Category Archives: Ủy Ban Nhà Nước Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài

Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Tặng Bằng Khen Và Kỷ Niệm Chương Cho Tiến Sỹ Nguyễn Thanh Mỹ ( Canada )

BVD- Theo báo Quê Hương, chiều 17/9, tại Trà Vinh, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về NVNONN Nguyễn Quốc Cường đã trao tặng Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cho Tiến sỹ Nguyễn Thanh Mỹ (kiều bào tại Canada) về thành tích trong thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp công tác đối với NVNONN” cho ông và phu nhân Bùi Thị Nhàn.

Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Quốc Cường trao tặng Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cho Tiến sỹ Nguyễn Thanh Mỹ

Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Quốc Cường trao tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài” cho Tiến sỹ Nguyễn Thanh Mỹ và phu nhân
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài Nguyễn Quốc Cường phát biểu tại buổi lễ
Quang cảnh buổi lễ trao tặng khen thưởng
Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Quốc Cườ ng chụp ảnh lưu niệm với Tiến sỹ Nguyễn Thanh Mỹ và phu nhân cùng các đại biểu tham dự
Quang cảnh buổi lễ trao tặng khen thưởng

Dự lễ trao tặng còn có ông Nguyễn Trung Hoàng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh, ông Ngô Trường Giang – Phó Chủ tịch UBND thành phố Trà Vinh cùng cán bộ, nhân viên Công ty Cổ phần Mỹ Lan.

Phát biểu tại đây, Thứ trưởng Nguyễn Quốc Cường bày tỏ vui mừng khi gặp lại vợ chồng Tiến sỹ Nguyễn Thanh Mỹ; xúc động nhớ lại cách đây gần 20 năm khi đang công tác tại Đại sứ quán Việt Nam ở Canada đã được gặp gỡ và rất ấn tượng bởi sự chân thành cũng như tấm lòng đau đáu hướng về quê hương của vợ chồng Tiến sỹ.

Thứ trưởng hoan nghênh và đánh giá cao đóng góp to lớn của Tập đoàn Mỹ Lan và RYNAN cho sự phát triển của tỉnh Trà Vinh nói riêng và của cả nước nói chung trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao, góp phần phát triển Cách mạng 4.0 ở Việt Nam, cũng như đưa các sản phẩm mang thương hiệu “Made in Vietnam” ra thế giới và được quốc tế công nhận. Tiến sỹ Nguyễn Thanh Mỹ thực sự là tấm gương doanh nhân kiều bào điển hình để thế hệ trẻ noi theo.

Mặc dù rất bận rộn với các dự án cá nhân, Tiến sỹ Nguyễn Thanh Mỹ vẫn thể hiện trách nhiệm rất cao đối với cộng đồng doanh nhân kiều bào. Với vai trò là Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân NVNONN, ông đã nỗ lực, góp phần quan trọng trong tăng cường kết nối các doanh nhân kiều bào cả ở trong và ngoài nước, cùng hợp tác, phát triển và đóng góp xây dựng đất nước.

Thứ trưởng mong muốn Ban Chấp hành Hiệp hội Doanh nhân NVNONN tiếp tục xây dựng, củng cố mạng lưới, thúc đẩy thương mại, đưa hàng hóa Việt Nam ra nước ngoài nhiều hơn nữa trong thời gian tới.

Nhân dịp này, Thứ trưởng cũng bày tỏ sự cảm kích đối với bà Bùi Thị Nhàn, phu nhân Tiến sỹ vì sự ủng hộ, động viên, tin tưởng mà bà dành cho chồng trong suốt cuộc đời. Bà luôn đồng hành với ông Mỹ trong tất cả các hoạt động, là cộng sự quan trọng góp phần làm nên những thành công của Tiến sỹ Nguyễn Thanh Mỹ kể cả trong lĩnh vực khoa học hay với vai trò là một doanh nhân.

* Ông Nguyễn Thanh Mỹ sinh ngày 2/9/1956 tại Châu Thành, Trà Vinh. Ông tốt nghiệp Tiến sỹ ngành Khoa học Năng lượng và Vật liệu vào năm 1990 tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu về Năng lượng, Vật liệu và Viễn thông Canada.
Ông nổi tiếng trong giới khoa học NVNONN với trên 200 bằng sáng chế ở Hoa Kỳ, Canada và nhiều nước trên thế giới.
Ông cũng là đồng tác giả của trên 68 báo cáo được đăng trên các tạp chí khoa học lớn ở Anh, Đức và Hoa Kỳ.
Sau hơn 20 năm sinh sống và làm việc tại nước ngoài, năm 2004 ông trở về Việt Nam đầu tư, xây dựng nhà máy công nghệ cao tại Trà Vinh – một trong những tỉnh nghèo nhất Việt Nam, tạo việc làm cho lao động địa phương (hiện có khoảng 1.000 công nhân), xây dựng cơ sở hạ tầng, đóng góp cho y tế, giáo dục…
Ông cũng đã phát triển mạnh việc ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp gồm sản xuất phân bón thông minh, thiết bị IoT như ổ khóa, đồng hồ nước thông minh.
Tính đến năm 2016, Tiến sỹ Nguyễn Thanh Mỹ đã sáng lập và đồng sáng lập 8 doanh nghiệp công nghệ cao, trong đó có 6 doanh nghiệp tại Trà Vinh.*

Bà Bùi Thị Nhàn sinh ngày 17/01/1964 tại TPHCM. Hiện bà là Tổng Giám đốc Cty Cổ phần RYNAN Technologies Vietnam, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Cty Cổ phần Mỹ Lan và Chủ tịch HĐTV Cty TNHH Sản xuất Vật tư ngành in Mỹ Lan.

Thu Hằng

Advertisements

Nghị Quyết 36 Anh và Việt ngữ

http://www.quehuongonline.vn/van-kien-nghi-quyet/nghi-quyet-36-cua-bo-chinh-tri-ve-cong-tac-doi-voi-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-6493.htm

Nghị quyết được Bộ Chính trị ban hành ngày 26/3/2004. Dưới đây là toàn văn Nghị quyết.

 I- Tình hình và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài thời gian qua.

1- Hiện nay có khoảng 2,7 triệu người Việt Nam đang sinh sống ở gần 90 nước và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 80% ở các nước công nghiệp phát triển, phần đông bà con ngày càng ổn định cuộc sống và hòa nhập vào xã hội nơi cư trú, có vị trí nhất định trong đời sống kinh tế, chính trị – xã hội ở nước sở tại, có tác động ở mức độ khác nhau tới mối quan hệ giữa các nước đó với Việt Nam. Bên cạnh đó, trong những năm qua hàng trăm nghìn người Việt Nam đã ra nước ngoài lao động, học tập, tu nghiệp, đoàn tụ gia đình, hình thành các cộng đồng người Việt Nam tại một số địa bàn mới. 

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có tiềm lực kinh tế nhất định, có mối quan hệ với nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoài và quốc tế, có khả năng tìm kiếm đối tác và làm cầu nối với các doanh nghiệp, tổ chức trong nước. Nhiều trí thức có trình độ học vấn và chuyên môn cao; một số người giữ vị trí quan trọng trong các cơ quan, cơ sở nghiên cứu, đào tạo, các công ty và tổ chức quốc tế, có khả năng tạo dựng quan hệ với các cơ sở kinh tế, khoa học ở nước sở tại.

Mặc dù sống xa Tổ quốc, đồng bào luôn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống văn hóa và hướng về cội nguồn, dòng tộc, gắn bó với gia đình, quê hương. Nhiều người đã có những đóng góp về tinh thần, vật chất và cả xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Thành tựu to lớn của nhân dân ta trong sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữ vững sự ổn định chính trị – xã hội và không ngừng nâng cao vị thế quốc tế của đất nước càng củng cố thêm niềm tự hào dân tộc và tinh thần yêu nước của người Việt Nam ở nước ngoài. Đông đảo bà con hoan nghênh công cuộc đổi mới và chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước, mong muốn đất nước cường thịnh, sánh vai với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới; nhiều người đã về thăm gia đình, quê hương, tham gia các hoạt động đầu tư, kinh doanh, hợp tác khoa học, công nghệ, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, nhân đạo, từ thiện… Tình hình trên là xu thế chủ yếu trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. 

Tuy nhiên, người Việt Nam ở một số nước còn khó khăn trong việc ổn định cuộc sống, chưa được hưởng quy chế rõ ràng, thậm chí ở một số nơi còn bị kỳ thị. Một bộ phận đồng bào do chưa có dịp về thăm đất nước để tận mắt thấy được những thành tựu của công cuộc đổi mới hoặc do thành kiến, mặc cảm, nên chưa hiểu đúng về tình hình đất nước. Một số ít người đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở tại với Việt Nam. Tính liên kết cộng đồng, sự gắn bó giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng chưa cao. Còn thiếu các biện pháp duy trì, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; việc giữ gìn tiếng Việt và bản sắc dân tộc trong thế hệ trẻ còn khó khăn. Nhu cầu giao lưu văn hóa giữa cộng đồng với đất nước, giữ gìn và phát triển tiếng Việt trong cộng đồng là rất lớn và trở nên bức thiết song chưa được đáp ứng. Sự đóng góp của bà con vào công cuộc xây dựng đất nước, nhất là về tri thức, chưa tương xứng với tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. 

2- Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách rộng mở và biện pháp cụ thể nhằm tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho đồng bào về thăm đất nước, người thân, đầu tư, kinh doanh, hợp tác khoa học – công nghệ, hoạt động văn hóa – nghệ thuật. Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã được đổi mới và đạt được những kết quả đáng kể cả ở trong và ngoài nước. Công tác thông tin, văn hóa phục vụ cộng đồng từng bước được tăng cường, nhất là trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình và qua mạng Internet. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chính quyền địa phương và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã có chuyển biến tích cực.

Tuy nhiên, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người Việt Nam ở nước ngoài chưa được quán triệt sâu sắc, thực hiện đầy đủ. Công tác nghiên cứu, tham mưu về chính sách chưa theo kịp những chuyển biến mới. Công tác bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài chưa được quan tâm đúng mức. Các chính sách đã ban hành chưa đồng bộ và chưa thể hiện đầy đủ tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc; chưa khuyến khích mạnh mẽ người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, đóng góp cho công cuộc phát triển đất nước. Chưa có hình thức thỏa đáng để cung cấp kịp thời và đầy đủ thông tin cho đồng bào về tình hình đất nước và chính sách của Đảng và Nhà nước. Hình thức vận động cộng đồng còn chưa thực sự đổi mới, đa dạng và linh hoạt để có thể quy tụ, động viên đông đảo bà con tham gia các hoạt động có ích cho cộng đồng và quê hương. Việc phát hiện, bồi dưỡng những nhân tố tích cực, việc khen thưởng, động viên những người có thành tích ít được chú trọng. 

Nguyên nhân chủ yếu của những yếu kém trên là các cấp, các ngành, các đoàn thể nhân dân chưa nhận thức thật sự đầy đủ và sâu sắc các quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, nhiều cấp ủy Đảng và lãnh đạo chính quyền các cấp chưa quan tâm đúng mức và chưa thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công tác này. Sự phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan, giữa Trung ương và địa phương, giữa trong và ngoài nước còn thiếu chặt chẽ, các cơ quan trực tiếp làm công tác về người Việt Nam ở nước ngoài chưa được kiện toàn đủ mạnh, kinh phí còn hạn chế. 

II- Chủ trương và phương hướng công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài thời gian tới

1- Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần thể hiện đầy đủ truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc. Cơ sở của sự đoàn kết là ý thức dân tộc và lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và mục tiêu chung của mọi người Việt Nam là giữ vững nền độc lập dân tộc, thống nhất của Tổ quốc, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

2- Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng  cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước. Nhà nước có trách nhiệm thỏa thuận với các nước hữu quan về khuôn khổ pháp lý để đồng bào ổn định cuộc sống và bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài theo luật pháp, công ước và thông lệ quốc tế.

Đảng và Nhà nước mong muốn, khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp nước sở tại, chăm lo xây dựng cuộc sống, làm ăn thành đạt, nêu cao tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc Việt Nam, đoàn kết đùm bọc, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước bà con sinh sống với nước nhà, tùy theo khả năng và điều kiện của mỗi người góp phần xây dựng quê hương đất nước, chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc. 

3- Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần mang tính đồng bộ, kết hợp việc xây dựng cơ chế, chính sách với công tác vận động, kết hợp các hoạt động trong nước với các hoạt động ở nước ngoài và phải được tiến hành thông qua nhiều loại hình hoạt động và biện pháp phù hợp với các đối tượng và địa bàn khác nhau, trên cơ sở tự nguyện và không trái với pháp luật, phong tục, tập quán của nước sở tại.

4- Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân. Các tổ chức đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, các ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương, ở trong nước và ngoài nước và toàn dân ta cần coi đây là một nhiệm vụ quan trọng nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

III – Nhiệm vụ chủ yếu 

1- Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi và hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, yên tâm làm ăn sinh sống, hội nhập vào đời sống xã hội nước sở tại, đồng thời duy trì quan hệ gắn bó với quê hương, đất nước. 

Thông qua các hoạt động ngoại giao tích cực vận động chính quyền nước sở tại tạo thuận lợi cho kiều bào có điều kiện làm ăn sinh sống bình thường; chủ động tiến hành đàm phán và ký kết các thỏa thuận cần thiết với các nước, trong đó có các hiệp định lãnh sự, hiệp định tư pháp, bảo vệ lợi ích chính đáng của bà con, chống các biểu hiện kỳ thị, các hành động chống lại người Việt Nam ở nước ngoài. Giải quyết nhanh chóng, thỏa đáng yêu cầu của người Việt Nam ở nước ngoài liên quan đến vấn đề quốc tịch.

Tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài về thăm quê hương, thân nhân, thờ cúng tổ tiên. Cụ thể hóa và hoàn thiện hơn nữa các quy định về xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại ở trong nước của người Việt Nam ở nước ngoài theo hướng thông thoáng, thuận tiện và đơn giản thủ tục. Giải quyết thuận lợi, nhanh chóng thủ tục cho người Việt Nam ở nước ngoài hồi hương hoặc về làm ăn, sinh sống có thời hạn ở trong nước; tiếp tục giải quyết những vấn đề tồn tại về mua nhà ở trong nước, thừa kế, hôn nhân gia đình, nhận con nuôi… liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài. Dành cho người Việt Nam ở nước ngoài giá dịch vụ như công dân trong nước. 

Có hình thức thích hợp tổ chức thu thập ý kiến của đồng bào ở nước ngoài trước khi ban hành các văn bản pháp quy, chính sách có liên quan nhiều tới người Việt Nam ở nước ngoài. 

2- Hoàn chỉnh và xây dựng mới hệ thống chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức kiều bào vào công cuộc phát triển đất nước. Xây dựng chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với những chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ chuyên môn cao, có khả năng tư vấn về quản lý, điều hành, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cao cho đất nước, góp phần phát triển nền văn hóa, nghệ thuật của nước nhà. 

Xây dựng và hoàn thiện các chính sách tạo thuận lợi và khuyến khích các ngành, các trung tâm nghiên cứu khoa học – công nghệ, văn hóa nghệ thuật, giáo dục – đào tạo, y tế, thể dục – thể thao, các cơ sở sản xuất, dịch vụ… ở trong nước mở rộng hợp tác, thu hút sử dụng chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tham gia công việc ở trong nước, làm việc cho các chương trình, dự án hợp tác đa phương và song phương của Việt Nam với nước ngoài hoặc trong các tổ chức quốc tế có chỉ tiêu dành cho người Việt Nam và tư vấn trong các quan hệ giữa Việt Nam với đối tác nước ngoài. 

Tranh thủ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tiến hành hoạt động vận động, tư vấn về pháp lý trong quan hệ với nước bà con làm ăn sinh sống. 

3- Hoàn chỉnh và xây dựng mới các chính sách thu hút người Việt Nam ở nước ngoài hoạt động đầu tư, kinh doanh ở trong nước. Coi trọng các hình thức đầu tư, kinh doanh quy mô vừa và nhỏ do người Việt Nam ở nước ngoài trực tiếp thực hiện hoặc thông qua người thân trong nước thực hiện. Mở rộng và tạo thuận lợi hơn nữa chính sách kiều hối. Phát huy khả năng của người Việt Nam ở nước ngoài làm dịch vụ, thiết lập và mở rộng kênh tiêu thụ hàng hóa Việt Nam, các quan hệ hợp tác và đầu tư với các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân nước ngoài. 

Thiết lập cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc giải quyết các vụ việc liên quan đến doanh nghiệp do người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư vào trong nước, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của các doanh nghiệp, xử lý các vi phạm theo đúng pháp luật, góp phần tạo môi trường pháp lý ổn định, làm cho người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư, hợp tác với trong nước yên tâm, tin tưởng. 

4- Đổi mới và đa dạng hóa các phương thức vận động, các hình thức tập hợp với mục đích đoàn kết người Việt Nam ở nước ngoài quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, khuyến khích những hoạt động hướng về Tổ quốc của bà con, nhất là của thế hệ trẻ trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với pháp luật và phong tục tập quán nước sở tại. Hỗ trợ các dự án của người Việt Nam ở nước ngoài nhằm mục tiêu trên. Chủ động mở rộng tiếp xúc với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, kể cả với những người còn có định kiến, mặc cảm với Nhà nước và chế độ ta. 

5- Tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ. Xây dựng và hoàn chỉnh sách giáo khoa tiếng Việt cho kiều bào, cải tiến các chương trình dạy tiếng Việt trên vô tuyến truyền hình, đài phát thanh và qua mạng Internet. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể để giúp bà con học tiếng Việt. Tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh, thiếu niên người Việt Nam ở nước ngoài. 

Tổ chức cho các đoàn nghệ thuật, nhất là các đoàn nghệ thuật dân tộc ra nước ngoài biểu diễn phục vụ cộng đồng. Tạo điều kiện cho các nghệ sĩ, vận động viên là người Việt Nam ở nước ngoài về nước biểu diễn, thi đấu, tham gia các đoàn Việt Nam đi biểu diễn và thi đấu quốc tế. Thường xuyên tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật, triển lãm, hội thảo, du lịch về cội nguồn.

6- Đổi mới mạnh mẽ và toàn diện công tác thông tin, tuyên truyền, giúp cho người Việt Nam ở nước ngoài hiểu đúng tình hình đất nước và chính sách của Đảng và Nhà nước. Đầu tư cho các chương trình dành cho người Việt Nam ở nước ngoài của đài phát thanh, truyền hình và Internet; chú trọng đổi mới nội dung, hình thức và kỹ thuật của các chương trình này. Hỗ trợ việc ra báo viết, mở đài phát thanh, truyền hình ở ngoài nước. Xây dựng thư viện trên mạng Internet để phục vụ cho người Việt Nam sống xa Tổ quốc. Hỗ trợ kinh phí vận chuyển và đơn giản hóa thủ tục đối với việc gửi sách báo, văn hóa phẩm ra ngoài phục vụ cộng đồng. 

 7- Hoàn chỉnh chính sách khen thưởng đối với người Việt Nam ở nước ngoài, đưa vào nền nếp việc khen thưởng các tổ chức và cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài có thành tích trong vận động xây dựng cộng đồng, đóng góp xây dựng đất nước, tổ chức và cá nhân trong nước có thành tích trong công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài. Giải quyết có tình, có lý và trên cơ sở đạo lý Việt Nam các vấn đề nhân đạo do lịch sử để lại nhằm thực hiện chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời có biện pháp phù hợp đấu tranh với những biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích dân tộc, phá hoại quan hệ giữa các nước có đông người Việt Nam sinh sống với Việt Nam hoặc gây chia rẽ trong cộng đồng người Việt Nam ở nước sở tại.

8- Các tổ chức Đảng, các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức và đoàn thể nhân dân theo chức năng, nhiệm vụ của mình tham gia tích cực vào công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài với các cơ quan hữu quan, với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, giữa trong nước với ngoài nước. Củng  cố và phát triển các tổ chức xã hội làm công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài, như Hội liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài, các hội thân nhân kiều bào và các hình thức tập hợp chính đáng khác, phù hợp với ý nguyện và đặc điểm của cộng đồng ở địa bàn cư trú.

Các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài có trách nhiệm coi công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là một nhiệm vụ chính trị quan trọng đẩy mạnh công tác bảo hộ công dân và bảo vệ những quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài; tích cực, chủ động tăng  cường tiếp xúc vận động, tuyên truyền phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tới bà con. 

9- Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài cần được kiện toàn với cơ cấu tổ chức, biên chế và phương tiện hoạt động đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới. Tăng cường cán bộ chuyên trách về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài tại cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở những nơi có đông người Việt Nam sinh sống. Một số bộ, ngành và một số tỉnh, thành phố có quan hệ nhiều với người Việt Nam ở nước ngoài cần có bộ phận giúp cơ quan lãnh đạo trong công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Bổ sung kinh phí cho công tác này. 

IV – Tổ chức thực hiện

1- Ban cán sự đảng Bộ Ngoại giao phối hợp với Ban cán sự đảng ngoài nước và các ban, ngành liên quan, UBTƯ MTTQ Việt Nam, các tổ chức và đoàn thể nhân dân tổ chức phổ biến rộng rãi nghị quyết này đến cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân trong nước và đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. 

2- Ban cán sự đảng Chính phủ cụ thể hóa nội dung nghị quyết thành chương trình hành động, các cơ chế, chính sách, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương thực hiện. 

3- Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự Đảng Chính phủ căn cứ vào nội dung Nghị quyết, xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp quy có liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài.

4- Các tỉnh ủy,  thành ủy, các ban cán sự Đảng, Đảng đoàn, Đảng ủy trực thuộc Trung ương, các ban Trung ương Đảng có kế hoạch thực hiện Nghị quyết. Ban cán sự đảng Bộ Ngoại giao chủ trì cùng Ban cán sự Đảng ngoài nước giúp Ban Bí thư và Bộ Chính trị theo dõi việc thực hiện Nghị quyết. Ban Bí thư tổ chức kiểm tra, định kỳ nghe báo cáo về tình hình và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.

http://quehuongonline.vn/van-ban-phap-luat/resolution-no-36-nqtw–march-26-2004-by-the-politbureau-on-the-overseas-vietnamese-affairs-6866.htm

RESOLUTION NO 36 – NQ/TW , MARCH 26, 2004 BY THE POLITBUREAU ON THE OVERSEAS VIETNAMESE AFFAIRS

I. BACKGROUND AND OVERSEAS VIETNAMESE AFFAIRS IN RECENT YEARS

1- At present, there are approximately 2.7 million overseas Vietnamese in around 90 countries and territories with 80% residing in developed nations. The majority of them have settled down and integrated into the local community with certain economic and political positions and influence to different extents on relations between Vietnam and their countries of residence. Besides, in recent years, hundreds of thousands of Vietnamese have gone abroad to work, study or reunite with their families, leading to the formation of more Vietnamese communities in these countries.

Vietnamese communities overseas have certain economic potentials. They also have connections with both foreign businesses and international organizations, and could help seek partners for Vietnamese enterprises and organizations.  Many of them have a high level of education and expertise. Some hold important positions in research or educational institutions, businesses, and international organizations, and therefore can have strong connections with economic and scientific establishments in the host countries.

Though living far away from their fatherland, overseas Vietnamese have always nurtured patriotism and national esteem, preserved cultural traditions, turned towards to their ancestors and origins, and kept close relationship with their families and homeland. Many have made spiritual and financial contribution or even sacrificed their own life for the cause of national liberalization and reunification. The national pride and patriotism of overseas Vietnamese have also been deepened alongside with Vietnam’s great achievements during the Doi Moi process in promoting economic, cultural and social development, maintaining social and political stability and improving its position in the international arena. The Doi Moi process and the policy for great national unity of the Party, State and Government have been applauded by the majority of overseas Vietnamese. Wishing for their homeland to prosper and stand on par with other nations in the region and the world, many people have returned to Vietnam to make investment, do business, promote cooperation in science, technology, culture, art, sport or participate in charity activities. This is the prevailing trend in the life of Vietnamese communities abroad.

However, overseas Vietnamese in a number of countries are still faced with difficulties in stabilizing their life and getting an official status. In some cases, they are even subject to discrimination. A number of overseas Vietnamese have not been able to come back to their homeland to see with their own eyes achievements of the Doi Moi process. Others may not fully understand the situation in Vietnam due to their prejudices or sense of inferiority. A small number still have attempts to carry out acts against the country, national interests and undermine the bilateral relationship between Vietnam and their country of residence. The cohesiveness and spirit of mutual assistance within each community are not strongly established. Measures to preserve and promote national identities and traditions are not taken, leading to difficulties in maintaining the Vietnamese language and culture among the younger generation. There is a high and critical need for overseas Vietnamese communities to conduct cultural exchanges with their homeland and maintain the Vietnamese language. However, this need has not been met. Their contributions to the national construction, especially their brainpower, are not commensurate with their potentials.

2- The Party, State and Government, considering overseas Vietnamese an inseparable part of the community of Vietnamese nationalities, have adopted open policies and measures to facilitate their return for visiting family, doing business and developing cooperation in science, technology, art and culture. The policy on the overseas Vietnamese has been reformed, bringing about positive outcomes both in and outside the country. Communication and cultural activities at community, especially through broadcasting and Internet, have been gradually improved. Progress has also been made in the coordination between competent agencies, namely the Vietnam Fatherland Front, local authorities and Vietnamese representative missions overseas.

However, guidelines and policies of the Party and State on overseas Vietnamese have not been fully understood and implemented. Policy studies and recommendations have not met the new requirements. Protection of the overseas Vietnamese’s legitimate rights has not been given due attention. Policies adopted are not synchronous and fully reflective of great national unity, failing to encourage overseas Vietnamese to turn towards the homeland and contribute to the national development. Ways and means to meet the need of overseas Vietnamese for information on latest developments of the country and the policy of the Party and State have not been developed. Community mobilization has not been renewed and diversified to involve overseas Vietnamese in activities beneficial to the community and homeland. Less attention has been given to discovering and encouraging active elements as well as to rewarding those who have made contributions.

The major cause to these above-mentioned shortcomings is derived from insufficient awareness of different levels, branches and mass organizations about the Party’s policy on overseas Vietnamese. On the other hand, party committees and administrations at different levels have not given due attention to this undertaking and the implementation supervision. Coordination among relevant ministries and agencies as well as between central and local levels, between domestic and overseas agencies and mostly among agencies directly in charge of overseas Vietnamese affairs has not been consolidated. Besides, funding sources are still limited.

II. FUTURE GUIDELINES AND POLICIES ON OVERSEAS VIETNAMESE

1- The policy on overseas Vietnamese must fully reflect the tradition of national unity, which is built on nationalism, patriotism, national pride and common goals of every Vietnamese people to secure national independence and territorial integrity, build Viet Nam into a strong country with wealthy people, just, democratic and advanced society. On the one hand, all sense of inferiority, prejudice and discrimination due to their past or division of social classes will be eliminated in the spirit of openness, mutual respect and understanding as well as future outlook. All Vietnamese, regardless of their nationalities, religions and origins, social status and reasons of departure, who wish to contribute to the fulfillment of the above-said goals are welcomed to join the great national unity.

2- The overseas Vietnamese community is an integral part and resource of the Vietnamese nation, acting as an important factor to strengthen Viet Nam’s friendship and cooperation with other countries. The State is responsible for negotiating with countries concerned to set up legal framework for overseas Vietnamese to settle down and have their legitimate rights protected in accordance with the residing countries’ laws and international conventions and practice as well.

The Party and State wish to encourage overseas Vietnamese to integrate into the local societies, strictly follow residing countries’ laws and settle down, build a happy life, succeed in business and hold high the national self-respect and pride, maintain the Vietnamese language, cultural identities and national traditions as well. Overseas Vietnamese are also encouraged to promote their unity, mutual assistance, maintain links with family and homeland, thus helping expand friendship and cooperation between the residing countries and Viet Nam. Moreover, overseas Vietnamese, depending on their conditions, could also make contributions to the national construction, and actively participate in the struggle against attempts that run counter to the common interests of the nation.                 

3- Overseas Vietnamese affairs must be synchronous.  Policy should be coupled with its dissemination and domestic and overseas activities should be closely linked to each other. These undertakings should be carried out through appropriate forms and methods suitable for different groups of people and locations on a voluntary basis and not conflicting with the laws, customs and traditions of host countries.

4- Overseas Vietnamese affairs are the responsibility of the entire political system and people. Party, State and fatherland front’s institutions as well as mass organizations at different levels from central to local, domestic and overseas, and the entire population should view this as an important task to bring into full play the strength of the great national unity in the national construction and defense.

III. MAJOR TASKS

1- The State will create every favourable condition and give support for the overseas Vietnamese to stabilize their life, integrate into the society of residing countries and maintain close links with the homeland.

Seek local governments’ support, through active diplomatic activities, for overseas Vietnamese to lead a normal life; take steps to negotiate and sign necessary agreements with other countries, including consular and judicial agreements, to protect legitimate interests of overseas Vietnamese and prevent discrimination and other acts against the Vietnamese people abroad; address quickly and satisfactorily their requirements related to the citizenship issue.

Facilitate their return to visit their homeland, relatives and pay tribute to their ancestors; further streamline regulations on immigration, residence and travel of overseas Vietnamese in Viet Nam; Quickly process applications for repatriation or return for business or stay on definite terms in Vietnam; Continue to solve outstanding issues that involve overseas Vietnamese such as house purchase in Vietnam, inheritance, marriage and family, adoption and so on; introduce a single price system for all Vietnamese, domestic and overseas alike.

Put in place an appropriate mechanism for consultations with overseas Vietnamese before the promulgation of legal documents and policies concerned.

2- Improve existing and issue new policies on talents attraction to maximize overseas Vietnamese brainpower to the cause of national development; build a satisfactory mechanism of incentives and rewards for overseas Vietnamese experts and intellectuals who have good command of knowledge and skills and can advise the Government on management, transfer of technology and national arts and cultural development.

Introduce and improve policies to encourage and create favourable conditions for domestic agencies and institutions in science and technology, arts and culture, education and training, health, sports, production and services etc. to cooperate with or use overseas Vietnamese experts and intellectuals in implementing bilateral and multilateral programmes and projects between Vietnam and other countries or encourage them to work for international organizations that reserve quota for Vietnamese staff and advise the Vietnamese side in promoting relations with foreign partners.

Seek collaboration such as legal advice of overseas Vietnamese for lobbying activities in countries where they reside.

3- Improve the existing and introduce new policies to encourage overseas Vietnamese to invest and do business in Vietnam; attach importance to small and medium sized projects managed by overseas Vietnamese or through their relatives in Vietnam; further liberalize policies on remittance; make use of overseas Vietnamese’ ability and skills in the service sector to establish and expand distribution channels for Vietnamese products and to build new business and investment relations with foreign partners.

Establish a coordination mechanism among relevant authorities to solve cases involving overseas Vietnamese businesses in Vietnam to secure their legitimate and lawful rights and interests and deal with their violations in accordance with laws, thus creating a stable legal environment to build confidence among overseas Vietnamese investors.

4- Renew and diversify mobilizing activities aimed at uniting overseas Vietnamese in mutual assistance, encouraging them to turn towards the motherland, especially that of the young generation on the voluntary basis and in accordance with laws, traditions and customs of the local countries; assist overseas Vietnamese’ projects to achieve that goal; take active steps to increase contacts with overseas Vietnamese including those who still have prejudices against or sense of inferiority to our State and regime.

5- Increase investment in the programme of teaching and learning the Vietnamese language for overseas Vietnamese, especially for the younger generation; complete text books on the Vietnamese language for overseas Vietnamese and improve the Vietnamese language learning programmes on TV, radio and through the internet; where it is possible, send teachers to help overseas Vietnamese to learn the language; organize Vietnamese-speaking summer camps for overseas Vietnamese youths.

Organize performances by national art troupes, especially folklore groups, to serve overseas Vietnamese communities; creating favourable conditions for overseas Vietnamese artists and athletes to perform and compete in Vietnam and to participate in Vietnamese art and sport delegations taking part in international performances and competitions; organize, on a regular basis, cultural, literature and art exchange programmes as well as exhibitions, workshops and tours on the theme of “towards the origin”.

6- Strongly reform communication and information activities to help overseas Vietnamese better understand the country’s situation and Party and State’s policies; Invest more in radio, television and internet programmes targeting overseas Vietnamese, focus on renewing the contents and forms of these programmes as well as on their equipment; Support the publication of print media and the opening of radios and televisions abroad; Develop online libraries for overseas Vietnamese; Provide financial support for and simplify procedures for shipping books, newspapers and other publications to the Vietnamese community abroad.

7- Develop the rewarding policy for overseas Vietnamese, put in place the award mechanism for overseas Vietnamese individuals and organizations with meritorious contributions to strengthening the Vietnamese community, building the country, and for domestic Vietnamese individuals and organizations with contributions to overseas Vietnamese affairs; Address humanitarian issues left behind by history in a satisfactory way and based on the Vietnamese moral with a view to realizing the policy of great national unity; At the same time, take appropriate measures to prevent any attempt to act against our national interests, jeopardize the relations between Vietnam and countries having a large number of overseas Vietnamese or create division within the Vietnamese community in the host country.

8- Party organizations, State agencies at central and local levels, the Vietnam Fatherland Front and mass organizations, in accordance with their tasks and functions, take active part in overseas Vietnamese affairs; Develop close coordination between the Committee for Overseas Vietnamese and relevant agencies, the Vietnam Fatherland Front and mass organizations in Vietnam and abroad; Promote mass organizations involved in overseas Vietnamese affairs like the Liaison Office with Overseas Vietnamese, overseas Vietnamese relatives associations and other legitimate forms of associations that are in line with the desire of the community and conditions of residing countries.

Vietnamese diplomatic missions abroad must consider overseas Vietnamese affairs an important political task; step up protection for Vietnamese citizens and safeguard the legitimate interests of overseas Vietnamese; increase contacts with the Vietnamese community and disseminate information on Party and State’s policies.

9- The Committee for Overseas Vietnamese needs to be strengthened in terms of organizational structure, staffing and facilities to meet the new requirements; Increase full-time staff in charge of overseas Vietnamese affairs at Vietnamese diplomatic missions in countries with large Vietnamese communities. Ministries, agencies and cities and provinces having close relationship with overseas Vietnamese should establish a separate unit to assist their leadership in overseas Vietnamese affairs. Funding for this work should be increased.

IV- IMPLEMENTATION ARRANGEMENTS

1- The Commission for Party Affairs of the Ministry of Foreign Affairs, in coordination with the Commission for Party Affairs Overseas and relevant agencies, the Central Committee of the Vietnam Fatherland Front, and mass organizations is responsible for introducing widely this Resolution to Party members, public officials and the people of all social strata in the country and the Vietnamese community abroad.

2- The Commission for Party Affairs of the Government is responsible for developing this Resolution into action plans and policies, and provide implementation guidelines for ministries, agencies and local authorities.

3- The Party Committee of the National Assembly and Commission for Party Affairs of the Government, based on the Resolution, are responsible for developing and improving legal documents related to overseas Vietnamese.

4- Provincial and city Party organizations, commissions for party affairs, and Party Central Committee’s Commissions are responsible for elaborating plans for the implementation of the Resolution. The Commission for Party Affairs of the Ministry of Foreign Affairs, in coordination with the Commission for Party Affairs Overseas, assists the Secretary Committee and the Politburo in monitoring the implementation of the Resolution. The Secretary Committee is responsible for conducting regular reviews on the situation of overseas Vietnamese and related activities.

On behalf of the Politburo

Phan Dien

Chủ động bảo vệ lợi ích của 4,5 triệu người Việt ở nước ngoài

VOV.VN – Việt Nam cần có cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các ban, ngành để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động Việt Nam tại nước ngoài.

Để quản lý hiệu quả dòng người di cư và bảo vệ quyền lợi của người lao động di cư, việc ký kết các thỏa thuận song phương, đa phương giữa các quốc gia được nhiều người coi là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất. Thỏa thuận toàn cầu về di cư hợp pháp, an toàn và trật tự (Thỏa thuận GMC) được ra đời dựa trên nhu cầu thực tiễn này.

chu dong bao ve loi ich cua 4,5 trieu nguoi viet o nuoc ngoai hinh 1
Các đại biểu tham dự Hội nghị phổ biến Thỏa thuận toàn cầu về Di cư hợp pháp, an toàn và trật tự.

Việt Nam đã thông qua Thỏa thuận GCM vào tháng 12/2018 và hiện nay đang tích cực xây dựng Kế hoạch triển khai Thỏa thuận phù hợp với luật pháp và điều kiện của Việt Nam. Tại “Hội nghị phổ biến Thỏa thuận toàn cầu về Di cư hợp pháp, an toàn và trật tự” diễn ra ngày 20/8 tại Hà Nội, ông Vũ Việt Anh, Cục trưởng Cục lãnh sự, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trao đổi với phóng viên VOV về thực trạng di cư hiện nay tại Việt Nam và việc áp dụng, triển khai thỏa thuận này vào thực tiễn.

PV: Thưa ông, ông đánh giá thế nào về tình hình di cư của công dân Việt Nam hiện nay và lý do chính phủ quan tâm đến việc thực thi Thỏa thuận GMC?

Ông Vũ Việt Anh: Việt Nam là nước gốc, đồng thời cũng là nước tiếp nhận của di cư quốc tế. Hiện nay, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có 4,5 triệu người. Số lượng công dân Việt Nam ra nước ngoài ngày càng nhiều: mỗi năm có hơn 100.000 lao động di cư ra nước ngoài làm việc theo hợp động có thời hạn, hàng chục nghìn người di cư du học hay kết hôn với người nước ngoài… Người nước ngoài vào Việt Nam làm việc, học tập cũng có xu hướng gia tăng, hiện cả nước có trên 80.000 người lao động nước ngoài.

Phần lớn trong số 4,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài là những người di cư từ những năm 70, 80 sau chiến tranh, thậm chí những năm 90. Nhiều người vượt biên bằng đường biển hay đường bộ một cách bất hợp pháp. Rất nhiều người trong số đó đã bị bỏ lại trên biển, bỏ lại ở biên giới. Đây là một thực tế rất đau xót.

chu dong bao ve loi ich cua 4,5 trieu nguoi viet o nuoc ngoai hinh 2
Ông Vũ Việt Anh phát biểu tại hội nghị.

Khi Liên Hợp Quốc ra Tuyên bố New York vào năm 2016, chúng ta đã ủng hộ tuyên bố đó để quản lý dòng người di cư, tị nạn một cách có trật tự. Từ năm 2016 đến cuối năm 2018 khi Liên Hợp Quốc chủ trương xây dựng Thỏa thuận toàn cầu về di cư hợp pháp, an toàn và trật tự thì Việt Nam đã đóng góp rất tích cực vào tiến trình đó.Chúng tôi đã tham gia tất cả các cuộc họp để đóng góp ý kiến, bày tỏ sự quan tâm của Việt Nam đối với  nội dung thỏa thuận này.

Lý do chúng ta quan tâm đến Thỏa thuận GMC bởi vì Việt Nam vừa là nước xuất cư vừa là nước nhập cư, nhưng tỷ lệ xuất cư vẫn lớn hơn. Rất nhiều công dân Việt Nam ra nước ngoài bị lừa gạt, bị lao động cưỡng bức, bị lạm dụng… Do đó, chúng ta cần phải tham gia một thỏa thuận toàn cầu để quản lý dòng người di cư một cách tốt nhất, không những từ góc độ truyền thống là đảm bảo an ninh cho bản thân người di cư, mà từ góc độ kinh tế xã hội, đảm bảo cho người di cư có đầy đủ quyền lợi, đảm bảo nước gốc như Việt Nam và nước tiếp nhận có khung pháp luật điều chỉnh hợp lý sao cho người di cư có thể đóng góp tốt nhất cho công cuộc phát triển của từng quốc gia cũng như quốc tế, đáp ứng được mục tiêu 2030 của Liên Hợp Quốc về phát triển bền vững.

PV: Ông có thể nêu rõ những khó khăn và thách thức khi triển khai thỏa thuận trong thực tiễn bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam hiện nay và biện pháp khắc phục những khó khăn này?

Ông Vũ Việt Anh:  Mục tiêu quan trọng thứ nhất của thỏa thuận GMC là quản lý dòng di cư một cách an toàn, hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của tất cả các quốc gia và mục tiêu quan trọng thứ 2 là hạn chế tối đa di cư bất hợp pháp. Việt Nam quan tâm đến cả hai mục tiêu này.

Trong bối cảnh điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam hiện nay, có 2 vấn đề vướng mắc nhất. Trước hết, vì đây là thỏa thuận bao trùm, liên quan đến nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, do vậy chúng ta phải làm sao để đảm bảo cơ chế phối hợp hài hòa giữa các bộ, các ngành. Chúng ta đã có nhiều bài học kinh nghiệm về thực hiện cơ chế liên ngành chưa thực sự hiệu quả. Hiện nay, chúng tôi đang thực hiện các chỉ đạo từ chính phủ, xây dựng một cơ chế liên ngành sao cho hoạt động hữu hiệu nhất phục vụ cho triển khai thỏa thuận GCM tại Việt Nam.

Thứ 2 là trình độ dân trí tại Việt Nam còn chưa đồng đều. Ở nhiều vùng sâu, vùng xa, người dân dễ bị lừa đảo trong quá trình tuyển dụng. Các công ty môi giới ban đầu có thể quảng cáo là điều kiện lao động tốt nhưng trên thực tế họ phải làm việc tại những nơi dễ bị cưỡng bức lao động, lao động trong những điều kiện khó khăn. Bên cạnh đó, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài vẫn còn phải đối mặt với những rủi ro và thách thức như chi phí cao, phải chịu một số hình thức vi phạm quyền lao động và tiếp cận rất hạn chế với cơ chế giải quyết khiếu nại hiệu quả.

Mục đích của chúng ta là phải làm tốt công tác tuyên truyền để từng người dân, từng người lao động muốn ra nước ngoài hiểu biết rõ về điều kiện làm việc, ăn ở, học tập vì thế họ có thể cân nhắc lựa chọn. Nếu một thị trường lao động có nhu cầu tuyển dụng lao động nhập cư Việt Nam thì họ buộc phải nâng cao chất lượng, điều kiện lao động học tập để thu hút người Việt Nam cũng như du học sinh Việt Nam

PV: Việt Nam có chính sách thế nào để đảm bảo quyền lợi của người lao động sau khi họ chấm dứt hợp đồng lao động ở nước ngoài và trở về nước?

Ông Vũ Việt Anh:  Đây là một vấn đề khá phức tạp vì phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, tiềm lực của từng giai đoạn cụ thể. Theo tôi được biết hiện nay, Việt Nam có những chính sách rất tích cực trong việc hỗ trợ người lao động ở nước ngoài về nước tìm kiếm công ăn việc làm.

Thực tế mà nói thì lao động của chúng ta hiện nay cũng đang thiếu hụt. Vì thế mới có chính sách nâng cao độ tuổi nghỉ hưu. Mỗi năm chúng ta đặt mục tiêu là tạo 1 triệu công ăn việc làm nhưng chỉ có 400.000 người bước vào thị trường lao động nên trong tương lai chúng ta sẽ thiếu lao động. Việc người lao động trở về luôn được hoan nghênh. Các chủ lao động và nhà nước đã đưa ra nhiều những chính sách phù hợp để hỗ trợ và thu hút lao động Việt Nam ở nước ngoài trở về.

PV: Xin cảm ơn ông đã trả lời phỏng vấn

Trao hơn 500 triệu đồng học bổng Nguyễn Hữu Thọ

(VOH) – Ngày 20/8, tại Hội trường Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Nhà Bè diễn ra buổi lễ trao tặng học bổng Nguyễn Hữu Thọ năm học 2019 – 2020 cho 257 học sinh, sinh viên trên địa bàn huyện Nhà Bè

Mỗi xuất học bổng cấp 1 là 1 triệu rưỡi đồng, cấp 2 và cấp 3 là 2 triệu, Trung học nghề, Cao đẳng 2  triệu rưỡi và Đại học 3 triệu đồng.

 học bổng Nguyễn Hữu Thọ, trao học bổng,

Bà Huỳnh Thị Lan Phương, Phó Tổng Giám đốc VWS trao học bổng

 học bổng Nguyễn Hữu Thọ, trao học bổng,

Các em nhận học bổng

Tổng giá trị hơn 500 triệu đồng được tài trợ bởi Công ty TNHH Xử lý chất thải Việt Nam (VWS)  và Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết TPHCM.

Tin, ảnh: Lam Đỗ

Trại hè Việt Nam 2019: Khép lại hành trình đầy ý nghĩa

Sau 15 ngày, qua 10 tỉnh, thành phố trải dài từ Bắc bộ tới các tỉnh duyên hải miền Trung, Trại hè Việt Nam 2019 đã bế mạc trong không khí ấm áp tại Thành phố Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận.

trai he viet nam 2019 khep lai hanh trinh day y nghia
Một tiết mục văn nghệ của các thanh niên kiều bào.

Phát biểu tại Lễ bế mạc, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài Lương Thanh Nghị nhấn mạnh, Trại hè Việt Nam 2019 không chỉ là sân chơi để các em giao lưu, gắn kết, mà còn mang lại nhiều điều bổ ích và những trải nghiệm lý thú.

“Vài ngày nữa, các em sẽ chia tay để trở về nơi các em đang sinh sống và học tập. Nhưng tôi tin rằng các em sẽ mang theo những kỷ niệm khó quên, những cảm nhận tốt đẹp về con người và những vùng đất đã đi qua như một phần hành trang để các em bước tiếp trên con đường dài phía trước. Các bạn trẻ chắc đều biết bài hát “Đi để trở về”, trong đó có những ca từ da diết: “Từng chặng đường dài mà ta qua/ Đều để lại kỷ niệm quý giá/ Để lại một điều rằng càng đi xa/ Ta càng thêm nhớ nhà”. Đó chính là ngôi nhà Việt Nam mà các em sẽ luôn tự hào để có thể đóng góp xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh và thịnh vượng, cũng như trở thành nhịp cầu hữu nghị giữa Việt Nam với bạn bè quốc tế”, ông Lương Thanh Nghị nói.

trai he viet nam 2019 khep lai hanh trinh day y nghia
Lãnh đạo Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài chụp ảnh cùng đại biểu Trại hè Việt Nam 2019.

Đại biểu trở về từ Mỹ Trần Hà Chi chia sẻ: “Chúng em từ rất nhiều nước trở về quê hương, được gặp gỡ, trao đổi, chia sẻ, cùng chung một hành trình hướng về quê hương. Đây là điều em cảm thấy ấn tượng nhất, chúng em không còn khoảng cách, cùng nhau trau dồi và nói với nhau tiếng Việt. Em và chắc nhiều bạn khi tham dự Trại hè Việt Nam đều một ấn tượng đây là một hành trình ý nghĩa lớn trong cuộc đời của mình”.

Kể từ năm 2004 đến nay, trải qua 16 lần tổ chức, Trại hè Việt Nam đã trở thành điểm hẹn không thể thiếu của học sinh, sinh viên, thanh niên Việt Nam ở trong và ngoài nước. Nhiều bạn trẻ kiều bào từng tham gia hoạt động ý nghĩa này đã trưởng thành, có nhiều thành tích trong học tập và công tác nơi sinh sống và luôn có sự gắn kết với quê hương. Và chính họ là nhân tố tích cực đóng góp, lan tỏa tình yêu quê hương cho các em thế hệ sau.

Đến với những địa danh lịch sử, những cuộc sống đời thường của người dân địa phương, các bạn trẻ kiều bào hiểu hơn về sự hy sinh mất mát của thế hệ cha anh, đồng cảm sự vất vả của những người dân vùng khó khăn (các diêm dân làm muối tại Sa Huỳnh, Quảng Ngãi), cảm thông, sẻ chia với các em nhỏ có hoàn cảnh bất hạnh (Cô nhi viện Phú Hòa, Quảng Ngãi), các mảnh đời bất hạnh…

trai he viet nam 2019 khep lai hanh trinh day y nghia
Đại biểu Trại hè Việt Nam chụp ảnh lưu niệm trước khi chia tay.

Đoàn đại biểu Trại hè Việt Nam 2019 cũng có những việc làm ý nghĩa, như quyên góp được 245 triệu đồng để tri ân 14 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 30 gia đình cựu thanh niên xung phong, tặng quà cho Cô nhi viện và học sinh nghèo vượt khó; tham gia trồng cây tại Khu Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quê hương Người (Nghệ An), tham gia trồng cây đước tại xã Cẩm Khê, Tp Hội An và dọn rác tại bãi biển Mỹ Khê, Quảng Ngãi… Đặc biệt, các bạn đã chung tay xây một “ngôi nhà ước mơ” tặng hộ gia đình nghèo tại thôn Từ Thiện, xã Phước Vinh, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.

Chuyến hành trình trở về quê hương của các bạn trẻ kiều bào có những kết quả tốt đẹp nhờ sự hỗ trợ của chính quyền và nhân dân các địa phương mà đoàn đã đi qua. Họ đã cảm nhận và sẽ lan tỏa bằng những việc làm thiết thực, như quảng bá hình ảnh quê hương tươi đẹp, giàu tiềm năng… tới bạn bè năm châu.

Đại biểu Trại hè Việt Nam 2019 về với Ninh Thuận
TGVN. Tiếp tục hành trình, ngày 22/7, Đoàn đại biểu Trại hè Việt Nam 2019 đã có mặt tại Ninh Thuận – mảnh đất quyến …
Trại hè Việt Nam 2019: Trên hành trình ý nghĩa tại quê hương
TGVN. Dù mới đi được nửa chặng đường, nhưng những kỷ niệm và ấn tượng đẹp đẽ về quê hương đã lưu lại sâu sắc …
Khai mạc Trại hè Việt Nam 2019 tại thành phố Thái Nguyên
Tối 12/7, Lễ Khai mạc Trại hè Việt Nam 2019 do Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài (Bộ Ngoại giao) …

PV.

(theo Trại hè Việt Nam)

NPH2019_331: Thằm tàu sân bay Carl Vinson ghé bến Tiên Sa – Đà Nẵng

Mỗi phóng viên cần 2 thẻ Báo chí Bộ Ngoại Giao và thẻ Bộ Quốc Phòng mới được vào dự lễ tiếp tân

Nhớ đăng ký thêm kênh dự phòng: https://www.youtube.com/KBCHNTV/
Vui lòng bấm “Đăng Ký” (màu đỏ góc phải bên dưới) để nhận thông báo video mới nhất của kênh
https://youtube.com/thacmac52
https://facebook.com/bac.ha.9655
Email: bacha52@gmail.com
ĐT: (+00) 1-714-469-3202
VN (+84) 0327941647

NPH2019_328: Thứ trưởng Vũ Hồng Nam đón tiếp các nhà báo Việt ngữ APEC 2017

Trước ngày đại hội tại khách sạn Mường Thanh Đà Nẵng

Nhớ đăng ký thêm kênh dự phòng: https://www.youtube.com/KBCHNTV/
Vui lòng bấm “Đăng Ký” (màu đỏ góc phải bên dưới) để nhận thông báo video mới nhất của kênh
https://youtube.com/thacmac52
https://facebook.com/bac.ha.9655
Email: bacha52@gmail.com
ĐT: (+00) 1-714-469-3202
VN (+84) 0327941647

Vai trò kiều bào đối với biển đảo và quê hương

Ủy ban về Người Việt Nam ở nước ngoài thành phố trân trọng mời quý kiều bào tham dự hội nghị “Vai trò kiều bào với biển đảo quê hương”.

Nội dung: Nhằm kịp thời thông tin tuyên truyền đến kiều bào và thân nhân, những người đang công tác kiều bào tại Ban Liên lạc kiều bào 24 quận – huyện hiểu rõ về chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền biên giới của Việt Nam và đặc biệt là chủ quyền về hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa theo đúng Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển.

Thông tin về cuộc sống, những khó khăn vất vả và ý chí quyết tâm của các cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên quần đảo Trường Sa quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc;Giới thiệu bộ sưu tập 150 bản đồ và 3 sách atlas cổ về Hoàng Sa, Trung quốc và hàng hải vùng Đông Nam Á, chứng minh Trung Quốc chưa từng có chủ quyền tại Hoàng Sa của ông Trần Thắng – kiều bào Mỹ

Thời gian vào 13 giờ 00 ngày 31 tháng 7 năm 2019.

Để nhận thư mời chính thức xin gửi thông tin xác nhận xác nhận tham dự về Email: tqthu.ovc@tphcm.gov.vn;

Trước 17 giờ ngày 25 tháng 7 năm 2019 để tổng hợpTrân trọng

Bâng khuâng Trường Sa

Tin tổng hợp

Được sự ủng hộ,đồng hành và giúp đỡ nhiệt tình của các anh chị em Chiến sỹ Trường Sa, Ban Liên Lạc chiến sỹ TS đã tổ chức thành công chương trình “Giao lưu gặp gỡ – Bâng khuâng Trường Sa”. Lần đầu tiên,những câu chuyện, cảm xúc khi đến với vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc được các đại biểu trong và ngoài nước chia sẻ. Nhiều cung bậc cảm xúc,nhiều ý tưởng để gắn kết và đồng hành với các cán bộ chiến sỹ nơi tuyến đầu đã được đưa ra.

Trong hình ảnh có thể có: 22 người, bao gồm Nguyen Phuong Hung, Trực Chấp, Hoàng Trường, Lê Hồng Quân, Nguyễn Mỹ Trà, Lệ Hằng và Trang Kieu, mọi người đang cười, mọi người đang ngồi và giày

Đặc biệt,dưới sự phát động của Đại sứ Lương Thanh Nghị,các đại biểu khách mời đã quyên góp cho Quỹ “Trường Sa – Nhà giàn DK1, hành trình của trái tim”; nhà báo Mỹ Nguyễn Mỹ Trà VOV đã tặng quỹ 5 cuốn sách ảnh Trường Sa nơi ta đến và 3 cuốn đã được bán đấu giá gây quỹ ngay tại chương trình. 01 cuốn đã bán cho 1 vị khách người Đức. Nhà báo KBCHN đã ủng hộ cuốn đầu tiên 100 mỹ kim (USD) đồng cũng góp 520 ngàn VND vào cuộc đấu giá.

Trong hình ảnh có thể có: 8 người, bao gồm Nguyễn Mỹ Trà, Hoàng Trường, Lê Hồng Quân, Lệ Hằng và Trực Chấp, mọi người đang cười, mọi người đang đứng và bộ vét



Để có được thành công này, BTC xin cảm ơn:
– Công ty HT Media đã âm thầm hỗ trợ 1 phần kinh phí cho chương trình
– CLB tuổi trẻ vì biển đảo quê hương
– Trường SKDA,Bảo tàng tuổi trẻ
– Các tác giả,nghệ sỹ nhiếp ảnh đã cho BTC sử dụng ảnh để trưng bày
– Cảm ơn các khách mời đã dành thời gian chia sẻ với chương trình,cảm ơn các khách mời và anh chị em báo chí đã tới đưa tin
– Cảm ơn anh chị em nghệ sỹ nhà hát cải lương Việt Nam đã hỗ trợ các tiết mục ca nhạc,cảm ơn các ca sỹ Kiều bào và khách mời đã mang đến không gian ấm cúng cho chương trình. Cảm ơn nhà hàng Lục Thuỷ đã tạo điều kiện giúp đỡ.
– Cám ơn ca sĩ Lệ Hằng cũng đến góp tiếng hát với nhạc phẩm “Tiếng Hát Nơi Đảo Xa” làm rơi lệ nhiều người.

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang đứng



Lần đầu tiên tổ chức,BTC rất mong nhận được sự góp ý của các Thủ trưởng,anh chị và các bạn!

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, bao gồm Nguyen Phuong Hung, mọi người đang cười, mọi người đang đứng và trong nhà



25.4.2019 cũng là ngày tròn 2 năm được đi thăm quân dân Trường Sa và Nhà giàn DK1. Tròn 1 năm,đôi “Hải âu” trong chuyến công tác số 8 về chung 1 nhà. Và chúng tôi sẽ lại tiếp tục đồng hành với biển đảo quê hương!

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, bao gồm Hoàng Trường, mọi người đang cười, mọi người đang đứng
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang ăn
Trong hình ảnh có thể có: 6 người, bao gồm Lê Hồng Quân và Nguyễn Mỹ Trà, mọi người đang cười, mọi người đang đứng và trong nhà

Trong hình ảnh có thể có: Lệ Hằng, đang cười, đang đứng
Trong hình ảnh có thể có: Nguyễn Mỹ Trà, Trực Chấp, Hoàng Trường và Lê Hồng Quân, mọi người đang cười, mọi người đang ngồi và trong nhà
Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang đứng và ngoài trời
Trong hình ảnh có thể có: Nguyễn Mỹ Trà và Hoàng Trường, mọi người đang cười, mọi người đang đứng


Photo: Hoang Dong

Kiều bào khắp thế giới vượt hơn 1.000 hải lý thăm quân dân Trường Sa

Người Việt từ nhiều quốc gia trên thế giới thăm hỏi, trao tặng nhiều phần quà và tiền mặt cho quân và dân tại quần đảo Trường Sa.

Kiều bào và các nghệ sĩ hát cùng các chiến sĩ tại đảo Trường Sa Đông thuộc quần đảo Trường Sa. Ảnh: Anh Ngọc
Kiều bào và các nghệ sĩ hát cùng các chiến sĩ tại đảo Trường Sa Đông thuộc quần đảo Trường Sa. Ảnh: Anh Ngọc

55 kiều bào từ 19 quốc gia như Mỹ, Anh, Đức, Ba Lan, Czech, Australia, Nga, Hàn Quốc… vừa có chuyến thăm quần đảo Trường Sa và nhà giàn DK1/20 kéo dài 9 ngày. Đây là lần thứ 8 Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài thuộc Bộ Ngoại giao tổ chức đưa kiều bào ra thăm Trường Sa, trong đó có những người đã 4 lần tham gia chuyến đi này.

Xuất phát tại quân cảng Cam Ranh hôm 14/4, tàu Kiểm ngư 490 đã đưa đoàn công tác số 5 gồm những người Việt sinh sống ở nước ngoài và cán bộ của nhiều Bộ, Ban ngành chính phủ đi qua 5 đảo, 5 đảo đá cùng một nhà giàn. Tại đây, các đại biểu đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà các chiến sĩ, dâng hương tại khu tưởng niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp và tham dự hai lễ tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh tại vùng biển Gạc Ma và thềm lục địa phía nam.

Đã nghe nhiều về Trường Sa, nay được tận mắt ngắm nhìn vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc và chứng kiến cuộc sống của các chiến sĩ cũng như người dân tại đây, nhiều kiều bào không giấu được niềm xúc động và tự hào.

Năm nay đã 68 tuổi, sức khỏe không còn tốt nhưng bà Cao Thị Sáu cho hay mình không ngại vất vả. Người phụ nữ đang sinh sống tại tỉnh Sakhon Nakhon đi cùng đoàn kiều bào Thái Lan toàn những người gốc Việt cao tuổi đã cố gắng vượt qua cơn say sóng để tham gia tất cả các hoạt động của đoàn và đặt chân đến mọi điểm đảo trên hành trình. Bà ân cần hỏi han, ôm hôn và động viên các chiến sĩ như con cháu trong nhà. 

Đoàn kiều bào Thái Lan tại cột mốc chủ quyền trên đảo Sinh Tồn Đông, quần đảo Trường Sa. Ảnh: Anh Ngọc
Đoàn kiều bào Thái Lan tại cột mốc chủ quyền trên đảo Sinh Tồn Đông thuộc quần đảo Trường Sa. Ảnh: Anh Ngọc

“Tôi sinh ra ở đất khách, nay không những trở về quê hương mà còn được ra thăm Trường Sa, hội ngộ với kiều bào cùng chung một tiếng nói từ khắp thế giới tại đây, đó là niềm vinh hạnh lớn nhất cuộc đời”, bà Sáu chia sẻ. “Tôi biết ơn cha ông ta đã gìn giữ từng tấc đất của Tổ quốc và cảm ơn các chiến sĩ trẻ ngày nay tiếp tục giữ vững tay súng để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam”. 

Lấy tay lau những giọt nước mắt tại đảo Sơn Ca, điểm đến đầu tiên của đoàn công tác, bà Hồng Kiệm cùng chồng là ông Phạm Văn Dân cho hay chuyến đi có ý nghĩa đặc biệt bởi cả hai cũng từng là những người lính trước khi sang Ukraine định cư.

“Tôi ngạc nhiên và xúc động khi thấy các điểm đảo ở Trường Sa tươi đẹp và khang trang. Dù vẫn còn những thiếu thốn về vật chất nhưng tôi cảm nhận được các chiến sĩ vừa trẻ trung, yêu đời, vừa rắn rỏi, gan dạ”, bà Kiệm nói. “Chúng tôi mong được chia sẻ tấm lòng mình với các chiến sĩ và mong các chiến sĩ cảm nhận được tình cảm của Việt kiều khắp thế giới nói chung, ở Ukraine nói riêng. Chúng tôi cũng hy vọng sau chuyến đi, cộng đồng người Việt tại Ukraine sẽ xích lại gần Trường Sa hơn”.

Đồng hành cùng 6 thành viên của Câu lạc bộ Trường Sa tại Đức trong hải trình lần này, ông Phan Văn Tùng, đang sinh sống tại Berlin, bồi hồi nhớ về cảm xúc khi lần đầu rời xa Tổ quốc.

“Từ lúc biết mình được tham gia chuyến đi đặc biệt này, tôi cũng như mọi người rất hồi hộp và mong chờ. Trong tôi trào lên một cảm giác kỳ lạ, giống như khi lần đầu rời Việt Nam sang Đức 32 năm trước”, ông nói. “Lần này, tôi cũng có một chuyến đi xa nhưng là đi đến nơi đầu sóng ngọn gió, để thấy tận cùng của Tổ quốc mình bao la, tươi đẹp và thân thương như thế nào”.

Là một trong những hội nhóm có nhiều đóng góp tích cực, năm nay ông Tùng cùng các thành viên của Câu lạc bộ Trường Sa trao tặng nhiều phần quà là các thực phẩm thiết yếu và máy tập đa năng cho chiến sĩ và người dân tại các điểm đảo.

“Kiều bào ở nước ngoài nhiều người xa quê hương đã lâu và hầu như chỉ biết chung chung rằng Việt Nam có hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa. May mắn được đặt chân đến đây, tôi muốn nhắn gửi với mọi người rằng, Trường Sa của chúng ta xa lắm và thiêng liêng lắm. Chúng ta hãy có những hành động thiết thực, cụ thể để giữ gìn Trường Sa”, ông Tùng nói thêm.

Theo ông Lương Thanh Nghị, phó chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao, nhu cầu được đi thăm Trường Sa của cộng đồng kiều bào là rất lớn, nhưng do điều kiện khó khăn về thời tiết và khoảng cách, mỗi chuyến đi chỉ có khoảng 50-80 kiều bào được tham gia. 

“Đây là dịp để bà con kiều bào hiểu rõ hơn về chủ quyền biển đảo của Việt Nam”, ông Nghị cho hay. “Sau mỗi chuyến đi, ai cũng mang về những kỷ niệm đẹp và trở thành những sứ giả góp phần lan tỏa tình yêu đất nước cũng như quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo ra cộng đồng người Việt trên thế giới”. 

Ông Nghị cho biết thêm sau 8 năm triển khai chương trình, phong trào ủng hộ Trường Sa đã phát triển rất mạnh, đặc biệt ở những nước có đông đảo người Việt sinh sống. Năm nay, đoàn kiều bào tiếp tục trao tặng nhiều phần quà là các thực phẩm thiết yếu, trang thiết bị và tiền mặt với tổng trị giá khoảng 1,2 tỷ đồng cho quân và dân Trường Sa. 

Câu lạc bộ Trường Sa của kiều bào tại Đức tặng quà cho các chiến sĩ tại đảo Núi Le A, thuộc quần đảo Trường Sa. Ảnh: Anh Ngọc
Câu lạc bộ Trường Sa của kiều bào tại Đức tặng quà cho các chiến sĩ tại đảo Núi Le A thuộc quần đảo Trường Sa. Ảnh: Anh Ngọc

Vào cuối năm ngoái, Dự án “Trường Sa, Nhà giàn DK1 – Hành trình của trái tim” do Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài và một số kiều bào thực hiện đã in 5.000 cuốn lịch tập hợp những hình ảnh chân thực về Trường Sa và nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của cộng đồng người Việt khắp 5 châu. Kết thúc hành trình lần này, dự án trên sẽ tiếp tục được triển khai và số tiền thu được từ việc bán lịch sẽ được dùng để mua sắm các trang thiết bị tại các điểm đảo và tặng 32 học bổng cho con em vượt khó học giỏi của các chiến sĩ Trường Sa và nhà giàn DK1.

“Chúng tôi cho rằng mỗi chúng ta chỉ bằng một hành động nhỏ thôi nhưng cũng làm ấm lòng các chiến sĩ nơi đảo xa, góp phần làm với đi những khó khăn và động viên họ yên tâm làm nhiệm vụ”, ông Nghị nói thêm. 

Với chị Lưu Thị Hiền, Việt kiều Đức, đến thăm Trường Sa là một cách để người Việt trong nước cũng như ở nước ngoài góp tiếng nói khẳng định chủ quyền của Tổ quốc. 

“Mỗi người đến thăm Trường Sa là một cột mốc để khẳng định chủ quyền của Việt Nam. Chúng tôi cũng thế, cũng sẽ là những cột mốc mới”, chị Hiền nói. “Sau chuyến đi, chúng tôi sẽ trở về đất nước mà mình đang sinh sống, dùng tiếng nói và những hình ảnh mà mình ghi lại được để giới thiệu và quảng bá về quần đảo Trường Sa thiêng liêng của Tổ quốc”.

Anh Ngọc