võ Ngọc Đồng – Chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa phát biểu khai mạc hội thảo – Ảnh: ĐOÀN CƯỜNG

Vị chủ tịch huyện Hoàng Sa cũng cho biết thêm, thời gian qua, Đà Nẵng đã rất quan tâm đến việc tuyên truyền, giáo dục về biển đảo. Sở GD-ĐT TP Đà Nẵng đã đưa Hoàng Sa vào chương trình giáo dục lịch sử địa phương để giảng dạy; tiếp nhận, sưu tầm, xây dựng cơ sở dữ liệu về Hoàng Sa; xây dựng Nhà trưng bày Hoàng Sa.

“UBND huyện Hoàng Sa rất mong nhận được sự đóng góp của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học về việc xây dựng cột mốc, biểu tượng về Hoàng Sa để mỗi người đến với Nhà trưng bày Hoàng Sa không chỉ được thấy những bằng chứng lịch sử mà Hoàng Sa còn là điểm hành hương về lòng yêu nước” – ông Đồng nói.

TS. Trần Công Trục – nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ cho biết: Nhà nước Việt Nam là nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa kể từ khi các quần đảo còn là đất vô chủ, chí ít cũng từ thế kỷ XVII.

“Việc chiếm hữu này là thực sự, rõ ràng, liên tục và hòa bình. Nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc lãnh thổ. Việt Nam có đầy đủ các bằng chứng lịch sử có giá trị pháp lý để chứng minh cho chủ quyền thiêng liêng với Hoàng Sa, Trường Sa” – TS. Trục nói.

Nhà trưng bày Hoàng Sa là điểm hành hương về lòng yêu nước - Ảnh 3.

TS. Trần Công Trục đồng chủ trì điều hành hội thảo – Ảnh: ĐOÀN CƯỜNG

Còn ông Bùi Văn Tiếng – Chủ tịch Hội khoa học lịch sử Đà Nẵng cho: rằng đối tượng để tuyên truyền, giáo dục về quần đảo Hoàng Sa không chỉ người Việt mà còn cả nước ngoài, nhưng chủ yếu là học sinh, sinh viên, mà trước hết là nhà trường ở Đà Nẵng.

Theo ông Tiếng, nội dung giáo dục về quần đảo Hoàng Sa cần làm cho học sinh, sinh viên Đà Nẵng hiểu rõ là người Việt đã xác lập và thực thi chủ quyền một cách hợp pháp, liên tục, phù hợp với luật pháp quốc tế từ bao đời nay với những bằng chứng vừa có giá trị pháp lý, giá trị lịch sử; Làm cho học sinh, sinh viên hiểu rõ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép từ năm 1956, nhất là đã dùng vũ lực cưỡng chiếm toàn bộ quần đảo này vào năm 1974 như thế nào…; Đà Nẵng đã tham gia vào quá trình thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa liên tục như thế nào, đã đóng góp những gì cho cuộc đấu tranh đòi lại Hoàng Sa.

Tại Đà Nẵng, từ năm học 2015-2016, Sở GD-ĐT đã biên soạn 2 tập tài liệu THCS, THPT nhưng chỉ có thể dựa vào quy định của Bộ GD-ĐT về giảng dạy lịch sử địa phương dẫn đến phải “độn” trong nội dung chung. “Đang thiếu một hành lang pháp lý cần thiết và minh bạch mang tầm cỡ quốc gia”-ông Tiếng nói.

“Với học sinh, sinh viên ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, cũng không phải chỉ biết cho có mà biết để hành động, chẳng hạn biết để mà phản ứng khi nhìn thấy tấm bản đồ Tổ quốc ở đâu đó vô tình hay cố ý thiếu Hoàng Sa, Trường Sa” – ông Tiếng nhắn nhủ.

Cũng tại buổi hội thảo, các đại biểu, các nhà khoa học đã cùng nhau trồng cây bàng vuông từ Trường Sa gửi về tặng Bảo tàng Hoàng Sa.

Nhà trưng bày Hoàng Sa là điểm hành hương về lòng yêu nước - Ảnh 4.

Các đại biểu tham dự hội thảo cùng trồng cây bàng vuông của Trường Sa gửi về tặng Bảo tàng Hoàng Sa – Ảnh: ĐOÀN CƯỜNG

ĐOÀN CƯỜNG

Nhà trưng bày Hoàng Sa thành điểm du lịch

https://dulich.tuoitre.vn/nha-trung-bay-hoang-sa-thanh-diem-du-lich-20191219173812458.htm

TTO – Nhà trưng bày Hoàng Sa (quận Sơn Trà) vừa được thành phố Đà Nẵng công nhận là điểm du lịch. Đây là nơi trưng bày các tư liệu, hiện vật về quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam hiện đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép.

Nhà trưng bày Hoàng Sa thành điểm du lịch - Ảnh 1.

Nhà trưng bày Hoàng Sa nằm trên đường Hoàng Sa, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà được công nhận là điểm du lịch của Đà Nẵng – Ảnh: TRƯỜNG TRUNG

UBND thành phố Đà Nẵng vừa có quyết định công nhận Nhà trưng bày Hoàng Sa (nằm trên đường Hoàng Sa, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà) là điểm du lịch.

UBND thành phố giao UBND huyện Hoàng Sa, Nhà trưng bày Hoàng Sa có trách nhiệm quản lý, khai thác các dịch vụ, tu bổ và nâng cấp, bảo vệ cảnh quan môi trường, công tác phòng cháy chữa cháy, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn cho khách tham quan du lịch tại điểm du lịch.

Đặc biệt lưu ý việc kịp thời phát hiện, thông báo với chính quyền địa phương và cơ quan công an các hoạt động trái mục đích, lịch trình hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác để phối hợp giải quyết.

Thành phố cũng giao chủ tịch UBND quận Sơn Trà có trách nhiệm chỉ đạo lực lượng chức năng của quận chủ trì, phối hợp hỗ trợ Nhà trưng bày Hoàng Sa trong công tác đảm bảo an ninh trật tự, an toàn cho khách tham quan du lịch, hướng dẫn thực hiện công tác bảo vệ môi trường, công tác phòng cháy chữa cháy, phân luồng giao thông trong các đợt cao điểm.

Ngoài ra, lãnh đạo thành phố cũng phân công một loạt các sở, ngành trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý điểm du lịch đã được công nhận để đảm bảo việc bảo vệ, phát triển tài nguyên du lịch, đảm bảo vệ sinh môi trường để bảo vệ an ninh trật tự, an toàn cho du khách đến tham quan.

Nhà trưng bày Hoàng Sa được xem là một biểu tượng trong hoạt động bảo vệ chủ quyền của nước ta ở Hoàng Sa. Đây là nơi lưu giữ các tư liệu lịch sử về chủ quyền của nước ta đối với quần đảo này. 

Mới đây nhất, khuôn viên khu trưng bày có thêm hiện vật là tàu cá ĐNa 90152 bị đâm chìm vào năm 2014 trong đợt Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép HD981 trong vùng biển Việt Nam.

Nhà trưng bày Hoàng Sa thành điểm du lịch - Ảnh 2.

Nguyên phó chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa từng chủ trì buổi lễ kết nạp hội viên CLB “Vì Hoàng Sa – Trường Sa thân yêu” tại Nhà trưng bày Hoàng Sa – Ảnh: TRƯỜNG TRUNG

Nhà trưng bày Hoàng Sa thành điểm du lịch - Ảnh 3.

Với việc được công nhận là điểm du lịch, Nhà trưng bày Hoàng Sa có cơ hội giới thiệu với bạn bè quốc tế về hoạt động chủ quyền của nước ta trên quần đảo này – Ảnh: TRƯỜNG TRUNG

Nhà trưng bày Hoàng Sa thành điểm du lịch - Ảnh 4.

Nhiều tư liệu, hiện vật chứng minh quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam được trưng bày tại Nhà trưng bày Hoàng Sa – Ảnh: TRƯỜNG TRUNG

Con tàu lịch sử’ từng bị tàu Trung Quốc gây hấn về Nhà trưng bày Hoàng Sa

TTO – Tàu cá ĐNa 90152 (bị đâm chìm vào thời điểm này 5 năm trước trong đợt Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép HD981 trong vùng biển Việt Nam) đã được đưa về khuôn viên Nhà trưng bày Hoàng Sa.

TRƯỜNG TRUNG

Không được quên Hoàng Sa

https://tuoitre.vn/khong-duoc-quen-hoang-sa-20200118082811621.htm

TTO – Trong tâm thức người Việt, Hoàng Sa không bao giờ mất. Và chính việc phát động xây dựng công trình Thư viện Hoàng Sa hôm nay là tiếp tục truyền đi thông điệp đó.

Không được quên Hoàng Sa - Ảnh 1.

Ngư dân Tiêu Viết Phẩn với mẻ cá ngừ vừa đánh bắt được ở Hoàng Sa – Ảnh: TRẦN MAI

Hôm nay (18-1), bên bờ biển Đà Nẵng, chính quyền huyện Hoàng Sa phát động xây dựng công trình Thư viện Hoàng Sa.

Buổi lễ diễn ra đúng dịp tưởng niệm 46 năm ngày Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép nhằm nhắc nhở mỗi người hôm nay và cả mai sau: Hoàng Sa là một phần máu thịt của dân tộc Việt Nam.

Trò chuyện với Tuổi Trẻ nhân sự kiện đặc biệt này, ông Võ Ngọc Đồng, chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa và ông Bùi Văn Tiếng, chủ tịch Hội Khoa học lịch sử TP Đà Nẵng nói “trong tâm thức người Việt, Hoàng Sa không bao giờ mất.

Và chính việc phát động xây dựng công trình Thư viện Hoàng Sa hôm nay là tiếp tục truyền đi thông điệp đó”.

Không được quên Hoàng Sa - Ảnh 2.

Chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa Võ Ngọc Đồng

“Thư viện Hoàng Sa giúp cho thế hệ hiện tại và mai sau tìm hiểu có hệ thống, tạo những cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử, ý chí của các thế hệ cha ông trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc.

Chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa VÕ NGỌC ĐỒNG

Nhắc nhở nhau về Hoàng Sa

* Chúng tôi biết ý tưởng xây dựng Thư viện Hoàng Sa đã được chính quyền huyện Hoàng Sa và cá nhân ông ấp ủ từ lâu, vì sao đến bây giờ mới chính thức phát động xây dựng?

– Ông VÕ NGỌC ĐỒNG: Thực tình, chính quyền huyện Hoàng Sa bắt đầu sưu tầm các hiện vật, tài liệu về Hoàng Sa từ năm 2009 để xây dựng Phòng trưng bày tư liệu về Hoàng Sa và biên soạn Kỷ yếu Hoàng Sa.

Trong quá trình này, chúng tôi đã nhận được rất nhiều đóng góp từ đông đảo các tầng lớp nhân dân cả nước và kiều bào nước ngoài. Như bộ sưu tập bản đồ Trung Quốc không có Hoàng Sa của anh Trần Thắng (Việt kiều Mỹ), kỷ vật của các nhân chứng từng tham gia bảo vệ Hoàng Sa, bộ sưu tập 60 năm báo chí viết về Hoàng Sa…

Đặc biệt, nhiều nhà xuất bản, nhiều tác giả đã gửi tặng sách viết về Hoàng Sa và biển đảo quê hương cho UBND huyện Hoàng Sa.

Tuy nhiên, các đầu sách về Hoàng Sa mà chúng tôi đang có vẫn còn rất ít so với lượng sách rất lớn được xuất bản từ trước đến nay.

Trên cả nước hiện cũng chưa có thư viện Hoàng Sa để tổ chức thu thập và hệ thống hóa sách, tư liệu về Hoàng Sa một cách đầy đủ, bài bản. Bạn đọc thiếu một nơi để tra cứu, tìm đọc và chia sẻ tài liệu chuyên đề về Hoàng Sa.

Từ đó chúng tôi và nhiều người dân, nhất là các nhà nghiêu cứu về biển đảo có mong muốn Nhà trưng bày Hoàng Sa không chỉ là nơi tham quan mà còn là nơi phục vụ cho tìm hiểu, nghiên cứu về Hoàng Sa.

Khi có đủ điều kiện chúng tôi xây dựng Thư viện Hoàng Sa để phục vụ việc tham quan, nghiên cứu và công tác đấu tranh khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền trên vùng biển đảo ngày càng có hiệu quả hơn.

* Việc phát động xây dựng Thư viện Hoàng Sa trong thời điểm dịp tưởng niệm 46 năm ngày quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm trái phép (19-1-1974 – 19-1-2020), ông muốn truyền đi thông điệp gì đến với người dân?

– Ông VÕ NGỌC ĐỒNG: “Sách vở là con tàu tư duy vượt qua sóng nước thời gian và trân trọng chở những hàng hóa quý giá từ thế hệ này sang thế hệ khác”.

Những “hàng hóa quý giá” mà chúng tôi muốn gây dựng ở Thư viện Hoàng Sa giúp cho thế hệ hiện tại và mai sau tìm hiểu có hệ thống, tạo những cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử, ý chí của các thế hệ cha ông trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc.

Phát động xây dựng thư viện đúng vào dịp tưởng niệm 46 năm ngày Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép là để nhắc nhở mỗi người thế hệ hôm nay và cả mai sau không được quên Hoàng Sa là một phần máu thịt của dân tộc Việt Nam; để trong tâm thức người Việt, Hoàng Sa không bao giờ mất.

Không được quên Hoàng Sa - Ảnh 4.

Học sinh Đà Nẵng tham quan, tìm hiểu các tư liệu, hình ảnh liên quan đến Hoàng Sa – Ảnh: HỮU KHÁ

Điểm đến của giới trẻ

* Trong lần phát động xây dựng Thư viện Hoàng Sa này, ông có mong muốn gì từ cộng đồng xã hội, có thể đóng góp cả vật chất, tinh thần, tư liệu, hiện vật…?

– Ông VÕ NGỌC ĐỒNG: Mong muốn nhiều lắm. Công tác sưu tầm tài liệu, hiện vật về Hoàng Sa rất cần những tư liệu mới, không để những tư liệu ngoài xã hội bị thất lạc, hư hỏng, thậm chí thế lực xấu phá hủy, gây bất lợi cho cuộc đấu tranh của Việt Nam.

Những năm qua, mặc dù UBND huyện Hoàng Sa đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn còn thiếu điều kiện, nguồn lực để thu thập, sưu tầm tài liệu.

Do vậy chúng tôi rất mong nhận được nhiều hơn nữa sự đóng góp cả về vật chất, tinh thần, tư liệu, hiện vật… làm phong phú các bộ sưu tập tại Nhà trưng bày Hoàng Sa nói chung và phát triển Thư viện Hoàng Sa nói riêng, để nơi đây không chỉ là điểm đến để tuyên truyền mà còn là nơi tập hợp, xây dựng lực lượng nghiên cứu trẻ, đáp ứng mong mỏi của nhiều nhà nghiên cứu và người dân khi đến tham quan, gợi ý xây dựng Nhà trưng bày Hoàng Sa thành Trung tâm nghiên cứu về Hoàng Sa trong thời gian đến.

* Ông có hi vọng khi Thư viện Hoàng Sa ra đời sẽ là nơi phục vụ chung cho học sinh, sinh viên, các cá nhân và cơ sở nghiên cứu trong và ngoài nước, nhất là đội ngũ nghiên cứu trẻ trên lĩnh vực này?

– Ông VÕ NGỌC ĐỒNG: Tôi mong rằng đông đảo bạn đọc sẽ tìm đến tra cứu, nghiên cứu, chia sẻ thông tin về Hoàng Sa. Đó là cách tốt nhất để thư viện phát huy được giá trị, vai trò trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc.

Tôi cũng mong muốn thư viện sẽ là nơi gặp gỡ, giới thiệu ấn phẩm, công trình nghiên cứu về Hoàng Sa của các nghiên cứu viên chuyên về vấn đề Biển Đông.

UBND huyện Hoàng Sa sẽ tạo mọi điều kiện tốt nhất để các nhà nghiên cứu khai thác các nguồn tư liệu, làm ra sản phẩm nghiên cứu chất lượng để đưa được tiếng nói bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đến với các diễn đàn học thuật và mọi người dân hiệu quả hơn.

Và tôi mong rằng nơi đây không chỉ là nơi cung cấp tri thức mà còn hun đúc ngọn lửa đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa nói riêng và biển đảo Tổ quốc nói chung.

Không được quên Hoàng Sa - Ảnh 5.

Bia chủ quyền VN do người Pháp dựng tại Hoàng Sa năm 1938 – Ảnh: Tư liệu Tuổi Trẻ

Góp phần đấu tranh bảo vệ chủ quyền

* Theo ông, xây dựng Thư viện Hoàng Sa có ý nghĩa như thế nào trong bối cảnh hiện nay?

– Ông BÙI VĂN TIẾNG: Theo tôi, Thư viện Hoàng Sa thực chất cũng là một kiểu nhà trưng bày Hoàng Sa chuyên trưng bày sách báo/hồ sơ tư liệu với tư cách là bằng chứng khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Đó là điểm khác biệt của Thư viện Hoàng Sa so với các thư viện bình thường.

Đương nhiên khác biệt đến mấy thì Thư viện Hoàng Sa cũng là một thư viện, là nơi tập hợp một cách hệ thống và tương đối đầy đủ những sách báo/hồ sơ tư liệu – kể cả những sách báo/hồ sơ tư liệu của phía Trung Quốc – phục vụ cho việc nghiên cứu về vấn đề xác lập và thực thi chủ quyền của nước ta đối với quần đảo Hoàng Sa, qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh trên lĩnh vực ngoại giao học thuật.

* Khi xây dựng Thư viện Hoàng Sa, chúng ta phải làm gì để thư viện này trở nên sống động, hấp dẫn đối với tất cả mọi người?

– Ông BÙI VĂN TIẾNG: Cái hấp dẫn lớn nhất của Thư viện Hoàng Sa là sự phong phú về sách báo, hồ sơ tư liệu liên quan đến Hoàng Sa. Nếu Thư viện Hoàng Sa trở thành một tập hợp thật sự hệ thống và tương đối đầy đủ thì chắc chắn sẽ trở thành một điểm đến hấp dẫn đối với giới nghiên cứu học thuật về Hoàng Sa.

Chỉ có thể tạo nên một “thư viện sống” đầy hấp dẫn trên cơ sở một bộ sưu tập như vậy về sách báo, hồ sơ tư liệu liên quan đến Hoàng Sa.

Chẳng hạn có thể thường xuyên tổ chức tại Thư viện Hoàng Sa những buổi giới thiệu sách chuyên đề Hoàng Sa của chính các tác giả, tổ chức những buổi thuyết trình của học sinh, sinh viên về sách chuyên đề Hoàng Sa có trong thư viện, thậm chí có thể tổ chức những buổi bảo vệ luận văn tốt nghiệp đại học, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ về đề tài Hoàng Sa.

Cũng có thể tổ chức tại Thư viện Hoàng Sa những buổi hội thảo, tọa đàm phản biện các sách báo, hồ sơ tư liệu của phía Trung Quốc trên tinh thần học thuật nhằm phản bác những luận điệu, quan điểm thiếu khoa học, xuyên tạc sự thật lịch sử…

Nhà nghiên cứu trẻ VÕ HÀ:

Nơi nuôi ý chí giành lại Hoàng Sa

Việc phát động xây dựng Thư viện Hoàng Sa là một bước đi và cách làm chính đáng và có ý nghĩa – đó vừa là trách nhiệm, vừa là vinh dự, trở thành một địa chỉ không thể bỏ qua cho những nhà nghiên cứu, nhà quản lý và các tầng lớp nhân dân.

Ông Geneva Henri – giám đốc Thư viện Đại học Rice, Houston, Hoa Kỳ – từng có câu nói nổi tiếng: “Thư viện không chỉ là nơi những cuốn sách được lưu trữ mà còn là nơi những ý tưởng được chia sẻ”; tuy nhiên, tôi nghĩ trong trường hợp đặc biệt của Thư viện Hoàng Sa: “Thư viện Hoàng Sa không chỉ là nơi lưu trữ các tài liệu có tính hệ thống khẳng định chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa, mà còn là nơi nuôi ý chí giành lại Hoàng Sa”.

Bạn Lê Anh Thư (sinh viên ĐH Đà Nẵng):

Chúng tôi mong đợi có Thư viện Hoàng Sa

Tôi nghĩ đây chắc chắn là nơi tốt nhất để giới thiệu cho bạn đọc những tài liệu, những cuốn sách giúp

bổ sung kiến thức về chủ đề biển đảo quê hương. Bản thân tôi cũng có thể tìm đọc và tham khảo dễ dàng những điều thắc mắc lâu nay về chủ đề này.

Một khi hoàn thành, thư viện sách sẽ là nơi góp phần vào việc nâng cao nhận thức, hiểu biết và trách nhiệm của tất cả mọi người về Hoàng Sa và các quần đảo. Khơi gợi, lan tỏa mạnh mẽ tình yêu về biển đảo và chủ quyền của dân tộc Việt Nam ta.

Nếu có điều kiện tôi cũng sẽ ủng hộ vào việc làm nhân văn này như một lời khẳng định của bản thân về chủ quyền biển đảo với tất cả bạn bè gần xa.

Anh Nguyễn Văn Hiệu (công tác tại Nhà trưng bày Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng):

Sẵn sàng đóng góp 50 đầu sách

Một thư viện về Hoàng Sa sẽ là nơi tập hợp các công trình nghiên cứu về biển đảo, củng cố tư liệu phục vụ cho giới nghiên cứu. Bên cạnh đó, người dân và du khách có thêm nơi tiếp cận tư liệu và hiểu biết về Hoàng Sa – Trường Sa và biển đảo Việt Nam.

Bản thân tôi rất ủng hộ dự án này, hiện tôi có một tủ sách cá nhân hơn 50 đầu sách nói về Hoàng Sa và sẵn sàng đóng góp làm phong phú hơn cho thư viện.

Báo Tuổi Trẻ đồng hành xây dựng Thư viện Hoàng Sa

UBND huyện Hoàng Sa phối hợp với báo Tuổi Trẻ sẵn sàng tiếp nhận tư liệu, hiện vật về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và tổ chức phát động xây dựng Thư viện Hoàng Sa.

UBND huyện Hoàng Sa và báo Tuổi Trẻ rất mong nhận được sự quan tâm, ủng hộ, đóng góp, tài trợ của các tổ chức, cá nhân để hoạt động ý nghĩa này sớm thành hiện thực.

Địa chỉ đóng góp, ủng hộ: UBND huyện Hoàng Sa, đường Hoàng Sa, góc ngã ba đường Hoàng Sa – Phan Bá Phiến (Đà Nẵng) hoặc báo Tuổi Trẻ (số 60A Hoàng Văn Thụ, Q.Phú Nhuận, TP.HCM).

Hoàng Sa: Biển của ta, ta cứ giăng câu, thả lưới, dong thuyền

TTO – Quần đảo Hoàng Sa gồm 37 đảo, đá, bãi cạn, bãi ngầm… thuộc huyện Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng. Khu vực quần đảo nằm trên vùng biển rộng khoảng 30.000 km2. Tổng diện tích phần nổi của quần đảo Hoàng Sa khoảng 10 km2, đảo lớn nhất là đảo Phú Lâm.

HỮU KHÁ thực hiện

Thư viện Hoàng Sa & trái tim người Việt

https://tuoitre.vn/thu-vien-hoang-sa-trai-tim-nguoi-viet-20200119092155023.htm

TTO – Sáng nay 19-1-2020, hàng triệu trái tim người Việt sẽ hướng về một quần đảo Hoàng Sa thân yêu của Tổ quốc.

Thư viện Hoàng Sa & trái tim người Việt - Ảnh 1.

Đông đảo người dân và học sinh đến tìm hiểu tư liệu về biển đảo tại Nhà trưng bày Hoàng Sa – Ảnh: TRƯỜNG TRUNG

Đã 46 năm trôi qua kể từ ngày Trung Quốc nổ súng cưỡng chiếm trái phép Hoàng Sa, chưa bao giờ quần đảo Hoàng Sa thân yêu vắng bóng trong tâm thức chủ quyền của người dân nước Việt.

Trong chiều 18-1, UBND huyện Hoàng Sa và báo Tuổi Trẻ cùng chung tay phát động xây dựng Thư viện Hoàng Sa. Cùng với nhà trưng bày Hoàng Sa, Thư viện Hoàng Sa là nơi tiếp nhận, lưu giữ và phát huy những sách vở tài liệu với mục đích xác định quần đảo thiêng liêng này thuộc chủ quyền Việt Nam.

Hơn 10 năm trước, một người Việt sống ở Ý – anh Trần Doãn Trang, kỹ sư của Hãng ôtô Fiat, du học từ trước 1975, biết được trong nhiều tu viện cổ của nước Ý có những cuốn sách địa lý xuất bản cách nay vài thế kỷ viết rất rõ rằng Hoàng Sa thuộc Vương quốc An Nam. 

Một trong những cuốn sách quý báu ấy là cuốn Compendio di Geografia (Địa lý thế giới) của nhà nghiên cứu địa lý lừng danh Adriano Balbi, được xuất bản gần 200 năm về trước. Hiện trên khắp nước Ý chỉ còn lại vài cuốn mà nhờ bạn bè, anh Trần Doãn Trang đã tìm được tung tích một cuốn trong Tu viện Santa Maria al Monte của dòng Francescano. 

Với sự cố gắng móc nối của anh Trang, bản gốc nhiều cuốn sách quý ấy đã về được Việt Nam.

Nỗi xúc động ấy của anh Trần Doãn Trang cũng giống như khi kỹ sư Trần Thắng ở Hoa Kỳ khi tìm mua những tấm bản đồ, những bộ atlat đem tặng huyện đảo Hoàng Sa! Đấy là những bản đồ cho thấy địa giới đất nước Trung Quốc hoàn toàn không có sự hiện diện của Hoàng Sa.

Lúc đó, ngay khi phát hiện ra những tấm bản đồ quý giá nói trên, Thắng đã xin nghỉ phép ở công ty và lái xe hơn 4 giờ từ Connecticut lên New York để kịp tận mắt nhìn thấy những tấm bản đồ Trung Hoa mà cực nam của nó giới hạn chỉ tới đảo Hải Nam, ở đó không hề có in Hoàng Sa và Trường Sa trong vòng lãnh giới chủ quyền của họ. 

Và rồi với tất cả trách nhiệm của một người con nước Việt, kỹ sư Trần Thắng đã dốc túi để mua ngay những tấm bản đồ ấy bởi anh lo ngại những kẻ có dã tâm sẽ mua mất những tấm bản đồ quý giá này!

Nỗi xúc động ấy cộng với niềm vui của hàng triệu người Việt khi thông tin về tấm bản đồ do tiến sĩ Mai Hồng công bố hay việc tìm thấy tờ lệnh Hoàng Sa của gia tộc họ Đặng ngoài đảo Lý Sơn, những công văn của triều Nguyễn liên quan đến Hoàng Sa mà nhà nghiên cứu Phan Thuận An may mắn tìm được. 

Đó còn là hàng trăm người dân Việt đã có một thời gắn bó với Hoàng Sa, người lính thủy, anh cán bộ khí tượng… đã mang kỷ vật đời người, những trang nhật ký, hiến tặng cho nhà trưng bày.

Việc xây dựng Thư viện Hoàng Sa những ngày này không còn là câu chuyện về một nơi lưu giữ sách vở hay tài liệu. Đó là nơi chứa đựng tấc lòng đau đáu của hàng triệu người Việt trĩu nặng yêu thương, khắc khoải về núm ruột của Mẹ Việt Nam giữa trùng khơi bão tố, để “Hẹn ngày mai gặp lại Hoàng Sa” – câu nói dự kiến được khắc trên tượng đài “Người Mẹ” ở đảo Lý Sơn.

Góp tư liệu cho ‘cột mốc chủ quyền’ Hoàng Sa

TTO – Bồi đắp thêm những tư liệu, hiện vật, công trình nghiên cứu vào ‘cột mốc chủ quyền’. Đây là thông điệp được phát đi từ buổi phát động xây dựng Thư viện Hoàng Sa, do UBND huyện Hoàng Sa (TP Đà Nẵng) và báo Tuổi Trẻ phối hợp tổ chức chiều 18-1.

LÊ ĐỨC DỤC

Sức dân làm nên một Đảng mạnh

https://www.sggp.org.vn/suc-dan-lam-nen-mot-dang-manh-640817.html

SGGP – Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng, có nhiều vấn đề để suy ngẫm, để tổng kết. Qua đó để thấy rõ hơn yêu cầu của công tác xây dựng Đảng ngày càng mạnh lên, niềm tin của nhân dân ngày một mạnh mẽ hơn với Đảng. 

Từng đoàn xe thồ, từng đoàn dân công vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh: TL

Từng đoàn xe thồ, từng đoàn dân công vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh: TL

Xây dựng Đảng và nâng cao sức mạnh, niềm tin trong nhân dân về một Đảng cách mạng chân chính đã lãnh đạo đưa dân tộc ta, đất nước ta từ thân phận nô lệ đứng lên giành lấy chính quyền, chiến thắng mọi kẻ thù và phát triển như hôm nay là thành tựu rõ ràng nhất.

Niềm tin, sức mạnh từ nhân dân

Phải thấy được những thắng lợi lớn của đất nước 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ. Chúng ta đã thoát khỏi ách nô lệ hàng thế kỷ, đế quốc, phong kiến, phát xít, đưa lại một thắng lợi vẻ vang của cả dân tộc, làm nên sự thành công của Cách mạng Tháng Tám. Tiếp đến là 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đầy khó khăn nhưng chúng ta đã biết cách huy động lực lượng, huy động sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tranh thủ được sự chi viện của các nước XHCN, rồi sự ủng hộ của bạn bè yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Nếu không có uy tín, không có tài lãnh đạo của Bác Hồ, của Đảng, thì làm sao có được sức mạnh ấy để chúng ta đánh thắng thực dân Pháp với chiến dịch Điện Biên Phủ. Rồi dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã đánh thắng đế quốc Mỹ với chiến lược vô cùng thâm hiểm của chúng, từ chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, chiến tranh phá hoại miền Bắc, đến chia rẽ, dùng người Việt đánh người Việt. Và dù đến nửa triệu quân Mỹ vào Việt Nam, đưa B.52 vào, nhưng cuối cùng ta vẫn thắng. Nếu không là sự lãnh đạo của Đảng, được dân tin yêu, hàng triệu người ra chiến trường, thì làm sao có được những thắng lợi vẻ vang ấy. 

Khi đất nước ta được thống nhất, Đảng ta đã tổ chức được hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Hệ thống chính trị đã tập hợp được tất cả các tầng lớp nhân dân, tạo nên một sức mạnh to lớn. Đảng đã sáng suốt, đã quán triệt theo đường lối cách mạng của Bác Hồ. Hạnh phúc của đất nước ta là có Bác. Có Bác mới có Đảng. Bác đã đào tạo được lớp tiền bối quyết sống chết để giành lại độc lập cho dân tộc, từ đó tạo nên uy tín tuyệt đối trong lòng nhân dân. Các đồng chí Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, đến các đồng chí Tổng Bí thư sau này như Nguyễn Văn Cừ, Ngô Gia Tự… đều do Bác đào tạo, rèn luyện, bồi dưỡng. Nhiều đồng chí sau này dù không trực tiếp được Bác đào tạo, bồi dưỡng nhưng đã học theo đường lối của Bác, học theo Di chúc của Bác. Những lớp cán bộ đó của Đảng được đào tạo đủ tầm, đủ uy tín trong nhân dân, mới làm nên được những việc lớn lao cho đất nước.  

Để nhân dân lựa chọn cán bộ

Trung ương đã có lựa chọn, quy hoạch, đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp theo tiêu chuẩn, trình độ như quy định. Tuy nhiên, cần quan tâm hơn nữa đến yếu tố nhân dân. Phải để nhân dân góp sức với Đảng trong lựa chọn cán bộ. Chỉ khi nhân dân tham gia lựa chọn cán bộ, tìm kiếm người tài thì mới có thể chính xác được. Nhân dân sẽ biết ai sống thế nào, lối sống, cách sống, đạo đức, phẩm chất, tính tiền phong, tính gương mẫu, tính cộng sản ra sao… Cụ thể là phải làm sao để MTTQ, các tổ chức thành viên đại diện cho nhân dân có điều kiện đóng góp thiết thực vào vấn đề phát hiện, giới thiệu những cán bộ tốt cho Đảng, từ đó mới có thể bồi dưỡng, đào tạo thành những cán bộ lãnh đạo có đức, có tài, có uy tín với nhân dân.

Cũng cần nói thêm, sau khi thống nhất được đất nước, Đảng ta cũng vấp váp, mắc phải những khuyết điểm, sai lầm. Đã có những việc làm hoàn toàn không đúng với quy luật phát triển, mang tính chủ quan, duy ý chí… Thế nhưng,  từ Đại hội V, Đại hội VI của Đảng, chúng ta đã hình thành những đường lối tìm hướng ra. Lịch sử phát triển cho thấy Đảng luôn cảnh tỉnh với những khuyết điểm, những điều trăn trở và những khó khăn, thử thách. Nếu như đội ngũ cán bộ của Đảng không giữ được phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch, không giữ được tinh thần tiền phong, gương mẫu, cách mạng của mình thì không thể dễ dân tin mãi. Liên Xô và Đông Âu sụp đổ cho chúng ta bài học rất sâu sắc.

Đảng ta không chỉ khôn khéo, mà là rất giỏi khi đã quán triệt được tư tưởng của Bác trong lãnh đạo, biết vận dụng đường lối chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh của Việt Nam để sửa những khuyết điểm mà các đảng khác đã va vấp, biết tự mình từ thực tiễn của đất nước để định ra các chính sách, quyết sách phát triển đi lên. Đảng có những lần vấp váp nhưng bao giờ cũng tự phê bình. Có tự phê bình thì mới tìm được con đường mới, tập hợp, đoàn kết được nhân dân. Tự phê bình, tự sửa chữa những sai lầm, va vấp chính là xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Đảng mạnh lên từ xử lý cán bộ sai phạm 

Những năm kháng chiến khó như thế nhưng Bác đã viết bài “Sửa đổi lối làm việc”, để nhắc nhở đảng viên phải rèn luyện, tu dưỡng, phải sửa chữa, phải luôn luôn tự phê bình, khắc phục những khuyết điểm. Bác luôn coi xây dựng Đảng là trước tiên. Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng” của Bác cũng nhấn mạnh: “Cần – kiệm – liêm – chính – chí công – vô tư”. Chỉ khi nào làm đúng với tinh thần này thì chúng ta mới có thể giữ được Đảng vững mạnh, giữ được niềm tin trong nhân dân. Trước lúc ra đi, Bác để lại Di chúc như sự nhắc nhở rất nghiêm túc, nghiêm khắc, để toàn Đảng phải thấy. Bác nhấn mạnh đến việc trước hết là xây dựng Đảng, rồi phải quan tâm đến đời sống của nhân dân, nhất là nhân dân lao động còn nghèo khổ, có thế mới đoàn kết dân được. Bác nói đến xây dựng thế hệ trẻ, coi đội ngũ cán bộ nối tiếp đúng, vững thì mới giữ được Đảng tốt…

Mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là những người lãnh đạo, nếu thấm nhuần những tư tưởng của Bác thì Đảng rất khó mắc những sai lầm, khuyết điểm lớn. Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng là dịp để Đảng ta soi rọi lại mình, thấy được những thành tựu to lớn từ sức mạnh của nhân dân, đồng thời cũng nghiêm túc thấy được những va vấp, khuyết điểm. Việc xử lý những cán bộ sai phạm trong công cuộc đấu tranh với tham nhũng theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII là để Đảng mạnh lên và không phải xử lý cán bộ thì Đảng sẽ bị ảnh hưởng, bị yếu đi sức chiến đấu. Không thể tránh né, không thể chậm trễ, vấn đề là làm sao để cả hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ ngày càng rõ hơn, mạnh lên; làm sao để cơ chế thị trường được vận dụng một cách tốt nhất vào thực tiễn của Việt Nam, có như vậy mới có thể đưa nước ta phát triển bền vững trong những chặng đường phía trước.
PHẠM THẾ DUYỆT                                                   
Nguyên Thường trực Bộ Chính trị
 Nguyên Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam

Tự hào về cuộc Cách mạng mùa Thu

LTS – “Tại sao tôi trở về quá trễ? Tôi đã phung phí rất nhiều tiền bạc cho trò chơi “yêu nước” tại hải ngoại mà lẽ ra tôi có thể giúp ích rất nhiều cho đồng bào trong nước. Vâng, tôi hối hận vì tôi đã trở về quá trễ”, đó là tâm sự của ông Nguyễn Phương Hùng – một người Mỹ gốc Việt, đã đăng trên một tờ báo trong nước sau 36 năm mới trở về thăm quê hương. Nhân kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, ông gửi tới Báo Nhân Dân bài viết nói lên suy nghĩ về ngày lịch sử của dân tộc, về anh Bộ đội Cụ Hồ, về những thế hệ người Việt Nam đã vượt qua gian khổ, đã chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước… Chúng tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Tôi viết bài này trong những cảm xúc dâng trào sau khi hoàn thành các vi-đê-ô hội luận về Cách mạng Tháng Tám cùng một số vị nhân sĩ người Mỹ gốc Việt. Lâu nay, nhiều bạn đọc muốn biết lập trường của KBCHN – trang mạng do tôi lập ra và điều hành – về Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam. Có người đã lên án tôi “về Việt Nam trở lại Mỹ mà không chửi Việt cộng tức là nịnh bợ”, rồi họ xuyên tạc, vu khống tôi đủ mọi điều. Nhưng tôi và trang KBCHN chưa bao giờ trả lời họ, vì như nhà bác học A. Einstein (A. Anh-xtanh) từng nói: “Không thể chống lại những kẻ ngu, vì chúng quá đông”. Tôi không chống lại họ không phải vì tôi coi họ là người ngu, mà vì tôi muốn dùng thời gian đó để thông tin cho mọi người Việt Nam khắp nơi nhìn thấy sự thật ở một quốc gia mà tôi đã rời bỏ sau 36 năm. Từ những gì đã tiếp xúc, đã chứng kiến và đã hiểu, tôi muốn góp phần làm sáng rõ sự thật về Việt Nam để đả phá các luận điệu tuyên truyền rẻ tiền của một thiểu số người Việt ở hải ngoại rằng “sau 40 năm, Việt Nam không làm nổi con ốc vít”. Thay vì đề cao hay suy tôn các vị lãnh đạo, tôi tận dụng thời gian làm vi-đê-ô, đăng bài và hình ảnh về quê hương, đất nước, qua đó phản bác lại luận điệu “hàng tôm hàng cá” chống cộng cực đoan ở hải ngoại. Và tôi có thể tự hào mà nói rằng, KBCHN đã góp phần giúp người đọc trong nước hiểu biết hơn về sinh hoạt chung của cộng đồng người Việt sống xa quê hương. Nhưng hôm nay, trong không khí bồi hồi cảm xúc nhân kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám cùng khí thế của ngày Lễ Độc lập 2-9 – hai sự kiện mang dấu ấn thời gian là 70 năm, tôi xin được viết về tâm tư của một người đã từng là binh sĩ của chế độ Việt Nam Cộng hòa khi nghĩ về đất nước hôm nay. Hy vọng dù người khen hay kẻ chê thì vẫn có một cái nhìn rõ hơn để lý giải vì sao tôi đã rời bỏ “hào quang cộng đồng” để nhận đòn thù “triệt hạ” của những người vốn lấy biểu tình làm lẽ sống.

“Đôi dép râu giẫm nát đời trai trẻ/ Nón tai bèo che khuất nẻo tương lai”, đó là hai câu vè mà những người căm ghét Việt cộng đã sáng tác sau ngày 30-4-1975 để chê bai tinh thần và nỗi khổ của Bộ đội Cụ Hồ, hầu khỏa lấp nỗi đau bại trận. Tôi dẫn hai câu vè không phải để hùa theo họ, mà nhằm vinh danh Cách mạng Tháng Tám, vì chính đôi dép râu, nón tai bèo là hai vật thể đã góp phần quan trọng viết nên trang sử hào hùng của Tổ quốc tôi. Tuần qua, trên trang facebook của KBCHN và của cá nhân tôi có nhiều bài viết, vi-đê-ô và hình ảnh về chiến dịch Điện Biên Phủ. Việc này là có nguyên nhân của nó, vì trong lần trở lại quê hương vừa qua, tôi đã lên thăm Điện Biên Phủ, đến hầm Đờ Cát-xtơ-ri, đồi A1,… Tôi đã đứng lặng và khóc một mình sau khi thắp nén tâm nhang tưởng niệm trước Đền liệt sĩ Điện Biên. Vì thời gian ít ỏi, nên tôi không thể ghé thăm Nghĩa trang liệt sĩ Điện Biên, nhưng những gì đã biết cũng đủ đem tới cho tôi sự xúc động mãnh liệt khi đứng dưới mây chiều Mường Thanh, giữa tiếng gió rít như hương hồn các liệt sĩ đã trở về chứng giám lòng thành của một người con đi xa trở về.

Là một binh sĩ từng ra vào trận mạc, tôi hình dung ra sự gian khổ, tinh thần hy sinh vô cùng dũng cảm của các chiến sĩ Điện Biên. Chiến thắng đã làm nên huyền thoại vĩ đại, tuyệt vời trong lịch sử chiến tranh của nhân loại. Từng là quân nhân nên tôi hình dung được sức mạnh tinh thần, khả năng chiến đấu của Bộ đội Cụ Hồ. Đồi núi bao bọc quanh lòng chảo Điện Biên Phủ là một lợi thế cho pháo binh Việt Nam. Từ vị trí trên cao nã pháo xuống lòng chảo chỉ có công sự phòng thủ và lô cốt chiến đấu là một lợi thế so với pháo binh Pháp, nhưng ngược lại, với bộ binh là một bất lợi kinh khủng. Tôi hình dung và cảm phục những anh Bộ đội Cụ Hồ từ trên đồi núi cao chạy xuống đồng bằng, băng qua hai cây số trống trơn, vượt qua 20 lớp rào kẽm gai, đào giao thông hào vào tận hang ổ của quân đội thực dân. Con người không phải là mình đồng da sắt, vì thế sự hy sinh của những người nằm xuống để đồng đội vượt qua tiến vào cứ điểm thì có viết bao nhiêu cuốn sách cũng không đủ vinh danh người nằm xuống. Họ vượt qua hai cây số với súng đạn, đồ dùng cá nhân trên vai. Họ băng qua ruộng đồng trống trải trước họng súng trung liên, đại liên của đội quân viễn chinh thiện chiến. Giữa mặt trận, giữa đạn bom, vừa chiến đấu vừa đào giao thông hào, điều gì đã khiến cho những người lính Cụ Hồ có được tinh thần chiến đấu quả cảm như vậy? Và tôi tìm được câu trả lời: Những người thanh niên mang bầu nhiệt huyết của tuổi xuân đã nghe theo tiếng gọi của non sông dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường chiến đấu. Họ chiến đấu và hy sinh để chúng ta được hưởng một di sản vĩ đại là nền độc lập, tự do.

Ngày trước tôi từng đọc hai câu vè mỉa mai, ngày nay tôi đã về thăm chốn xưa của những anh Bộ đội Cụ Hồ, những người đã viết nên lịch sử oai hùng của dân tộc Việt Nam bằng máu và nước mắt. Và có về chốn xưa tôi mới biết mình đã sai lầm. Ngày nay, với sự phát triển của văn minh quân sự, có thể việc tìm được đôi dép râu và nón tai bèo sẽ là khó khăn. Nhưng hai thứ tư trang giản dị này lại là các bảo vật vô giá đã góp phần làm nên huyền thoại, và tôi xin sửa hai câu vè đã dẫn lại ở trên như sau: “Đôi dép râu giẫm nát đồi A1/ Nón tai bèo rẽ lối nối bắc nam”. Làm sao chúng ta không thể không kính trọng, không tự hào, hãnh diện về sự hy sinh của các chiến sĩ Điện Biên. Xin đơn cử tấm gương hy sinh của Anh hùng Phan Đình Giót đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai để đồng đội xông lên tiêu diệt cứ điểm Him Lam; Anh hùng Tô Vĩnh Diện đã lấy thân mình chặn không cho khẩu pháo tuột trôi xuống dốc; Anh hùng Bế Văn Đàn lấy hai vai mình làm bệ đỡ cho đôi càng của súng trung liên để đồng đội bắn chặn cuộc tiến công của kẻ thù và anh đã hy sinh vì đạn bắn trúng đầu; Anh hùng Trần Can đã cùng đơn vị chiếm đỉnh cao 507 và chống lại năm đợt tiến công trước khi quân Pháp đầu hàng ngày 7-5-1954… Tôi xin được thắp nén hương lòng cho tất cả những người đã vì đất nước hy sinh, vì dân chiến đấu. Tinh thần này, lẽ dĩ nhiên xuất phát từ lòng yêu nước, nhưng phải có động lực từ đâu?

Ngày Đại hội quốc dân Tân Trào 16-8-1945 và ngày Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 19-8-1945, phải chăng đó là các sự kiện lịch sử thôi thúc lòng yêu nước và tinh thần độc lập, lực tự cường của dân tộc Việt Nam? Với niềm tin tất thắng vào sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người từ bến Cảng Sài Gòn xuống tàu làm đủ công việc đầy vất vả, gian nan của cuộc đời, bôn ba tìm đường cứu nước, để mấy chục năm sau đã trở về cùng dân tộc giành lại đất nước. Có lẽ vì thành kiến “chủ quan”, nên tôi chưa đọc một tác phẩm nào về các lãnh tụ của Đảng Cộng sản Việt Nam được xuất bản trong nước, nhưng qua sách báo tại thư viện ở Mỹ, tôi đã đọc nhiều tài liệu về lãnh tụ Hồ Chí Minh và các nhân vật lãnh đạo Tổng khởi nghĩa Tháng Tám. Qua chuyến về Việt Nam nhân kỷ niệm 40 năm thống nhất đất nước vừa qua, tôi quyết tâm thực hiện chuyến đi Hà Giang để chiêm ngưỡng cột cờ Lũng Cú nơi địa đầu Tổ quốc. Được quý anh chị cựu chiến binh Quân đội nhân dân Việt Nam và một số anh em bộ đội hướng dẫn hành trình, lại được các cháu sinh viên thanh niên Cờ Đỏ ở miền nam và miền bắc đi cùng, tôi mới biết thêm về cây đa Tân Trào lịch sử, về lán Nà Nưa. Tôi nghĩ, là người Việt Nam mà không hiểu biết nhiều về lịch sử Việt Nam thì quả là một thiếu sót khó có thể tha thứ. Những giọt nước mắt của tôi đã rơi xuống các vùng đất thiêng liêng gắn liền với tên tuổi của không biết bao nhiêu người con ưu tú của đất nước. Đó là những giọt nước mắt cho quê hương, cho quá khứ thương đau nhưng hào hùng. Qua bài viết này, tôi xin kính lòng ngưỡng mộ Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng bộ tham mưu từ Tân Trào và những thế hệ kế tục đã giành lại và bảo vệ quê hương của tôi, đất nước của tôi.

NGUYỄN PHƯƠNG HÙNG

(California ngày 19-8-2015)