Category Archives: Ủy Ban Nhà Nước Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài

KBCHN phát động chiến dịch “góp một bàn tay”

Kính thưa bạn đọc,

Ngày hôm qua trong buổi nói chuyện với độc giả và để chia sẻ với NNVN qua đại dịch Covid-19, nhà báo Nguyễn Phương Hùng đã lên tiếng kêu gọi những bạn đọc có khả năng và có lòng muốn góp bàn tay để chia sẻ phần nào sự quan tâm của kiều bào với đất nước cũng như những bạn đọc ở Việt Nam muốn cùng chung vai gánh vác.

Ước muốn khi lập quỹ cứu trợ KBCHN chỉ muốn kích thích lòng tương trợ chia sẻ trong tinh thần góp một bàn tay nhỏ. Nhiều tiếng vỗ tay sẽ kêu to. KBCHN chỉ mới đề nghị 500 USD quỹ thì chưa đầy 12 giờ tòa soạn đã thu được 500 USD (tương đương 12 triệu VND) chưa kể 100 USD của KBCHN mở quỹ.

Danh sách sẽ đăng lên trang tin tức và Facebook. Nếu các nhà hảo tâm muốn ẩn danh tòa soạn sẽ ân danh và chỉ đăng số tiền và nơi gửi.

Ngoài Việt Nam:
1. Các bạn có thể gửi chi phiếu về
Nguyen Phuong Hung
14362 Bushard Street, Space #93
Westminster, CA 92683
(+1) 714-469-3202

2. Các cơ sở gửi tiền như Western Union hoặc Moneygram …v…v…

3. Paypal: Tài khoản: thacmac52

KBCHN sẽ gửi về Quỹ Cộng Đồng của UBNV chuyển cho Chính phủ Nguyễn Xuân tất cả số tiền thu được (???) để tùy nghi sử dụng.

Thay mặt ban quản trị KBCHN. Trân trọng cám ơn.

Nguyễn Phương Hùng
Tổng Biên Tập/KBCHN
email: bacha52@gmail.com
(+1) 714-469-3202



TIỂU SỬ THỨ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO, CHỦ NHIỆM UỶ BAN Nhà Nước Về Người Việt Nam ở nước ngoài – ĐẶNG MINH KHÔI

http://quehuongonline.vn/uy-ban-nha-nuoc-ve-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai/tieu-su-thu-truong-bo-ngoai-giao-chu-nhiem-uy-ban-dang-minh-khoi-20191209174621263.htm

Từ tháng 11/2019, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã điều động nguyên Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc Đặng Minh Khôi quay trở lại công tác tại Bộ Ngoại giao, đảm nhiệm chức vụ Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Từ tháng 12/2019, ông được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài.

Tiểu sử ông ĐẶNG MINH KHÔI
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao
Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về NVNONN 

Thông tin cá nhân

Thứ trưởng Đặng Minh Khôi sinh năm 1964 tại Hà Nội. Vào ngành Ngoại giao từ năm 1991, ông có nhiều kinh nghiệm về quan hệ song phương, đặc biệt là giữa Việt Nam và các đối tác khu vực Đông Bắc Á.

Ông có vợ và 2 con.

Học vấn

Cử nhân Quan hệ quốc tế, Đại học Quan hệ Quốc tế Mát-xcơ-va (MGIMO), Nga năm 1989.

Thông thạo tiếng Trung, tiếng Anh, tiếng Nga.

Sự nghiệp Ngoại giao

Từ tháng 11/2019, ông được Thủ tướng Chính phủ điều động quay trở lại công tác tại Bộ Ngoại giao, đảm nhiệm chức vụ Thứ trưởng Bộ Ngoại giao.

Từ ngày 10/12/2019, Thứ trưởng Đặng Minh Khôi được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài theo Quyết định 3879/QĐ-BNG.

Từ tháng 10/2015 – 10/2019, ông đảm nhiệm chức vụ Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam tại Trung Quốc.

Từ tháng 9/2014 – 10/2015, ông đảm nhiệm chức vụ Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Trước đó, ông được cử làm Trợ lý Bộ trưởng, kiêm Vụ trưởng Vụ Đông Bắc Á, Bộ Ngoại giao (từ tháng 1/2014 – 9/2014).

Từ 2010 – 1/2014, ông là Phó Vụ trưởng, rồi Vụ trưởng Vụ Đông Bắc Á, Bộ Ngoại giao.

Sau khi kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc với cương vị Lãnh sự, người thứ hai (2002 – 2006), ông nhận nhiệm vụ là Phó Vụ trưởng Vụ châu Á 1 (nay là Vụ Đông Bắc Á), Bộ Ngoại giao (tháng 10-12/2006), và được cử đi công tác tại Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh, Trung Quốc với cương vị Tham tán, Tham tán Công sứ rồi Công sứ (12/2006 – 5/2010).

Giai đoạn 1991 – 2002, ông là chuyên viên, rồi Trưởng phòng Quan hệ, Vụ Trung Quốc (nay là Vụ Đông Bắc Á), Bộ Ngoại giao.

Công tác người Việt Nam ở nước ngoài: Những dấu ấn sinh động 2019

TGVN. Năm 2019, lượng kiều hối về Việt Nam ước đạt 16,7 tỷ USD, tức là liên tiếp ba năm, Việt Nam nằm trong 10 quốc gia nhận kiều hối nhiều nhất thế giới. Đây mới chỉ là một con số trong bức tranh sinh động của công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong năm qua.

cong tac nguoi viet nam o nuoc ngoai nhung dau an sinh dong 2019
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đặng Minh Khôi, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về Người Việt Nam ở nước ngoài.

Năm 2019 đã chứng kiến những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội to lớn của đất nước ta. Trong những thành tựu đó, không thể không nhắc đến vai trò và sự đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN). Năm 2019 cũng là năm đánh dấu 60 năm xây dựng và trưởng thành của Ủy ban Nhà nước về NVNONN.

Trong bối cảnh đất nước hội nhập quốc tế sâu rộng, công tác về NVNONN ngày càng có ý nghĩa quan trọng. Cộng đồng NVNONN, với vai trò ngày càng tăng và địa vị ngày càng ổn định, thực sự là bộ phận không tách rời, là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Tăng cường gắn kết với quê hương

Cộng đồng NVNONN hiện nay không ngừng phát triển cả về lượng và chất, với khoảng 4,5 triệu người tại hơn 110 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 500.000 người có trình độ đại học trở lên, nhiều người là những kỹ sư, chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế, tài chính và một số đã tham gia vào hệ thống chính trị của các nước.

Hàng năm, có khoảng 400-500 lượt chuyên gia, trí thức NVNONN tham gia hoạt động khoa học và công nghệ ở Việt Nam. Sự tham gia của bốn trí thức NVNONN trong 15 thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng đã tạo đà cho trí thức người Việt ở nước ngoài đóng góp nhiều hơn nữa vào công cuộc xây dựng đất nước.

Với nhận thức sâu sắc về việc mỗi người Việt Nam là một “đại sứ văn hóa”, kiều bào ngày càng ý thức rõ hơn tầm quan trọng của việc duy trì bản sắc văn hóa, tiếng Việt trong lòng xã hội sở tại. Nhiều lớp học tiếng Việt cho con em thế hệ thứ hai, thứ ba đã được cộng đồng tổ chức, hoạt động hiệu quả, được chính quyền sở tại đánh giá cao. Đặc biệt, tại một số quốc gia và vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Czech, Đài Loan (Trung Quốc)… tiếng Việt được công nhận và giảng dạy như là ngôn ngữ thứ hai ở trường phổ thông có đông người Việt.

Nhìn chung, mặc dù cư trú ở những khu vực địa lý khác nhau với hoàn cảnh ra đi khác nhau, nhưng đại đa số NVNONN có tình cảm gắn bó với quê hương đất nước, là bộ phận “máu thịt” của cộng đồng dân tộc Việt Nam, góp phần củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhiều cá nhân, tổ chức kiều bào có quan điểm cực đoan, đối lập đã có sự chuyển biến về nhận thức, ủng hộ các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta. Đặc biệt, các kênh thông tin của kiều bào đã trực tiếp về nước tác nghiệp, đưa thông tin khách quan, xác thực về tình hình phát triển kinh tế – xã hội trong nước đến bà con, tạo dư luận tích cực trong cộng đồng.

Đáng chú ý, hoạt động của các hội nhóm, cá nhân, chuyên gia, trí thức, doanh nhân kiều bào đã tạo tiếng vang trong cộng đồng, góp phần quan trọng kết nối doanh nhân, trí thức, chuyên gia người Việt trên toàn thế giới; thúc đẩy đóng góp của kiều bào cho sự phát triển khoa học công nghệ, kinh tế – xã hội của đất nước như Diễn đàn Phát triển bền vững Việt Nam 2019 tại Hà Nội, Diễn đàn người Việt có tầm ảnh hưởng tại Pháp do Hội khoa học và Chuyên gia Việt Nam toàn cầu (AVSE Globe) tổ chức…

Hàng năm, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài đều tổ chức cho bà con Việt kiều về thăm Trường Sa.

Điểm sáng kinh tế

Đối với cộng đồng NVNONN, bên cạnh các hoạt động giữ gìn bản sắc truyền thống và hướng về quê hương, cội nguồn thì công tác thu hút nguồn lực kiều bào vào phát triển đất nước luôn được quan tâm, đầu tư với các chương trình kinh tế trọng điểm.

Hiện có gần 3.000 doanh nghiệp kiều bào từ Mỹ, Canada, Austraulia, Nga, Pháp, Czech, Hà Lan… đang hoạt động tại 50/63 tỉnh, thành phố trên cả nước với số vốn góp và vốn đăng ký 4 tỷ USD tập trung vào các lĩnh vực du lịch, thương mại, bất động sản, sản xuất hàng xuất khẩu, chế biến, xuất khẩu thủy sản, công nghệ phần mềm… Kiều hối gửi về nước luôn duy trì mức tăng khoảng 10-15% mỗi năm với tổng kiều hối trong 10 năm qua lên gần 112 tỷ USD, đưa Việt Nam là một trong 10 nước nhận kiều hối nhiều nhất thế giới, đóng góp quan trọng vào ổn định cán cân thanh toán và phát triển kinh tế của đất nước… Theo công bố từ Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2019, lượng kiều hối về Việt Nam ước đạt 16,7 tỷ USD.

Trong năm 2019, cộng đồng doanh nhân NVNONN cũng phát triển mạnh mẽ, từng bước lớn mạnh, gia tăng vị thế và vai trò ở quốc gia sở tại và có nhiều hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư, kết nối với doanh nghiệp, bộ, ngành, địa phương trong nước. Các chương trình do doanh nhân kiều bào tổ chức như Diễn đàn kinh tế kiều bào toàn cầu tại Hàn Quốc (6/2019); Diễn đàn Doanh nghiệp Việt kiều châu Âu tại Ba Lan (9/2019); Hội nghị xúc tiến thương mại Thái – Việt mở rộng tại Thái Lan (9/2019)… đã góp phần quan trọng quảng bá các doanh nghiệp, thương hiệu Việt Nam ra thị trường quốc tế.

Doanh nhân, trí thức kiều bào đã chung tay hành động và trở thành bộ phận đóng góp hiệu quả vào hợp tác với trong nước, đồng hành trực tiếp với Chính phủ nhằm xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển, phục vụ người dân và doanh nghiệp một cách tốt nhất. Các nhóm, mạng lưới chuyên gia, trí thức Việt kiều thường xuyên tham vấn cho Chính phủ, cho ý kiến về xây dựng “Chính phủ thông minh”, “tạo lập hệ thống chấm điểm hành chính quốc gia”…

Sức sống từ kiều bào trẻ

Uỷ ban Nhà nước về NVNONN đã đứng ra tổ chức nhiều hoạt động quy tụ trí thức trẻ. Đất nước đang thực sự giang tay chào đón thế hệ trẻ trở về với quê hương và kết nối sự phát triển của Việt Nam với thế giới. Ủy ban phối hợp với Hội Thanh niên và Sinh viên Việt Nam tại Mỹ tổ chức chương trình Vòng tay nước Mỹ (8/2019) cùng với Hội thảo Nâng cao khả năng đóng góp cho đất nước của du học sinh và chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài, hỗ trợ Viện hàn lâm trẻ Việt Nam (tại Anh) tổ chức Hội thảo các Viện hàn lâm trẻ toàn thế giới tại Đà Nẵng.

Hội nghị Hàn lâm trẻ toàn cầu là một trong nhiều hoạt động quy tụ trí thức trẻ của Ủy ban về Người Việt Nam ở nước ngoài.

Đặc biệt, tháng 11/2019, Ủy ban cũng hỗ trợ Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức thành công Diễn đàn Trí thức trẻ toàn cầu lần hai tại Hà Nội, thu hút hơn 200 trí thức đang sinh sống và học tập ở ngoài nước.

Trong năm qua, cộng đồng NVNONN không chỉ có đóng góp quan trọng vào sự phát triển của đất nước trong các lĩnh vực như đầu tư, thương mại, khoa học, công nghệ, mà đã bắt đầu có nhiều đóng góp hơn trong lĩnh vực văn hóa, thể thao. Vừa qua, đội bóng rổ nam Việt Nam với phần lớn thành viên là kiều bào ta ở nước ngoài đã đoạt vé vào bán kết SEA Games 30. Các cầu thủ mang trong mình dòng máu Lạc Hồng trở về Việt Nam với khao khát lớn nhất được trở thành cầu thủ bóng rổ chuyên nghiệp trên mảnh đất quê hương, đã góp phần vào thành tích lịch sử của đoàn thể thao Việt Nam.

Bước vào năm 2020 với những sự kiện trọng đại của dân tộc là kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 130 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 75 năm ngày thành lập nước, 45 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cùng trọng trách “kép” ở ASEAN và Liên hợp quốc, công tác về NVNONN cần tiếp tục được đổi mới, đột phá trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ trương lớn về đại đoàn kết dân tộc, góp phần tạo nên sức mạnh cộng hưởng cho công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong thời gian tới.

CÁC KIỀU BÀO TIÊU BIỂU VÀO LĂNG VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

TPO – Sáng 18/1 (tức ngày 24 tháng Chạp năm Kỷ Hợi), 130 kiều bào tiêu biểu về dự chương trình Xuân Quê hương 2020 đã đến đặt hoa tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đặng Minh Khôi, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài và ông Phùng Khánh Tài, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam dẫn đầu đoàn kiều bào tiêu biểu vào lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đặng Minh Khôi, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài và ông Phùng Khánh Tài, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam dẫn đầu đoàn kiều bào tiêu biểu vào lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đoàn kiều bào tiêu biểu chúc mừng lãnh đạo Đảng

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đặng Minh Khôi, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam tại nước ngoài, và ông Phùng Khánh Tài, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, dẫn đầu đoàn 130 kiều bào tiêu biểu đến đặt vòng hoa tại tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ đường Bắc Sơn và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đoàn kiều bào tiêu biểu viếng lăng Bác, dâng hương ở Đền Đô - ảnh 1
Đoàn kiều bào tiêu biểu đặt hoa tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ.

Xuân Quê hương là sự kiện thường niên do Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài – Bộ Ngoại giao phối hợp với Ủy ban Nhân dân TP Hà Nội và các cơ quan chức năng tổ chức, để những người con xa quê có cơ hội gặp gỡ, cùng ôn lại những phong tục truyền thống của văn hóa Việt, hướng về nguồn cội, tổ tiên và cầu chúc cho nhau những điều tốt đẹp nhất. Sự kiện này được cộng đồng người Việt Nam sinh sống và làm việc ở nước ngoài quan tâm và chờ đón.Đoàn kiều bào tiêu biểu vào lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đoàn kiều bào tiêu biểu viếng lăng Bác, dâng hương ở Đền Đô - ảnh 2
Đây là lần thứ 12 Xuân Quê hương được tổ chức cho bà con kiều bào mỗi dịp Tết đến, Xuân về.

Điểm đặc biệt  của chương trình năm nay, ngoài các hoạt động tại  Hà Nội, đoàn kiều bào tiêu biểu đã về Khu di tích Lịch sử Đền Đô (tỉnh Bắc Ninh), dâng hương tưởng nhớ tri ân các vị vua triều Lý và tham dự nghi thức thả cá chép, gặp mặt lãnh đạo tỉnh Bắc Ninh.

Đoàn kiều bào tiêu biểu viếng lăng Bác, dâng hương ở Đền Đô - ảnh 3
Đoàn kiều bào tiêu biểu vào dâng hương ở Đền Đô, Bắc Ninh.Đền Đô là nơi thờ các vị Vua triều nhà Lý trị vì đất nước hơn 200 năm, lập nên Kinh đô Thăng Long.
Đoàn kiều bào tiêu biểu viếng lăng Bác, dâng hương ở Đền Đô - ảnh 4
Thứ trưởng Đặng Minh Khôi (thứ tư từ trái sang) và ông Lý Thừa Vĩnh (thứ 6 từ trái sang) cùng đoàn kiểu bào tiêu biểu dâng hương tại Đền Đô.

Trong đoàn kiều bào tiêu biểu về dâng hương tại Đền Đô có ông Lý Thừa Vĩnh, hậu duệ đời thứ 28 của vua Lý Thái Tổ, Chủ tịch dòng họ Lý Hoa Sơn tại Hàn Quốc.Ông Vĩnh cho biết, năm nào vào dịp lễ hội Đền Đô (15/3 âm lịch) ông cũng trở về Đền Đô, quê cha đất tổ, để chắp tay chiêm bái tổ tiên dòng họ Lý. Năm nay, có một điều khá thú vị và đặc biệt, ông được cùng lãnh đạo Bộ Ngoại giao, Mặt trận Tổ quốc và đông đảo bà con kiều bào từ nhiều quốc gia trên thế giới về dâng hương tại Đền Đô.Ông Vĩnh chia sẻ: “Tôi xúc động vô cùng và sẽ nỗ lực hơn nữa trong việc hàn gắn tình thân giữa hai nước Việt Nam và Hàn Quốc. Tôi sẽ cố gắng cho con cháu họ Lý ở Hàn Quốc hướng về quê hương đất nước nhiều hơn nữa”.

HÀ THU

Các kiều bào tiêu biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

TPO – Sáng 18/1 (tức ngày 24 tháng Chạp năm Kỷ Hợi), 130 kiều bào tiêu biểu về dự chương trình Xuân Quê hương 2020 đã đến đặt hoa tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đặng Minh Khôi, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài và ông Phùng Khánh Tài, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam dẫn đầu đoàn kiều bào tiêu biểu vào lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đặng Minh Khôi, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài và ông Phùng Khánh Tài, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam dẫn đầu đoàn kiều bào tiêu biểu vào lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đoàn kiều bào tiêu biểu chúc mừng lãnh đạo Đảng

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đặng Minh Khôi, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam tại nước ngoài, và ông Phùng Khánh Tài, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, dẫn đầu đoàn 130 kiều bào tiêu biểu đến đặt vòng hoa tại tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ đường Bắc Sơn và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đoàn kiều bào tiêu biểu viếng lăng Bác, dâng hương ở Đền Đô - ảnh 1
Đoàn kiều bào tiêu biểu đặt hoa tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ.

Xuân Quê hương là sự kiện thường niên do Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài – Bộ Ngoại giao phối hợp với Ủy ban Nhân dân TP Hà Nội và các cơ quan chức năng tổ chức, để những người con xa quê có cơ hội gặp gỡ, cùng ôn lại những phong tục truyền thống của văn hóa Việt, hướng về nguồn cội, tổ tiên và cầu chúc cho nhau những điều tốt đẹp nhất. Sự kiện này được cộng đồng người Việt Nam sinh sống và làm việc ở nước ngoài quan tâm và chờ đón.Đoàn kiều bào tiêu biểu vào lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đoàn kiều bào tiêu biểu viếng lăng Bác, dâng hương ở Đền Đô - ảnh 2
Đây là lần thứ 12 Xuân Quê hương được tổ chức cho bà con kiều bào mỗi dịp Tết đến, Xuân về.

Điểm đặc biệt  của chương trình năm nay, ngoài các hoạt động tại  Hà Nội, đoàn kiều bào tiêu biểu đã về Khu di tích Lịch sử Đền Đô (tỉnh Bắc Ninh), dâng hương tưởng nhớ tri ân các vị vua triều Lý và tham dự nghi thức thả cá chép, gặp mặt lãnh đạo tỉnh Bắc Ninh.

Đoàn kiều bào tiêu biểu viếng lăng Bác, dâng hương ở Đền Đô - ảnh 3
Đoàn kiều bào tiêu biểu vào dâng hương ở Đền Đô, Bắc Ninh.Đền Đô là nơi thờ các vị Vua triều nhà Lý trị vì đất nước hơn 200 năm, lập nên Kinh đô Thăng Long.
Đoàn kiều bào tiêu biểu viếng lăng Bác, dâng hương ở Đền Đô - ảnh 4
Thứ trưởng Đặng Minh Khôi (thứ tư từ trái sang) và ông Lý Thừa Vĩnh (thứ 6 từ trái sang) cùng đoàn kiểu bào tiêu biểu dâng hương tại Đền Đô.

Trong đoàn kiều bào tiêu biểu về dâng hương tại Đền Đô có ông Lý Thừa Vĩnh, hậu duệ đời thứ 28 của vua Lý Thái Tổ, Chủ tịch dòng họ Lý Hoa Sơn tại Hàn Quốc.Ông Vĩnh cho biết, năm nào vào dịp lễ hội Đền Đô (15/3 âm lịch) ông cũng trở về Đền Đô, quê cha đất tổ, để chắp tay chiêm bái tổ tiên dòng họ Lý. Năm nay, có một điều khá thú vị và đặc biệt, ông được cùng lãnh đạo Bộ Ngoại giao, Mặt trận Tổ quốc và đông đảo bà con kiều bào từ nhiều quốc gia trên thế giới về dâng hương tại Đền Đô.Ông Vĩnh chia sẻ: “Tôi xúc động vô cùng và sẽ nỗ lực hơn nữa trong việc hàn gắn tình thân giữa hai nước Việt Nam và Hàn Quốc. Tôi sẽ cố gắng cho con cháu họ Lý ở Hàn Quốc hướng về quê hương đất nước nhiều hơn nữa”.

HÀ THU

Kính gửi: Các anh chị phóng viên kiều bào.

Hàng năm, vào dịp têt cổ truyền của dân tộc, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài – Bộ Ngoại giao phối hợp với các cơ quan tổ chức chương trình “Xuân Quê hương” dành cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Chương trình đã thành sự kiện lớn, thu hút đông đảo kiều bào từ khắp nơi trên thế giới về quê hương đón tết, được cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài chờ đón mỗi dịp Tết đến Xuân về.

Trên tinh thần đó, nhân dịp Tết Nguyên Đán Canh Tý 2020, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài – Bộ Ngoại giao phối hợp với UBND thành phố Hà Nội và UBND tỉnh Bắc Ninh tổ chức chương trình Xuân Quê Hương 2020 tại thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh vào ngày 18/01/2019 (tức ngày 24 tháng chạp âm lịch).

Các đồng chí Lãnh đạo, nguyên Lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Lãnh đạo Bộ Ngoại giao, Lãnh đạo Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Lãnh đạo Thành phố Hà Nội, đại diện các ban, bộ, ngành, địa phương cùng đông đảo kiều bào về nước đón Tết Nguyên đán sẽ tham dự chương trình.

Chương trình sẽ được truyền hình trực tiếp trên kênh VTV1, VTV4 và các đài truyền hình địa phương.

Ban Tổ chức xin trân trọng thông báo và kính mời các phóng viên kiều bào đang sinh sống, học tập và làm việc ở nước ngoài đăng ký tham dự thông qua Vụ Thông tin Văn hóa – Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài – Bộ Ngoại giao trước ngày 09/01/2019 theo đường link như sau: https://forms.gle/AcFbegrw9MN1Rk6o8 và khai form ở file đính kèm.

Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài – Bộ Ngoại giao sẽ thông báo thời gian, địa điểm chương trình, cũng như các thủ tục tiếp theo nếu có.


——

Vụ Thông tin – Văn hóa,
Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao
Địa chỉ: 32 Bà Triệu, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Tel: (024) 39346813; (024) 38240401 # 109/ Fax: (024) 38259211

Mẫu 01/BC-BNG
Form 01/BC-BNG

(Tên cơ quan báo chí nước ngoài/Name of foreign press agency)
…………………………
ĐƠN ĐỀ NGHỊ
HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ TẠI VIỆT NAM
DÀNH CHO PHÓNG VIÊN KHÔNG THƯỜNG TRÚ
APPLICATION FORM
FOR PRESS ACTIVITIES OF NON-RESIDENT CORRESPONDENTS IN VIET NAM
….. , ngày(dd) ……. tháng(mm) ……năm(yyyy)……..

Kính gửi : Bộ Ngoại giao
Nước CHXHCN Việt Nam
To:
The Ministry of Foreign Affairs
Socialist Republic of Viet Nam

Cơ quan báo chí /Press Agency:…………………………………………………..
Địa chỉ/Address: …………………………………………………………………..
Điện thoại/Telephone number:…………………………………………………….
Fax/Facsimile:………………………… .Email: ………….…………………………
Thông tin về phóng viên/Details of correspondents
Họ và tên/Full name (As in passport):…………………………………………
Ngày sinh/Date of birth (dd-mm-yyyy):…….……………………………………..
Giới tính/Gender:………………Nam/Male ( )………..Nữ/Female ( )…………
Quốc tịch hiện nay/Current nationality:…………………………………………..
Quốc tịch gốc/Original nationality:……………………………………………….
Số hộ chiếu/Passport number:…………………………………………………….
Ngày cấp/Date of issuance:………………Ngày hết hạn/Expiry date:……………
Địa chỉ/Address:…………………………………………………………………
Điện thoại/Tel:……………………..Fax:…………………Email: ………………….
Chức danh/Title:………………………………………………………………..
Nơi nhận thị thực/Place to receive entry visa (provide specific name of overseas Vietnamese representative office or entry airport in case of requesting visa on arrival):………………………………………………………………………………………
2. Họ và tên/Full name (As in passport): …………………………………………………………
* Những thông tin cần thiết khác (nếu có)/Other nececessary information (if any)………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………..


II. Chương trình dự kiến/Tentative programme
Mục đích/Purpose:…………………………………………………………

……………………………………………………………………………..

Nội dung/Content:………………………………………………………….

……………………………………………………………………………..

Thời gian/Time:…………………………………………………………….

Địa điểm/Place(s):…………………………………………………………

Dự kiến câu hỏi phỏng vấn/Questions for interview:……………………….

………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………….

……………………………………………………………………………….

Dự kiến phát hành/phát sóng/Publication/broadcasting plan:

………………………………………………………………………………

III. Danh mục phương tiện kỹ thuật, nghiệp vụ mang vào Việt Nam
List of technical equipment to be brought into Viet Nam


IV. Cơ quan hướng dẫn báo chí tại Việt Nam (nếu có)
Authorised agency accompanying foreign correspondents (if any)
Cơ quan/Agency:………………………………………………………………
Địa chỉ/Address:………………………………………………………………..
Điện thoại/Tel:…………………Fax:…………………Email: …………..……

Phóng viên cam kết tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật của Việt Nam.
Foreign correspondent(s) hereby affirm(s) to comply fully with regulations of the current Vietnamese law.

Đại diện có thẩm quyền của cơ quan báo chí nước ngoài
Authorised representative of the foreign press agency
(Ghi rõ họ tên, ký/Signature, full name)

Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Tặng Bằng Khen Và Kỷ Niệm Chương Cho Tiến Sỹ Nguyễn Thanh Mỹ ( Canada )

BVD- Theo báo Quê Hương, chiều 17/9, tại Trà Vinh, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về NVNONN Nguyễn Quốc Cường đã trao tặng Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cho Tiến sỹ Nguyễn Thanh Mỹ (kiều bào tại Canada) về thành tích trong thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp công tác đối với NVNONN” cho ông và phu nhân Bùi Thị Nhàn.

Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Quốc Cường trao tặng Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cho Tiến sỹ Nguyễn Thanh Mỹ

Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Quốc Cường trao tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài” cho Tiến sỹ Nguyễn Thanh Mỹ và phu nhân
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài Nguyễn Quốc Cường phát biểu tại buổi lễ
Quang cảnh buổi lễ trao tặng khen thưởng
Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Quốc Cườ ng chụp ảnh lưu niệm với Tiến sỹ Nguyễn Thanh Mỹ và phu nhân cùng các đại biểu tham dự
Quang cảnh buổi lễ trao tặng khen thưởng

Dự lễ trao tặng còn có ông Nguyễn Trung Hoàng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh, ông Ngô Trường Giang – Phó Chủ tịch UBND thành phố Trà Vinh cùng cán bộ, nhân viên Công ty Cổ phần Mỹ Lan.

Phát biểu tại đây, Thứ trưởng Nguyễn Quốc Cường bày tỏ vui mừng khi gặp lại vợ chồng Tiến sỹ Nguyễn Thanh Mỹ; xúc động nhớ lại cách đây gần 20 năm khi đang công tác tại Đại sứ quán Việt Nam ở Canada đã được gặp gỡ và rất ấn tượng bởi sự chân thành cũng như tấm lòng đau đáu hướng về quê hương của vợ chồng Tiến sỹ.

Thứ trưởng hoan nghênh và đánh giá cao đóng góp to lớn của Tập đoàn Mỹ Lan và RYNAN cho sự phát triển của tỉnh Trà Vinh nói riêng và của cả nước nói chung trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao, góp phần phát triển Cách mạng 4.0 ở Việt Nam, cũng như đưa các sản phẩm mang thương hiệu “Made in Vietnam” ra thế giới và được quốc tế công nhận. Tiến sỹ Nguyễn Thanh Mỹ thực sự là tấm gương doanh nhân kiều bào điển hình để thế hệ trẻ noi theo.

Mặc dù rất bận rộn với các dự án cá nhân, Tiến sỹ Nguyễn Thanh Mỹ vẫn thể hiện trách nhiệm rất cao đối với cộng đồng doanh nhân kiều bào. Với vai trò là Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân NVNONN, ông đã nỗ lực, góp phần quan trọng trong tăng cường kết nối các doanh nhân kiều bào cả ở trong và ngoài nước, cùng hợp tác, phát triển và đóng góp xây dựng đất nước.

Thứ trưởng mong muốn Ban Chấp hành Hiệp hội Doanh nhân NVNONN tiếp tục xây dựng, củng cố mạng lưới, thúc đẩy thương mại, đưa hàng hóa Việt Nam ra nước ngoài nhiều hơn nữa trong thời gian tới.

Nhân dịp này, Thứ trưởng cũng bày tỏ sự cảm kích đối với bà Bùi Thị Nhàn, phu nhân Tiến sỹ vì sự ủng hộ, động viên, tin tưởng mà bà dành cho chồng trong suốt cuộc đời. Bà luôn đồng hành với ông Mỹ trong tất cả các hoạt động, là cộng sự quan trọng góp phần làm nên những thành công của Tiến sỹ Nguyễn Thanh Mỹ kể cả trong lĩnh vực khoa học hay với vai trò là một doanh nhân.

* Ông Nguyễn Thanh Mỹ sinh ngày 2/9/1956 tại Châu Thành, Trà Vinh. Ông tốt nghiệp Tiến sỹ ngành Khoa học Năng lượng và Vật liệu vào năm 1990 tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu về Năng lượng, Vật liệu và Viễn thông Canada.
Ông nổi tiếng trong giới khoa học NVNONN với trên 200 bằng sáng chế ở Hoa Kỳ, Canada và nhiều nước trên thế giới.
Ông cũng là đồng tác giả của trên 68 báo cáo được đăng trên các tạp chí khoa học lớn ở Anh, Đức và Hoa Kỳ.
Sau hơn 20 năm sinh sống và làm việc tại nước ngoài, năm 2004 ông trở về Việt Nam đầu tư, xây dựng nhà máy công nghệ cao tại Trà Vinh – một trong những tỉnh nghèo nhất Việt Nam, tạo việc làm cho lao động địa phương (hiện có khoảng 1.000 công nhân), xây dựng cơ sở hạ tầng, đóng góp cho y tế, giáo dục…
Ông cũng đã phát triển mạnh việc ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp gồm sản xuất phân bón thông minh, thiết bị IoT như ổ khóa, đồng hồ nước thông minh.
Tính đến năm 2016, Tiến sỹ Nguyễn Thanh Mỹ đã sáng lập và đồng sáng lập 8 doanh nghiệp công nghệ cao, trong đó có 6 doanh nghiệp tại Trà Vinh.*

Bà Bùi Thị Nhàn sinh ngày 17/01/1964 tại TPHCM. Hiện bà là Tổng Giám đốc Cty Cổ phần RYNAN Technologies Vietnam, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Cty Cổ phần Mỹ Lan và Chủ tịch HĐTV Cty TNHH Sản xuất Vật tư ngành in Mỹ Lan.

Thu Hằng

Nghị Quyết 36 Anh và Việt ngữ

http://www.quehuongonline.vn/van-kien-nghi-quyet/nghi-quyet-36-cua-bo-chinh-tri-ve-cong-tac-doi-voi-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-6493.htm

Nghị quyết được Bộ Chính trị ban hành ngày 26/3/2004. Dưới đây là toàn văn Nghị quyết.

 I- Tình hình và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài thời gian qua.

1- Hiện nay có khoảng 2,7 triệu người Việt Nam đang sinh sống ở gần 90 nước và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 80% ở các nước công nghiệp phát triển, phần đông bà con ngày càng ổn định cuộc sống và hòa nhập vào xã hội nơi cư trú, có vị trí nhất định trong đời sống kinh tế, chính trị – xã hội ở nước sở tại, có tác động ở mức độ khác nhau tới mối quan hệ giữa các nước đó với Việt Nam. Bên cạnh đó, trong những năm qua hàng trăm nghìn người Việt Nam đã ra nước ngoài lao động, học tập, tu nghiệp, đoàn tụ gia đình, hình thành các cộng đồng người Việt Nam tại một số địa bàn mới. 

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có tiềm lực kinh tế nhất định, có mối quan hệ với nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoài và quốc tế, có khả năng tìm kiếm đối tác và làm cầu nối với các doanh nghiệp, tổ chức trong nước. Nhiều trí thức có trình độ học vấn và chuyên môn cao; một số người giữ vị trí quan trọng trong các cơ quan, cơ sở nghiên cứu, đào tạo, các công ty và tổ chức quốc tế, có khả năng tạo dựng quan hệ với các cơ sở kinh tế, khoa học ở nước sở tại.

Mặc dù sống xa Tổ quốc, đồng bào luôn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống văn hóa và hướng về cội nguồn, dòng tộc, gắn bó với gia đình, quê hương. Nhiều người đã có những đóng góp về tinh thần, vật chất và cả xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Thành tựu to lớn của nhân dân ta trong sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữ vững sự ổn định chính trị – xã hội và không ngừng nâng cao vị thế quốc tế của đất nước càng củng cố thêm niềm tự hào dân tộc và tinh thần yêu nước của người Việt Nam ở nước ngoài. Đông đảo bà con hoan nghênh công cuộc đổi mới và chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước, mong muốn đất nước cường thịnh, sánh vai với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới; nhiều người đã về thăm gia đình, quê hương, tham gia các hoạt động đầu tư, kinh doanh, hợp tác khoa học, công nghệ, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, nhân đạo, từ thiện… Tình hình trên là xu thế chủ yếu trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. 

Tuy nhiên, người Việt Nam ở một số nước còn khó khăn trong việc ổn định cuộc sống, chưa được hưởng quy chế rõ ràng, thậm chí ở một số nơi còn bị kỳ thị. Một bộ phận đồng bào do chưa có dịp về thăm đất nước để tận mắt thấy được những thành tựu của công cuộc đổi mới hoặc do thành kiến, mặc cảm, nên chưa hiểu đúng về tình hình đất nước. Một số ít người đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở tại với Việt Nam. Tính liên kết cộng đồng, sự gắn bó giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng chưa cao. Còn thiếu các biện pháp duy trì, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; việc giữ gìn tiếng Việt và bản sắc dân tộc trong thế hệ trẻ còn khó khăn. Nhu cầu giao lưu văn hóa giữa cộng đồng với đất nước, giữ gìn và phát triển tiếng Việt trong cộng đồng là rất lớn và trở nên bức thiết song chưa được đáp ứng. Sự đóng góp của bà con vào công cuộc xây dựng đất nước, nhất là về tri thức, chưa tương xứng với tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. 

2- Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách rộng mở và biện pháp cụ thể nhằm tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho đồng bào về thăm đất nước, người thân, đầu tư, kinh doanh, hợp tác khoa học – công nghệ, hoạt động văn hóa – nghệ thuật. Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã được đổi mới và đạt được những kết quả đáng kể cả ở trong và ngoài nước. Công tác thông tin, văn hóa phục vụ cộng đồng từng bước được tăng cường, nhất là trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình và qua mạng Internet. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chính quyền địa phương và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã có chuyển biến tích cực.

Tuy nhiên, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người Việt Nam ở nước ngoài chưa được quán triệt sâu sắc, thực hiện đầy đủ. Công tác nghiên cứu, tham mưu về chính sách chưa theo kịp những chuyển biến mới. Công tác bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài chưa được quan tâm đúng mức. Các chính sách đã ban hành chưa đồng bộ và chưa thể hiện đầy đủ tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc; chưa khuyến khích mạnh mẽ người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, đóng góp cho công cuộc phát triển đất nước. Chưa có hình thức thỏa đáng để cung cấp kịp thời và đầy đủ thông tin cho đồng bào về tình hình đất nước và chính sách của Đảng và Nhà nước. Hình thức vận động cộng đồng còn chưa thực sự đổi mới, đa dạng và linh hoạt để có thể quy tụ, động viên đông đảo bà con tham gia các hoạt động có ích cho cộng đồng và quê hương. Việc phát hiện, bồi dưỡng những nhân tố tích cực, việc khen thưởng, động viên những người có thành tích ít được chú trọng. 

Nguyên nhân chủ yếu của những yếu kém trên là các cấp, các ngành, các đoàn thể nhân dân chưa nhận thức thật sự đầy đủ và sâu sắc các quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, nhiều cấp ủy Đảng và lãnh đạo chính quyền các cấp chưa quan tâm đúng mức và chưa thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công tác này. Sự phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan, giữa Trung ương và địa phương, giữa trong và ngoài nước còn thiếu chặt chẽ, các cơ quan trực tiếp làm công tác về người Việt Nam ở nước ngoài chưa được kiện toàn đủ mạnh, kinh phí còn hạn chế. 

II- Chủ trương và phương hướng công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài thời gian tới

1- Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần thể hiện đầy đủ truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc. Cơ sở của sự đoàn kết là ý thức dân tộc và lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và mục tiêu chung của mọi người Việt Nam là giữ vững nền độc lập dân tộc, thống nhất của Tổ quốc, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

2- Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng  cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước. Nhà nước có trách nhiệm thỏa thuận với các nước hữu quan về khuôn khổ pháp lý để đồng bào ổn định cuộc sống và bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài theo luật pháp, công ước và thông lệ quốc tế.

Đảng và Nhà nước mong muốn, khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp nước sở tại, chăm lo xây dựng cuộc sống, làm ăn thành đạt, nêu cao tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc Việt Nam, đoàn kết đùm bọc, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước bà con sinh sống với nước nhà, tùy theo khả năng và điều kiện của mỗi người góp phần xây dựng quê hương đất nước, chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc. 

3- Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần mang tính đồng bộ, kết hợp việc xây dựng cơ chế, chính sách với công tác vận động, kết hợp các hoạt động trong nước với các hoạt động ở nước ngoài và phải được tiến hành thông qua nhiều loại hình hoạt động và biện pháp phù hợp với các đối tượng và địa bàn khác nhau, trên cơ sở tự nguyện và không trái với pháp luật, phong tục, tập quán của nước sở tại.

4- Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân. Các tổ chức đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, các ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương, ở trong nước và ngoài nước và toàn dân ta cần coi đây là một nhiệm vụ quan trọng nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

III – Nhiệm vụ chủ yếu 

1- Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi và hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, yên tâm làm ăn sinh sống, hội nhập vào đời sống xã hội nước sở tại, đồng thời duy trì quan hệ gắn bó với quê hương, đất nước. 

Thông qua các hoạt động ngoại giao tích cực vận động chính quyền nước sở tại tạo thuận lợi cho kiều bào có điều kiện làm ăn sinh sống bình thường; chủ động tiến hành đàm phán và ký kết các thỏa thuận cần thiết với các nước, trong đó có các hiệp định lãnh sự, hiệp định tư pháp, bảo vệ lợi ích chính đáng của bà con, chống các biểu hiện kỳ thị, các hành động chống lại người Việt Nam ở nước ngoài. Giải quyết nhanh chóng, thỏa đáng yêu cầu của người Việt Nam ở nước ngoài liên quan đến vấn đề quốc tịch.

Tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài về thăm quê hương, thân nhân, thờ cúng tổ tiên. Cụ thể hóa và hoàn thiện hơn nữa các quy định về xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại ở trong nước của người Việt Nam ở nước ngoài theo hướng thông thoáng, thuận tiện và đơn giản thủ tục. Giải quyết thuận lợi, nhanh chóng thủ tục cho người Việt Nam ở nước ngoài hồi hương hoặc về làm ăn, sinh sống có thời hạn ở trong nước; tiếp tục giải quyết những vấn đề tồn tại về mua nhà ở trong nước, thừa kế, hôn nhân gia đình, nhận con nuôi… liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài. Dành cho người Việt Nam ở nước ngoài giá dịch vụ như công dân trong nước. 

Có hình thức thích hợp tổ chức thu thập ý kiến của đồng bào ở nước ngoài trước khi ban hành các văn bản pháp quy, chính sách có liên quan nhiều tới người Việt Nam ở nước ngoài. 

2- Hoàn chỉnh và xây dựng mới hệ thống chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức kiều bào vào công cuộc phát triển đất nước. Xây dựng chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với những chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ chuyên môn cao, có khả năng tư vấn về quản lý, điều hành, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cao cho đất nước, góp phần phát triển nền văn hóa, nghệ thuật của nước nhà. 

Xây dựng và hoàn thiện các chính sách tạo thuận lợi và khuyến khích các ngành, các trung tâm nghiên cứu khoa học – công nghệ, văn hóa nghệ thuật, giáo dục – đào tạo, y tế, thể dục – thể thao, các cơ sở sản xuất, dịch vụ… ở trong nước mở rộng hợp tác, thu hút sử dụng chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tham gia công việc ở trong nước, làm việc cho các chương trình, dự án hợp tác đa phương và song phương của Việt Nam với nước ngoài hoặc trong các tổ chức quốc tế có chỉ tiêu dành cho người Việt Nam và tư vấn trong các quan hệ giữa Việt Nam với đối tác nước ngoài. 

Tranh thủ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tiến hành hoạt động vận động, tư vấn về pháp lý trong quan hệ với nước bà con làm ăn sinh sống. 

3- Hoàn chỉnh và xây dựng mới các chính sách thu hút người Việt Nam ở nước ngoài hoạt động đầu tư, kinh doanh ở trong nước. Coi trọng các hình thức đầu tư, kinh doanh quy mô vừa và nhỏ do người Việt Nam ở nước ngoài trực tiếp thực hiện hoặc thông qua người thân trong nước thực hiện. Mở rộng và tạo thuận lợi hơn nữa chính sách kiều hối. Phát huy khả năng của người Việt Nam ở nước ngoài làm dịch vụ, thiết lập và mở rộng kênh tiêu thụ hàng hóa Việt Nam, các quan hệ hợp tác và đầu tư với các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân nước ngoài. 

Thiết lập cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc giải quyết các vụ việc liên quan đến doanh nghiệp do người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư vào trong nước, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của các doanh nghiệp, xử lý các vi phạm theo đúng pháp luật, góp phần tạo môi trường pháp lý ổn định, làm cho người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư, hợp tác với trong nước yên tâm, tin tưởng. 

4- Đổi mới và đa dạng hóa các phương thức vận động, các hình thức tập hợp với mục đích đoàn kết người Việt Nam ở nước ngoài quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, khuyến khích những hoạt động hướng về Tổ quốc của bà con, nhất là của thế hệ trẻ trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với pháp luật và phong tục tập quán nước sở tại. Hỗ trợ các dự án của người Việt Nam ở nước ngoài nhằm mục tiêu trên. Chủ động mở rộng tiếp xúc với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, kể cả với những người còn có định kiến, mặc cảm với Nhà nước và chế độ ta. 

5- Tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ. Xây dựng và hoàn chỉnh sách giáo khoa tiếng Việt cho kiều bào, cải tiến các chương trình dạy tiếng Việt trên vô tuyến truyền hình, đài phát thanh và qua mạng Internet. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể để giúp bà con học tiếng Việt. Tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh, thiếu niên người Việt Nam ở nước ngoài. 

Tổ chức cho các đoàn nghệ thuật, nhất là các đoàn nghệ thuật dân tộc ra nước ngoài biểu diễn phục vụ cộng đồng. Tạo điều kiện cho các nghệ sĩ, vận động viên là người Việt Nam ở nước ngoài về nước biểu diễn, thi đấu, tham gia các đoàn Việt Nam đi biểu diễn và thi đấu quốc tế. Thường xuyên tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật, triển lãm, hội thảo, du lịch về cội nguồn.

6- Đổi mới mạnh mẽ và toàn diện công tác thông tin, tuyên truyền, giúp cho người Việt Nam ở nước ngoài hiểu đúng tình hình đất nước và chính sách của Đảng và Nhà nước. Đầu tư cho các chương trình dành cho người Việt Nam ở nước ngoài của đài phát thanh, truyền hình và Internet; chú trọng đổi mới nội dung, hình thức và kỹ thuật của các chương trình này. Hỗ trợ việc ra báo viết, mở đài phát thanh, truyền hình ở ngoài nước. Xây dựng thư viện trên mạng Internet để phục vụ cho người Việt Nam sống xa Tổ quốc. Hỗ trợ kinh phí vận chuyển và đơn giản hóa thủ tục đối với việc gửi sách báo, văn hóa phẩm ra ngoài phục vụ cộng đồng. 

 7- Hoàn chỉnh chính sách khen thưởng đối với người Việt Nam ở nước ngoài, đưa vào nền nếp việc khen thưởng các tổ chức và cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài có thành tích trong vận động xây dựng cộng đồng, đóng góp xây dựng đất nước, tổ chức và cá nhân trong nước có thành tích trong công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài. Giải quyết có tình, có lý và trên cơ sở đạo lý Việt Nam các vấn đề nhân đạo do lịch sử để lại nhằm thực hiện chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời có biện pháp phù hợp đấu tranh với những biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích dân tộc, phá hoại quan hệ giữa các nước có đông người Việt Nam sinh sống với Việt Nam hoặc gây chia rẽ trong cộng đồng người Việt Nam ở nước sở tại.

8- Các tổ chức Đảng, các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức và đoàn thể nhân dân theo chức năng, nhiệm vụ của mình tham gia tích cực vào công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài với các cơ quan hữu quan, với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, giữa trong nước với ngoài nước. Củng  cố và phát triển các tổ chức xã hội làm công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài, như Hội liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài, các hội thân nhân kiều bào và các hình thức tập hợp chính đáng khác, phù hợp với ý nguyện và đặc điểm của cộng đồng ở địa bàn cư trú.

Các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài có trách nhiệm coi công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là một nhiệm vụ chính trị quan trọng đẩy mạnh công tác bảo hộ công dân và bảo vệ những quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài; tích cực, chủ động tăng  cường tiếp xúc vận động, tuyên truyền phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tới bà con. 

9- Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài cần được kiện toàn với cơ cấu tổ chức, biên chế và phương tiện hoạt động đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới. Tăng cường cán bộ chuyên trách về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài tại cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở những nơi có đông người Việt Nam sinh sống. Một số bộ, ngành và một số tỉnh, thành phố có quan hệ nhiều với người Việt Nam ở nước ngoài cần có bộ phận giúp cơ quan lãnh đạo trong công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Bổ sung kinh phí cho công tác này. 

IV – Tổ chức thực hiện

1- Ban cán sự đảng Bộ Ngoại giao phối hợp với Ban cán sự đảng ngoài nước và các ban, ngành liên quan, UBTƯ MTTQ Việt Nam, các tổ chức và đoàn thể nhân dân tổ chức phổ biến rộng rãi nghị quyết này đến cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân trong nước và đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. 

2- Ban cán sự đảng Chính phủ cụ thể hóa nội dung nghị quyết thành chương trình hành động, các cơ chế, chính sách, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương thực hiện. 

3- Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự Đảng Chính phủ căn cứ vào nội dung Nghị quyết, xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp quy có liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài.

4- Các tỉnh ủy,  thành ủy, các ban cán sự Đảng, Đảng đoàn, Đảng ủy trực thuộc Trung ương, các ban Trung ương Đảng có kế hoạch thực hiện Nghị quyết. Ban cán sự đảng Bộ Ngoại giao chủ trì cùng Ban cán sự Đảng ngoài nước giúp Ban Bí thư và Bộ Chính trị theo dõi việc thực hiện Nghị quyết. Ban Bí thư tổ chức kiểm tra, định kỳ nghe báo cáo về tình hình và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.

http://quehuongonline.vn/van-ban-phap-luat/resolution-no-36-nqtw–march-26-2004-by-the-politbureau-on-the-overseas-vietnamese-affairs-6866.htm

RESOLUTION NO 36 – NQ/TW , MARCH 26, 2004 BY THE POLITBUREAU ON THE OVERSEAS VIETNAMESE AFFAIRS

I. BACKGROUND AND OVERSEAS VIETNAMESE AFFAIRS IN RECENT YEARS

1- At present, there are approximately 2.7 million overseas Vietnamese in around 90 countries and territories with 80% residing in developed nations. The majority of them have settled down and integrated into the local community with certain economic and political positions and influence to different extents on relations between Vietnam and their countries of residence. Besides, in recent years, hundreds of thousands of Vietnamese have gone abroad to work, study or reunite with their families, leading to the formation of more Vietnamese communities in these countries.

Vietnamese communities overseas have certain economic potentials. They also have connections with both foreign businesses and international organizations, and could help seek partners for Vietnamese enterprises and organizations.  Many of them have a high level of education and expertise. Some hold important positions in research or educational institutions, businesses, and international organizations, and therefore can have strong connections with economic and scientific establishments in the host countries.

Though living far away from their fatherland, overseas Vietnamese have always nurtured patriotism and national esteem, preserved cultural traditions, turned towards to their ancestors and origins, and kept close relationship with their families and homeland. Many have made spiritual and financial contribution or even sacrificed their own life for the cause of national liberalization and reunification. The national pride and patriotism of overseas Vietnamese have also been deepened alongside with Vietnam’s great achievements during the Doi Moi process in promoting economic, cultural and social development, maintaining social and political stability and improving its position in the international arena. The Doi Moi process and the policy for great national unity of the Party, State and Government have been applauded by the majority of overseas Vietnamese. Wishing for their homeland to prosper and stand on par with other nations in the region and the world, many people have returned to Vietnam to make investment, do business, promote cooperation in science, technology, culture, art, sport or participate in charity activities. This is the prevailing trend in the life of Vietnamese communities abroad.

However, overseas Vietnamese in a number of countries are still faced with difficulties in stabilizing their life and getting an official status. In some cases, they are even subject to discrimination. A number of overseas Vietnamese have not been able to come back to their homeland to see with their own eyes achievements of the Doi Moi process. Others may not fully understand the situation in Vietnam due to their prejudices or sense of inferiority. A small number still have attempts to carry out acts against the country, national interests and undermine the bilateral relationship between Vietnam and their country of residence. The cohesiveness and spirit of mutual assistance within each community are not strongly established. Measures to preserve and promote national identities and traditions are not taken, leading to difficulties in maintaining the Vietnamese language and culture among the younger generation. There is a high and critical need for overseas Vietnamese communities to conduct cultural exchanges with their homeland and maintain the Vietnamese language. However, this need has not been met. Their contributions to the national construction, especially their brainpower, are not commensurate with their potentials.

2- The Party, State and Government, considering overseas Vietnamese an inseparable part of the community of Vietnamese nationalities, have adopted open policies and measures to facilitate their return for visiting family, doing business and developing cooperation in science, technology, art and culture. The policy on the overseas Vietnamese has been reformed, bringing about positive outcomes both in and outside the country. Communication and cultural activities at community, especially through broadcasting and Internet, have been gradually improved. Progress has also been made in the coordination between competent agencies, namely the Vietnam Fatherland Front, local authorities and Vietnamese representative missions overseas.

However, guidelines and policies of the Party and State on overseas Vietnamese have not been fully understood and implemented. Policy studies and recommendations have not met the new requirements. Protection of the overseas Vietnamese’s legitimate rights has not been given due attention. Policies adopted are not synchronous and fully reflective of great national unity, failing to encourage overseas Vietnamese to turn towards the homeland and contribute to the national development. Ways and means to meet the need of overseas Vietnamese for information on latest developments of the country and the policy of the Party and State have not been developed. Community mobilization has not been renewed and diversified to involve overseas Vietnamese in activities beneficial to the community and homeland. Less attention has been given to discovering and encouraging active elements as well as to rewarding those who have made contributions.

The major cause to these above-mentioned shortcomings is derived from insufficient awareness of different levels, branches and mass organizations about the Party’s policy on overseas Vietnamese. On the other hand, party committees and administrations at different levels have not given due attention to this undertaking and the implementation supervision. Coordination among relevant ministries and agencies as well as between central and local levels, between domestic and overseas agencies and mostly among agencies directly in charge of overseas Vietnamese affairs has not been consolidated. Besides, funding sources are still limited.

II. FUTURE GUIDELINES AND POLICIES ON OVERSEAS VIETNAMESE

1- The policy on overseas Vietnamese must fully reflect the tradition of national unity, which is built on nationalism, patriotism, national pride and common goals of every Vietnamese people to secure national independence and territorial integrity, build Viet Nam into a strong country with wealthy people, just, democratic and advanced society. On the one hand, all sense of inferiority, prejudice and discrimination due to their past or division of social classes will be eliminated in the spirit of openness, mutual respect and understanding as well as future outlook. All Vietnamese, regardless of their nationalities, religions and origins, social status and reasons of departure, who wish to contribute to the fulfillment of the above-said goals are welcomed to join the great national unity.

2- The overseas Vietnamese community is an integral part and resource of the Vietnamese nation, acting as an important factor to strengthen Viet Nam’s friendship and cooperation with other countries. The State is responsible for negotiating with countries concerned to set up legal framework for overseas Vietnamese to settle down and have their legitimate rights protected in accordance with the residing countries’ laws and international conventions and practice as well.

The Party and State wish to encourage overseas Vietnamese to integrate into the local societies, strictly follow residing countries’ laws and settle down, build a happy life, succeed in business and hold high the national self-respect and pride, maintain the Vietnamese language, cultural identities and national traditions as well. Overseas Vietnamese are also encouraged to promote their unity, mutual assistance, maintain links with family and homeland, thus helping expand friendship and cooperation between the residing countries and Viet Nam. Moreover, overseas Vietnamese, depending on their conditions, could also make contributions to the national construction, and actively participate in the struggle against attempts that run counter to the common interests of the nation.                 

3- Overseas Vietnamese affairs must be synchronous.  Policy should be coupled with its dissemination and domestic and overseas activities should be closely linked to each other. These undertakings should be carried out through appropriate forms and methods suitable for different groups of people and locations on a voluntary basis and not conflicting with the laws, customs and traditions of host countries.

4- Overseas Vietnamese affairs are the responsibility of the entire political system and people. Party, State and fatherland front’s institutions as well as mass organizations at different levels from central to local, domestic and overseas, and the entire population should view this as an important task to bring into full play the strength of the great national unity in the national construction and defense.

III. MAJOR TASKS

1- The State will create every favourable condition and give support for the overseas Vietnamese to stabilize their life, integrate into the society of residing countries and maintain close links with the homeland.

Seek local governments’ support, through active diplomatic activities, for overseas Vietnamese to lead a normal life; take steps to negotiate and sign necessary agreements with other countries, including consular and judicial agreements, to protect legitimate interests of overseas Vietnamese and prevent discrimination and other acts against the Vietnamese people abroad; address quickly and satisfactorily their requirements related to the citizenship issue.

Facilitate their return to visit their homeland, relatives and pay tribute to their ancestors; further streamline regulations on immigration, residence and travel of overseas Vietnamese in Viet Nam; Quickly process applications for repatriation or return for business or stay on definite terms in Vietnam; Continue to solve outstanding issues that involve overseas Vietnamese such as house purchase in Vietnam, inheritance, marriage and family, adoption and so on; introduce a single price system for all Vietnamese, domestic and overseas alike.

Put in place an appropriate mechanism for consultations with overseas Vietnamese before the promulgation of legal documents and policies concerned.

2- Improve existing and issue new policies on talents attraction to maximize overseas Vietnamese brainpower to the cause of national development; build a satisfactory mechanism of incentives and rewards for overseas Vietnamese experts and intellectuals who have good command of knowledge and skills and can advise the Government on management, transfer of technology and national arts and cultural development.

Introduce and improve policies to encourage and create favourable conditions for domestic agencies and institutions in science and technology, arts and culture, education and training, health, sports, production and services etc. to cooperate with or use overseas Vietnamese experts and intellectuals in implementing bilateral and multilateral programmes and projects between Vietnam and other countries or encourage them to work for international organizations that reserve quota for Vietnamese staff and advise the Vietnamese side in promoting relations with foreign partners.

Seek collaboration such as legal advice of overseas Vietnamese for lobbying activities in countries where they reside.

3- Improve the existing and introduce new policies to encourage overseas Vietnamese to invest and do business in Vietnam; attach importance to small and medium sized projects managed by overseas Vietnamese or through their relatives in Vietnam; further liberalize policies on remittance; make use of overseas Vietnamese’ ability and skills in the service sector to establish and expand distribution channels for Vietnamese products and to build new business and investment relations with foreign partners.

Establish a coordination mechanism among relevant authorities to solve cases involving overseas Vietnamese businesses in Vietnam to secure their legitimate and lawful rights and interests and deal with their violations in accordance with laws, thus creating a stable legal environment to build confidence among overseas Vietnamese investors.

4- Renew and diversify mobilizing activities aimed at uniting overseas Vietnamese in mutual assistance, encouraging them to turn towards the motherland, especially that of the young generation on the voluntary basis and in accordance with laws, traditions and customs of the local countries; assist overseas Vietnamese’ projects to achieve that goal; take active steps to increase contacts with overseas Vietnamese including those who still have prejudices against or sense of inferiority to our State and regime.

5- Increase investment in the programme of teaching and learning the Vietnamese language for overseas Vietnamese, especially for the younger generation; complete text books on the Vietnamese language for overseas Vietnamese and improve the Vietnamese language learning programmes on TV, radio and through the internet; where it is possible, send teachers to help overseas Vietnamese to learn the language; organize Vietnamese-speaking summer camps for overseas Vietnamese youths.

Organize performances by national art troupes, especially folklore groups, to serve overseas Vietnamese communities; creating favourable conditions for overseas Vietnamese artists and athletes to perform and compete in Vietnam and to participate in Vietnamese art and sport delegations taking part in international performances and competitions; organize, on a regular basis, cultural, literature and art exchange programmes as well as exhibitions, workshops and tours on the theme of “towards the origin”.

6- Strongly reform communication and information activities to help overseas Vietnamese better understand the country’s situation and Party and State’s policies; Invest more in radio, television and internet programmes targeting overseas Vietnamese, focus on renewing the contents and forms of these programmes as well as on their equipment; Support the publication of print media and the opening of radios and televisions abroad; Develop online libraries for overseas Vietnamese; Provide financial support for and simplify procedures for shipping books, newspapers and other publications to the Vietnamese community abroad.

7- Develop the rewarding policy for overseas Vietnamese, put in place the award mechanism for overseas Vietnamese individuals and organizations with meritorious contributions to strengthening the Vietnamese community, building the country, and for domestic Vietnamese individuals and organizations with contributions to overseas Vietnamese affairs; Address humanitarian issues left behind by history in a satisfactory way and based on the Vietnamese moral with a view to realizing the policy of great national unity; At the same time, take appropriate measures to prevent any attempt to act against our national interests, jeopardize the relations between Vietnam and countries having a large number of overseas Vietnamese or create division within the Vietnamese community in the host country.

8- Party organizations, State agencies at central and local levels, the Vietnam Fatherland Front and mass organizations, in accordance with their tasks and functions, take active part in overseas Vietnamese affairs; Develop close coordination between the Committee for Overseas Vietnamese and relevant agencies, the Vietnam Fatherland Front and mass organizations in Vietnam and abroad; Promote mass organizations involved in overseas Vietnamese affairs like the Liaison Office with Overseas Vietnamese, overseas Vietnamese relatives associations and other legitimate forms of associations that are in line with the desire of the community and conditions of residing countries.

Vietnamese diplomatic missions abroad must consider overseas Vietnamese affairs an important political task; step up protection for Vietnamese citizens and safeguard the legitimate interests of overseas Vietnamese; increase contacts with the Vietnamese community and disseminate information on Party and State’s policies.

9- The Committee for Overseas Vietnamese needs to be strengthened in terms of organizational structure, staffing and facilities to meet the new requirements; Increase full-time staff in charge of overseas Vietnamese affairs at Vietnamese diplomatic missions in countries with large Vietnamese communities. Ministries, agencies and cities and provinces having close relationship with overseas Vietnamese should establish a separate unit to assist their leadership in overseas Vietnamese affairs. Funding for this work should be increased.

IV- IMPLEMENTATION ARRANGEMENTS

1- The Commission for Party Affairs of the Ministry of Foreign Affairs, in coordination with the Commission for Party Affairs Overseas and relevant agencies, the Central Committee of the Vietnam Fatherland Front, and mass organizations is responsible for introducing widely this Resolution to Party members, public officials and the people of all social strata in the country and the Vietnamese community abroad.

2- The Commission for Party Affairs of the Government is responsible for developing this Resolution into action plans and policies, and provide implementation guidelines for ministries, agencies and local authorities.

3- The Party Committee of the National Assembly and Commission for Party Affairs of the Government, based on the Resolution, are responsible for developing and improving legal documents related to overseas Vietnamese.

4- Provincial and city Party organizations, commissions for party affairs, and Party Central Committee’s Commissions are responsible for elaborating plans for the implementation of the Resolution. The Commission for Party Affairs of the Ministry of Foreign Affairs, in coordination with the Commission for Party Affairs Overseas, assists the Secretary Committee and the Politburo in monitoring the implementation of the Resolution. The Secretary Committee is responsible for conducting regular reviews on the situation of overseas Vietnamese and related activities.

On behalf of the Politburo

Phan Dien

Chủ động bảo vệ lợi ích của 4,5 triệu người Việt ở nước ngoài

VOV.VN – Việt Nam cần có cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các ban, ngành để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động Việt Nam tại nước ngoài.

Để quản lý hiệu quả dòng người di cư và bảo vệ quyền lợi của người lao động di cư, việc ký kết các thỏa thuận song phương, đa phương giữa các quốc gia được nhiều người coi là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất. Thỏa thuận toàn cầu về di cư hợp pháp, an toàn và trật tự (Thỏa thuận GMC) được ra đời dựa trên nhu cầu thực tiễn này.

chu dong bao ve loi ich cua 4,5 trieu nguoi viet o nuoc ngoai hinh 1
Các đại biểu tham dự Hội nghị phổ biến Thỏa thuận toàn cầu về Di cư hợp pháp, an toàn và trật tự.

Việt Nam đã thông qua Thỏa thuận GCM vào tháng 12/2018 và hiện nay đang tích cực xây dựng Kế hoạch triển khai Thỏa thuận phù hợp với luật pháp và điều kiện của Việt Nam. Tại “Hội nghị phổ biến Thỏa thuận toàn cầu về Di cư hợp pháp, an toàn và trật tự” diễn ra ngày 20/8 tại Hà Nội, ông Vũ Việt Anh, Cục trưởng Cục lãnh sự, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trao đổi với phóng viên VOV về thực trạng di cư hiện nay tại Việt Nam và việc áp dụng, triển khai thỏa thuận này vào thực tiễn.

PV: Thưa ông, ông đánh giá thế nào về tình hình di cư của công dân Việt Nam hiện nay và lý do chính phủ quan tâm đến việc thực thi Thỏa thuận GMC?

Ông Vũ Việt Anh: Việt Nam là nước gốc, đồng thời cũng là nước tiếp nhận của di cư quốc tế. Hiện nay, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có 4,5 triệu người. Số lượng công dân Việt Nam ra nước ngoài ngày càng nhiều: mỗi năm có hơn 100.000 lao động di cư ra nước ngoài làm việc theo hợp động có thời hạn, hàng chục nghìn người di cư du học hay kết hôn với người nước ngoài… Người nước ngoài vào Việt Nam làm việc, học tập cũng có xu hướng gia tăng, hiện cả nước có trên 80.000 người lao động nước ngoài.

Phần lớn trong số 4,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài là những người di cư từ những năm 70, 80 sau chiến tranh, thậm chí những năm 90. Nhiều người vượt biên bằng đường biển hay đường bộ một cách bất hợp pháp. Rất nhiều người trong số đó đã bị bỏ lại trên biển, bỏ lại ở biên giới. Đây là một thực tế rất đau xót.

chu dong bao ve loi ich cua 4,5 trieu nguoi viet o nuoc ngoai hinh 2
Ông Vũ Việt Anh phát biểu tại hội nghị.

Khi Liên Hợp Quốc ra Tuyên bố New York vào năm 2016, chúng ta đã ủng hộ tuyên bố đó để quản lý dòng người di cư, tị nạn một cách có trật tự. Từ năm 2016 đến cuối năm 2018 khi Liên Hợp Quốc chủ trương xây dựng Thỏa thuận toàn cầu về di cư hợp pháp, an toàn và trật tự thì Việt Nam đã đóng góp rất tích cực vào tiến trình đó.Chúng tôi đã tham gia tất cả các cuộc họp để đóng góp ý kiến, bày tỏ sự quan tâm của Việt Nam đối với  nội dung thỏa thuận này.

Lý do chúng ta quan tâm đến Thỏa thuận GMC bởi vì Việt Nam vừa là nước xuất cư vừa là nước nhập cư, nhưng tỷ lệ xuất cư vẫn lớn hơn. Rất nhiều công dân Việt Nam ra nước ngoài bị lừa gạt, bị lao động cưỡng bức, bị lạm dụng… Do đó, chúng ta cần phải tham gia một thỏa thuận toàn cầu để quản lý dòng người di cư một cách tốt nhất, không những từ góc độ truyền thống là đảm bảo an ninh cho bản thân người di cư, mà từ góc độ kinh tế xã hội, đảm bảo cho người di cư có đầy đủ quyền lợi, đảm bảo nước gốc như Việt Nam và nước tiếp nhận có khung pháp luật điều chỉnh hợp lý sao cho người di cư có thể đóng góp tốt nhất cho công cuộc phát triển của từng quốc gia cũng như quốc tế, đáp ứng được mục tiêu 2030 của Liên Hợp Quốc về phát triển bền vững.

PV: Ông có thể nêu rõ những khó khăn và thách thức khi triển khai thỏa thuận trong thực tiễn bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam hiện nay và biện pháp khắc phục những khó khăn này?

Ông Vũ Việt Anh:  Mục tiêu quan trọng thứ nhất của thỏa thuận GMC là quản lý dòng di cư một cách an toàn, hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của tất cả các quốc gia và mục tiêu quan trọng thứ 2 là hạn chế tối đa di cư bất hợp pháp. Việt Nam quan tâm đến cả hai mục tiêu này.

Trong bối cảnh điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam hiện nay, có 2 vấn đề vướng mắc nhất. Trước hết, vì đây là thỏa thuận bao trùm, liên quan đến nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, do vậy chúng ta phải làm sao để đảm bảo cơ chế phối hợp hài hòa giữa các bộ, các ngành. Chúng ta đã có nhiều bài học kinh nghiệm về thực hiện cơ chế liên ngành chưa thực sự hiệu quả. Hiện nay, chúng tôi đang thực hiện các chỉ đạo từ chính phủ, xây dựng một cơ chế liên ngành sao cho hoạt động hữu hiệu nhất phục vụ cho triển khai thỏa thuận GCM tại Việt Nam.

Thứ 2 là trình độ dân trí tại Việt Nam còn chưa đồng đều. Ở nhiều vùng sâu, vùng xa, người dân dễ bị lừa đảo trong quá trình tuyển dụng. Các công ty môi giới ban đầu có thể quảng cáo là điều kiện lao động tốt nhưng trên thực tế họ phải làm việc tại những nơi dễ bị cưỡng bức lao động, lao động trong những điều kiện khó khăn. Bên cạnh đó, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài vẫn còn phải đối mặt với những rủi ro và thách thức như chi phí cao, phải chịu một số hình thức vi phạm quyền lao động và tiếp cận rất hạn chế với cơ chế giải quyết khiếu nại hiệu quả.

Mục đích của chúng ta là phải làm tốt công tác tuyên truyền để từng người dân, từng người lao động muốn ra nước ngoài hiểu biết rõ về điều kiện làm việc, ăn ở, học tập vì thế họ có thể cân nhắc lựa chọn. Nếu một thị trường lao động có nhu cầu tuyển dụng lao động nhập cư Việt Nam thì họ buộc phải nâng cao chất lượng, điều kiện lao động học tập để thu hút người Việt Nam cũng như du học sinh Việt Nam

PV: Việt Nam có chính sách thế nào để đảm bảo quyền lợi của người lao động sau khi họ chấm dứt hợp đồng lao động ở nước ngoài và trở về nước?

Ông Vũ Việt Anh:  Đây là một vấn đề khá phức tạp vì phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, tiềm lực của từng giai đoạn cụ thể. Theo tôi được biết hiện nay, Việt Nam có những chính sách rất tích cực trong việc hỗ trợ người lao động ở nước ngoài về nước tìm kiếm công ăn việc làm.

Thực tế mà nói thì lao động của chúng ta hiện nay cũng đang thiếu hụt. Vì thế mới có chính sách nâng cao độ tuổi nghỉ hưu. Mỗi năm chúng ta đặt mục tiêu là tạo 1 triệu công ăn việc làm nhưng chỉ có 400.000 người bước vào thị trường lao động nên trong tương lai chúng ta sẽ thiếu lao động. Việc người lao động trở về luôn được hoan nghênh. Các chủ lao động và nhà nước đã đưa ra nhiều những chính sách phù hợp để hỗ trợ và thu hút lao động Việt Nam ở nước ngoài trở về.

PV: Xin cảm ơn ông đã trả lời phỏng vấn