Category Archives: Sưu tầm

Con Người Thật của Thượng tọa Thích Trí Quang

Đào văn Bình 

Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm – mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại TướngDương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tintức từng giờ của đài phát thanh. 

Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa. Đại Học Luật Khoa không có cuộc tự động bãi khóa nào nhưng trường cũng phải đóng cửa một thời gian cho nên một số sinh viên rảnh rỗi, kéo nhau đi tham dựnhững cuộc biểu tình.

Dĩ nhiên trong bối cảnh đó, tôi cũng như hầu hết số sinh viên cùng trang lứa hiểu biết khá nhiều về tình hình của đất nước lúc bấy giờ. Cái kỳ lạ của dân Sài Gòn là dù tiếng súng nổ ầm ầm, xe tăng, quân đội ào ào tấn công vào Dinh Độc Lập, Thành Cộng Hòa (căn cứ của Liên Minh Phòng Vệ Phủ Tống Thống) như thế, nhưng hễ lơi tiếng súng một chút là kéo nhau ra xem, chẳng sợ tên bay đạn lạc gì cả!Tôi cũng nằm ở trong số dân Sài Gòn, đám thanh niên, sinh viên “điếc không sợ súng” này. Chính vì thế mà tôi đã chứng kiến tận mắt cảnh đồng bào, bà con buôn bán ở Chợ Bến Thành đã đem cơm nước, trái cây ra tặng binh sĩ Nhảy Dù khi đài phát thanh loan báo anh em Ô. Ngô Đình Diệm đã bị lật đổ.

Đã chứng kiến cảnh, đồng bào, thanh niên Sài Gòn dùng giây kéo xập tượng Hai Bà Trưng dựng ở Bến Bạch Đằng. Chiếc tượng đổ gục, cổ tượng đứt lìa và được đám đông đưa lên chiếc xích-lô, đẩy quanh đường phố, reo hò như một đám rước. Sở dĩ có chuyện này là vì trước đó lâu lắm, người dân đã bàn tán, đây là tượng của hai chị em bà Ngô Đình Nhu chứ không phải tượng Hai Bà Trưng với tóc con trai (demi-garcon) chải tém và áo hở cổ (decolleté) – kiểu áo quen thuộc của bà Ngô Đình Nhu.Qúy vị, qúy bạn có thể nhìn lại tấm hình lịch sử này ở nơi trang 34 của cuốn The Eyewittness History of the Vietnam War của George Esper and The Associated Press xuất bản Tháng 11,1983 tại Hoa Kỳ, và nơi trang 36&37: Hình ảnh một rừng thanh niên, sinh viên Sài Gòn bu quanh hàng rào Dinh Độc Lập, reo hò hoặc thò qua bắt tay binh sĩ VNCH là những đơn vị đầu tiên đã tấn công vào dinh và lật đổ chế độ.

Sau những cuộc đảo chính, chỉnh lý, biểu dương lực lượng liên miên của các ông tướng và biến cố Miền Trung, năm 1967 Hiến Pháp Đệ Nhị Cộng Hòa ra đời, và sau khi liên danh hai Ô. Thiệu-Kỳ đắc cử tổng thống, cùng với sự rạn nứt giữa TT. Thích Tâm Châu và TT. Thích Trí Quang khiến Phật Giáo phải chia đôi… thì chuyện đấu tranh của Phật Giáo năm 1963, chuyện gia đình Ô. Diệm cũng đã trở thành dĩ vãng của lịch sử.

Hơn thế nữa áp lực quân sự lúc này rất nặng, đời sống của dân chúng quá khó khăn, với sự hiện diện của hơn 500,000 quân đội Mỹ tại Miền Nam, không ai còn rảnh rỗi “hưởn” để đào sới lại lịch sử năm 1963 và hai anh em Ô. Ngô Đình Diệm cũng đã yên nghỉ ở Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi. Cho tới ngày 30-4-1975, thật tình tôi chưa hề đọc hoặc xem qua một tài liệu, một bài báo nào nói rằng TT. Thích Trí Quang là cán bộ hoặc đảng viên đảng CSVN. Rồi khi khối 1 triệu người Việt di tản rồi vượt biển tìm Tự Do tôi cứ nghĩ mọi người sẽ bỏ qua những đau thương của quá khứ, thành lập một mặt trận thống nhất để giành lại cơ đồ. Nhưng không! Sự yên bình, đòan kết và cảm thông ở hải ngọai chỉ có được một hai thập niên. Vào giữa thập niên 1990 đã có những bài viết, cuốn sách đánh bóng lại ông Ngô Đình Diệm như một thứ “cha già của dân tộc”. 

Rồi cả những cuốn sách, bài viết công kích cuộc đấu tranh của Phật Giáo năm 1963 mà chiến lược nhắm vào việc cho rằng TT. Thích Trí Quang là đảng viên đảng CSVN. Nếu quả thực TT. Thích Trí Quang là “cộng sản nằm vùng” thì điều đó có nghĩa là cuộc đấu tranh cho quyền bình đẳng tôn giáo năm 1963 của Phật Giáo hoàn toàn bịa đặt và do cộng sản giựt giây, lèo lái, hoặc chỉ đạo chứ thực ra dưới thời Ô. Ngô Đình Diệm không chuyện có kỳ thị tôn giáo.

Vậy thì chính nghĩa của cuộc đấu tranh năm 1963 nằm ở chỗ tìm hiểu lý lịch của TT. Thích Trí Quang. Bản thân tôi, từ trước đến giờ chưa bao giờ nghĩ rằng TT. Thích Trí Quang là cán bộ cộng sản, nhưng nay thì thấy mình cần phải tìm hiểu lại xem con người thực của TT. Thích Trí Quang như thế nào.Với đà tiến bộ vượt bực của kỹ nghệ điện tử, với Google – bộ nhớ của nhân lọai – chúng ta dễ dàng tìm kiếm những dữ kiện liên quan đến TT. Thích Trí Quang. 

Trong tinh thần tìm hiểu sự thực, không thêm thắt ý kiến cá nhân, tôi xin dịch ra Việt Ngữ bốn tài liệu gửi kèm theo đây để quý vị, quý bạn suy nghĩ:

1) Declassified CIA Documents on the Vietnam War/ Thích Tri Quang
(Tài liệu giải mật của CIA về Chiến Tranh Việt Nam/Thích Trí Quang)
Tài liệu này do Viện Đại Học Saskatchewan (Canada) sưu tầm và phổ biến. Tôi xin dịch phần Tóm Lược Chính (Abstract) trong báo cáo của CIA như sau:
“Một cuộc phân tích để xem – liệu Thích Trí Quang có liên hệ/hoặc là cán bộ cộng sản, Con Người và Mục Tiêu Đấu Tranh: Báo cáo tình hình cho tới ngày 27-8-1964 đánh giá rằng Trí Quang không phải là cộng sản, ông ta chỉ muốn thiết lập một chính quyền do thần quyền/tôn giáo lãnh đạo ở Miền Nam. Tin tình báo gửi bằng cable, TDCS 314/02342-64. August 28, 1964. 8 trang. Mật/Không phổ biến. Bản sao đã được tẩy sạch. Giải tỏa ngày 24 Tháng 5, 1976. “

2) “Only Religions Count in Vietnam”: Thich Tri Quang and the Vietnam War
(Chỉ Có Tôn Giáo Là Đáng Kể Ở Việt Nam: Thích Trí Quang và Cuộc Chiến Tranh Việt Nam) biên khảo của James McAllister- Phân Khoa Chính Trị Học, Đại Học Williams, Williamstown, MA 01267, điện thư: jmcallis@williams.edu . Tôi xin dịch phần Tóm Lược Chính (abstract) như sau:
“Đã từ lâu, Thích Trí Quang là một trong những nhân vật gây tranh cãi nhiều nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam. Các học giả cánh hữu cho rằng Trí Quang có thể/có nhiều khả năng là cán bộ cộng sản họat động dưới sự chỉ đạocủa Hà Nội. Còn các học giả cánh tả lại cho rằng Trí Quang là một lãnh đạo tôn giáo đấu tranh bất bạo động/hòa bình cho dân chủ và muốn sớm chấm dứtchiến tranh. Tài liệu biên khảo này cho thấy cả hai lập luận trên đều không có tính thuyết phục. Như các giới chức Hoa Kỳ đã công bằng/đứng đắn kết luận rằng không có bằng chứng khả tín nào cho thấy Trí Quang là một cán bộ cộng sản hoặc có thiện cảm với cuộc chiến của Hà Nội hay Mặt Trận Giải PhóngMiền Nam. Rút ra từ những tài liệu rộng rãi còn lưu trữ qua những cuộc đàm luận giữa Trí Quang và các giới chức Hoa Kỳ, hiển nhiên Trí Quang thật sự chống cộng mạnh mẽ và hoàn tòan hiểu được/cảm nhận được việc xử dụng quân đội Hoa Kỳ để chống lại Bắc Việt và Trung Hoa. Yếu tố chính gây mâu thuẫngiữa phong trào đấu tranh của Phật Giáo và bộ tham mưu của Johnson là Trí Quang cương quyết cho rằng những chế độ quân nhân sau Ngô Đình Diệm thù nghịch với Phật Giáo và không có khả năng đưa cuộc đấu tranh chống cộng sản tới thành công.”

3) World: A Talk With Thich Tri Quang (Friday Apr.22,1966) TIME MAGAZINE
Đây là cuộc phỏng vấn liên quan đến nhiều vấn đề như cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến thiết lập nền Đệ Nhị Cộng Hòa và việc ứng cử của hai Ô. Thiệu-Kỳ. Vì bài phỏng vấn dài cho nên tôi chỉ phiên dịch phần quan điểm của TT. Trí Quang liên quan tới cộng sản và sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Việt Nam mà thôi.
“ Trong một cuộc phỏng vấn riêng tư bất thường, tương đối hiếm hoi bởi vì Thượng Tọa ít khi dành cho báo giới Tây Phương những cuộc phỏng vấn như vậy, với các phóng viên của TIME như Frank McCullock và James Wilde tại nơi cư trú của Thượng Tọa tại Sài Gòn, trong căn phòng của một bệnh viện điều dưỡng. Thông dịch viên là Thân Trọng Huề, một cộng tác viên người Việt của báo TIME, người đã gọi Thượng Tọa là Venerable cho đúng với địa vị của Thượng Tọa trong Giáo Hội. Trí Quang mặc áo của bệnh viện, quần bà ba trắng và đi dép da.”

Hỏi: Nếu tình hình ổn định trở lại với Việt Nam và cuộc chiến đấu chống cộng thành công, Thượng Tọacó nghĩ rằng cuối cùng ở một chừng mực nào đó sẽ có những cuộc thương thảo với Việt Cộng?

Đáp: Dĩ nhiên, khi đưa ra câu hỏi như vậy là quý vị đã tự có câu trả lời – hiển nhiên bất cứ cuộc chiến nào rồi cũng kết thúc bằng thương lượng. Nhưng những cuộc thương lượng chỉ xứng đáng khi có lợi cho cả hai phe. Nếu qúy vị thương thảo mà không lợi ích gì cho lý tưởng và cuộc đấu tranh thì đó là sự đầu hàng ngụy trang bằng thương thảo. Chắc chắn tôi không đồng ý về bất cứ một cuộc đầu hàng nào như vậy.

Hỏi: Thượng Tọa có tin rằng có những thành phần phi-cộng-sản ở trong hàng ngũ Việt Cộng không?


Đáp: Nếu có những thành phần này thì họ bị lợi dụng và chỉ đạo bởi những người cộng sản, cho nên chúng ta chẳng hy vọng gì vào họ. Còn họ chỉ là những người chạy theo, thì họ cũng chẳng ích lợi gì cho chúng ta. Bị cộng sản lợi dụng hay bị cộng sản sai khiến thì cũng giống như cộng sản.


Hỏi: Thượng Tọa nghĩ gì về bộ phận Việt Cộng?


Đáp: Theo tôi, đây chỉ là cách chơi chữ. Người ta cố tách biệt Cộng Sản Bắc Việt và Cộng Sản Miền Nam. Thật ra không có sự phân biệt như vậy. Cả hai đều là cộng sản. Là một tu sĩ, điều tôi lo lắng là chủ thuyết trong đầu họ còn nguy hiểm hơn súng mà họ cầm trên tay.


Hỏi: Thượng Tọa có ý kiến gì về những lời đồn đãi là việc đầu tiên mà quốc hội lập hiến làm là đòi người Mỹ rút khỏi Việt Nam?


Đáp: Những lời đồn đãi như vậy hòan tòan có tính cách bôi lọ. Hoàn toàn không có cơ sở. Người ta không nên hỏi tại sao người Mỹ phải ở lại Việt Nam. Ai ai cũng đồng ý rằng cuộc chiến đấu chống cộng ở đây phải có sự trợ giúp của người Mỹ. Vậy thì trở ngại chính là làm thế nào để nâng cao giá trị của sự giúp đỡ đó. Cuộc trợ giúp của người Mỹ tại Việt Nam ngày hôm nay đã không được hỗ trợ đầy đủ bởi vì không có những vị đại diện của người dân làm công việc đó. Khi quốc hội được bầu ra, chính quốc hội sẽ làm công cuộc hỗ trợ tinh thần, nâng cao gía trị và chấp nhận sự trợ giúp của người Mỹ.


4) From Wikipedia, the free encyclopedia

“Thích Trí Quang (sinh năm 1924) là một tăng sĩ Phật Giáo Đại Thừa Việt Nam đã được biết tới qua vài trò lãnh đạo cuộc khủng hỏang Phật Giáo năm 1963 vốn chiếm đa số tại Nam Việt Nam. Trong cuộc đấu tranh, ông hô hào tín đồ noi gương cuộc đấu tranh bất bạo động của Gandhi, nhìn thấy cuộc chống đối lan rộng chống lại chính quyền Thiên Chúa Giáo của TT. Ngô Đình Diệm và chính sách thân Thiên Chúa Giáo, chống Phật Giáo của ông ta, do ảnh hưởng của người anh cả là Giám Mục Ngô Đình Thục ở Huế. Những cuộc đàn áp biểu tình liên tục của Diệm đã đưa tới sự bất mãn lan rộng trong dân chúng, và đưa tới cuộc đảo chính vào Tháng 11, 1963 lật đổ ông và gia đình ông.


Trong những năm khởi đầu, Thích Trí Quang đi Tích Lan để để nghiên cứu thêm về Phật Giáo. Khi trở về ông tham gia phong trào kháng chiến chống Pháp để giành độc lập cho Việt Nam (*). Vào ngày 8 Tháng 5, 1963 nhân lễ Vesak, ngày đản sanh của Đức Phật Gotama, Phật tử tại Huế đã chuẩn bị, kể cả việc treo cờ Phật Giáo. Nhà cầm quyền đã dựa vào một nghị định ít khi thi hành để ngăn cấm việc treo cờ. Việc ngăn cấm này đã xảy ra cho dù trước đó một tháng nhân lễ ngân khánh thứ năm của Giám Mục Ngô Đình Thục cờ Thiên Chúa Giáo được treo mà không hề bị ngăn cản. Phật tử Huế không tuân theochỉ thị và tổ chức một cuộc biểu tình, tụ họp tại đài phát thanh để hy vọng nghe tiếng nói của Thích Trí Quang trong chương trình phát thanh thường lệ. Chính quyền cho ngưng buổi phát thanh và nổ súng vào đám đông khiến 9 người thiệt mạng.

Vào ngày 10 Tháng 5, Phật tử bắt đầu chiến dịch tranh đấu đòi bình đẳng tôn giáo, bồi thường cho nạn nhân và trừng phạt những người có trách nhiệm và quyền treo cờ Phật Giáo. Thích Trí Quang nhắc nhở khối người biểu tình không để cộng sản lợi dụng tình trạng bất ổn và chủ trương đấu tranh bất bạo động. Khi cuộc khủng hỏang trở nên sâu rộng, Thích Trí Quang vào Thủ Đô Sài Gòn để thương thuyết và chuẩn bị cho những cuộc xuống đường sau cuộc tự thiêu của Thích Quảng Đức vào ngày 11 Tháng 6.

Trước cuộc tấn công của mật vụ và lực lượng đặc biệt của Ngô Đình Nhu vào Chùa Xá Lợi ngày 21 Tháng 8, ông đã trốn vào Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Ông được Đại Sứ Hoa Kỳ là Henry Cabot Lodge nhận và từ chối không giao ông cho mật vụ của Nhu sau khi lục sóat chùa, nổ súng và đánh đập tăng ni. Tại Huế, 30 người chết vì đã làm hàng rào ngăn cản người của Nhu tấn công vào các chùa.


Sau cuộc đảo chánh ngày 1-11-63 lật đổ Diệm và Nhu, người ta đồn rằng nhóm quân nhân muốn Thích Trí Quang là một thành viên của nội các nhưng Bộ Ngọai Giao Hoa Kỳ bày tỏ chống đối.


Sau cuộc chỉnh lý năm 1964 của Nguyễn Khánh lật đổ Dương Văn Minh, Khánh ra lệnh giết Đại Úy Nguyễn Văn Nhung là cận vệ của Minh và cũng là người đã giết hai anh em Diệm, Nhu. Điều này gây ra lời đồn đại là những chính trị gia thân Diệm sẽ phục hồi quyền lực khiến Trí Quang ngưng cuộc hành hương Ấn Độ để tố chức những cuộc phản đối (Khánh). Vào cuối năm 1964, Khánh thu hồi quyết địnhquản thúc các tướng ở Đà Lạt mà đứng đầu là Trần Văn Đôn.


Vào năm 1965 những cuộc biểu tình lại tái xuất hiện khi người chống Diệm là tướng Nguyễn Chánh Thi – Tư Lệnh Quân Đòan I bị Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ cất chức. Vào thời điểm này, Nguyễn Cao Kỳ bắt giữ Thích Trí Quang và ra lệnh quản thúc tại gia (chùa). Khi Sài Gòn xụp đổ và cộng sản tràn vào Nam Việt Nam thì Thích Trí Quang một lần nữa lại bị nhà cầm quyền cộng sản quản thúc tại gia (chùa).”


Nhận Định:


Tại các quốc gia văn minh Tây Phương, việc duyệt xét lại lịch sử, tìm hiểu sự thực của lịch sử diễn ra hằng ngày, hằng tháng và hằng năm bởi các nhà nghiên cứu sử học khi có thêm những dữ kiện mới. Thậm chí trong các lớp học về lịch sử của Hoa Kỳ, người ta còn cho học sinh tổ chức những tòa án giả để xét tội Tổng Thống Jackson, người đã giết hại dân Da Đỏ.

Duyệt xét, tìm hiểu sự thực của lịch sử, thậm chí lập tòa án như đã nói ở trên không có nghĩa là các nhà giáo dục Hoa Kỳ dạy cho học sinh căm thù TT. Jackson mà chỉ muốn thế hệ sau tránh vết xe đổ của các thế hệ đi trước. Giả dụ việc làm của TT. Jackson không được các sử gia mổ xẻ, phân tích thì điều đó có nghĩa là TT. Jackson làm đúng và các thế hệ sau “cứ thế mà làm”, như thế tác hại cứ triền miên, không dứt.

Do đó, trong tinh thần học hỏi, xây dựng đất nước và nhất là cho thế hệ mai sau, tôi hoan nghênh mọi nỗ lực khoa học, khách quan, đứng đắn để tìm hiểu về con người thực của TT. Thích Trí Quang. Tuy nhiên việc nghiên cứu lịch sửkhông phải chuyện dễ dàng. Các sử gia đã chỉ cho chúng ta có hai nguồn sử liệu để nghiện cứu:


1) Tài liệu chính yếu (Primary Source) bao gồm các chỉ dụ, đạo luật, sắc lệnh, nghị định hành chánh, mệnh lệnh, biên bản các phiên họp nội các, các báo cáo, tờ trình, các tấm hình, băng ghi âm, các thước phim tài liệu, phỏng vấn có ghi âm/thu hình, công báo là những tài liệu chính xác của lịch sử.


2) Tài liệu thứ yếu (Secondary Source) như thơ, kịch, tiểu thuyết, bài viết, những tâm tình, trao đổi giữa cá nhân, hồi ký liên quan đến một giai đọan lịch sử nào đó. Các tài liệu này mức độ khả tín rất thấp và có khi không đáng tin cậy vì nó có rất nhiều ý kiến cá nhân (yêu ghét, chủ quan) đưa vào đó. Những sử gia đứng đắn không bao giờ bằng cứ vào Secondary Source để viết lịch sử. Ngay cả những cuôc trao đổi riêng tư giữa các nhân vật lịch sử, hoặc những nhân vật có liên quan cũng cần được kiểm chứng qua báo chí, tài liệu lưu trữ, băng ghi âm, nhật ký, văn khố v.v…
Do đó, nếu có vị nào không đồng ý với tài liệu đã giải mật của CIA và coi đó như tài liệu giả hoặc do nhóm thân cộng bịa đặt ra hoặc sự đánh giá của Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ hòan tòan sai lạc, có thể viết thư đặt vấn đề với cơ quan CIA. Hoặc tài liệu nghiên cứu của James McAllister, Wikipedia và cuộc phỏng vấn của báo TIME là thiếu vô tư hoặc thân cộng, chúng ta có thể viết thư phản đối hoặc cung cấpcho họ những tài liệu chính xác hơn không ngòai mục đích làm sáng tỏ lịch sử, một nhu cầu cần thiếtcủa một dân tộc muốn tiến lên.


Sau hết, chúng ta nên nhớ rằng một dân tộc man di mọi rợ thì không có lịch sử. Một dân tộc nô lệ thì lịch sử bị ngọai bang bóp méo, cạo sửa, hoặc viết lại. Một dân tộc độc lập và hùng mạnh thì lịch sử phải được học hỏi, nghiên cứu, kế thừa và phê phán trong tinh thần khách quan và hướng về tương lai.


Đào Văn Bình(Tháng 12, 2009)


Ghi chú: Dấu (*) là trích dẫn trong Tiểu Truyện Tự Ghi của HT. Thích Trí Quang, nguyên là phần phụ lụctrong cuốn Bồ Tát Giới của Hòa Thượng in sau năm 1975, do website Trang Nhà Quảng Đức phổ biến, có đọan nói về tham gia kháng chiến như sau: “Thọ Bồ tát giới rồi, không đầy một tháng sau Pháp đổ bộ Đồng Hới, tôi tham gia kháng chiến. Nhưng tháng 10 năm ấy, mẹ tôi bịnh nặng, bốn anh em tôi đều đi kháng chiến, người thứ ba tử trận một tuần sau ngày Pháp đổ bộ, hai người thứ nhất và thứ tư ở xa, tôi ở gần nhà nhất nên phải về nuôi mẹ.”


Tài Liệu Đính Kèm


1) Tài Liệu Thứ Nhất:
University of Saskatchewan
University Library
Declassified CIA Documents on the Vietnam War
We hereby acknowledge the permissions granted by the Gale Group to include in this Database the abstracts provided in the Declassified Documents Reference System CD-ROM and by the Texas Tech University’s Virtual Vietnam Archive to provide the links for full text documents.
Search:
Advanced search…
Title:
An analysis of Thich Tri Quang’s possible communist affiliations, personality and goals
Date of Creation:
August 28, 1964
Date of Declassification:
May 24, 1976
Type of Document:
Intelligence information cable
Level of Classification:
CONFIDENTIAL
Status of Copy:
SANITIZED
Pagination, Illustration:
8 p.
Abstract:
An Analysis of Thich Tri Quang’s Possible Communist Affiliations, Personality and Goals: Situation Report as of 27 August 1964 (assessment is that Tri Quang is not a Communist; he would like to establish a theocracy in South Vietnam). Intelligence Information Cable, TDCS 314/02342-64. Aug. 28, 1964. 8 p. CONFIDENTIAL/NO FOREIGN DISSEM. SANITIZED copy. Released May 24, 1976.
Indexing Terms:
THICH TRI QUANG
THICH DUC NGHIEP
THICH GIAC DUC
THICH MINH CHAU
THICH THIEN MINH
THICH TAM CHAU
TON THAT XUNG
Declassified Documents Reference System Location:
1976-22E
________________________________________
2) Tài Liệu Thứ Hai
Modern Asian Studies (2008), 42:751-782 Cambridge University Press
Copyright © Cambridge University Press 2007
doi:10.1017/S0026749X07002855
________________________________________
Research Article
‘Only Religions Count in Vietnam’: Thich Tri Quang and the Vietnam War
________________________________________
JAMES McALLISTERa1
a1 Department of Political Science, Williams College, Williamstown, MA 01267 Email: jmcallis@williams.edu
Article author query
mcallister j
Abstract
Thich Tri Quang has long been one of the most controversial actors in the history of the Vietnam War. Scholars on the right have argued that Tri Quang was in all likelihood a communist agent operating at the behest of Hanoi. Scholars on the left have argued that Tri Quang was a peaceful religious leader devoted to democracy and a rapid end to the war. This article argues that neither of these interpretations is persuasive. As American officials rightly concluded throughout the war, there was no compelling evidence to suggest that Tri Quang was a communist agent or in any way sympathetic to the goals of Hanoi or the NLF. Drawing on the extensive archival evidence of Tri Quang’s conversations with American officials, it is apparent that Tri Quang was in fact strongly anti-communist and quite receptive to the use of American military power against North Vietnam and China. The main factor that led to conflict between the Buddhist movement and the Johnson administration was Tri Quang’s insistence that the military regimes that followed Ngo Dinh Diem were hostile to Buddhism and incapable of leading the struggle against Communism to a successful conclusion.
________________________________________
3) Tài Liệu Thứ Ba:
World: A TALK WITH THICH TRI QUANG
Friday, Apr. 22, 1966
In an unusual private interview, one of the relatively few he has granted to Western newsmen, Thich Tri Quang talked for an hour last week with TIME Correspondents Frank McCulloch and James Wilde at his Saigon residence, a room in a maternity clinic. The interpreter was Than Trong Hue, a Vietnamese member of the TIME staff, who addressed the monk with the “venerable” title reserved for the Buddhist clergy. Tri Quang was clad in a hospital gown, white pantaloons, and brown leather sandals.
If stability returns to Viet Nam and the war against the Communists is waged successfully, do you believe that eventually some sort of negotiations must be held with the Viet Cong?Of course, in raising such a question you have really answered it yourself—obviously any war must be finally ended by some kind of negotiations. But negotiations are worthwhile only if conditions are favorable for them. If you negotiate without benefit to your cause and struggle, that is a surrender in the guise of negotiations. And I am certainly not in favor of any such surrender.Do you believe there are non-Communist elements within the Viet Cong?If so, they are completely exploited and led by the Communists, so we can have no hope for them. Even if they are only followers, they can be of no use to us. Being led or directed by Communists is the same as being a Communist.What do you think of the Viet Cong movement?This is mostly a matter of semantics to me. People try to separate North Vietnamese Communists from South Vietnamese Communists. No such separation exists. They are both Communists. And as far as I am concerned, as a religious man, the ideology they possess is much more dangerous than the guns they possess.Can you comment on rumors that the first thing a legislative assembly might do would be to ask the Americans to leave Viet Nam?Rumors such as these are sheer libel. No proof or substantiation for them exists. One should not ask whether Americans should remain in Viet Nam. It is agreed by all that the struggle against Communism here must be made with the assistance of the Americans. So the problem is really how to enhance the value of that assistance. American assistance is not now fully supported in Viet Nam because there is no popular representation to give it such support. When an assembly is elected, it will, by giving its moral endorsement to such assistance, enhance its value and its acceptance.Read more:
http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,899140-3,00.html#ixzz0ZIyhmbQ5
________________________________________
4) Tài Liệu Thứ Tư:
From Wikipedia, the free encyclopedia
Jump to: navigation, search
Thích Trí Quang (born 1924) is a Vietnamese Mahayana Buddhist monk best known for his role in leading South Vietnam’s Buddhist majority during the Buddhist crisis in 1963.
His campaign, in which he exhorted followers to emulate the example of Mahatma Gandhi, saw widespread demonstrations against the Catholic government of President Ngo Dinh Diem, and its pro-Catholic and Anti-Buddhist policies, attributed to the influence of Diem’s elder brother Archibishop Ngo Dinh Thuc of Hue. Diem’s often violent suppression of the demonstrations lead to widespread dismay among the populace, and resulted in a military coup in November 1963 that removed Diem and his family from power.
In his early days, Thich Tri Quang went to Ceylon to further his Buddhist studies. When he returned, he participated in anti-French activities, calling for the independence of Vietnam.
In 1963, Vesak, the birthday of Gautama Buddha fell on May 8. The Buddhists of Hue had prepared celebrations for the occasion including the display of the Buddhist flag. The government cited a rarely enforced regulation prohibiting the display of religious flags, banning it. This occurred despite the non-enforcement of the regulation on a Catholic event celebrating the fifth anniversary of Ngo Dinh Thuc as Archbishop of Hue less than a month earlier. The Buddhists defied the ban and held a demonstration, and congregated at the radio station expecting to hear an address by Thich Tri Quang, as was routine for such a day. The authorities cancelled the speech and opened fire on the crowd, killing nine.
On May 10, Buddhist campaigns for religious equality, compensation for the victims, punishment for those responsible, and the right to fly the Buddhist flag. Thich Tri Quang urged the demonstrators to not allow Vietcong to exploit the unrest, and exhorted a strategy of passive resistance. As the crisis deepened, he travelled to the capital Saigon for negotiations and further protests after the self immolation of Thich Quang Duc on June 11. Prior to the August 21 raids on the Xa Loi Pagoda by Ngo Dinh Nhu’s secret police and special forces, he sought refuge at the US embassy. He was accepted by the US ambassador Henry Cabot Lodge, who refused to hand him to Nhu’s forces after they had ransacked the pagodas, fired on and beat monks. In Hue, thirty people died as they attempted to blockade the pagodas from Nhu’s men.
Following the coup on November 1, 1963 which removed Diem and Nhu from power, it was reported that the military junta wanted Thich Tri Quang to be a part of the new cabinet, but the US State Department recommended against this.
After the 1964 coup by General Nguyen Khanh which deposed the Duong Van Minh junta, Khanh had Captain Nguyen Van Nhung, the bodyguard of Minh and executioner of Diem and Nhu executed. This generated rumours that pro-Diem politicians would be restored to power and prompted Thich Tri Quang to cancel a planned pilgrimage to India in order to organise further demonstrations. In late 1964, Khanh revoked his decision to put the General lead by Tran Van Don from detention in Da Lat.
In 1965, demonstrations occurred again when anti-Diem General Nguyen Chanh Thi, the commander of central Vietnam, was stripped of his position by Prime Minister Nguyen Cao Ky. This time Ky had Thich Tri Quang arrested and put him under house arrest in Saigon. When the communists overran South Vietnam in the Fall of Saigon, Thich Tri Quang was again put under house arrest../.
(Hết)
Đào Văn Bình

Tắm suối nóng Onsen ở Nhật Bản

BM

Nằm bên cạnh sông Kurobe ở sâu trong dãy núi Alps của Nhật, Onsen xa nhất của Nhật phải mất 2 ngày để tới được.
Nhật Bản là nơi có hơn 3000 suối nước nóng – nhưng một nơi thần kỳ đến mức những người muốn tới đó phải mất 4 ngày, đi và về, để được đắm mình trong đó.
Nằm bên cạnh dòng Sông Kurobe ở sâu trong dãy núi Alps Nhật Bản, suối nước nóng nhỏ màu xanh đục mà tôi chuẩn bị nhúng ngón chân vào là một việc cũng bình thường. Một số xô màu vàng được dùng như chỗ để đồ giặt, và quần áo được đặt trên những tảng đá gần đó. Đây không phải là trải nghiệm spa sang chảnh – nhưng đó chính là vẻ đẹp của riêng nó.
  Trong hơn 1000 năm, suối nước nóng tự nhiên – được gọi là Onsen – là một phần thiết yếu của cuộc sống Nhật Bản, làm sạch cả cơ thể lẫn tâm hồn. Có hơn 3000 Onsen để lựa chọn ở Nhật Bản. Giàu khoáng chất và có nguồn gốc trực tiếp từ 25.000 suối nước nóng sôi lục bục bên dưới bề mặt quần đảo địa nhiệt, nơi tắm cho trải nghiệm tĩnh tại của cá nhân và cộng đồng, khi gia đình, bạn bè và hàng xóm trút bỏ quần áo và cùng nhau bước vào nước bốc hơi nóng. Từ các spa thông minh ở nội thành đến các hang động bên bờ đại dương, mỗi nơi tắm nước nóng Onsen Nhật có nét quyến rũ nhất định – nhưng một trong số đó ở một vị trí đặc biệt khác hẳn nơi khác.

BM

  Để ngâm mình trong nước phục hồi sức khỏe của Takamagahara, những người đi bộ phải đi 40 km xuyên qua rừng, dọc theo các con sông và qua các cao nguyên rất cao.
Được cho là nơi Onsen xa xôi nhất ở Nhật, Takamagahara (nghĩa là vùng đồng bằng cao của thiên đường) phải mất hai ngày mới tới được – một cuộc hành hương cho những người tắm cực đoan nhất. Để ngâm mình trong nước có tính phục hồi của nó ở công viên quốc gia Chubu-Sangaku, những người đi bộ và sùng Onsen phải đi vất vả 40km qua các rừng và dọc theo các con sông, leo các dốc cao và ngủ trong các túp lều biệt lập trên núi. Tuyến đi không dành cho người non kinh nghiệm: một chuyến thám hiểm thực sự, đòi hỏi sức chịu đựng về thể chất cũng như sự hiểu biết sâu sắc về khí hậu thất thường của miền núi.
  Phần thưởng là một cụm nhà tắm khiêm tốn sâu trong một thung lũng nhiều đá. Mặc dù cảnh quan, khoáng chất và thiết kế là duy nhất đối với từng Onsen Nhật Bản, nhưng mỗi nơi đều có chung sự kết nối vô hình với thiên nhiên. Trong thế giới ngày càng đô thị hóa, không ngạc nhiên gì khi việc tắm ngoài trời, gọi là rotenburo, được tìm kiếm nhiều nhất, cho ta cái nhìn bao quát về bầu trời đầy sao và làn gió mát lạnh khi ngồi tựa trong nước giàu khoáng chất. Cách xa nền văn minh, được bao quanh bởi cây cối vùng núi và nghe róc rách nước chảy, nơi Takamagahara này là đỉnh cao của trải nghiệm tắm suối nóng ngoài trời rotenburo.
Điện thoại không có sóng dọc theo đường mòn và thời tiết thường xuyên thay đổi.
Trong khi một chuyến đi bộ đường dài 4 ngày có vẻ cực đoan, nhưng truyền thống hành hương của Nhật Bản có từ nhiều thế kỷ trước- một ví dụ hoàn hảo về hành trình ngang bằng với đích đến, nếu không vượt quá. Có một lần được các người hành hương thời Edo đến đây thăm, những ngọn núi xung quanh Takamagahara đã được thần thánh hóa và được coi là sự biểu hiện của kami, tức thần linh của Thần đạo của Nhật.
  Tôi phải tự thú rằng mình một người thích tắm Onsen, và vì vậy đây không phải là chuyến đi tắm Onsen Nhật Bản đầu tiên, nhưng chắc chắn lần này là mãnh liệt nhất. Từ trải nghiệm Onsen đầu tiên của tôi ở giữa mùa đông ở Hokkaido, bị sa đà vào cuộc trò chuyện hàng giờ ngâm mình và thư giãn với bạn bè, tôi mê Onsen ngay. Năm năm sau, với cái nóng của mùa hè đang tan biến, một chuyến leo núi đường dài có vẻ như như sự giới thiệu hoàn hảo cho một mùa mới để đi tắm nước suối nóng. Tưởng tượng đến sườn núi xa xôi hoang dã không một bóng người – một sự tương phản nổi bật so với khu phố Tokyo sầm uất tôi ở – tôi bắt một chuyến tàu nhanh ban đêm đến Toyama và lên đường trên chuyến xe buýt đi uốn lượn 2 tiếng đến đầu tuyến đường mòn gần ngôi làng nhỏ Oritate vào sáng sớm hôm sau.
  Chỉ trong vài phút, việc leo ngược dốc đầy rễ cây quấn quýt và những con đường lởm chởm đá đã khẳng định danh tiếng ghê gớm của con đường mòn này. Cố gắng bắt kịp bạn đồng hành, tôi đi tiếp, hết hơi nhưng quyết tâm, theo con đường mòn hẹp đục trong đá. Nhiều người chào hỏi “Konnichiwa!” và “Hello” của 2 người phương Tây đột nhiên nhìn thấy, vậy chúng tôi không hề đơn độc.

BM

Một loạt các túp lều hẻo lánh trên núi, nơi những người đi bộ có thể ăn và ngủ, nằm rải rác trên đường mòn đến Onsen xa nhất của Nhật Bản.
Khi chúng tôi leo lên, sương mù lăn phủ ngọn đồi, biến đổi hoàn toàn cảnh quan, chúng tôi mất tín hiệu điện thoại và cảm thấy mối liên kết cuối cùng với thế giới hàng ngày biến mất. Con đường đá đi ngược dốc sớm được thay thế bằng đường ván gỗ nhằm bảo vệ thảm thực vật vùng núi cao. Những tấm ván bị phong hóa là khác thường nhưng là cảnh đẹp rất ấn tượng, chạy vòng vèo về phía xa theo những sườn dốc, thu hút mắt ta nhìn theo. Chúng tôi bắt đầu phát hiện ra những đốm màu trên cỏ, những bông hoa cuối cùng của mùa hoa núi.
  Đó là một trong những ngày cuối tuần cuối cùng trước khi các túp lều trên núi, gọi là yamagoya, đóng cửa nghỉ mùa đông. Những túp lều này – được trực thăng cung cấp hàng tháng và do các nhân viên ở tại chỗ quản lý – cho phép những người đi bộ khỏi phải mang theo những dụng cụ cắm trại nặng nề bằng cách cung cấp chỗ ngủ đơn giản và bữa ăn nấu tại chỗ. Là kết nối duy nhất với thế giới bên ngoài, các túp lều này là một mạng lưới quan trọng ở các dãy núi xa xôi này, cung cấp dự báo chi tiết và đề xuất tuyến đường nên đi dựa trên mô hình thời tiết và theo dõi người đi bộ để đảm bảo không ai bị thất lạc. Khi chúng tôi đến lều yamagoya đầu tiên để nghỉ ngơi, Tarodaira, chúng tôi dừng lại để ăn món cà ri Nepal đơn giản và đổ đầy chai bằng nước núi tại vòi nước bên đường mòn. 

BM

  Khái niệm hadaka no tsukiai của Nhật Bản, (khỏa thân tập thể), được cho là để xóa bỏ rào cản và gắn kết quan hệ.
Khung lều xiêu vẹo Yakushizawa để ngủ qua đêm của chúng tôi xuất hiện sau khi đi 12 Km nữa. Bị bào mòn qua nhiều năm sử dụng, túp lều còn vững chắc, chủ nhà gõ các tấm gỗ để trấn an chúng tôi trong khi đưa chúng tôi vào nơi ngủ chung. Được lót bằng chiếu rơm và có chăn được xếp gọn, nơi này đơn giản và đã thấy khách qua đêm. Khi đứng nghỉ cho lại sức ở ban công nhìn xuống sông Kurobe, tôi thấy những người đi bộ, rõ ràng không biết mệt, tháo gỡ các cần câu đơn giản trước khi đi dọc theo bờ sông.
  Vào bữa tối, tempura giòn tan và những bát cơm được hấp từ một nồi ở trung tâm được phân phát cho từng khách. Món súp từ một chiếc bình chung và trà là trải nghiệm hoàn hảo, rồi các khách chúc mừng nhau bữa ăn ngon. Khi chúng tôi trò chuyện với những người ngồi bên, vai sát vai, lời chúc “kanpai” (cạn chén) vang lên, các cốc bia được nâng lên và cụng nhau theo nghi thức chung để xác nhận thành công. Với địa điểm cuối cùng phải đi tới, đây là một bữa tiệc chung phù hợp.

BM

Hoa vùng núi và quả việt quất hoang dã đánh dấu con đường tới suối nước nóng ngoài trời của “đồng bằng cao của thiên đường”.
Một trong những niềm vui của nhà tắm công cộng là cơ hội kết nối chặt chẽ với bạn bè, gia đình hoặc đồng nghiệp. Ngâm mình cạnh nhau, người tắm có thể quên đi quan hệ thứ bậc của văn hóa Nhật Bản và nói chuyện cởi mở trong làn hơi nước của suối nóng. Khái niệm này, được gọi là hadaka no tsukiai, (“khỏa thân tập thể”), loại bỏ các rào cản và gắn kết quan hệ là điều không thể có được nếu không có sự thân mật khi tắm chung. Khi mọi người đều trần truồng, mọi người đều bình đẳng. Thực tế, một bầu không khí thanh bình Onsen là dựa trên sự cân bằng tinh tế của một quy tắc xã hội bất thành văn. Từ việc tháo giày đến tắm cho sạch tại các nơi tắm riêng lẻ, nghi thức này sớm trở thành bản chất thứ hai – một sự trốn thoát sạch sẽ khỏi cái buồn tẻ của cuộc sống hàng ngày với từng giai đoạn.
  Sáng hôm sau, chúng tôi dậy trước khi mặt trời mọc, cùng các bạn đi bộ ăn cơm với mận muối, súp và trứng bao. Chúng tôi cảm ơn chủ nhà và lên đường. Đi bộ trên các tấm ván gỗ và nhảy qua các các tấm bị sập hỏng, chúng tôi tiến dần về phía cao nguyên Kumanodaira và các cảnh quan nổi tiếng về phía các đỉnh núi ở xa xa.
Con đường mòn tiếp tục là gồ ghề mấp mô sỏi đá. Khi rẽ ở chỗ ngoặt, chúng tôi gặp hai người leo núi cao tuổi đang cẩn thận tiến sát hàng rào dọc tuyến đi. “Quả việt quất!” Họ kêu lên, chỉ vào một cành cây. Những người bạn tôi cho biết họ đi bộ trên dãy núi Alps Nhật Bản này hàng năm và cười khà khà khi tôi kêu chuyến đi là vất vả. Họ đã leo những ngọn núi này từ khi 10 tuổi và nói sau đó họ đã cùng nhau lên đỉnh K2 và Everest. Họ quả quyết rằng chúng tôi sẽ tận hưởng tốt việc tắm suối nóng Onsen, họ chúc chúng tôi khỏe mạnh khi tuyến đi của họ tách ra.
Ván gỗ bảo vệ hệ thực vật núi cao và tạo lối đi dễ dàng cho người đi bộ.
Leo thang và vượt qua những cây cầu hẹp, cuối cùng chúng tôi cũng đến được túp lều Takamagahara đơn giản và trông thấy các biển báo tắm Onsen. Chúng tôi bỏ túi xuông và đi xuống một con đường đá 20 phút về phía suối nước nóng nổi tiếng, phấn chấn trước viễn cảnh được hưởng thụ việc ngâm mình mong đợi mãi.
Mùi lưu huỳnh nóng – một mùi không thể thoát được nhưng là dễ chịu với những người đam mê Onsen – là dấu hiệu đầu tiên của suối nước nóng ẩn náu này. Trong khi hai bể tắm tách biệt giới tính của Takamagahara được che chắn bằng những vách tre đơn giản, thì một bể tắm thứ 3, hỗn hợp nam-nữ, nằm phơi ra ngoài trời ai ai cũng có thể nhìn thấy. Bể tắm hỗn hợp giới tính này, được gọi là konyoku, là phổ biến ở Nhật Bản cho đến thế kỷ 19, nhưng bây giờ Onsen nông thôn là những Onsen cuối cùng còn tiếp tục truyền thống này. Khi chúng tôi đến, trong làn nước xanh nhạt của bể tắm hỗn hợp đã có hai người đàn ông cao tuổi trần truồng ở đó.
  Ngay bên kia đường, tôi thấy lối vào phòng tắm dành cho phụ nữ, nhưng tôi nán lại để trò chuyện với những người đi tắm, trong đó có một ông thừa nhận rằng mình là “người nghiện Onsen”. Ông bảo rằng ông đã đi bộ 8 ngày từ quận Gifu để đến Takamagahara. Khi chúng tôi hỏi về nguồn gốc của quyết tâm đầy ấn tượng này thì ông tuyên bố tình yêu của ông là rotenburo (tắm ngoài trời) và khoát tay chỉ vùng xung quanh.
“Còn cái gì có thể hay hơn cái này?” ông hỏi.

BM

  Cách xa nền văn minh, được bao quanh bởi cây vùng núi và nghe róc rách nước chảy, Takamagahara là đỉnh cao của trải nghiệm tắm suối nóng ngoài trời.
Khi người bạn đi bộ cùng tôi tham gia cùng những người bạn mới quen, tôi lẩn đến phòng tắm nữ và thấy một bể bơi đơn giản có đá vây quanh và một khoang bằng gỗ để thay đồ. Tôi chỉ có một mình, được che chắn so với người tắm phía dưới, nhưng là mở rộng tầm nhìn về phía có cây cối và núi non. Tôi bước vào bể bơi có nước trong mờ, và hàng giờ đi bộ bỗng tan biến khi tôi chiêm ngưỡng những đỉnh núi đá ở phía xa. Sau đó, tôi ngâm sâu hơn, cho nước phủ hết vai.
Trước khi bắt đầu chuyến đi này, tôi đã từng nghĩ rằng việc “hòa mình vào thiên nhiên” có nghĩa chủ yếu là một mình mình ở trong thiên nhiên. Và vì tôi chưa bao giờ đến bất kỳ phòng tắm hỗn hợp konyoku nào còn lại của Nhật Bản, nên tôi chưa bao giờ thực sự cân nhắc việc tắm hỗn hợp này. Nhưng khi tôi vươn vai trong hơi nước, tôi nhớ đến cụm từ tiếng Nhật là “kachou fuugetsu”. Mặc dù dịch theo nghĩa đen là “hoa, chim, gió, trăng,” nhưng nó thể hiện tầm quan trọng của việc trải nghiệm vẻ đẹp thiên nhiên và tận dụng cơ hội này để tìm hiểu về bản thân mình.
  Khi tôi nghĩ lại vô số khoảnh khắc của hadaka no tsukiai (khỏa thân tập thể) mà tôi đã trải nghiệm trong phòng tắm chỉ dành cho nữ và truyền thống lâu đời của Nhật về tắm lẫn cả nam nữ, tôi ngập ngừng bước ra khỏi bể bơi chỉ dành cho nữ và nhìn lần cuối vào chiếc khăn tắm. Với một cú văng nước từ những chiếc xô màu vàng, tôi nhúng ngón chân vào để theo cùng những người tắm khác và trải nghiệm cái tinh túy của hạnh phúc Onsen cộng đồng trên đồng bằng cao của thiên đường ở Nhật Bản.

Lily Crossley-Baxter

BM

Bộ lạc sống thọ và có nhiều phụ nữ đẹp nhất thế giới

PAKISTAN  Sống ở độ cao gần 2.500 m, người Hunza không mắc các chứng bệnh như ung thư, tiểu đường và phụ nữ có thể sinh con khi đã ngoài 60.

Bộ lạc sống thọ và có nhiều phụ nữ đẹp nhất thế giới

Hunza là một thung lũng biệt lập ở độ cao gần 2.500 m, phía bắc Pakistan, giáp với khu vực Tân Cương của Trung Quốc và hành lang Wakhan, Afghanistan. Đây là nơi ở của cộng đồng người Hunza, còn gọi là Burusho, bộ tộc có tuổi thọ cao nhất thế giới. Ảnh: Khlong Wang Chao/Shutterstock.

Bộ lạc sống thọ và có nhiều phụ nữ đẹp nhất thế giới

Người Hunza tự xưng là hậu duệ của Alexander Đại đế, từ thế kỷ 4 trước Công nguyên. Họ sống trong một khu vực biệt lập và kết hôn theo ý cha mẹ sắp đặt. Nguồn gốc ngôn ngữ Burushaski của người Hunza là một bí ẩn. Các nhà nhân chủng học cho biết, thay vì liên quan tới ngôn ngữ Ấn – Âu hay Tây Tạng, các vùng giáp ranh, tiếng Burushaski lại có nét tương đồng nhất với vùng Basque, Tây Ban Nha. Ảnh: Chirawan Thaiprasansap/Shutterstock.

Bộ lạc sống thọ và có nhiều phụ nữ đẹp nhất thế giới

Hầu hết người Hunza là nông dân. Họ trồng các loại cây như lúa mì, khoai tây, lúa mạch, kê, kiều mạch, nhiều loại trái cây trên các thửa ruộng bậc thang. Họ cũng chăn nuôi gia súc gồm dê, cừu và gà. Ảnh: Chirawan Thaiprasansap/Shutterstock.

Bộ lạc sống thọ và có nhiều phụ nữ đẹp nhất thế giới

Người Hunza tin rằng họ có thể sống tới 120 tuổi và thậm chí 150 tuổi, phụ nữ được cho là có thể sinh con ở độ tuổi ngoài 60. Nhiều người cho rằng, điều này không đúng sự thật hoặc do quan niệm khác biệt về năm tháng của người Hunza. Ảnh: Gaia.

Bộ lạc sống thọ và có nhiều phụ nữ đẹp nhất thế giới

Tuy nhiên, theo các báo cáo của địa phương, dân số ở đây đều có tuổi thọ trung bình cao, khỏe mạnh và minh mẫn khi về già. Tờ Telegraph đã đưa Hunza vào danh sách 14 nơi người dân có tuổi thọ cao lạ thường. Ảnh: Claudiovidri/Shutterstock.

Bộ lạc sống thọ và có nhiều phụ nữ đẹp nhất thế giới

Hunza cũng được cho là bộ lạc có nhiều phụ nữ xinh đẹp nhất hành tinh. Họ có làn da sáng và đẹp hơn so với những người sống ở khu vực khác của đất nước. Ảnh:Khlong Wang Chao/Shutterstock.

Bộ lạc sống thọ và có nhiều phụ nữ đẹp nhất thế giới

Bí kíp sống khỏe và xinh đẹp của người Hunza được cho là nhờ nguồn nước tinh khiết, không khí trong lành. Ảnh: Levart.

Bộ lạc sống thọ và có nhiều phụ nữ đẹp nhất thế giới

Người dân địa phương không tiêu thụ thực phẩm chế biến sẵn. Chế độ ăn của họ bao gồm các thực phẩm tự cấp như rau, sữa, ngũ cốc, các loại hạt, trái cây và ít thịt. Ảnh: Mark Wiens.

Bộ lạc sống thọ và có nhiều phụ nữ đẹp nhất thế giới

Quả mơ là thực phẩm chính của người Hunza. Trong một năm, họ có vài tháng ăn kiêng với mơ và nước từ loại quả này. Người Hunza không mắc ung thư do hấp thụ vitamin B17 hay amygdalin, được tìm thấy trong hạt mơ. Ảnh: Easyway/Shutterstock.

Bộ lạc sống thọ và có nhiều phụ nữ đẹp nhất thế giới

Người Hunza thường xuyên tập luyện yoga, bao gồm các phương pháp thở và thiền định. Đặc biệt, họ sẽ thư giãn và nghỉ ngơi khi cần, để giảm thiểu căng thẳng. Ảnh: Dawn.

Bộ lạc sống thọ và có nhiều phụ nữ đẹp nhất thế giới

Theo Very Well Health, Hunza là những người hạnh phúc nhất trên thế giới. Họ yêu cuộc sống và thể hiện điều đó qua chế độ rèn luyện thân thể nghiêm ngặt và lối sống tối giản. Ảnh: Dawn.

Bộ lạc sống thọ và có nhiều phụ nữ đẹp nhất thế giới

Ngoài câu chuyện về tuổi thọ, Hunza còn thu hút du khách bởi phong cảnh thiên nhiên như tranh vẽ. Thời gian lý tưởng nhất để tới đây là tháng 4 đến tháng 10. Tháng 6 – 8 là cao điểm du lịch ở đây. Ảnh: Khlong Wang Chao/Shutterstock.

Thành phố gần thung lũng Hunza nhất là Gilgit, cách thủ đô Islamabad của Pakistan khoảng một giờ bay. Từ thành phố Gilgit, du khách có thể di chuyển bằng xe bus Natco hoặc xe jeep đường dài. Thời gian di chuyển là 2 đến 3 tiếng.

Lan Hương (Theo Telegraph)

Lâu đài 600 tuổi – di sản thế giới tại Nhật Bản bị thiêu rụi

Tòa nhà chính của lâu đài Shuri, biểu tượng của tỉnh Okinawa, Nhật Bản đã bị thiêu rụi trong vụ hỏa hoạn sáng nay.

Lâu đài 600 tuổi - di sản thế giới tại Nhật Bản bị thiêu rụi 1

Lửa bùng lên thiêu rụi tòa lâu đài 600 tuổi tại tỉnh Okinawa của Nhật Bản sáng 31/10. Ảnh: Kyodo

Theo Japantimes, hiện vẫn chưa có báo cáo về thương vong nhưng người dân gần đó đã được yêu cầu sơ tán. Đến 9h sáng nay, lính cứu hỏa vẫn đang tiếp tục dập lửa. Đám cháy đã thiêu rụi các tòa phía nam và phía bắc của khu lâu đài. Cả 3 tòa nhà đều làm bằng gỗ. Tổng cộng khoảng 4.200 mét vuông đã bị phá hủy, theo sở cứu hỏa thành phố Naha. Hơn 10 xe cứu hỏa đã được điều động. Các quan chức cho biết khả năng cao đám cháy bắt nguồn từ tòa nhà chính.

Tòa lâu đài từng là trái tim của Vương quốc Ryukyu, nơi trị vì huyện đảo này từ năm 1429-1879 nhưng đã bị phá hủy trong trận Okinawa khi Thế chiến II kết thúc. Sau đó, công trình được xây dựng lại vào năm 1992 và tàn tích lâu đài được ghi nhận là Di sản thế giới UNESCO vào năm 2000.

“Nguyên nhân vụ hỏa hoạn vẫn chưa được xác định nhưng báo động an ninh đã bị tắt vào khoảng 2h30 sáng”, Ryo Kochi, phát ngôn viên Cảnh sát Tỉnh Okinawa cho biết. Một sự kiện du lịch được tổ chức tại lâu đài này từ hôm 27/10 và một số công việc liên quan đến sự kiện tiếp tục cho đến 1h sáng ngày 31/10. Tuy nhiên, không rõ những việc này có liên quan đến đám cháy hay không.

Lâu đài 600 tuổi - di sản thế giới tại Nhật Bản bị thiêu rụi 2

Đến 9h, lực lượng cứu hỏa vẫn tiếp tục đối phó với đám cháy. Ảnh: EPA

Di chuyển tòa nhà cổ gần 300 năm tuổi, nặng 400 tấn trên sông

 Một tòa nhà cổ 3 tầng xây dựng từ thế kỷ 18, nặng 400 tấn, được di chuyển sang địa điểm mới bằng tàu trên sông.

Di chuyển tòa nhà cổ 300 năm tuổi, nặng 400 tấn trên sông

Cảnh tượng đáng kinh ngạc với bất cứ ai tận mắt chứng kiến, đó là khoảnh khắc tòa biệt thự cổ 3 tầng có tên Galloway xây từ những năm 1760 ở thế kỷ 18, nặng khoảng 400 tấn, tại thị trấn Easton, bang Maryland, Mỹ, được vận chuyển bằng sà lan trên sông Tread Avon tới Queenstown.

Tòa biệt thự cổ 3 tầng có tên Galloway xây từ những năm 1760 ở thế kỷ 18, nặng khoảng 400 tấn, tại thị trấn Easton, bang Maryland, Mỹ

Đoạn video ghi lại khoảnh khắc tòa nhà di chuyển trên sông được chia sẻ trên mạng xã hội, thu hút cả triệu người xem.

Được biết, căn biệt thự từng là tài sản sở hữu của cặp vợ chồng William Nicols và Henrietta Maria Chamberlaine Nicols. Sau nhiều năm để hoang, hiện nay, căn nhà được gia đình anh Christian Neeley mua lại và quyết định trùng tu toàn bộ theo ý muốn.

Di chuyển tòa nhà nặng 400 tấn trên sông

Cả gia đình đã thuê sà lan để di chuyển căn biệt thự từ Easton tới Queenstown. Với quãng đường 80 km, chi phí di chuyển tiêu tốn tới 1 triệu USD.

Và để sửa chữa ngôi nhà với lịch sử gần 300 năm tuổi này, họ dự kiến còn tốn nhiều tiền hơn nữa. Tuy nhiên, gia đình anh Neeley vẫn trùng tu để duy trì cho thế hệ tương lai.

Theo chủ sở hữu mới của căn nhà, chi phí vận chuyển tiêu tốn tới 1 triệu USD

Tòa nhà cổ Galloway di chuyển từ ngày 9/9, với phương tiện ban đầu bằng xe tải có tốc độ khá chậm. Tiếp đó, công trình được vận chuyển trên sông nhưng lại bị trì hoãn vì sự cố thăng bằng của sà lan. Tới ngày 25/9, tòa nhà mới chính thức “rời bến” để tới địa điểm mới.

Chuyến tàu hỏa chạy giữa biển khơi: Công trình trên biển vĩ đại của Đức

 Một trong những công trình vĩ đại trên biển của người Đức không thể bỏ qua chuyến tàu hỏa chạy xuyên biển.

Công trình vĩ đại trên biển: Chuyến tàu hỏa chạy giữa biển khơi

Đập Hindenburgdamm là tuyến đường dài 11 km nối đảo Sylt phía bắc Frisian tới lục địa Schleswig-Holstein, ngoài khơi nước Đức. Nơi này mở cửa vào năm 1927 dành riêng cho vận tải đường sắt.

Đường ray được xây trên con đập xuyên biển

Trước đó, đảo Sylt vốn là vùng đất hoàn toàn khác biệt. Phương tiện duy nhất tới đảo là tàu thủy, mất ít nhất 6 tiếng di chuyển, nhưng vẫn phải phụ thuộc vào thời tiết. Đặc biệt những ngày sóng lớn, việc di chuyển khó khăn hơn. Vào ngày đông, phần lớn mặt biển đóng băng, gần như ít người vượt qua nổi.

Ngắm tuyến đường ray xuyên biển từ trên cao

Khu nghỉ dưỡng Westerland trên đảo Sylt trở nên nổi tiếng hơn vào đầu những năm 20 của thế kỷ trước, đòi hỏi việc di chuyển tới đảo cần thuận tiện. Điều này khiến giới cầm quyền Đức lên kế hoạch làm đường sắt xuyên biển.

Kế hoạch ban đầu là xây dựng một tuyến đường sắt từ cảng tại Hoyerchleuse đến đảo, nhưng sau Thế chiến thứ I, Đức buộc phải nhượng lại Hoyerchleuse cho Đan Mạch, trong khi đó, đảo Sylt vẫn là một phần của Đức.

Tàu vượt xuyên biển – Công trình độc đáo của người Đức

Do biên giới thay đổi, tuyến đường sắt trên bản vẽ bị tách thành 2 phần, một phần thuộc lãnh thổ Đức, phần kia lại thuộc Đan Mạch. Bởi vậy các kiến trúc sư buộc phải thiết kế lại tuyến đường sao cho nằm hoàn toàn trong lãnh thổ Đức.

Từ năm 1923, quá trình làm đường sắt trên biển bắt đầu. 4 năm tiếp theo, công nhân và phương tiện vận chuyển đưa hơn 3 triệu m3 cát và đất sét, 120 tấn đá từ đất liền ra biển để đắp đập. Con đập có chiều dài 11 km. Đập được đặt theo tên của Tổng thống Đức lúc bấy giờ – ông Paul von Hindenbur. Ông cũng là người khai trương đường sắt vào ngày 1/6/1927.

Trong 45 năm kể từ khi bắt đầu hoạt động, đập Hindenbur chỉ có một làn đường ray duy nhất. Đến năm 1972 người ta mở rộng đường ray thứ 2. Ngày nay, hơn 100 chuyến tàu hỏa di chuyển trên đập xuyên biển mỗi ngày. Trong đó, nửa số chuyến tàu để vận chuyển xe hơi của hành khách.Nếu có dịp đến Đức, đừng bỏ lỡ cơ hội trải nghiệm ngồi tàu hỏa xuyên biển tới đảo.

đảo Rhodes (Hy Lạp). 

– Để khuyến khích người dân sử dụng xe đạp, nhiều nơi trên thế giới đã xây dựng những tuyến đường đạp xe hiện đại và đẹp đến mức trở thành biểu tượng và điểm đến du lịch của cả thành phố!

Cơn lốc xoáy khổng lồ xảy ra tại South Dakota, Mỹ với phần vòi rồng quét cả vùng đất phía dưới, phần mây phía trên như bom nguyên tử, khiến người xem rùng mình.

Hình ảnh của lốc xoáy khiến người xem không khỏi toát mồ hôi.

Hoàng Hà (Theo Capitalgazette)

9 bí mật nằm sâu dưới lòng biển rất ít người biết


9 Mysterious Underwater Objects Very Few People Know About

: 1 of 3123We use cookies to ensure that we give you the best experience on our website. If you continue to use this site we will assume that you are happy with it. Privacy Policy Ok

We all know space is exciting and I, personally, can’t wait until we can go to Mars as tourists. However there’s still an entire part of our own planet that have not been thoroughly explored or explained. And that, dear reader, is the ocean. It is estimated that there are more undiscovered species of animals in the ocean than there are discovered species on land.

What’s more — because exploring underwater can be expensive and complicated, there are many, many occurrences that have not been explained by science or properly and thoroughly explored. So, here are 9 mysterious underwater objects that very few people know about.

Titanic

Surely, everyone knows about the Titanic. However there are many little-known facts about the ship and the circumstances of its sinking. For example, did you know that the people in charge of looking out on the ship (for things like, say, icebergs!) couldn’t use binoculars? That’s right! The binoculars were locked away in a cabinet that nobody had the keys to.

Another little-known fact is that all 700 third-class passengers had to share just two bathtubs amongst themselves.

And, finally, the ships main chef, Charles Joughin, was able to survive significantly longer in the cold waters because of the copious amounts of whiskey he drank while cooking the 10-course meal on the evening the ship sank.

Titanic | Brain Berries

Underwater sculpture park

Just off the coast of the island of Grenada there is an underwater museum created by an English sculptor, Jason deCaires Taylor. The first exhibit was placed underwater in 2006, but since then the underwater museum and park has grown. It now consists of more than 65 different items, and is expanding with every passing year.

Although the project is valuable for the artistic endeavor alone, it is also good for the local wildlife ecosystem!

Underwater sculpture park | Brain Berries

Lost Kingdom Of Cleopatra – Legendary Lost City Of Heracleion

We all know climate change is a problem and rising water levels are a real threat to coastal towns. But rising sea levels aren’t a problem that is unique to our time (although the reasons are). The Egyptian city of Thonis-Heracleion was the port city to Egypt during the times when Cleopatra ruled it. This city is now submerged near Alexandria, in the Aboukir Bay.

The city was buried in the sands of the ocean for 1,200 years, and only thanks to technological advancements were archeologists able to dig it up and piece together clues to discover what the city likely looked like when it was, you know… on the ground and not under the water.

Lost Kingdom Of Cleopatra – Legendary Lost City Of Heracleion | Brain Berries

Yonaguni underwater pyramid, Japan

Japan has a long and rich history, but none of the buildings and artifacts in Japan can match up to the Yonaguni pyramid. It was discovered off the coast of the Yonaguni Island in 1987, and to this day it’s unclear why it was built (or how). The best estimates lead scientists to believe that the pyramids were built more than 10,000 years ago. One of the walls of the pyramid goes down 27m underwater.

Yonaguni underwater pyramid, Japan | Brain Berries

The Great Blue Hole, Belize

This is the first naturally occurring object on the list. It was discovered in 1971 by Jacques Cousteau and to this day is considered as one of the best sites in the world to go scuba diving.

The Great Blue Hole, Belize | Brain Berries

Shi Cheng underwater city, China

Unlike Heracleion, this entire city was flooded on purpose! Nearly 300,000 people were moved out of the city so that the government could build a dam and a power plant. The entire Zhejiang valley was flooded and the city of She Cheng found itself at the bottom of a lake. 50 years later, many of the walls and wooden structures within the city have managed to remain stable and intact. Somehow the flow of water helps preserve everything instead of corroding it.

Shi Cheng underwater city, China | Brain Berries

Underwater river at the bottom of the Black Sea

This is another naturally occurring wonder, and it’s absolutely incredible. Scientists think that this river is the result of the Marmara sea flowing into the Black Sea. This created a 1km wide, and 35m deep river in the middle of the sea with its own waterfalls. To date, the Black Sea receives more freshwater every year than water that is evaporated. This means that, with time, it’s likely that the salinity of this sea will decrease.

Underwater river at the bottom of the Black Sea | Brain Berries

Deepest Underwater Biome

As I’ve mentioned, there are more undiscovered species in our planet’s water than there are discovered species on land. However, a biome that has been discovered has caused scientists to scratch their head for decades.

It’s a common known fact that living organisms can survive without sunlight. Sunlight is the foundation and steppingstone of our entire food chain. Except that there’s a whole biome of creatures living underwater. So deep underwater, that the suns rays have absolutely no chance of reaching them. Instead of using sunlight for nourishment and energy (and photosynthesis), this biome survives on the metals and minerals that erupt from the earth’s core deep, deep underwater.

Deepest Underwater Biome | Brain Berries

Underwater Museum, Mexico

Similar to the sculpture park in Grenada, this underwater museum was created by a non-profit organization that aims to save nearby coral leafs. It includes over 500 sunken sculptures and sees a whooping 200,000 visitors every year. And, similarly to the museum in Grenada, the sculptures have become in integral part of the marine life in the area.

Underwater Museum, Mexico | Brain Berries

Xe Tổng Thống Mỹ ‘The Beast’ và những sự thật đáng ‘kinh ngạc’.


“Quái thú” “The Beast” phục vụ Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump và Đệ Nhất Phu nhân Melania Trump trong một chuyến công tác. (Hình: ALAIN JOCARD/AFP/Getty Images)

WASHINGTON, D.C. (NV) – Kiểu xe hơi chuyên phục vụ cho Tổng Thống Mỹ ‘United States presidential state car’, hay còn được nhiều người biết đến với dưới các tên gọi ‘nickname’ như “The Beast,” “Cadillac One,” “First Car,” hay “Stagecoach” là một trong những kiểu xe hơi đặc biệt nhất trên thế giới.

Kiểu xe này được xếp ngang hàng với bất kỳ một kiểu xe đắt giá nhất nào có thể có trên đường phố. Hơn nữa, “The Beast” còn được trang bị các khả năng bảo vệ yếu nhân đến tận răng.

Sau đây là những sự thật đáng kinh ngạc không phải ai cũng biết về kiểu xe này do trang mạng chuyên về xe hơi Yeah! Motor đưa ra.

Theo trang này, điều ngạc nhiên đầu tiên đó là “The Beast” có trọng lượng 14,000 pound, tức là 7 tấn, tương đương với trọng lượng của một con khủng long bạo chúa Tyrannosaurus.

Trong khi đó, trọng lượng của một chiếc xe hơi Sedan bình thường như Ford Taurus là 3,642 pound.

“The Beast” luôn có nhiệm vụ đi theo Tổng Thống Mỹ đến bất cứ nơi nào trên thế giới khi Tổng Thống Mỹ cần đến làm việc. (Hình: Getty Images) 


Điều ngạc nhiên thứ 2 đó là “The Beast” không có ổ khóa để mở cửa. Những nhân viên Đặc vụ có nhiệm vụ điều hành chiếc xe là những người duy nhất ngoài Tổng Thống biết làm sao để mở cửa xe.

Cửa kiếng chống đạn của chiếc xe dày 5 inch. “The Beast” được trang bị vũ khí hạng nặng, có khả năng phóng hỏa tiễn, lựu đạn và một khẩu súng hơi cay giấu dưới nắp ca-pô.

Bên trong xe lúc nào cũng có dự trữ hai bình máu cùng loại máu với Tổng Thống Mỹ và bình oxy phòng khi có chuyện khẩn cấp xảy ra.

“The Beast” lúc còn phục vụ Tổng Thống Barack Obama. (Hình: JOHN MACDOUGALL/AFP/Getty Images).


  Ngoài ra còn có một nút báo động “Panic button,” để sử dụng trong trường hợp tất cả mọi giải pháp phòng vệ đều thất bại.

Chưa bao giờ nút này được sử dụng tới, nên số người biết được nút này thật sự có thể làm gì có lẽ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Bên dưới “The Beast” có trang bị tấm Kevlar để bảo vệ xe trong trường hợp lựu đạn ném xuống dưới xe.


Kevlar cũng giúp bảo vệ bánh xe không bị xẹp hết hơi nếu bị đâm thủng. Mặc dù được chế tạo từ một chiếc Cadillac, nhưng các Kỹ sư thuộc Đội đặc vụ đã “độ” lại chiếc xe rất nhiều thứ và chỉ còn lại rất ít thứ từng thuộc về chiếc Cadillac.

Vì sức nặng khủng khiếp của nó nên “The Beast” chỉ có thể chạy với tốc độ tối đa là 60 dặm một giờ. (Hình: Leon Neal/Getty Images).


  “Quái thú” “The Beast” luôn có nhiệm vụ đi theo Tổng Thống Mỹ đến bất cứ nơi nào trên thế giới khi Tổng Thống Mỹ cần đến làm việc.

Bộ giáp của chiếc xe dày hơn 7 inch còn cửa xe dày và nặng tương đương với cửa của một chiếc máy bay Boeing 757. Cửa sổ bên phía tài xế là cửa sổ duy nhất có thể mở được và cũng chỉ mở ra 3 inch. Xe được chế tạo hoàn toàn kín để không bị ảnh hưởng bởi những cuộc tấn công bằng vũ khí hóa học nếu có thể xảy ra.

Những thợ máy riêng của “The Beast” luôn đi theo xe và đây cũng là những đặc vụ được trang bị vũ khí.


“The Beast” không bao giờ đi một mình. Thông thường sẽ có từ 10 đến 30 xe đi theo để bảo vệ. (Hình minh họa: FRISO GENTSCH/AFP/Getty Images). 


“The Beast” có giá khoảng $1.5 triệu tức là gấp 8 lần một chiếc Bentley.

Có 12 chiếc “The Beast” giống nhau để luân phiên phục vụ Tổng Thống Mỹ. Vì sức nặng khủng khiếp của nó nên kiểu xe này chỉ có thể chạy với tốc độ tối đa là 60 dặm một giờ, và có thể tăng tốc từ 0 đến 60 dặm một giờ trong vòng 15 giây.

Cuối cùng, “The Beast” không bao giờ đi một mình. Thông thường sẽ có từ 10 đến 30 xe đi theo để bảo vệ. 


(C. Thành).

UNCLOS 1982 – CƠ SỞ PHÁP LÝ HỮU HIỆU GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP Ở BIỂN ĐÔNG

Nguồn: Giáo Dục Quốc Phòng và An

Trong hình ảnh có thể có: đại dương, văn bản và nước


Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982 (có hiệu lực từ 16/11/1994) bộ khung pháp lý hữu hiệu để quản lý các tranh chấp trên biển. Với 320 điều và 9 phụ lục, UNCLOS quy định một cách rõ ràng và toàn diện về quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc phạm vi tài phán quốc gia cũng như các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia trong việc sử dụng, khai thác và quản lý biển và đại dương, các quy định về hàng hải và hàng không; việc sử dụng và quản lý tài nguyên biển bao; vấn đề bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, an ninh trật tự trên biển; việc giải quyết tranh chấp và hợp tác quốc tế về biển.

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, văn bản


Mọi quy định đều rõ ràng, nhưng phức tạp là ở chỗ Trung Quốc (TQ) tự cho phép mình quyền diễn giải yêu sách chủ quyền trên biển hoàn toàn không theo luật pháp quốc tế mà dựa trên một chiếc bản đồ được vẽ tùy tiện cách đây hơn nửa thế kỷ, mô tả “Đường chữ U” lúc đầu có 11 đoạn nay còn 9 đoạn. Ngày 7/5/2009, TQ đưa ra Tuyên bố về “Đường yêu sách 9 đoạn” chiếm hơn 80% diện tích Biển Đông, gom lãnh hải của nhiều nước thành của mình. Cho đến nay, chưa bao giờ TQ giải thích hoặc đưa ra căn cứ pháp lý về “đường 9 đoạn”, hay “đường lưỡi bò”. Họ luôn im lặng khi nhắc tới luật pháp quốc tế, cơ sở duy nhất để ngụy biện là “quyền lịch sử” không được quốc tế thừa nhận.


Dưới lập luận phi lý đó, năm 2011, TQ tiến hành các hoạt động quấy nhiễu và cắt cáp ngầm tàu Bình Minh 2, tôn tạo đảo nhân tạo trái phép trên các bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam (VN). Năm 2012, TQ chiếm bãi cạn Scarborough do Philippines; ngang nhiên mời thầu quốc tế khai thác 9 lô dầu khí nằm trong đặc quyền kinh tế của VN; thành lập thành phố Tam Sa bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa của VN. Năm 2014, TQ đặt trái phép dàn khoan HD-981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa VN.

Trong hình ảnh có thể có: đại dương, bầu trời, ngoài trời và nước


Việc TQ đưa nhóm tàu khảo sát địa chất HD-08 xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa khu vực phía nam Biển Đông của VN là bước leo thang mới của họ trong chiến lược độc chiếm Biển Đông; vi phạm Điều 56 của UNCLOS về các quyền, quyền tài phán và các nghĩa vụ của các quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền về kinh tế; thăm dò dầu khí phi pháp, chưa kể việc cấm đánh bắt phi pháp trong vùng đặc quyền kinh tế của VN…


Là quốc gia ven biển có đường bờ biển dài hơn 3.000km với hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có 02 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, VN đã tích cực tham gia vào quá trình thương lượng xây dựng UNCLOS. Từ khi Công ước có hiệu lực, ta đã chủ động hoàn thiện hệ thống luật pháp quốc gia trên cơ sở các quy định của UNCLOS 1982, đặc biệt là Luật Biển VN năm 2012; nỗ lực tiến hành phân định biển với các quốc gia trong khu vực, góp phần tạo ra môi trường hòa bình và ổn định giữa các quốc gia, đảm bảo để các quốc gia có được các vùng biển theo quy định của UNCLOS 1982.


Trước những diễn biến phức tạp ở Biển Đông, trên cơ sở thực hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, VN luôn nhất quán với chủ trương thông qua các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS. Chính sách nhất quán đó được thể hiện cả trong lời nói và hành động; khi TQ đưa tàu thăm dò địa chất HD-8 vào bãi Tư Chính, VN đã có nhiều biện pháp giao thiệp ngoại giao phù hợp, trao công hàm phản đối, yêu cầu TQ rút ngay khỏi vùng đặc quyền kinh tế của VN. Các lực lượng chức năng của VN triển khai các biện pháp bảo vệ chủ quyền đúng pháp luật. Khẳng định ý chí quyết tâm, chủ trương “kiên quyết, kiên trì” đấu tranh để giữ vững chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, nhưng VN cũng luôn tỉnh táo để đấu tranh nhưng tránh xung đột, đối đầu, mắc mưu các thế lực thù địch.

Trong hình ảnh có thể có: bầu trời, đại dương và ngoài trời


Chúng ta thực hiện chủ trương thêm bạn bớt thù, phương châm “VN là bạn, là đối tác tin cậy của các nước, phấn đấu vì hoà bình, ổn định, phát triển”, vì lợi ích chung của các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Trên các diễn đàn quốc tế, VN đã đẩy mạnh thông tin truyền thông, trước hết là nêu cao chính nghĩa trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên biển. Chính nghĩa đó được khẳng định bằng những chứng cứ pháp lý và lịch sử xác thực và thuyết phục trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS.


Có thể nói VN đã và đang thực thi đầy đủ UNCLOS, nỗ lực cùng các nước thành viên khác thúc đẩy tôn trọng UNCLOS, đồng thời kiên trì giải quyết một cách hòa bình các vấn đề Biển Đông, phù hợp với luật pháp quốc tế.

P/S: Tin mới nhất, vấn đề Biển Đông đã được Phó thủ tướng Phạm Bình Minh đưa ra phiên họp 74 đại hội đồng LHQ, đây là bước đi cần thiết và kiên quyết của VN trong thực thi UNCLOS.

Những tảng đá kỳ lạ nhất Thế Giới.

Nhìn những khối đá dưới đây, không ít người đã tỏ ra rất bất ngờ trước độ chênh vênh kỳ lạ, và tự hỏi tại sao chúng có thể giữ thăng bằng được trong hàng ngàn năm ?


Thiên nhiên vẫn luôn tạo ra những điều thú vị như vậy thách thức sự tìm tòi của con người.

Khối đá có độ thăng bằng rất cao này nằm ở Brimham Moor, khu vực thuộc Bắc Yorkshire, Anh Quốc. Theo thời gian, nước và gió là yếu tố chính khiến nó bị xói mòn, trong đó phần dưới cùng phải chịu những tác động mạnh mẽ nhất. Hình ảnh chúng ta thấy ngày nay là một khối đá đồ sộ cân bằng trên chóp của một hòn đá rất nhỏ bên dưới.
Cột đá kỳ lạ này nằm ở Digby, Nova Scotia, Canada. Sự chênh vênh của nó khiến người ta có cảm giác tốt nhất nên tránh xa vì nó sẽ đổ bất cứ lúc nào.

Tảng đá sa thạch khổng lồ trong bức ảnh nằm trên đỉnh một mỏm đá tại khu vườn của các vị Thần (Garden of the Gods park) gần Colorado Springs, Tiểu bang Colorado, Mỹ.

Khu đồi Matobo của Zimbabwe được cấu tạo hoàn toàn từ đá granite, thiên nhiên đã ban tặng cho chúng những hình thù hết sức thú vị, chẳng hạn như khối đá cân bằng được đặt tên là “Mẹ và con”ở trên.

Được tìm thấy tại khu vực “Sa mạc trắng” của Ai Cập, tảng đá vôi (còn được gọi là đá nấm) trong bức ảnh trên được hình thành qua quá trình hàng ngàn năm bị gió làm cho xói mòn với tốc độ mạnh nhất ở đoạn giữa bệ đá.

Hòn đá Yeager nặng 440 tấn tọa lạc trên cao nguyên Waterville, Washington khoảng 13.000 năm trước đây bên trong dải băng Cordillera. Tảng đá có hình dáng như bây giờ khi băng bắt đầu tan chảy.

Xuất hiện tại Công viên quốc gia Yosemite ở California, nhờ quá trình vận chuyển của một dòng sông băng từ rất nhiều năm về trước, tảng đá kỳ lạ vẫn đứng vững trong tư thế không thể cân bằng hơn.

Đây là một trong những tảng đá đặc biệt tại sa mạc Moab thuộc Tiểu bang Utah (Mỹ). Chỉ cần một trận động đất là có thể khiến khối đá cân bằng này lung lay, cho nên sự hiện diện của chúng cho thấy đây là khu vực có cấu tạo địa chất khá ổn định.

“Krishna’s butterball” là hòn đá được di chuyển do băng xuất hiện từ thời kỳ băng hà và hiện nằm trên một sườn đồi gần khu vực Mamallapuram, Ấn Độ.

Sống chết biên giới mong manh

Bài diễn thuyết chấn động của bác sĩ từng chứng kiến rất nhiều người chết: "Vinh hoa phú quý đời người rốt cuộc cũng chỉ là một đống rác mà thôi..."

“Cá nhân tôi luôn nghĩ về cái gọi là “trải nghiệm cận tử”. Chỉ khi đối diện với cái chết, khi đứng trên ranh giới giữa sự sống và cái chết, người ta mới lại nhìn thấu được đời người là gì, ý nghĩa nhân sinh đích thực là gì?”, bác sĩ Kha Văn Triết nói.

Ngày 29/11/2014, bác sĩ Kha Văn Triết chính thức đắc cử Thị trưởng thành phố Đài Bắc – Đài Loan, vượt đối thủ chính của mình hơn 200 nghìn phiếu bầu. Dù là một thị trưởng đầy quyền lực nhưng ông vẫn thường nói: “Vinh hoa phú quý đời người rốt cuộc cũng chỉ là một đống rác mà thôi”

Trong thời gian còn là bác sĩ ngoại khoa, ông Kha Văn Triết chính là người tạo ra quy trình cấy ghép tạng tiêu chuẩn của Đài Bắc và đưa vào ứng dụng phương pháp cấp cứu Oxy hóa máu bằng màng ngoài cơ thể (ECMO).

Năm 2013, bài thuyết giảng “Trí tuệ và sinh tử” trên TED (buổi hội thảo của giới trí thức về công nghệ, thiết kế và giải trí) của Kha Văn Triết đã gây ấn tượng mạnh.

Dưới đây là toàn bộ bài diễn thuyết chấn động của ông: 

Có lẽ tôi là bác sĩ Đài Loan đã từng nhìn thấy người chết nhiều nhất, vậy nên rất thích hợp để bàn luận về vấn đề sinh tử. Hãy để tôi bắt đầu nói từ “Diệp Khắc Mạc” – Oxy hóa máu bằng màng ngoài cơ thể (ECMO).

Có một người nông dân chạy đến bệnh viện Kì Mỹ Liễu Doanh, nói muốn được gặp bác sĩ Diệp. Người ở phòng cấp cứu nói, không có đâu, chỗ chúng tôi đây không có bác sĩ nào họ Diệp cả. Người nông dân nọ vẫn khẳng định chắc nịch tên bác sĩ ấy là Diệp Khắc Mạc (ECMO).

Diệp Khắc Mạc thật ra không phải là bác sĩ nào cả, nó chỉ là một phương pháp trị liệu. Vận hành của nó cũng rất đơn giản, chính là dẫn máu từ trong tĩnh mạch ra, trải qua một cái bơm huyết dịch (trái tim nhân tạo), rồi lại thông qua một thiết bị tạo ô-xy (buồng phổi nhân tạo), đưa vào cơ thể. Nó được dùng để thay thế chức năng tạm thời của phổi, tim.

ECMO chính là một máy chủ làm trái tim nhân tạo, bên cạnh là một buồng phổi nhân tạo, đưa máu trở về. Xác thực là có những trường hợp vô cùng thành công.

Bài diễn thuyết chấn động của bác sĩ từng chứng kiến rất nhiều người chết: Vinh hoa phú quý đời người rốt cuộc cũng chỉ là một đống rác mà thôi... - Ảnh 1.

Bác sĩ Kha Văn Triết.

Một vũ công trong nhóm múa của Châu Kiệt Luân, một ngày nọ bị viêm cơ tim đột ngột, tim không còn đập nữa. Lúc đó, con mắt của cô ấy mở to nhìn trừng trừng vào màn ảnh. Tín hiệu trên màn hình toàn bộ đều là một đường thẳng băng cả. Nhưng 9 ngày sau, cô ấy đã tiến hành cấy ghép tim và phổi. Chưa đến 1 tháng, đã có thể trở về tiếp tục nhảy múa rồi. Tất cả là nhờ ECMO.

Trong các tài liệu y khoa, thời gian hồi sức tim phổi dài nhất, còn có thể được cứu sống trở lại chính là trường hợp này. Mỗi lần nhìn lại tôi đều nói đây là thần tích của y học hiện đại. Một người đã trải qua hồi sức tim phổi trong 4 giờ đồng hồ, liên tục 9 ngày tim hoàn toàn không còn hoạt động mà vẫn có thể được cứu sống lại!

Lại có một thanh niên 26 tuổi, uống say rồi đi bơi, bị sặc nước đến viêm phổi nghiêm trọng (gọi là triệu chứng hô hấp cấp tính). Toàn bộ lá phổi của anh đều trắng xoá hết cả, không còn khả năng hô hấp. Anh ta đã điều trị ECMO trong 117 ngày. Trong khoảng thời gian gần 1 tháng, lượng khí thông phổi của anh ta chỉ không đến 100cc. Nhưng rồi cuối cùng anh vẫn dần dần hồi phục trở lại.

Điều này quả thật quá thần kỳ. Vậy nên, dưới sự đồn thổi của giới truyền thông, ECMO ở Đài Loan đã trở nên nổi tiếng như vậy, cũng xác thực là có một vài trường hợp rất thành công. Nhưng các kênh truyền thông chỉ đưa tin về những trường hợp thành công chứ không đả động gì đến những ca thất bại.

Bài diễn thuyết chấn động của bác sĩ từng chứng kiến rất nhiều người chết: Vinh hoa phú quý đời người rốt cuộc cũng chỉ là một đống rác mà thôi... - Ảnh 2.

Thân là một bác sĩ, chứng kiến những ca thành công đương nhiên rất vui mừng, nhưng cũng không thể quên đi những ca thất bại. Nó thật sự ám ảnh tôi. Từng có một đứa trẻ vừa mới chào đời được nửa tháng đã mắc phải bệnh tim bẩm sinh. Sau khi phẫu thuật tim, sự sống hoàn toàn nhờ vào máy trợ tim phổi, vậy nên đã lắp đặt ECMO. Nhưng không đến 3 ngày sau, chân của bé đã chuyển sang màu đen.

Lúc này, bác sĩ phải đối mặt với một lựa chọn đau lòng, hoặc phải cưa mất hai chân của bé rồi tiếp tục cứu chữa với cơ hội thấp, hoặc là chấm dứt điều trị tránh tổn thất, đau đớn. Đây chính là áp lực rất lớn, khiến bạn vô cùng khó xử, tiến thoái lưỡng nan.

Lại có một cậu bé 7 tuổi, mắc viêm phổi, ung thư máu khuẩn cầu đôi, khiến hô hấp vô cùng khó khăn, lại xuất hiện bệnh biến chứng, tứ chi đều đã chuyển sang màu đen.

Là một bác sĩ, bạn phải đối mặt với sự lựa chọn khủng khiếp này. Nếu muốn cứu bé, thì bạn phải cưa bỏ tứ chi, còn như không cứu, thì cần phải tháo các thiết bị đi. Nhưng đôi mắt long lanh của bé vẫn ngước nhìn bạn, ý thức vẫn còn rõ ràng, biết xin nước uống. Ai nỡ đành lòng chấm dứt cơ hội sinh tồn của sinh linh bé nhỏ ấy đây?

Mọi người hãy thử nghĩ xem, trong thời khắc sinh tử, khi bệnh nhân thần trí vẫn rõ ràng, tôi làm sao nói được với họ rằng: “Cậu bé này, nếu như cậu muốn sống tiếp, chúng tôi cần phải cắt bỏ tứ chi của cậu, hoặc là thôi, cậu không cần sống tiếp nữa“. Bạn làm sao có thể nói chuyện sống chết này với một cậu bé 7 tuổi đây?

Ngoài 30 tuổi, tôi được làm chủ nhiệm, cảm thấy y học rất lợi hại, cái gì cũng đều có thể giải quyết. Sau khi tôi hơn 40 tuổi, thường có những ca lắp đặt ECMO thất bại, người nhà bệnh nhân hỏi tôi: “Tại sao người khác thì cứu sống được, còn người nhà chúng tôi lại không thể cứu sống?“. Tôi không biết phải trả lời thế nào. Tại sao tứ chi của người bệnh lại chuyển sang màu đen? Nếu tôi biết được thì đã có thể tránh được rồi, nhưng tôi thật sự không hiểu gì cả.

Khi ngoài 50 tuổi, cuối cùng tôi cũng đã nghĩ thông suốt. Bác sĩ là người chứ không phải là Thần, chỉ có thể tận hết sức lực, chỉ vậy mà thôi. Dù cho y học phát triển đến mức nào thì vẫn là có giới hạn. Với khoa học kỹ thuật hiện tại, không có tim, phổi, thận người ta vẫn có thể sống được, nhưng lẽ nào cứ đeo bên mình đống máy móc như vậy mà sống cả đời sao?

Trời đất có Xuân, Hạ, Thu, Đông, cây cỏ mùa Xuân thì đâm chồi, nảy lộc, mùa Hạ thì kết quả, ra hoa, mùa Thu bắt đầu thay vỏ, vàng lá, đến khi Đông về thì trút lá xạc xào, cành khô, thân nứt. Người làm vườn có cách nào thay đổi được loại quy luật ấy hay không? Họ chỉ có thể tận sức chăm sóc vun trồng để những bông hoa kia khi nở rộ trông đẹp đẽ hơn, sống được thời gian dài lâu hơn mà thôi.

Bài diễn thuyết chấn động của bác sĩ từng chứng kiến rất nhiều người chết: Vinh hoa phú quý đời người rốt cuộc cũng chỉ là một đống rác mà thôi... - Ảnh 3.

Một bác sĩ có cách nào thay đổi được quy luật “Sinh – Lão – Bệnh – Tử” hay không? Điều này thực sự khó vô cùng. Bác sĩ chỉ là khiến cho người bệnh đang ở giữa vòng tuần hoàn “Sinh – Lão – Bệnh – Tử” ấy mà sống được dễ dàng hơn một chút, chỉ vậy mà thôi. Bác sĩ chỉ là người làm vườn trong vườn hoa của sinh mệnh, anh ta liệu có thể làm được gì khi đứng nhìn những cái cây đã khô héo, khi đối mặt với cái chết đây?

Một ngày nọ, trong lúc tôi đi thăm bệnh nhân, tôi đột nhiên hiểu ra đạo lý này. Kết cục của đời người chỉ có hai loại mà thôi: Cắm ống thở hay là không cắm ống thở. Nhưng rồi sau tất cả vẫn đều là cái chết.

Nếu có người hỏi tôi: “Cái chết là gì?”. Đáp án của tôi là: “Làm thế nào mới được coi là sống đây?”. Bởi vì con người nhất định đều sẽ chết, vậy nên cái chết không phải là mục đích của đời người. Đời người, trái lại chính là một quá trình. Chúng ta trong quá trình này không ngừng theo đuổi một điều gì đó, đây chính là đời người. Và tôi nói: “Tất cả những thứ người ta theo đuổi, vinh hoa phú quý của đời người chẳng qua chỉ là một đống rác bỏ đi“.

Có một lần, tôi mời thầy giáo đã nghỉ hưu của mình và lớp trưởng cùng đi dùng cơm. Ba người chúng tôi lên lầu hai của một nhà hàng Pháp, kết quả đã tiêu hết 26.000 Đài tệ (gần 20 triệu đồng), bình quân mỗi người là 9.000 Đài tệ (6,7 triệu đồng). Khi nhìn thấy hóa đơn, mặt mày tôi tái mét: “Sao lại đắt đến vậy chứ!”. Tôi chưa từng đến dùng bữa ở nơi nào đắt đỏ như vậy cả, chỉ là chọn đại mấy món, cũng không hiểu đã dùng món gì mà mất đến 26.000 Đài tệ.

Cả ngày hôm ấy và hôm sau, tôi đã không ngừng suy nghĩ về chuyện này. Bữa cơm đã tiêu tốn của tôi mất 9.000 Đài tệ, so với một suất cơm bình dân ở bệnh viện ngày thường tôi vẫn ăn thật chẳng khác nhau chút nào. Dù là cao lương mỹ vị, dù là gan rồng, tuỷ phượng, ăn vào dạ dày rồi lại phải bài tiết ra ngoài. Vinh hoa, phú quý của đời người cũng thế, tranh đoạt cả đời, gom góp một kiếp, chết rồi lại chẳng thể mang theo. 

Tư tưởng Nho gia ảnh hưởng rất mạnh mẽ ở Á Đông nhưng đối với vấn đề sự sống – cái chết, họ cũng chỉ bàn đến một mức độ rất bề mặt. “Luận Ngữ” viết: “Vị tri sinh, yên tri tử” (chưa biết đạo lý của đời sống, sao lại thắc mắc về cái chết); hoặc như Khổng Tử cũng nói: “Triêu văn Đạo, tịch khả tử” (sáng nghe đạo, chiều chết cũng yên lòng). Nói tóm lại chính là không thích luận đàm về sống chết.

Còn cá nhân tôi thì luôn nghĩ về cái gọi là “trải nghiệm cận tử”. Chỉ khi đối diện với cái chết, khi đứng trên ranh giới giữa sự sống và cái chết, người ta mới lại nhìn thấu được đời người là gì, ý nghĩa nhân sinh đích thực là gì?

Bài diễn thuyết chấn động của bác sĩ từng chứng kiến rất nhiều người chết: Vinh hoa phú quý đời người rốt cuộc cũng chỉ là một đống rác mà thôi... - Ảnh 4.

Con người cuối cùng rồi sẽ phải chết, đời người chẳng qua chỉ là một quá trình theo đuổi và tìm kiếm ý nghĩa của nhân sinh. Mà ý nghĩa nhân sinh đó đôi khi không thể dễ mà nhìn ra. Trên con đường trở về với giá trị gốc của mình, người ta sẽ phải đi qua biết bao thống khổ, bơi qua một bể khổ vô bờ. Nghĩ lại thì kiếp sống này thật quá ư mông lung, nhân sinh này chính xác chỉ là giấc mộng.

Tôi xin dùng câu nói dưới đây làm lời kết cho bài thuyết trình hôm nay: Điều khó khăn nhất không phải là đối mặt với thất bại và sự đả kích, mà là khi phải hứng chịu những sự đả kích, dày vò, ta không hề đánh mất đi nhiệt tình đối với cuộc đời này”.

Bài diễn thuyết chấn động của tỷ phú Lý Gia Thành: “Tôi phản đối việc LÀM CÔNG CẢ ĐỜI, bởi vì làm công là cách đầu tư ngu ngốc nhất”

Theo Ngọc Sương

Trí thức trẻ