Category Archives: Kết nối cộng đồng

Chúng tôi Không (và Sẽ Không) Hỗ Trợ Tâm Nguyễn Cho KV7 San Jose

Kính gởi đồng hương,

Xin đính kèm ở dưới bài viết của bà Lydia Guel, Giám đốc Dịch Vụ Chống Nghèo của Cộng Đồng Công Giáo Thánh Tâm về chuyện tranh cử của ỨCV Nguyễn Tâm, với tựa đề
“Chúng tôi Không (và Sẽ Không) Hỗ Trợ Tâm Nguyễn Cho KV7 San Jose”
(We Don’t (and Won’t) Endorse Tam Nguyen For San Jose D7)
Xin tạm dịch qua Việt Ngữ như sau:

Continue reading Chúng tôi Không (và Sẽ Không) Hỗ Trợ Tâm Nguyễn Cho KV7 San Jose

Advertisements

Chiến dịch Điện Biên Phủ – đỉnh cao nghệ thuật quân sự Việt Nam

Ngày 7/5/1954 đã đi vào lịch sử của dân tộc Việt Nam và thế giới với chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Đó là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới; tạo ra bước ngoặt lịch sử làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh, kết thúc 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954); buộc thực dân Pháp phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Đây cũng là sự kiện quan trọng ghi dấu sự trưởng thành, lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam. Continue reading Chiến dịch Điện Biên Phủ – đỉnh cao nghệ thuật quân sự Việt Nam

Ba nhà báo Việt Weekly gặp nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt

Bài của Ô QUAN HẠ

Image result for vo van kiệt pic

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt

Tuần qua, trong chuyến đi Việt Nam đưa tin về Hội nghị APEC 16, ba nhà báo Việt Weekly là Lê Vũ, Etcetera Nguyễn, và Vũ Hoàng Lân đã được nguyên Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt tiếp kiến và trao đổi thẳng thắn về một số vấn đề thời sự mà người dân trong nước và người Việt ở hải ngoại quan tâm. Cùng dự buổi tiếp còn có một số nhà báo trong nước.

Đánh giá về tình hình Việt Nam hiện nay, ông Võ Văn Kiệt nói rằng, sự việc Việt Nam gia nhập WTO và Hội nghị APEC vừa diễn ra ở Việt Nam là hai sự kiện lớn, “thể hiện sự đồng thuận cả trong và ngoài nước” đối với tiến trình đổi mới ở Việt Nam, là “cột mốc quan trọng đối với vị thế của Việt Nam”. Ông cho rằng, nếu không có đổi mới thì không có hai sự kiện đó và hai sự kiện đó cũng chứng tỏ đổi mới “chỉ có tiến không có lùi”.
Việt Weekly đặt vấn đề: “Nhiều người cho rằng Việt Nam đi theo con đường đổi mới của Trung Quốc, điều này có đúng không? Hay là có những yếu tố đặc thù nào của Việt Nam?” Ông Võ Văn Kiệt nói, khi bắt đầu đổi mới Việt Nam không chỉ học kinh nghiệm của Trung Quốc mà còn học kinh nghiệm của nhiều nước khác. “Kinh nghiệm của các nước khác cũng thú vị, đặc biệt như Thái Lan, Malaysia, rồi Hàn Quốc… Hàn Quốc cũng chiến tranh kịch liệt như thế, cũng nghèo, tài nguyên cũng không có gì. Chúng tôi cũng tìm hiểu Đài Loan, họ cũng có cách đi lên…” Ông khẳng định: “Khi mà mình vững vàng đi trên hai chân của mình sẽ được tôn trọng, tức là phải độc lập tự chủ suy nghĩ làm sao cho phù hợp. Nếu cứ đồ theo người ta thì có nhiều điều sẽ thất bại.”
Việt Weekly: “Ông có đề cập rằng, về đối ngoại, Việt Nam muốn làm bạn với các nước trên thế giới, và có lẽ hiện giờ Việt Nam có tư thế rất thuận lợi để làm điều đó. Nhưng trên thế giới có những quốc gia yếu và có những cường quốc, vì thế có những quan hệ mang tầm vóc đặc biệt hơn, trong đó có quan hệ với Trung Quốc và Mỹ. Có thể đây là một bài toán tương đối khó khăn đối với Việt Nam, vì dường như Trung Quốc và Mỹ đang đi đến một cuộc đối đầu với nhau, cạnh tranh với nhau trong thế kỷ 21. Vai trò của Việt Nam vô cùng đặc biệt ở ngã ba này. Suy nghĩ của giới lãnh đạo, xu hướng đối ngoại trong tam giác này như thế nào?” Ông Võ Văn Kiệt: “Việt Nam rất là nhẹ nhàng, không theo ông lớn ông nhỏ nào, không dựa vào ai, tức là ai cũng có thể được đối xử sòng phẳng. Việt Nam và Trung Quốc cũng quan hệ với nhau, một bên cải cách, một bên đổi mới. Quan hệ Việt Nam-Trung Quốc vẫn là đồng chí với nhau nhưng không hẳn là đồng minh mà là quan hệ láng giềng hợp tác, cùng nhau phát triển. Trung Quốc cũng là xã hội chủ nghĩa. Còn xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam theo tôi hiểu, dân tộc là trên hết. Trung Quốc cũng đặt lợi ích của dân tộc họ lên trước. Giúp đỡ nhưng mà không phải giúp đỡ với mức mà lợi ích dân tộc thấp hơn. Cho nên, Việt Nam đi theo con đường hòa nhập vào thế giới. Tức là Việt Nam chủ trương không dựa bất cứ vào một anh lớn nào cả, và cũng không có anh nhỏ nào cả. Như bây giờ trong bốn nước có tầm cỡ trong quan hệ với Việt Nam như Nhật, Nga, Mỹ, Trung Quốc, mỗi nước có một vị trí nhất định. Việt Nam cố gắng làm sao giữ vững được đường lối đó không dựa vào ai, nhưng đồng thời tranh thủ những quan hệ vừa có lợi cho mình vừa có lợi cho đối tác.”
Việt Weekly: “Hướng đi đó có khó khăn không? Tại vì bình thường cường quốc nào cũng cấu kết phe cánh, đòi hỏi các nước yếu hơn phải theo phe mình, chịu một số điều kiện nào đó?” Ông Võ Văn Kiệt: “Tôi có nhận xét là hai nước Mỹ và Hàn Quốc, họ coi nhau như là bạn, thân thiện lắm nhưng mà tôi thấy tính độc lập tự chủ, ý chí dân tộc, lòng tự tôn dân tộc của họ cũng cao lắm. Là bạn thân đó, nhưng không phải vì lợi ích của phe, để cho dân tộc không phải là trên hết. Chính vì thế Việt Nam coi dân tộc là trên hết. Không phải chơi với Mỹ để chống Trung Quốc, mà cũng không phải quan hệ với Trung Quốc để chống Mỹ. Tức là mình tạo cho mình lợi thế cân bằng được. Nhiều nước cũng đi theo con đường này, ví dụ như, Malaysia chơi với Trung Quốc cũng sòng phẳng, chơi với Mỹ cũng sòng phẳng. Tôi thấy đường lối của Việt Nam đi như thế nhẹ nhàng, không làm hạ thấp vị trí của Việt Nam. Cứ xem các nước Bắc Âu, cũng là những nước không lớn nhưng tiếng nói của họ cũng rất nặng ký.”
Việt Weekly: “Dĩ nhiên các nước như Đại Hàn, Nhật Bản họ có chủ nghĩa dân tộc và họ không hy sinh dân tộc vì quyền lợi của nước khác, nhưng họ đã chọn thế đứng về phe của Mỹ. Điều đó giúp quốc gia họ được đầu tư phát triển và thừa hưởng những lợi ích trong cuộc tranh đua giữa hai khối tư bản và cộng sản trong cuộc chiến tranh lạnh vừa qua. Họ là những nước được sản xuất vũ khí để đánh trong trận đánh Việt Nam. Vậy thì, Việt Nam trong thời bình có thể chưa có sức ép để phải theo phe này, phe kia, nhưng nếu có khủng hoảng xảy ra trên thế giới giữa hai phe Mỹ và Trung Quốc, vai trò trung lập đôi khi trở nên nguy hiểm, ví dụ như Cambodia trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, ông Sihanouk ở thế trung lập nhưng vì quá yếu, cho nên đã bị hai phe lớn lung lạc, lũng đoạn. Chỉ khi nào Việt Nam là cường quốc, mới có thể bảo vệ được sự độc lập về chủ trương, và chính sách đối ngoại. Còn nếu vẫn còn yếu, một khi khủng hoảng xảy ra, sẽ bị ảnh hưởng theo chiều hướng như vậy, tức là tình thế sẽ bắt buộc Việt Nam phải chọn lựa. Hay là ông nghĩ rằng chủ trương độc lập đó vẫn có thể đứng vững được?” Ông Võ Văn Kiệt: “Việt Nam có cả một quá trình giữ nước. Cách chọn lựa của Việt Nam là giữ được ổn định, làm sao tránh được đối đầu, chính điều này là điều phải xác định từ bây giờ, xây dựng đất nước của mình tránh sự đối đầu trong bất cứ tình huống nào. Nếu bất đắc dĩ chúng ta bị xâm lược vì một lẽ gì đó chúng ta không có chọn lựa nào khác hơn là bảo vệ đất nước mình, nhưng chúng ta không chủ động gây sự”.
Việt Weekly: “Bây giờ nguy cơ lớn nhất của Việt Nam là gì?” Ông Võ Văn Kiệt: “Nguy cơ lớn nhất của Việt Nam là tụt hậu, nghèo nàn. Chúng ta phải làm sao bắt kịp thế giới. Nhiều anh em đặt ra nhiều nguy cơ nhưng tôi xác định một nguy cơ. Nếu nguy cơ đó mình vượt ra được, chúng ta giải quyết được tất cả những nguy cơ khác. Chúng ta phải thoát khỏi cái nghèo, rút ngắn khoảng cách giữa mình với các nước, để có được dân giàu nước mạnh”.
Việt Weekly: “Để thoát khỏi nguy cơ đó, thử thách lớn nhất là gì, cơ chế, con người, tư duy hay là tài nguyên? “ Ông Võ Văn Kiệt: “Bây giờ vấn đề càng ngày càng sáng tỏ. Phải tiếp tục đổi mới, phải thay đổi cơ chế quan liêu, tức là phải tạo môi trường sòng phẳng, cơ chế thông thoáng cùng với nền kinh tế thị trường. Trở lại với việc vào WTO, trước đây chưa vào, chưa ra trận, chưa xuống sân chơi này, thì hiểu thế này thế khác, nhưng cuối cùng, chúng tôi khẳng định nó có lợi. Nhiều nước đi theo chứ không phải một mình mình. Đây là một cuộc chơi chung chứ không phải chuyện như trước đây “cá lớn nuốt cá bé,” diệt nhau để người tồn tại, người bị mất đi. Cuộc chơi này lý thú vì nó thúc đẩy sự phát triển. Không ai đến cho không mình một cái gì, mà cũng không ai đến lấy không của mình một cái gì. Nó đòi hỏi bản lĩnh của người lãnh đạo. Nhưng chúng tôi cũng thấy rằng đây là cuộc chơi trí tuệ, đòi hỏi lãnh đạo phải có tầm, mà không chỉ ở tầm lãnh đạo mà còn là tầm trí tuệ của dân tộc. Tôi nói như thế rốt cục là nói về con người. Còn nếu nói về tài nguyên, mình không đến nỗi kém hơn so với nhiều nước. Singapore cũng là đảo nhỏ, cũng không có nhiều tài nguyên nhưng họ có trí tuệ…”
Việt Weekly: “Trong vấn đề con người đó, hiện nay quan hệ Việt Nam với cộng đồng ở hải ngoại vẫn còn khoảng cách để lại từ chiến tranh, theo sự đánh giá của ông, quan hệ đó hiện đang như thế nào?” Ông Võ Văn Kiệt: “Chúng ta phải hết sức quan tâm đến sự hòa hợp, chúng ta phải đặt dân tộc là tối thượng. Cho dù chính kiến, tôn giáo, quan điểm có khác nhau, nhưng lợi ích dân tộc phải được đặt lên trên hết. Mọi người Việt Nam phải cùng với nhau góp sức, không phân biệt chính kiến, tôn giáo. Không có lý do gì chúng ta gây ra trở ngại đó. Chúng tôi nhắc đến hội nghị APEC, chuyến thăm lần thứ hai của người đứng đầu của Mỹ. Trước có ông Bill Clinton và mới đây là ông Bush. Nếu đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, dẫu trước đây là kẻ thù của nhau vẫn có thể khép lại quá khứ để hoà bình hữu nghị, để cùng phát triển. Bởi vậy không lý nào người Việt Nam với nhau lại không thể khép lại quá khứ. Đây là vận hội, cơ hội cho sự hòa thuận. Đối với người ngoài còn bỏ qua được không lẽ người Việt Nam với nhau không bỏ qua được hay sao! Nếu cứ cố chấp với nhau, dân tộc không lớn mạnh lên được!”
Việt Weekly: “Tôi không muốn nói là tất cả người Việt ở hải ngoại đều cố chấp. Ở hải ngoại có rất nhiều khuynh hướng. Trong đó có bộ phận đồng ý với ông dân tộc là tối thượng nhưng họ cho rằng họ mới là những người coi dân tộc là tối thượng, còn những ngừơi cộng sản đặt chủ nghĩa đại đồng quốc tế lên trên quyền lợi dân tộc. Vì thế họ hoài nghi, mặc dù bây giờ họ thấy nước Việt Nam đã có nhiều thay đổi. Ông có thể nói gì với họ?” Ông Võ Văn Kiệt: “Cả quá trình đấu tranh của người cộng sản là vì đất nước, vì dân tộc là trên hết. Vì thế họ mới chịu hy sinh. Nói công bằng, cuộc chiến đấu của Việt Nam do Đảng cộng sản, do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, vì lợi ích của dân tộc nhiều hơn hay vì thiên hạ nhiều hơn? Họ đã hy sinh cho đất nước, cho dân tộc này chứ! Vậy thì ít nhất phải để cho ba triệu đảng viên phải có chỗ đứng yêu nước trong dân tộc chứ, nếu phủ nhận, thật là quá đáng. Thật ra, hồi chúng tôi mới giác ngộ đi theo cách mạng, lý tưởng thế giới đại đồng mạnh mẽ lắm. Nhưng từ khi làm cách mạng đến bây giờ, tôi tự hào là đã chiến đấu vì lợi ích dân tộc, vì lợi ích của đất nước, rồi kế đó mới là vì bạn bè. Nói ví dụ trực tiếp nhất là đối với Lào và Campuchia, bằng xương bằng máu đó, người Việt Nam đã hy sinh giúp cho Lào và Campuchia chống xâm lược, nhưng việc đó trước hết cũng là để bảo vệ đất nước mình. Đối với phe xã hội chủ nghĩa, Việt Nam góp sức không bao nhiêu, nhưng ngược lại, tranh thủ sự giúp đỡ của họ nhiều. Chúng tôi mang ơn họ nhiều lắm. Có một điều rất tiếc là vừa rồi thậm chí có một số người Việt căm thù cộng sản đến mức trông đợi làm sao cho APEC thất bại, trông đợi tổng thống Mỹ sang Việt Nam phải bắt buộc Việt Nam chấp nhận điều kiện thế này thế khác, thậm chí họ mong rằng Việt Nam tiếp tục nghèo đói, chỉ vì họ ghét những người cộng sản. Họ cứ cho là họ yêu nước mà thật ra họ làm hại cho đất nước nhất.”
Việt Weekly: “Hải ngoại có rất nhiều khuynh hướng, bênh cũng như chống, nhưng có điều ba triệu đảng viên Việt Nam là những người đang có ưu thế và đang nắm quyền lãnh đạo. Thật ra, những người bên kia chỉ nói chứ không làm gì được vì họ không có quyền hành gì hết. Họ nêu ra một điều là, nếu người cộng sản thật tâm muốn làm việc với họ, tại sao không chấp nhận một cơ cấu đa đảng hoặc cho phép họ tham gia bằng chính khả năng của họ mà được toàn dân đánh giá chứ không phải họ đòi vào được ban phát, để có ghế có chỗ gì cả. Ý kiến của ông thế nào?” Ông Võ Văn Kiệt: “Có một số người chống đối quyết liệt sinh tử với cộng sản, số đó chắc không nhiều. Đó là những người cực đoan. Tôi nghĩ một dân tộc nào, một tôn giáo, ngay cả trong đảng, lúc nào cũng có một số cực đoan vì nhiều lý do. Nếu chúng ta sòng phẳng ngồi nói chuyện với nhau vì đất nước, hoàn toàn có thể gặp nhau được. Cần đấu tranh xây dựng, đấu tranh vì lẽ phải, vì lợi ích dân tộc. Ví dụ đối với những sai trái có hại cho đất nước như tham nhũng, lãng phí, những hành vi làm tổn thương lợi ích dân tộc chúng ta có quyền phê phán để xây dựng ngôi nhà chung của mình. Bây giờ có cơ hội để anh em bên ngoài có thể có tiếng nói xây dựng. Tôi cảm thấy vui mừng vì ngày càng có nhiều người Việt Nam ở hải ngoại tham gia vào lĩnh vực này lĩnh vực khác về kinh tế, văn hóa rồi kỹ thuật, đóng góp rất lớn cho kinh tế Việt Nam. Tôi đánh giá cao việc đó. Mỗi người cần có trách nhiệm của mình, dân tộc là của chung không phải của riêng người cầm quyền hiện giờ.”
Việt Weekly: “Mấu chốt của vấn đề mà ông đưa ra là kêu gọi lương tri của người Việt đóng góp vào công việc chung của dân tộc, việc đó chắc rằng người trong và người ngoài đều đồng ý, nhưng người hải ngoại đặt vấn đề cao hơn là họ muốn thấy một cơ cấu cơ chế bảo đảm ổn định và phát triển lâu dài của dân tộc Việt Nam thay vì dựa vào một vài lãnh đạo cá nhân tốt sáng suốt của từng thời kỳ, biết lắng nghe, biết kêu gọi sự đóng góp, biết sử dụng người tài. Tại sao không xây dựng một cơ chế bảo đảm được nguồn lực nhân tài của đất nước được tham gia, có sự phân quyền để giám sát lẫn nhau để tránh việc lạm dụng, dẫn đến quyết định có thể sai lầm như đã từng xảy ra trong quá khứ. Theo ông thì như thế nào?” Ông Võ Văn Kiệt: “Tôi thấy chương trình hành động của nhiệm kỳ Đại hội 10 này có nhiều sự nỗ lực của các nhà lãnh đạo. Từ trong Đảng đến Quốc hội, Hội đồng Nhân dân và các cơ quan Nhà nước đang tiếp tục đổi mới để phát huy cho được dân chủ và minh bạch. Tôi biết là họ rất nỗ lực trong chuyện này. Trong khối tư pháp cũng phải đổi mới. Luật pháp của quốc gia, hệ thống chính trị nói chung cũng phải đổi mới để phù hợp kinh tế thị trường, với hội nhập quốc tế và sự phát triển. Tôi thấy anh em rất nỗ lực.”
Việt Weekly: “Trong điều 4 của Hiến pháp quy định chỉ có đảng cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo quốc gia. Như ông đã nói, quốc gia là quốc gia chung của 80 triệu người, vậy quy định như vậy có nghịch lý không?” Ông Võ Văn Kiệt: “Mong muốn lớn nhất của toàn xã hội là làm sao đất nước tiếp tục ổn định để tiếp tục đổi mới và phát triển, để không xảy ra rối rắm như nhiều nước khác. Điều này cũng đòi hỏi tập hợp được sức mạnh của dân tộc, phải đại đoàn kết dân tộc. Đảng cộng sản Việt Nam đã có vai trò đối với lịch sử của đất nước. Đảng vì dân tộc, vì đoàn kết của dân tộc, tất cả thể chế đều dựa vào dân và phục vụ nhân dân. Nếu như đảng cộng sản làm đầy đủ mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, mà đây là một đòi hỏi hết sức chính đáng, nếu đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục giữ được vai trò này, được sự đồng thuận của dân tộc Việt Nam, tôi nghĩ rằng đảng cầm quyền như đảng Cộng sản Việt Nam là tin cậy được. Nhưng nếu như họ không thực hiện được mục tiêu mà họ đề ra, dân tộc Việt Nam sẽ không chấp nhận. Nhưng mà nếu như họ làm đầy đủ những chuyện đó, để ổn định để phát triển, để thoát nghèo, không nhất thiết là phải đa đảng mới xây dựng đất nước của mình. Một đảng mà làm đầy đủ hết mấy điều này, tôi nghĩ là được.
Việt Weekly: “Nhưng điều đó cũng có nghĩa là đã bỏ qua một bộ phận người ở hải ngoại không phải là đảng viên. Họ sẽ không có cơ hội để tham gia. Dĩ nhiên như ông nói, họ có thể tham gia xây dựng đất nước bằng cách này hay cách khác, nhưng họ vẫn không thể tham gia ở mực độ cốt lõi trong hệ thống cầm quyền để giúp đỡ đất nước. Đó có phải là một sự mất mát cho Việt Nam hay không?” Ông Võ Văn Kiệt: “Điều này tôi nghĩ không mất mát, vì theo nghị quyết Đại hội 10, trong hệ thống quản lý nhà nước, trong cơ cấu tổ chức bây giờ không nhất thiết là ủy viên trung ương là đứng đầu. Trong quá trình thúc đẩy cho sự đổi mới phải thêm nữa, tức là người đứng đầu không nhất thiết là đảng viên. Bây giờ không nhất thiết là ủy viên trung ương, và sẽ không nhất thiết là đảng viên. Trở lại như thời chủ tịch Hồ Chí Minh trước đây, trong cơ quan của lãnh đạo nhà nước, cấp cao nhất của nhà nước nhiều người cũng không phải là đảng viên.”
Việt Weekly: “Vậy có nghĩa là, trên mặt lý thuyết, một thủ tướng có thể là một người ngoài đảng?” Ông Võ Văn Kiệt: “Theo tôi một đảng cầm quyền có thể chấp nhận điều đó. Bây giờ lẽ ra không nhất thiết là đảng viên cũng có thể đứng đầu bộ máy nhà nước. Trước đây, trong lúc đảng còn yếu, trước Cách mạng Tháng 8 và sau Cách mạng Tháng 8, kể cả trong kháng chiến chống Pháp, nhiều bộ trưởng không phải là đảng viên, họ là nhân sĩ trí thức yêu nước thôi. Điều đó Việt Nam cũng đã kinh qua rồi. Bây giờ trong xây dựng đất nước tôi cũng rất tiếc là mình chưa làm được điều này, nhưng cũng phải trở lại hướng này. Những người thật sự yêu nước, có đức có tài, không nhất định là người trong đảng cộng sản, đều có thể làm bất cứ cương vị gì trong bộ máy nhà nước.”
Việt Weekly: “Ông nói là vì nhu cầu ổn định quốc gia để tiếp tục đổi mới, và vì chiến tích kinh nghiệm cũng như khả năng của đảng cộng sản đã chứng tỏ qua một thời kỳ rất dài trong lãnh đạo quốc gia, cho nên vẫn có thể lý giải được việc đảng cộng sản tiếp tục giữ quyền lãnh đạo quốc gia, nhưng ông có nghĩ là trong tương lai ngắn hoặc dài có thể là 20 năm, 50 năm, 100 năm, hay kể cả dài hơn nữa, có khi nào điều 4 của hiến pháp sẽ được tái khẳng định để cho phép nhiều đảng phái hơn tham gia và công việc của quốc gia hay không?” Ông Võ Văn Kiệt: “Đảng phải tự đổi mới mình để thích hợp với thực tế, với bước đi của dân tộc. Trách nhiệm lãnh đạo đất nước của Đảng không phải là quyết giữ những điều trong hiến pháp, mà đòi hỏi Đảng phải làm được trong thực tế vai trò của mình đối với dân tộc để giữ trọng trách lãnh đạo đất nước, giữ được sự ủng hộ của nhân dân đối với đảng. Nếu không giữ được, không làm được đầy đủ chuyện này, dân tộc sẽ quyết định.
Việt Weekly: “Trong quan hệ của Việt Nam với Mỹ, ông có nhận xét gì?” Ông Võ Văn Kiệt: “Tôi cho rằng quan hệ với Mỹ được mức như bây giờ là do có những cố gắng rất lớn, cố gắng của Việt Nam và của cả Mỹ. Tôi thấy ông Bush trước khi đến Việt Nam cũng lo, nhưng đến Việt Nam ông thấy sự thân thiện của người Việt Nam đối với những người đứng đầu của Mỹ, cho thấy dân tộc Việt Nam thể hiện đúng theo đường lối bỏ qua quá khứ, thân thiện nghĩ đến tương lai. Trong chiến tranh cả hai là thù địch nhưng sau chiến tranh cả hai dân tộc hiểu biết nhau hơn, dù cho quá khứ không hay, nhưng đã hiểu biết nhau.”
Việt Weekly: “Ông có nhận xét gì về dân tộc Việt Nam?” Ông Võ Văn Kiệt: “Tôi thấy dân tộc mình lạ lùng lắm, rất thân thiện. Đối với Pháp trước đây cũng vậy mà Mỹ sau này cũng vậy. Dân tộc Việt Nam là dân tộc nhân ái, một dân tộc hiếu hòa. Kể cả lịch sử đối với Trung Quốc cũng kinh lắm chứ, nhưng sau là bạn. Sau này khi nối lại quan hệ bình thường, hai bên thân thiện trở lại. Về vấn đề tôn giáo, người Việt Nam có thể theo bất cứ tôn giáo nào, họ sống rất hòa hợp với nhau”.
Việt Weekly: “Đối với những người Việt chống đối, nếu ông được gặp họ, ông sẽ nói điều gì?” Ông Võ Văn Kiệt: “Nếu gặp họ, tôi sẽ nói với họ rằng, dân tộc và đất nước là của chung, không riêng gì của ai cả. Vấn đề tôn giáo, ai muốn tham gia đạo nào cũng được, cứ hòa hợp với nhau đi. Ở chung một xóm, người Phật giáo với người Công giáo, không thấy ai đố kỵ ai. Anh muốn vô đạo nào, Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Công giáo, Tin Lành… không có vấn đề gì cả.”
Cuộc gặp gỡ giữa nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt với ba nhà báo Việt Weekly diễn ra rất cởi mở, ông Võ Văn Kiệt đã trả lời tất cả những vấn đề do Việt Weekly đặt ra.

Nghị quyết 36: “Cơ hội vàng” cho CNTT Việt Nam phát triển

Continue reading Nghị quyết 36: “Cơ hội vàng” cho CNTT Việt Nam phát triển

Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài

(KBCHN) – Nghị quyết được Bộ Chính trị ban hành ngày 26/3/2004. Dưới đây là toàn văn Nghị quyết.

Nghị quyết được Bộ Chính trị ban hành ngày 26/3/2004. Dưới đây là toàn văn Nghị quyết.

I- Tình hình và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài thời gian qua.

1- Hiện nay có khoảng 2,7 triệu người Việt Nam đang sinh sống ở gần 90 nước và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 80% ở các nước công nghiệp phát triển, phần đông bà con ngày càng ổn định cuộc sống và hòa nhập vào xã hội nơi cư trú, có vị trí nhất định trong đời sống kinh tế, chính trị – xã hội ở nước sở tại, có tác động ở mức độ khác nhau tới mối quan hệ giữa các nước đó với Việt Nam. Bên cạnh đó, trong những năm qua hàng trăm nghìn người Việt Nam đã ra nước ngoài lao động, học tập, tu nghiệp, đoàn tụ gia đình, hình thành các cộng đồng người Việt Nam tại một số địa bàn mới.

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có tiềm lực kinh tế nhất định, có mối quan hệ với nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoài và quốc tế, có khả năng tìm kiếm đối tác và làm cầu nối với các doanh nghiệp, tổ chức trong nước. Nhiều trí thức có trình độ học vấn và chuyên môn cao; một số người giữ vị trí quan trọng trong các cơ quan, cơ sở nghiên cứu, đào tạo, các công ty và tổ chức quốc tế, có khả năng tạo dựng quan hệ với các cơ sở kinh tế, khoa học ở nước sở tại.

Mặc dù sống xa Tổ quốc, đồng bào luôn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống văn hóa và hướng về cội nguồn, dòng tộc, gắn bó với gia đình, quê hương. Nhiều người đã có những đóng góp về tinh thần, vật chất và cả xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Thành tựu to lớn của nhân dân ta trong sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữ vững sự ổn định chính trị – xã hội và không ngừng nâng cao vị thế quốc tế của đất nước càng củng cố thêm niềm tự hào dân tộc và tinh thần yêu nước của người Việt Nam ở nước ngoài. Đông đảo bà con hoan nghênh công cuộc đổi mới và chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước, mong muốn đất nước cường thịnh, sánh vai với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới; nhiều người đã về thăm gia đình, quê hương, tham gia các hoạt động đầu tư, kinh doanh, hợp tác khoa học, công nghệ, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, nhân đạo, từ thiện… Tình hình trên là xu thế chủ yếu trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Tuy nhiên, người Việt Nam ở một số nước còn khó khăn trong việc ổn định cuộc sống, chưa được hưởng quy chế rõ ràng, thậm chí ở một số nơi còn bị kỳ thị. Một bộ phận đồng bào do chưa có dịp về thăm đất nước để tận mắt thấy được những thành tựu của công cuộc đổi mới hoặc do thành kiến, mặc cảm, nên chưa hiểu đúng về tình hình đất nước. Một số ít người đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở tại với Việt Nam. Tính liên kết cộng đồng, sự gắn bó giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng chưa cao. Còn thiếu các biện pháp duy trì, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; việc giữ gìn tiếng Việt và bản sắc dân tộc trong thế hệ trẻ còn khó khăn. Nhu cầu giao lưu văn hóa giữa cộng đồng với đất nước, giữ gìn và phát triển tiếng Việt trong cộng đồng là rất lớn và trở nên bức thiết song chưa được đáp ứng. Sự đóng góp của bà con vào công cuộc xây dựng đất nước, nhất là về tri thức, chưa tương xứng với tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

2- Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách rộng mở và biện pháp cụ thể nhằm tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho đồng bào về thăm đất nước, người thân, đầu tư, kinh doanh, hợp tác khoa học – công nghệ, hoạt động văn hóa – nghệ thuật. Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã được đổi mới và đạt được những kết quả đáng kể cả ở trong và ngoài nước. Công tác thông tin, văn hóa phục vụ cộng đồng từng bước được tăng cường, nhất là trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình và qua mạng Internet. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chính quyền địa phương và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã có chuyển biến tích cực.

Tuy nhiên, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người Việt Nam ở nước ngoài chưa được quán triệt sâu sắc, thực hiện đầy đủ. Công tác nghiên cứu, tham mưu về chính sách chưa theo kịp những chuyển biến mới. Công tác bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài chưa được quan tâm đúng mức. Các chính sách đã ban hành chưa đồng bộ và chưa thể hiện đầy đủ tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc; chưa khuyến khích mạnh mẽ người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, đóng góp cho công cuộc phát triển đất nước. Chưa có hình thức thỏa đáng để cung cấp kịp thời và đầy đủ thông tin cho đồng bào về tình hình đất nước và chính sách của Đảng và Nhà nước. Hình thức vận động cộng đồng còn chưa thực sự đổi mới, đa dạng và linh hoạt để có thể quy tụ, động viên đông đảo bà con tham gia các hoạt động có ích cho cộng đồng và quê hương. Việc phát hiện, bồi dưỡng những nhân tố tích cực, việc khen thưởng, động viên những người có thành tích ít được chú trọng.

Nguyên nhân chủ yếu của những yếu kém trên là các cấp, các ngành, các đoàn thể nhân dân chưa nhận thức thật sự đầy đủ và sâu sắc các quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, nhiều cấp ủy Đảng và lãnh đạo chính quyền các cấp chưa quan tâm đúng mức và chưa thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công tác này. Sự phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan, giữa Trung ương và địa phương, giữa trong và ngoài nước còn thiếu chặt chẽ, các cơ quan trực tiếp làm công tác về người Việt Nam ở nước ngoài chưa được kiện toàn đủ mạnh, kinh phí còn hạn chế.

II- Chủ trương và phương hướng công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài thời gian tới

1- Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần thể hiện đầy đủ truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc. Cơ sở của sự đoàn kết là ý thức dân tộc và lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và mục tiêu chung của mọi người Việt Nam là giữ vững nền độc lập dân tộc, thống nhất của Tổ quốc, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

2- Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng  cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước. Nhà nước có trách nhiệm thỏa thuận với các nước hữu quan về khuôn khổ pháp lý để đồng bào ổn định cuộc sống và bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài theo luật pháp, công ước và thông lệ quốc tế.

Đảng và Nhà nước mong muốn, khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp nước sở tại, chăm lo xây dựng cuộc sống, làm ăn thành đạt, nêu cao tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc Việt Nam, đoàn kết đùm bọc, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước bà con sinh sống với nước nhà, tùy theo khả năng và điều kiện của mỗi người góp phần xây dựng quê hương đất nước, chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc.

3- Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần mang tính đồng bộ, kết hợp việc xây dựng cơ chế, chính sách với công tác vận động, kết hợp các hoạt động trong nước với các hoạt động ở nước ngoài và phải được tiến hành thông qua nhiều loại hình hoạt động và biện pháp phù hợp với các đối tượng và địa bàn khác nhau, trên cơ sở tự nguyện và không trái với pháp luật, phong tục, tập quán của nước sở tại.

4- Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân. Các tổ chức đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, các ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương, ở trong nước và ngoài nước và toàn dân ta cần coi đây là một nhiệm vụ quan trọng nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

III – Nhiệm vụ chủ yếu

1- Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi và hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, yên tâm làm ăn sinh sống, hội nhập vào đời sống xã hội nước sở tại, đồng thời duy trì quan hệ gắn bó với quê hương, đất nước.

Thông qua các hoạt động ngoại giao tích cực vận động chính quyền nước sở tại tạo thuận lợi cho kiều bào có điều kiện làm ăn sinh sống bình thường; chủ động tiến hành đàm phán và ký kết các thỏa thuận cần thiết với các nước, trong đó có các hiệp định lãnh sự, hiệp định tư pháp, bảo vệ lợi ích chính đáng của bà con, chống các biểu hiện kỳ thị, các hành động chống lại người Việt Nam ở nước ngoài. Giải quyết nhanh chóng, thỏa đáng yêu cầu của người Việt Nam ở nước ngoài liên quan đến vấn đề quốc tịch.

Tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài về thăm quê hương, thân nhân, thờ cúng tổ tiên. Cụ thể hóa và hoàn thiện hơn nữa các quy định về xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại ở trong nước của người Việt Nam ở nước ngoài theo hướng thông thoáng, thuận tiện và đơn giản thủ tục. Giải quyết thuận lợi, nhanh chóng thủ tục cho người Việt Nam ở nước ngoài hồi hương hoặc về làm ăn, sinh sống có thời hạn ở trong nước; tiếp tục giải quyết những vấn đề tồn tại về mua nhà ở trong nước, thừa kế, hôn nhân gia đình, nhận con nuôi… liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài. Dành cho người Việt Nam ở nước ngoài giá dịch vụ như công dân trong nước.

Có hình thức thích hợp tổ chức thu thập ý kiến của đồng bào ở nước ngoài trước khi ban hành các văn bản pháp quy, chính sách có liên quan nhiều tới người Việt Nam ở nước ngoài.

2- Hoàn chỉnh và xây dựng mới hệ thống chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức kiều bào vào công cuộc phát triển đất nước. Xây dựng chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với những chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ chuyên môn cao, có khả năng tư vấn về quản lý, điều hành, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cao cho đất nước, góp phần phát triển nền văn hóa, nghệ thuật của nước nhà.

Xây dựng và hoàn thiện các chính sách tạo thuận lợi và khuyến khích các ngành, các trung tâm nghiên cứu khoa học – công nghệ, văn hóa nghệ thuật, giáo dục – đào tạo, y tế, thể dục – thể thao, các cơ sở sản xuất, dịch vụ… ở trong nước mở rộng hợp tác, thu hút sử dụng chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tham gia công việc ở trong nước, làm việc cho các chương trình, dự án hợp tác đa phương và song phương của Việt Nam với nước ngoài hoặc trong các tổ chức quốc tế có chỉ tiêu dành cho người Việt Nam và tư vấn trong các quan hệ giữa Việt Nam với đối tác nước ngoài.

Tranh thủ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tiến hành hoạt động vận động, tư vấn về pháp lý trong quan hệ với nước bà con làm ăn sinh sống.

3- Hoàn chỉnh và xây dựng mới các chính sách thu hút người Việt Nam ở nước ngoài hoạt động đầu tư, kinh doanh ở trong nước. Coi trọng các hình thức đầu tư, kinh doanh quy mô vừa và nhỏ do người Việt Nam ở nước ngoài trực tiếp thực hiện hoặc thông qua người thân trong nước thực hiện. Mở rộng và tạo thuận lợi hơn nữa chính sách kiều hối. Phát huy khả năng của người Việt Nam ở nước ngoài làm dịch vụ, thiết lập và mở rộng kênh tiêu thụ hàng hóa Việt Nam, các quan hệ hợp tác và đầu tư với các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân nước ngoài.

Thiết lập cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc giải quyết các vụ việc liên quan đến doanh nghiệp do người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư vào trong nước, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của các doanh nghiệp, xử lý các vi phạm theo đúng pháp luật, góp phần tạo môi trường pháp lý ổn định, làm cho người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư, hợp tác với trong nước yên tâm, tin tưởng.

4- Đổi mới và đa dạng hóa các phương thức vận động, các hình thức tập hợp với mục đích đoàn kết người Việt Nam ở nước ngoài quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, khuyến khích những hoạt động hướng về Tổ quốc của bà con, nhất là của thế hệ trẻ trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với pháp luật và phong tục tập quán nước sở tại. Hỗ trợ các dự án của người Việt Nam ở nước ngoài nhằm mục tiêu trên. Chủ động mở rộng tiếp xúc với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, kể cả với những người còn có định kiến, mặc cảm với Nhà nước và chế độ ta.

5- Tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ. Xây dựng và hoàn chỉnh sách giáo khoa tiếng Việt cho kiều bào, cải tiến các chương trình dạy tiếng Việt trên vô tuyến truyền hình, đài phát thanh và qua mạng Internet. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể để giúp bà con học tiếng Việt. Tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh, thiếu niên người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổ chức cho các đoàn nghệ thuật, nhất là các đoàn nghệ thuật dân tộc ra nước ngoài biểu diễn phục vụ cộng đồng. Tạo điều kiện cho các nghệ sĩ, vận động viên là người Việt Nam ở nước ngoài về nước biểu diễn, thi đấu, tham gia các đoàn Việt Nam đi biểu diễn và thi đấu quốc tế. Thường xuyên tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật, triển lãm, hội thảo, du lịch về cội nguồn.

6- Đổi mới mạnh mẽ và toàn diện công tác thông tin, tuyên truyền, giúp cho người Việt Nam ở nước ngoài hiểu đúng tình hình đất nước và chính sách của Đảng và Nhà nước. Đầu tư cho các chương trình dành cho người Việt Nam ở nước ngoài của đài phát thanh, truyền hình và Internet; chú trọng đổi mới nội dung, hình thức và kỹ thuật của các chương trình này. Hỗ trợ việc ra báo viết, mở đài phát thanh, truyền hình ở ngoài nước. Xây dựng thư viện trên mạng Internet để phục vụ cho người Việt Nam sống xa Tổ quốc. Hỗ trợ kinh phí vận chuyển và đơn giản hóa thủ tục đối với việc gửi sách báo, văn hóa phẩm ra ngoài phục vụ cộng đồng.

7- Hoàn chỉnh chính sách khen thưởng đối với người Việt Nam ở nước ngoài, đưa vào nền nếp việc khen thưởng các tổ chức và cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài có thành tích trong vận động xây dựng cộng đồng, đóng góp xây dựng đất nước, tổ chức và cá nhân trong nước có thành tích trong công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài. Giải quyết có tình, có lý và trên cơ sở đạo lý Việt Nam các vấn đề nhân đạo do lịch sử để lại nhằm thực hiện chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời có biện pháp phù hợp đấu tranh với những biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích dân tộc, phá hoại quan hệ giữa các nước có đông người Việt Nam sinh sống với Việt Nam hoặc gây chia rẽ trong cộng đồng người Việt Nam ở nước sở tại.

8- Các tổ chức Đảng, các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức và đoàn thể nhân dân theo chức năng, nhiệm vụ của mình tham gia tích cực vào công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài với các cơ quan hữu quan, với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, giữa trong nước với ngoài nước. Củng  cố và phát triển các tổ chức xã hội làm công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài, như Hội liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài, các hội thân nhân kiều bào và các hình thức tập hợp chính đáng khác, phù hợp với ý nguyện và đặc điểm của cộng đồng ở địa bàn cư trú.

Các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài có trách nhiệm coi công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là một nhiệm vụ chính trị quan trọng đẩy mạnh công tác bảo hộ công dân và bảo vệ những quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài; tích cực, chủ động tăng  cường tiếp xúc vận động, tuyên truyền phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tới bà con.

9- Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài cần được kiện toàn với cơ cấu tổ chức, biên chế và phương tiện hoạt động đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới. Tăng cường cán bộ chuyên trách về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài tại cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở những nơi có đông người Việt Nam sinh sống. Một số bộ, ngành và một số tỉnh, thành phố có quan hệ nhiều với người Việt Nam ở nước ngoài cần có bộ phận giúp cơ quan lãnh đạo trong công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Bổ sung kinh phí cho công tác này.

IV – Tổ chức thực hiện

1- Ban cán sự đảng Bộ Ngoại giao phối hợp với Ban cán sự đảng ngoài nước và các ban, ngành liên quan, UBTƯ MTTQ Việt Nam, các tổ chức và đoàn thể nhân dân tổ chức phổ biến rộng rãi nghị quyết này đến cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân trong nước và đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

2- Ban cán sự đảng Chính phủ cụ thể hóa nội dung nghị quyết thành chương trình hành động, các cơ chế, chính sách, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương thực hiện.

3- Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự Đảng Chính phủ căn cứ vào nội dung Nghị quyết, xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp quy có liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài.

4- Các tỉnh ủy,  thành ủy, các ban cán sự Đảng, Đảng đoàn, Đảng ủy trực thuộc Trung ương, các ban Trung ương Đảng có kế hoạch thực hiện Nghị quyết. Ban cán sự đảng Bộ Ngoại giao chủ trì cùng Ban cán sự Đảng ngoài nước giúp Ban Bí thư và Bộ Chính trị theo dõi việc thực hiện Nghị quyết. Ban Bí thư tổ chức kiểm tra, định kỳ nghe báo cáo về tình hình và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài./

Continue reading Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài

Nghị quyết 36-NQ/TW công tác người Việt Nam ở nước ngoài

Thiên Hạ Sự – Hi vọng bộ trưởng Trương Minh Tuấn không quên NQ36

06/05/2018 02:11

(KBCHN) – Nghị quyết 36

BỘ CHÍNH TRỊ
—–

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
——-

Số: 36-NQ/TW

Hà Nội, ngày 26 tháng 03 năm 2004

Continue reading Nghị quyết 36-NQ/TW công tác người Việt Nam ở nước ngoài

LOGO VIETNAM AIRLINES 

Không có văn bản thay thế tự động nào.

Trần Phan Minh Nghị

Ngày 20 tháng 10 năm 2002, Vietnam Airlines tổ chức lễ giới thiệu biểu tượng mới “Bông Sen Vàng”. Đây là mốc đánh đấu sự thay đổi toàn diện của Vietnam Airlines với chương trình hiện đại hoá đội ngũ máy bay, mở rộng mạng đường bay và hoàn thiện chất lượng dịch vụ để trở thành một hãng hàng không có tầm cỡ trong khu vực và trên thế giới. Continue reading LOGO VIETNAM AIRLINES 

Bất tín nhiệm Ông chủ tịch Cộng đồng người Việt quốc gia Nam Cali Bùi Thế Phát

Thông báo

v/v bất tín nhiệm Ông chủ tịch Cộng đồng người Việt quốc gia Nam Cali Bùi Thế Phát

(hội sử-học Việt Nam đánh máy lại)

http://www.truclamyentu.info/the-environmental-activist/thong-bao-bat-tin-nhiem-bui-the-phat.html

Kính gởi

Quý Tôn Trưởng – Quý Hội Đoàn – Quý Tổ chức đấu tranh
Quý Cơ quan Truyền Thông, Báo chí – Quý Đồng hương Tỵ nạn Cộng sản.

Kính thưa Quý vị,

Trong thời gian giữ chức vụ Chủ tịch Cộng đồng người Việt quốc gia Nam Cali (CĐNVQG/Nam Cali), ông Bùi Thế Phát đã có nhiều hành động đi ngược lại chủ trương và đường lối được quy định trong Nội Qui của Cộng Đồng NVQG/Nam Cali, qua những hành động cụ thể mà Quý vị cũng như Đồng hương đã được biết như sau :

– 1/ Ông Chủ tịch CĐNVQG/Nam Cali Bùi Thế Phát gặp gỡ bắt tay và ngồi chung bàn tiệc với Đại sứ Việt cộng (VC) Phạm Quang Vinh tại khsạn Double Tree (Hilton) ngày 22/10/2015.

– 2/ Khi vào ngồi chung bàn tiệc với tên Đại sứ này, ông Bùi Thế Phát đã tháo bỏ cravate (tie) có hình cờ vàng 3 sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) chúng ta, như vậy với dụng ý gì ?

– 3/ Ngày Cộng đồng Việt Nam (CĐVN) và một số tổ chức, Hội đoàn tiếp đón ông Đại sứ Hoa Kỳ (Osious) tại Việt Nam ở Nhà hàng Sea Food Place góc đường Brookhurst và Chapman. Ông Bùi Thế Phát đã không treo cờ VNCH. Sau đó, khi các Nhân sĩ Cộng đồng toan tính bỏ ra về, ông Phát mới đồng ý mang cờ VNCH ra, nhưng lại để ở phía xa sân khấu.

– 4/ Ông Bùi Thế Phát với tư cách Nghị Viên đã cổ võ để bỏ phiếu thuận cho Hội Đồng TP. Garden Grove bán bất động sản và công thổ cho Công Ty Shanghai Construction Group (SCG) của đảng cộng sản Tàu tại TP. Garden Grove một trong những Thành phố tạo nên Little Sàigòn, Thủ Phủ của người Việt Quốc Gia hải ngoại.

– 5/ Trong khi Cộng Đồng người Việt Quốc Gia Nam Cali chống Tàu cộng xâm lấn VN, Ông Bùi Thế Phát đã bỏ phiếu thuận cho phái đoàn của Thành phố Garden Grove đi sang Thượng Hải (Sanghai) gặp trực tiếp với Ban Tham Mưu của Công ty SCG, trong khi Thị trưởng Nguyễn Bảo bỏ phiếu chống và Nghị viên Chris Phan bỏ phiếu trắng.

Vì trách nhiệm chung trong công cuộc đấu tranh giữ vững lằn ranh Quốc cộng hôm nay, chúng tôi xin được thông báo cùng Quý Đồng hương về những hành động quá sai trái không thể chấp nhận được của ông Chủ tịch Cộng Đồng NVQG/Nam Cali Bùi Thế Phát. Qua thông báo này, chúng tôi ước mong Đồng hương cùng đồng tình với chúng tôi trong việc ký tên bất tín nhiệm Ông Chủ tịch CĐNVQG/Nam Cali Bùi Thế Phát.

Trân trọng kính chào Quý vị trong tinh thần xây dựng và đoàn kết

Đồng ký tên

– Ông Nguyễn Văn Chánh: Cố vấn Hội Người Việt Quốc Gia (cựu Chủ tịch Hội đồng Tỉnh Quảng Ngãi),
– Ông Phan Quang Thuần : Hội trưởng, Hội Người Việt Quốc Gia,
– Ông Nguyễn Bảo : Tổng Thư Ký Phong Trằo Dân Chủ cho Việt Nam – Nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Chấp Hành Cộng Đồng NVQG/Nam Cali,
– Ông Lê Đình Sáu : Hội Đồng Hương Đơn Dương – Kiêm Ủy viên Thường vụ Hội đồng Đại Biểu Cộng Đồng NVQG/Nam Cali,
– Bà Trần Thanh Hiền : Hội Đền Hùng Hải Ngoại – Kiêm Ủy Viên Thường Vụ Hội Đồng biểu Cộng Đồng NVQG/Nam Cali,
– Bà Bùi Kim Anh : Phó CT. Hội đồng Giám Sát Cộng Đồng NVQG/Nam Cali,
– Ông Phạm Ngọc Khôi : Hội Đồng Giám Sát Cộng Đồng NVQG/Nam Cali,

                                                            Ông Bùi Thế Phát làm một sai lầm rất lớn đã ra một thông báo hủy bỏ cuộc bầu cử.
Ông Nguyễn Long là thành viên của tổ chức Việt Tân

 

Dẫn đến thông báo bất tín nhiệm “Ban Điên Dại” Người Việt Quốc Gia

Hồ sơ đính kèm :

Lột trần sự bưng bô Việt cộng, Tàu cộng của Phát Bùi và sự hèn nhát của Phan Kỳ Nhơn 

Ngô Kỷ: “Tôi mà là Việt Gian thì cả thế giới này Việt Gian hết!” 

– Thông báo v/v bất tín nhiệm Ông chủ tịch Cộng đồng người Việt quốc gia Nam Cali Bùi Thế Phát.PDF

– Thông cáo báo chí bất hợp pháp_Bùi Thế Phát_Đình hoãn bầu cử và tự lưu nhiệm.PDF

Các bài viết liên quan: 

1/ Thư gởi Phan Kỳ Nhơn ngày 20-04-2018: Hội sử-học Việt-Nam rút lui khỏi Liên ủy ban chống cộng sản và tay sai

http://www.truclamyentu.info/the-environmental-activist/thu-goi-phan-ky-nhon-20-04-18.html

2/ Phát Bùi, Phan Kỳ Nhơn liên hệ “Thủ Tướng Đào Minh Quân và Chính Phủ QGVNLT từ lâu

http://www.truclamyentu.info/vietnamsea/bui-phat_phan-ky-nhon_dao-minh-quan-cong-tac-voi-nhau-tu-lau.html

Việt gian Phát Bùi, Chủ tịch Cộng đồng người Việt quốc gia (CĐNVQG) Nam Cali “lộ rõ bản mặt” liên hệ Việt cộng

http://www.truclamyentu.info/vietnamsea/bui-phat-lo-ro-ban-mat-lien-lac-voi-viet-cong.html

Việt gian Phát Bùi, Lê Xuân Khoa, Lê Minh Nguyên cấu kết phá nát cộng đồng chống cộng

http://www.truclamyentu.info/vietnamsea/bui-phat-le-xuan-khoa-le-minh-nguyen-cau-ket-pha-nat-cong-dong-chong-cong2017.html

Gởi lại: Ngô Kỷ bị phe đảng Phan Kỳ Nhơn trả thù một cách đốn mạt, đê tiện

http://www.truclamyentu.info/vietnamsea/ngo-ky-bi-phan-ky-nhon-tra-thu.html

Chủ tịch Người Việt Quốc Gia Nam California bị bất tín nhiệm và rút khỏi Liên Ủy Ban Chống Cộng Sản và Tay Sai

FWD: Thư gởi Phan Kỳ Nhơn ngày 20-04-2018: Hội sử-học Việt-Nam rút lui khỏi Liên ủy ban chống cộng sản và tay sai

24 April 2018 07:06 36 KB
From:
hugh ngo

Kính chuyển, đến quý vị để tường và rộng đường dư luận, Continue reading Chủ tịch Người Việt Quốc Gia Nam California bị bất tín nhiệm và rút khỏi Liên Ủy Ban Chống Cộng Sản và Tay Sai

Nguyễn Cao Kỳ – Người muốn hòa giải

30/04/2018 09:00

(KBCHN) – Cách đây gần 7 năm, sau cái chết của ông Nguyễn Cao Kỳ tại Malaysia, báo chí trong nước và nước ngoài, đây đó, đều có đưa tin, với lời giới thiệu vắn tắt về cuộc đời ông. Có một loạt bài với tiêu đề…

Tôi gặp ông Nguyễn Cao Kỳ lần đầu tiên vào cuối năm 2004, ít lâu sau chuyến trở về “ầm ỹ” trên truyền thông ở cả trong và ngoài nước, sau 29 năm, kể từ khi Sài Gòn sụp đổ.

Ông Nguyễn Cao Kỳ (thứ 2 từ trái sang) trong một lần về thăm Việt Nam được nguyên Chủ tịch Ủy ban T.Ư Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Phạm Thế Duyệt đón tiếp – Ảnh tư liệu

Trong chuyến trở về lần thứ hai, ông không chỉ đi cùng với người vợ (thứ ba) là bà Lê Kim. Ông còn dẫn theo ba ông bạn là những doanh nhân Mỹ. Ngoài vai trò làm một nhịp cầu nối giữa “hai miền thiên kiến”, ông còn muốn làm một “nhịp cầu đầu tư”.

Và điểm đến đầu tiên của ông và những người bạn là Tuần Châu, lúc đó cũng đang thu hút sự quan tâm của dư luận qua sự kiện rùm beng “Hoa hậu Việt Nam 2004”, cũng như tiếng tăm, ở nhiều khía cạnh, của “chúa đảo” Đào Hồng Tuyển.

Báo Nikkei (Thời báo Kinh tế Nhật Bản), nơi tôi đang làm lúc đó, vốn không mấy quan tâm đến cuộc đua thông tin nhân chuyến trở về đầu tiên của ông, lại chú ý đặc biệt tới chuyến đi thứ hai. Đó là lý do tôi xuống Tuần Châu để phỏng vấn ông.

Liên lạc trước với cô Võ Hồng Vân, người con riêng của bà Lê Kim, tôi nhanh chóng được gặp ông Nguyễn Cao Kỳ trước buổi chiêu đãi mà ông Đào Hồng Tuyển dành cho đoàn của ông.

Không phải là lần đầu tiên gặp một nhân vật được gọi là “từ phía bên kia”, tôi vẫn thấy hơi lúng túng, trong suốt thời gian ngồi trên xe hơi từ Hà Nội đến Tuần Châu. Bởi dư luận lúc đó có hai chiều trái ngược nhau: hồ hởi, thậm chí đến vồ vập, và dè chừng, nếu không nói là đầy nghi ngại. Tôi lần lượt “nháp” thử trong óc các phương án khác nhau.

Nhưng khi gặp ông, đón cái bắt tay chặt, và ánh mắt nhìn thẳng, bình thản, tôi đã chọn cách tiếp xúc đơn giản nhất. Tôi coi ông như một ông già đáng tuổi cha chú mình (sau này tôi biết ông kém ba tôi hai tuổi), với một quá khứ đại diện phần nào đó cho quá khứ của đất nước này, dân tộc này. Nhưng điều khác biệt ở ông là đã quyết định góp phần xây tương lai ở cái tuổi mà hầu hết những người khác chỉ còn biết hoài niệm về dĩ vãng.

Và trong cuộc phỏng vấn đầu tiên ấy, khoảng chừng một tiếng đồng hồ, tôi đã cố gắng hỏi hết những điều mình thấy quan tâm, chứ không nhất thiết chỉ phục vụ cho bài phỏng vấn, sau đó đăng trên Nikkei. Tôi cũng chọn cách đặt câu hỏi thẳng thắn, không vòng vo, hay tìm cách “gài”.

Và tôi đã được đáp lại tương xứng. Ông không hề né tránh trả lời bất cứ câu hỏi nào.

Duy chỉ khi kết thúc cuộc phỏng vấn, ông mới cười cười bảo tôi: “Lẽ ra, cậu phải trả tiền cho tôi đấy nhé. Truyền hình Mỹ, hay Nhật, khi phỏng vấn đều phải trả tiền cho tôi đấy.”

“Thế cháu phải trả bao nhiêu, hả chú?”, tôi cũng cười cười hỏi lại, và đổi sang cách xưng hô thân mật.

“Một chai XO”, ông nói gọn lỏn, “nhưng là để tôi uống với cậu”.

“Nhưng cháu chỉ khoái whiskey, chứ không thích cognac”, tôi đáp.

“Vậy thì tôi với anh khó ngồi với nhau rồi, anh bạn phóng viên ạ. Coi như thôi nhé”, ông đứng dậy, và chìa tay ra cho tôi.

Tuy nhiên, tối hôm đó, tôi vẫn có vài lần cụng ly với ông, cũng như tiếp tục trao đổi thêm với ông. Có điều, đó là rượu vang do ông “chúa đảo” mời.

Cũng trong buổi tối hôm đó, chúng tôi được thưởng thức tiết mục độc tấu ghi ta cổ điển, kéo dài chừng 30 phút, của nghệ sĩ Phan Quang Minh – người đi cùng tôi tới Tuần Châu. Chủ nhân bữa tiệc là ông Đào Hồng Tuyển cũng “nổi hứng” hát bài “Mười năm tình cũ” với lời “chế” cho phù hợp với nhân vật Nguyễn Cao Kỳ.

Tôi đã ở lại Tuần Châu suốt một tuần liền, thay vì về ngay từ sáng hôm sau. Lý do là vì ông Đào Hồng Tuyển cho biết ông sẽ thương thảo hợp đồng liên doanh xây dựng sân golf 36 lỗ và khu resort đi kèm với hai “đại gia” từ Mỹ, bạn của ông Nguyễn Cao Kỳ, là Andy Dye và Frank Butler.

Cũng chính vì vậy, tôi có dịp nghe câu chuyện của ông nhiều hơn. Nhất là không phải với chiếc máy ghi âm ở giữa hai người.

Ông kể rằng bài diễn văn ông kêu gọi Tổng thống Bill Clinton bỏ cấm vận với Việt Nam được viết khi ông đang ở Hongkong. Rồi sau đó, phía Bộ Ngoại giao Việt Nam đã tiếp xúc với ông như thế nào, liên quan đến khả năng và kế hoạch mời ông trở về thăm lại quê hương. Đầu tiên là Tổng Lãnh sự Nguyễn Bá Hùng, rồi Thứ trưởng Nguyễn Đình Bin, đã cùng ông vừa đi đánh golf vừa trò chuyện ra sao.

(Nguyên Thứ trưởng Ngoại giao kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Nguyễn Đình Bin, trong cuộc điện thoại trước khi đi Trường Sa với đoàn Việt Kiều, đã xác nhận điều đó với người viết. Ông nói: “Tôi đã nói với ông Nguyễn Cao kỳ và đông đảo Việt Kiều tại Cali về lòng yêu nước của người Việt, và Tổ quốc rất mong đón họ trở về thăm quê. Ông Kỳ đã khóc. Sau đó, chúng tôi đi đánh golf và nói rất nhiều về chuyện đất nước.”)

Rồi ông kể về những người bạn mới ở Việt Nam như Tướng Công an Phạm Chuyên ở Hà Nội, Tướng Võ Viết Thanh ở Sài Gòn, hay ông Bí thư Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh. Theo thông tin tôi nghe được lúc đó, dường như những vị này được “phân công” giao du với ông để giúp ông hiểu hơn về một Việt Nam đang thay đổi, và cũng để ông cảm thấy thoải mái hơn tại quê nhà.

Ông kể cả những câu chuyện mà sau này ông viết lại trong cuốn sách viết chung với tác giả Mỹ Marvin Wolf với tựa đề “Buddha’s Child: My Fight to Save Vietnam”. Chẳng hạn, như cha mẹ ông đã phải lên tận Chùa Hương khấn vái để xin sinh được cậu con trai “cầu tự”, như ông, thế nào.

Thú vị nhất là câu chuyện ông đã từng lấy trộm súng lục của người anh rể, lúc đó đi lính cho Nhật, và định trốn lên chiến khu.

“Cơn sốt bất thình lình đã khiến tôi ngất đi, và bị bắt trở lại nhà. Và cuộc đời tôi đã rẽ qua ngã khác”, ông nói, giọng bình thản, nhưng mắt nhướng lên nhìn vào mắt tôi.

Tôi hiểu chứ. Trong nhiều trường hợp, trong cái vòng xoáy của lịch sử, mỗi con người, tùy vào số phận, lại bị văng theo một hướng.

Chẳng hạn, trong khi ông nội tôi và mấy người em như (Chuyên viên cao cấp TTXVN) Hoàng Hỷ, họa sĩ Hoàng Kiệt, (Giáo sư) Hoàng Quý, (Giáo sư) Hoàng Phê, (Giáo sư) Hoàng Tụy, hay (Giáo sư) Hoàng Chúng, tập kết ra Bắc, thì có một người (em kế của Giáo sư Hoàng Tuỵ) do hoàn cảnh riêng, đã ở lại miền Nam, và đeo lon sĩ quan trong quân đội Việt Nam Cộng Hoà.

Tuần lễ đó đã diễn ra tốt đẹp với việc ông Đào Hồng Tuyển và hai ông bạn người Mỹ của ông Nguyễn Cao Kỳ đã ký tắt thành lập liên doanh xây dựng sân golf tại Tuần Châu, và một số sự án khác ở Nha Trang và Sài Gòn. Trong bữa tiệc chiêu đãi ăn mừng lễ ký, ông Nguyễn Cao Kỳ vui lắm, cười nói luôn miệng.

Rất tiếc, dự án sân golf đó, cũng như một số dự án khác, khi được chính thức trình lên Bộ Kế hoạch – Đầu tư, đã không được cấp phép. Có người nói rằng nguyên nhân chính là do ông Nguyễn Cao Kỳ đã giới thiệu “huyếnh” lên rằng mấy ông bạn là “tỷ phú” Mỹ, nhưng thực sự không phải. Điều này khiến ông Nguyễn Cao Kỳ có phần bị mang tiếng.

Tôi xác nhận điều này. Và tôi cũng là “nạn nhân” khi là người đưa tin trên báo.

Nhưng, theo thông tin tôi có được, thực chất, điều đó không phải là nguyên nhân chính. Nếu có, đó chỉ là cái cớ. Bởi, tuy họ không phải là tỷ phú, nhưng là những người làm sân golf, xây dựng resort chuyên nghiệp. Và đằng sau họ luôn có một nhóm đầu tư tài chính đi cùng.

Sự đổ vỡ của dự án là do câu chuyện rắc rối tài chính liên quan tới một cổ đông trước đó của ông Đào Hồng Tuyển. Và cũng không loại trừ một câu chuyện lợi ích khác, liên quan tới sự phát triển của phần đối diện trên bờ.

Nhưng đó chưa phải cái “tai tiếng” lớn nhất mà ông Nguyễn Cao Kỳ gặp phải, sau những ngày đầu tiên được chào đón “hoành tráng” ở Việt Nam. Hay như người ta thường nói là “mặt trái của tấm huân chương”.

Ngay trước Tết Nguyên Đán năm đó, ông trở thành tâm điểm của giới truyền thông trong nước. Bối cảnh lúc đó không chỉ bó gọn trong câu chuyện hoà giải dân tộc, mà xa hơn nữa, là tăng cường quan hệ với Hoa Kỳ, và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới.

Nhiều báo đã có bài phỏng vấn ông, về nhiều chủ đề khác nhau, cho số Xuân của họ. Và nói chung, là một người quen xuất hiện trên truyền thông, không chỉ ở Mỹ, ông đã không làm cho các độc giả của những tờ báo đó thất vọng.

Nhưng có một bài báo đã thực sự gây rắc rối lớn cho ông. Không phải với Việt Nam, mà với cộng đồng người Việt ở hải ngoại, nhất là ở Mỹ, những người mà ông đang cố làm cái cầu nối với quê hương mình.

Bài báo đó đã đăng lời ông nhận xét về các đồng đội cũ trong quân đội Việt Nam Cộng Hoà: “Quân đội miền Nam, không có ai đáng giá cả, kể từ ông Nguyễn Văn Thiệu – Tổng thống kiêm Tổng tư lệnh – trở xuống. Trong số những vị cùng vai với tôi, cứ mười ông thì đến mười một ông tham sống sợ chết! Trong khi đó, miền Bắc có trang bị quân số, vũ khí không kém gì, nhưng các ông chỉ huy lại có rất nhiều kinh nghiệm chiến trường, được cấp dưới tin cậy và kính trọng về nhân cách, đó là sự hơn hẳn.”

Lập tức, sự phản ứng ầm ỹ trên các trang mạng hải ngoại.

Tôi cũng không định nhắc lại sự cố “đáng quên” này. Nhưng việc một tờ báo trích đăng lại những câu nói “gây tranh cãi” này, mà không “chua” thêm một lời giải thích có thể tạo thêm những hiểu lầm, hay thậm chí là chia rẽ, không cần thiết, trong bối cảnh mà sự hòa giải dân tộc đang là mục tiêu ưu tiên cao nhất vào thời điểm đó.

Vả lại, ông đã không còn cơ hội để tự thanh minh cho mình ở Việt Nam, như ông đã từng thành công trong cái gọi là “crisis management” (xử lý khủng hoảng) đó ở hải ngoại. Hôm đó, tôi đã chứng kiến ông Nguyễn Cao Kỳ đã chứng tỏ phẩm chất của một cựu chính khách chuyên nghiệp như thế nào, khi ngay lập tức giải thích trên một số tờ báo điện tử tiếng Việt ở hải ngoại.

Sáng hôm sau, khi gặp tôi ở quán phở 24, tại 24 Bà Triệu, nơi ông vẫn hay tới ăn sáng và tán gẫu với mấy người bạn cả mới lẫn cũ, trong đó có Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Phú Bình, ông đã nói với tôi, giọng vẫn chưa hết căng thẳng:

“Tôi biết dân tộc này, đất nước này và những người lãnh đạo muốn tôi đóng vai trò gì, và tôi sẵn sàng làm chuyện đó, bất chấp đây đó có những ý kiến nghi ngờ, thậm chí chê bai, hay chế giễu. Vì điều đó có lợi cho tương lai dân tộc này, đất nước này.

Nhưng việc họ đưa tôi lên báo chí chính thống, nói tôi mạ lị những tướng lãnh đồng đội cũ của tôi thì tôi còn tư cách nào làm việc đó nữa. Như thế khác nào bắt tôi quì dưới chân các vị lãnh đạo Việt Nam.”

Tôi hiểu ông!

Cũng như Tướng Dương Văn Minh gần 30 năm trước thời điểm đó, khi phải quyết định tuyên bố “đơn phương hạ vũ khí”, ông Nguyễn Cao Kỳ cũng cần “bản lĩnh” và “tinh thần dân tộc” thực sự, khi dám quyết định vượt qua những thiên kiến chính trị, và cả “búa rìu dư luận”, để trở về quê hương.

Tôi không chứng kiến cuộc phỏng vấn đó, nhưng tôi biết người thực hiện bài phỏng vấn đó. Hồi ở Tuần Châu, tôi đã từng nghe đồng nghiệp đó “ông ông, con con” rất thân thiết với ông Nguyễn Cao Kỳ. Tôi hình dung rằng đó thực chất là một cuộc trò chuyện bán chính thức, như giữa những người gần gũi, và, trong lúc vô ý, ông đã buông ra những câu nhận xét thiếu cẩn trọng như vậy.

Riêng đồng nghiệp nói trên, tôi biết là một người dễ thương, tử tế. Có điều anh không ý thức được hậu quả của đoạn phỏng vấn đó.

Sau này, tôi vẫn hay cùng đám bạn bè, đồng nghiệp, tranh luận về ông, về sự trở về của ông, tại quán cà phê 15B Trần Hưng Đạo.

Có người nói ông đã thành công trong cuộc “phục thù” về chính trị, khi những người đã “đuổi” ông chạy khỏi đất nước phải mang hoa đón ông trở lại.

Có người nói ông muốn “kiếm tiền” thông qua việc môi giới đầu tư, khi dẫn ra câu nói của ông rằng ông muốn có 3 trang trại ở Bắc – Trung – Nam, để vui thú điền viên với bạn hữu.

Riêng tôi, kể từ lúc đó, qua cảm nhận của riêng mình, vẫn tin rằng mọi việc ông làm, ngoài cái “vai trò người ta muốn ông đóng, và ông sẵn sàng đóng”, ông chỉ mong kiếm được “hai thước vuông đất” ở quê nhà.

Tôi đã từng nghe bà Lê Kim nói: “Cái ông Kỳ này lạ thiệt. Hoa anh đào của Nhật bông to, đẹp, vừa dày bông, như thế, thì ông không thích. Mà lúc nào cũng nhớ, cũng đắm đuối với cái cành đào Bắc, vừa khẳng khiu gầy guộc, bông thì chút chút à.”

Tôi không biết niềm tin của mình, cho đến lúc đang gõ những dòng này, có đúng hay không. Nhưng tôi thực sự vui khi nghe báo chí đưa tin con gái ông, MC Nguyễn Cao Kỳ Duyên, đã quyết định đưa ông về an táng tại Việt Nam.

Nếu ở Sơn Tây, quê ông, tôi nhất định sẽ đến thắp nhang cho ông. Mộ ba tôi cũng ở Yên Kỳ, gần đó.

Còn nếu ở miền Nam… Chắc phải đợi khi có dịp…

(Rất tiếc là cuối cùng, vì một số lý do, người nhà ông đã không thực hiện được nguyện ước của ông – yên nghỉ trên mảnh đất quê hương.)

“Qui est Ky?”

Những người quan tâm đến ông, dù cho với thái độ nào, cũng sẽ có câu trả lời cho mình, sớm hay muộn mà thôi.

Như Tướng Phạm Chuyên, khi tôi tình cờ hỏi ông qua điện thoại vào đúng ngày 21.6.2011, rằng có phải ông được phân công tiếp ông Nguyễn Cao Kỳ ở ngoài Bắc không, đã nói chắc như đinh đóng cột: “Cậu nhầm rồi. Tôi chơi với anh Kỳ là hoàn toàn tự nguyện. Anh Kỳ là một nhân cách!”

Một Thế Giới