Category Archives: Độc Giả

MẠNG 5G – TRÍ TUỆ NHÂN TẠO – NƯỚC MỸ VĨ ĐẠI VÀ BỨC TƯỜNG MỸ – MỄ

THS – Quan điểm của tác giả không nhất thiết là chủ trương và phản ánh đường lối của tòa báo. Cám ơn.

Tran Hung

image.png

Tại sao tui nói những kẻ chửi Trump là những kẻ “não nhỏ – mắt to – mỏ dài” ? Và dưới đây là một số lý do để những kẻ chửi Trump được vinh danh như vậy. 
Với khẩu hiệu “Make America Great Again – MAGA – Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”, tổng thống Donald Trump sẽ làm cho kinh tế Mỹ tăng trưởng ngoạn mục, nạn thất nghiệp xuống mức kỷ lục, tiền lương lao động Mỹ tăng cao kỷ lục,… Điều này biến nước Mỹ thực sự trở thành “thiên đàng đáng sống” mà công dân các nước luôn khao khát, thèm thuồng để rồi họ sẽ tìm đủ mọi cách đổ bộ vào nước Mỹ bằng hợp pháp lẫn phi pháp. Xâm nhập nước Mỹ bất hợp pháp sẽ được nhiều người chọn lựa vì phù hợp với túi tiền và hồ sơ tư pháp không trong sạch, không đáp ứng tiêu chuẩn của Mỹ. Tình trạng xâm nhập bất hợp pháp vào Mỹ thông qua biên giới Mỹ – Mễ sẽ là thảm họa chi nước Mỹ trong hiện tại và tương lai gần nếu không xây bức tường ngăn biên giới. 
Để nước Mỹ vĩ đại trở lại, chính phủ Mỹ sẽ tập trung vào ưu tiên phát triển “trí tuệ nhân tạo – AI” để đáp ứng tốc độ phát triển của nước Mỹ trong hiện tại và tương lai. Nền tảng của phát triển trí tuệ nhân tạo chính là mạng không dây 5G để phục vụ cho nó và cho việc phát triển công nghệ tiên tiến như xe tự lái, các ứng dụng trong tự động hóa,… Và khi sực lực con người được thay thế bằng trí tuệ nhân tạo, một lượng lớn lao động chân tay của nước Mỹ sẽ được thay thế bằng trí tuệ nhân tạo, hàng triệu công nhân lao động có tay nghề thấp sẽ thiếu việc làm phù hợp. Điều này càng bị dồn ép thêm khi nạn nhập cư bất hợp pháp không được ngăn chặn, kiểm soát, tức chính người lao động có tay nghề thấp của nước Mỹ bị lực lượng lao động bất hợp pháp từ nước ngoài xâm nhập vào nước Mỹ chèn ép, tranh cướp việc làm. Rất bất lợi cho nước Mỹ trong vấn đề an sinh, an ninh vì khả năng xung đột giữa lao động địa phương với người nhập cư bất hợp pháp rất cao. … Với tầm nhìn vượt thời gian của một tỷ phú Mỹ thành danh, ông Donald Trump đã hình dung ra viễn cảnh của nước Mỹ trong tương lai gần nếu không có bức tường biên giới để ngăn chặn nạn nhập cư bất hợp pháp. Tuy nhiên, bản chất của việc xây dựng bức tường biên giới của ông Trump đã bị những kẻ “cơ hội chính trị” thổi phòng bằng những ngôn từ đao to, búa bự, bằng bài bản bóp méo sự thật rập khuông cộng sản. 
Trước những đòn tấn công hạ đẳng nhắm vào ông Trump thông qua việc xây dựng bức tường của đám Dân chủ cực đoan. Ông Trump buộc phải thông não họ khi đến biên giới vài ngày hôm qua với dòng tweet rằng “H1-B holders in the United States can rest assured that changes are soon coming which will bring both simplicity and certainty to your stay, including a potential path to citizenship. We want to encourage talented and highly skilled people to pursue career options in the U.S.”, tạm dịch là “Những người nắm giữ H1-B tại Hoa Kỳ có thể yên tâm rằng những thay đổi sẽ sớm đến, điều này sẽ mang lại cả sự đơn giản và chắc chắn cho kỳ nghỉ của bạn, bao gồm cả con đường tiềm năng để trở thành công dân. Chúng tôi muốn khuyến khích những người tài năng và có kỹ năng cao theo đuổi các lựa chọn nghề nghiệp ở Hoa Kỳ”.
Như vậy đã rõ thiện tâm của tổng thống Trump, ông không phải xây tường để đóng sầm cánh cửa cơ hội trở thành công dân Mỹ với những người muốn đến Mỹ cống hiến tài năng. Bức tường biên giới dựng lên chỉ để ngăn những kẻ xấu, những người nước ngoài muốn tranh giành công việc lao động chân tay với người dân Mỹ,… nhưng với “những người tài năng và có kỹ năng cao theo đuổi các lựa chọn nghề nghiệp ở Hoa Kỳ” thì tổng thống luôn chào đón, khuyến khích bằng việc đơn giản hóa thủ tục nhập cư theo hình thức H1 – B. 
Như vậy sẽ không nhầm lẫn và quá lời khi khẳng định: Những kẻ suốt ngày chửi Trump, nhứt là đám người Việt tỵ nạn cộng sản đích thị là loại “não nhỏ – mắt to – mỏ dài” và đa phần đám hải ngoại chửi Trump đều là cộng sản nằm vùng thực thi nhiệm vụ “đánh chìm phao hy vọng” của dân tộc Việt nam, chúng chửi Trump vì chúng bênh vực cho Trung cộng theo lời kêu gọi của Hán tặc hồ chí minh năm xưa là “cứu Trung cộng là tự cứu mình”./.Tran Hung.

Advertisements

Ngẫm về đoạn phim ngắn của VTV tri ân “trùm ngụy sử” Phan Huy Lê và cú gạch chéo “để đời” của VTV “tặng” cho “thánh ông chống sử” :

HAI THẾ GIỚI…

Trong khi các thánh cô, thánh cậu, thánh ông, thánh bà…gần 2 năm trời cào phím, cào mồm để … “dạy sử” cho Đảng, Nhà nước và nhân dân chân chính bằng cách… “đào mồ, cuốc mã” cả gia phả người khác và được “Hội đồng thẩm phán Facebook” với đủ các thành phần “hội thẩm cho tòa án đấu tố cật lực lật sử” mọc lên như nấm, “mỹ miều” nào là : “ccb yêu sử”, “lão thành CM yêu sử”, “tướng, tá tự xưng, tự nhiên yêu sử”…”đính kèm” thêm đó là ba người chuyên nghề hoạn lợn, đại lý hóc-môn, buôn thuốc lá lậu, nướng gà thiu…nổi lên “yêu sử nồng nàn” chẳng kém các ông tướng tá kiA (kể từ khi nhà nước cho tái bản phát hành Bộ lịch sử VN 15 tập và đưa ra đề án Quốc sử)…

Ảo đến nỗi không hẹn lại lên, chúng “tự kết bè, kéo phái” với nhau, “tự thủ dâm tinh thần cho nhau”… dẫn đến hệ lụy không tránh khỏi sau chuỗi ngày mỏi mòn dài mồm, dài móng cào mạng chờ đợi là kết cục… tự lừa dối nhau bằng đủ các “thông báo, quyết định” mà chúng tự “biên soạn” cho nhau tới tận…n+ xyz lần… đại loại giật gân như : “Hu ra! trung tướng này, đại tá kia…vừa thông báo khẳng định dưới ngọn cờ đấu tranh chống “lật đổ lịch sử” của hội A, nhóm B thì Bộ chính trị, Ban bí thư, Ban tuyên giáo đã ra quyết định thu hội và xử lý đám biên soạn “bộ ngụy sử” cũng như những kẻ ủng hộ “bộ sách lật sử” này”…”!!!?

Mãi đến giờ này khi một vài vị vẫn đang cố đấm ăn xôi, rệu rã với vài mầm móng bất mãn chế độ để hòa chung giọng điệu với bọn chuyên nghề kích động xào xáo, bất ổn xã hội bằng cách cào phím, cào mồm ăn vạ để hi vọng lọt vào “mắt xanh” ai đó… thì ngoài đời thực kia có bao giờ thấy các đại biểu quốc hội, báo chí chính thống, truyền hình quốc gia và đặc biệt là lãnh đạo Đảng, Nhà nước dành thời gian để nghe những “lời vàng ý ngọc đang ngày đêm cào phím, cào mồm cật lực vạch mặt để “hiến kế” nhà nước xử lý bè lũ ngụy sử, lật sử” đâu (!?)…

Mà ngược lại, lấy ví dụ điển hình nhất, đê hiểu nhất để dẫn chứng cho sự khác biệt của “hai thế giới” (giữa thực và ảo” này là câu chuyện một “thánh ông” tự xưng là ccb Trần Ng. gần hai năm trời miệt mài cào mồm “chống sử” bằng đủ ngôn từ chợ búa, dơ dáy nhất của xã hội “bỗng” xuất hiện chớp nhoáng, ở vị trí “đắc địa” bên cạnh là hai nữ “thánh cô” hải ngoại “tam kiếm hợp bích”…”được” gạch chéo trên sóng truyền hình khiến đồng bọn một phen kinh hồn bạt vía. 

Còn chính người mà chúng tố ngày, tố đêm nào là “xét lại lịch sử”, “lật đổ lịch sử” hay “phủ nhận chế độ” thì xuyên suốt cuộc đời và sự nghiệp luôn được tri ân và luôn xuất hiện trên báo chí chính thống cũng như sóng truyền hình quốc gia bằng những thước phim, hình ảnh thanh cao, nhân cách như thế này đây….

ĐOẠN PHIM NGẮN CỦA VTV TRI ÂN “TRÙM NGỤY SỬ” PHAN HUY LÊ

Trước tiên xin trích và thuật lại đôi dòng tâm sự đầy cảm xúc của GS.TS Nguyễn Quang Ngọc (Phó chủ nhiệm Đề án Quốc sử) về người thầy của mình – GS.NGND Phan Huy Lê tại website của trường ĐH KHXH & Nhân Văn để mọi người hiểu và cảm nhận thêm những cống hiến đến tận những giây phút cuối đời dành cho sử học, cho đất nước của cố GS, những tình cảm mà học trò, nhân dân và lãnh đạo Đảng nhà nước dành cho ông…cũng như quan điểm của ông khi bị quy “xét lại lịch sử”, “phủ nhận chế độ”…
(http://khoalichsu.ussh.vnu.edu.vn/gs-phan-huy-le-va-de-an-…/)

– Cảm xúc của lãnh đạo Đảng, Nhà nước dành cho “Người thầy của những thế hệ người thầy sử học” Phan Huy Lê : 

“Trong buổi làm việc của Ban Bí thư với Ban cán sự đảng Bộ Khoa học & Công nghệ và Ban Chủ nhiệm Đề án Nghiên cứu, biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam ngày 15/8/2018, đồng chí Thường trực Ban Bí thư ngậm ngùi, thương tiếc vì sự thiếu vắng GS Phan Huy Lê”

– GS. PHAN HUY LÊ – Kiên quyết đấu tranh đến cùng vì trúng đúng đắn và trong sáng, bản chất khoa học và cách mạng của Hội KHLS và Đề án Quốc sử :

Trước thực tế phũ phàng là có một số người do chưa có điều kiện trang bị kiến thức cơ bản về lịch sử dân tộc, lại không trực tiếp đọc các tác phẩm sử học (chỉ đọc qua báo chí) hay đọc mà không hiểu (hoặc cố tình hiểu sai), đã ngang nhiên kết tội GS Phan Huy Lê và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam là “xét lại lịch sử, “lật đổ lịch sử, “phủ nhận chế độ, “phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng”[1] …, GS Phan Huy Lê đã kiên quyết đấu tranh đến cùng, vì tính đúng đắn và trong sáng, bản chất khoa học và cách mạng của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và của Đề án Quốc sử, mà Thầy là người đứng đầu và chịu trách nhiệm cao nhất[2].

– Dồn trọn hơi thở cuối cùng để hoàn thành Bộ Quốc sử

Từ khi triển khai các đề tài chống ngoại xâm, GS Phan Huy Lê đã đặc biệt quan tâm đến lịch sử chủ quyền quốc gia lãnh thổ Việt Nam. Năm 1993, khi tôi được giao chủ nhiệm đề tài Lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, Giáo sư trực tiếp chỉ dẫn cho tôi khai thác những nguồn tư liệu mà giới nghiên cứu khi đó còn đang loay hoay chưa tìm được cách tiếp cận. Khi triển khai Đề án Quốc sử, Giáo sư chỉ đạo cho các tập, các chương không được bỏ sót dù chỉ là một chi tiết tư liệu về quá trình khai phá và xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa. Giáo sư còn động viên tôi hoàn thành bản thảo và viết lời giới thiệu cho cuốn sách Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa: Tư liệu và sự thật lịch sử của tôi, để bổ sung vào bộ cơ sở dữ liệu của Đề án. Giáo sư tận tay mang sách ra Trường Sa làm quà tặng trong chuyến đi lịch sử của mình. Ngày 25/5/2018, khi mới từ Trường Sa về, chủ trì cuộc họp Ban Chủ nhiệm Đề án, GS Phan Huy Lê vui như chưa bao giờ vui thế. Khát vọng cháy bỏng của Giáo sư là tận mắt chứng kiến mảnh đất thiêng liêng cuối cùng của Tổ quốc đã được toại nguyện. Thầy rưng rưng xúc động giới thiệu cho chúng tôi từng tấm ảnh chụp ở Trường Sa và hết sức tự hào vì đã phá được kỷ lục là người cao tuổi nhất có mặt trên đảo.

Hôm ấy, sau khi nghe Văn phòng Đề án báo cáo cụ thể việc tiếp nhận các bản thảo, GS Phan Huy Lê xác nhận “tất cả các Đề tài đều nộp bản thảo thứ nhất về Văn phòng Đề án và các Đề tài đang triển khai kế hoạch họp toàn thể Ban Biên soạn để góp ý kiến chỉnh sửa, bổ sung cho tác giả từng chương”[3]. Thật ra chỉ còn lại vài ba đề tài chưa tổ chức hội thảo toàn thể Ban Biên soạn, nên GS Phan Huy Lê đã ra thông báo số 28 yêu cầu việc: “họp Ban Biên soạn cần kết thúc trong tháng 5 năm 2018, trừ những đề tài hoàn thành bản thảo thứ nhất chậm, có thể kéo dài nhiều nhất đến ngày 15-6-2018”[4].

Nào ngờ chỉ hơn tuần sau, GS Phan Huy Lê đã phải nhập Viện và những cố gắng cao nhất, với những điều kiện và phương tiện tối ưu, cũng không còn cách nào có thể đưa Thầy trở lại. GS Phan Huy Lê đã yên lòng đi xa vì Thầy thực tin là bản thảo lần thứ nhất của 30 tập bộ Quốc sử đã căn bản hoàn thành và như thế, sở nguyện tận hiến trí tuệ, tài năng, toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp cho bộ Quốc sử của Thầy đã được thực hiện.

Trong buổi làm việc của Ban Bí thư với Ban cán sự đảng Bộ Khoa học & Công nghệ và Ban Chủ nhiệm Đề án Nghiên cứu, biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam ngày 15/8/2018, đồng chí Thường trực Ban Bí thư ngậm ngùi, thương tiếc vì sự thiếu vắng GS Phan Huy Lê. Báo cáo của Bộ trưởng Bộ Khoa học & Công nghệ sau khi đặc biệt đề cao sự chỉ đạo sát sao và hiệu quả của GS Phan Huy Lê, đã xác nhận Đề án do GS Phan Huy Lê làm Chủ nhiệm được triển khai tích cực, khẩn trương, nghiêm túc, khoa học, đảm bảo đúng quy trình, quy định, theo đúng tinh thần Kết luận số 82-KL/TW, ngày 15/01/2014 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI[5]. Phát biểu của các Phó Chủ nhiệm Đề án đều khẳng định vai trò quyết định của GS Phan Huy Lê trong hơn 4 năm thực hiện Đề án và trên thực tế, GS Phan Huy Lê đã hoàn thành trọng trách của Chủ nhiệm Đề án, Tổng Chủ biên, Tác giả lớn nhất bộ sách. Đồng nghiệp và học trò hoàn toàn có đủ năng lực và điều kiện thực hiện đến cùng những chỉ đạo của GS Phan Huy Lê, hoàn thành những phần việc còn lại của Đề án theo đúng cam kết. Đồng chí Thường trực Ban Bí thư biểu dương “tinh thần làm việc nghiêm túc, khoa học, tâm huyết, trách nhiệm của Bộ Khoa học & Công nghệ, các cơ quan, địa phương liên quan, Ban Chủ nhiệm Đề án, đặc biệt là cố Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ nhiệm – Chủ tịch Hội đồng Khoa học Đề án, cùng toàn thể thành viên tham gia Đề án”[6] và chỉ đạo: “Trong thời gian tới, cần tiến hành đánh giá bản thảo các tập; chỉnh lý, bổ sung, xây dựng bản thảo chính thức; tổ chức nghiệm thu cấp quốc gia; tổ chức thẩm định, hoàn chỉnh bản thảo các tập của Đề án trước khi cho phép xuất bản. Đây là giai đoạn có tính chất quyết định chất lượng của từng tập và toàn bộ Bộ sách lịch sử quốc gia quan trọng này”[7].

Chú thích : 

1] Dẫn trong Tuần báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh số 440, ngày 9/3/2017.

[2] Tham khảo bài các bài viết in trong Hội Khoa học lịch sử Việt Nam (2018), Mấy vấn đề sử học Việt Nam cần làm sáng tỏ, Tạp chí Xưa & Nay, Nxb Hồng Đức. 

[3]; [4] Thông báo số 28 (ngày 25/5/2018) về biên tập bản thảo các tập và đánh giá của Ban Chủ nhiệm Đề án.

[5]; [6]; [7] Thông báo ý kiến đồng chí Thường trực Ban Bí thư về việc tổ chức thực hiện Đề án “Nghiên cứu, biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam” số 75-TB/VPTW.

GS.TS Nguyễn Quang Ngọc (Phó chủ nhiệm Đề án Quốc sử)

‘Ai chẳng muốn hoà bình, có ai thích chiến tranh đâu’

Kể cả những người phải cầm súng, họ cũng sợ chiến tranh.

Ở trước cổng chợ Tân Phước, có một người đàn ông chạy xe ôm hay đứng đó vào các buổi chiều hàng ngày. Ông trầm lặng và chủ yếu chạy mối quen: thậm chí những tiểu thương và đồng nghiệp chạy xe quanh khu vực đường Âu Cơ cũng chẳng biết ông.

Nhưng đó là một số phận đặc biệt. Người đàn ông đó, trong đời, đã khoác lên mình hai màu áo lính của hai chế độ. Chàng trai trẻ Nguyễn Trọng Đức đã bị bắt đi quân dịch và trở thành lính Việt Nam Cộng Hoà từ cuối năm 1974 đến khi chiến tranh kết thúc. Đúng bốn năm sau khi cởi áo lính, tới năm 1979, chiến tranh biên giới nổ ra, chàng trai lại lên đường nhập ngũ, lần này để trở thành bộ đội, sang Campuchia chiến đấu.

Lịch sử không chứng kiến nhiều số phận như thế. Bản thân ông Đức cũng chỉ biết có ba người từng là “đồng đội” của mình trong cả hai chế độ, nhưng đều đã qua đời.

Chúng tôi ngồi cà phê trong một hẻm nhỏ ở Bình Thới, tôi hỏi ông vu vơ rằng giữa khẩu M16 và AK47, thì khẩu nào hay hơn. M16 là súng của Mỹ, được trang bị cho lính Việt Nam Cộng Hòa; còn AK47 là súng của bộ đội. Đời ông đã cầm cả hai khẩu. Ông cười cười, nói mỗi khẩu có mặt lợi mặt hại riêng. Nhưng ông không thích cầm khẩu nào cả. “Ai chẳng muốn hoà bình”.

Ông Đức – một thành viên của Biệt động quân – đã từ chối chiến đấu trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Ông chưa đụng trận một lần nào, chưa bắn một viên đạn M16 trên chiến trường. Ông bảo, bộ đội tiến vào Sài Gòn thì cũng hoang mang, nhưng mừng nhiều hơn, dù có phải lên trình diện, thì bây giờ được đi làm nuôi gia đình, không còn chiến tranh nữa. Nhà của chàng trai 18 tuổi ngày ấy có bà mẹ già với 6 đứa em nhỏ. Đi học tập cải tạo về, ông đạp xích lô nuôi các em.

Tôi lại hỏi ông rằng giữa hai lần cầm súng ấy thì điều khác nhau là gì. Ông bảo lần đầu tiên là cầm súng bảo vệ chế độ – một cái chế độ cũng chẳng biết có phải của mình hay không. Lần thứ hai, là bảo vệ lợi ích dân tộc, trước sự hoành hành của Khmer Đỏ và chủ nghĩa bá quyền Bắc Kinh. Hai cái này khác nhau.

Ông cho tôi xem những bức ảnh chụp ở chiến trường Campuchia hồi năm 1979. Những bức ảnh thời chiến quen thuộc, những người lính đứng cạnh nhau trên cánh đồng, bên cạnh là một khẩu cối 84 ly, nụ cười trên môi, tay khoác vai nhau. Không ai có thể biết được rằng một người trong bức ảnh ấy từng ở “bên kia chiến tuyến”. Họ chỉ đơn giản là những người Việt Nam đang cùng bảo vệ lợi ích của người Việt Nam.

Nói thì đơn giản thế, nhưng đồng đội của ông Đức kể rằng sau khi giải ngũ năm 1983, ông Đức cũng chẳng xuất hiện ở những buổi họp mặt. Bản thân tôi, khi nghe có một nhân vật như thế, bay từ Hà Nội vào, rồi nhờ đồng đội cũ kết nối mấy ngày, lùng sục quanh cổng chợ Tân Phước, mà ông vẫn tránh. Cuối cùng, tôi phải đến tận nhà. Vẫn có một sự mặc cảm nào đó từ người lính này.

Nhưng rồi trò chuyện một buổi, ông Đức cũng mở lòng. Tôi gọi đồng nghiệp đem camera đến, ông đồng ý nói chuyện trước máy hình. Ông bắt đầu lục tủ tìm những tấm huân chương, bằng khen được nhận thời chiến đấu ở Campuchia. Vẫn là sự tự hào của người đã chiến đấu vì dân tộc.

Người đàn ông đã bước qua hai cuộc chiến bây giờ chạy xe ôm, nuôi ba đứa con đi học. Thằng lớn đã tốt nghiệp đại học, thằng nhỏ đang học đại học Y, ông Đức giờ là một người bình thường đến mức tàng hình, bạn có thể (như tôi) sẽ không thể hỏi thăm được ông ở cổng chợ Tân Phước.

Bạn sẽ ngẫu nhiên gặp người đàn ông đặc biệt ấy trên đường phố Quận 11, và có thể, bạn sẽ nhìn xuyên qua ông ta. Ở người đàn ông ấy, bạn sẽ thấy một khát khao được sống một cuộc sống bình thường. Không AK47, không M16, vì “ai chẳng muốn hoà bình, có ai thích chiến tranh đâu”.

Theo ĐỨC HOÀNG / VNEXPRESS (2016)

Đế Quốc là gì?

      NHẬN DIỆN ĐẾ QUỐC

ĐẾ QUỐC (viết tắt ĐQ), một ngôn từ thông dụng thường được nói tới trong những vấn đề về lịch sử, chính trị, xã hội. Tuy nhiên, ít người hiểu THỰC CHẤT của ĐQ. Trong cố gắng làm cho rõ hơn về thực chất của ĐQ để từ đó có thể trang bị được tinh thần yêu nước đúng, chúng tôi xin đưa một nhận định.

                                       X   X   X

Đã có nhiều định nghĩa về ĐẾ QUỐC (ĐQ) nhưng đều có một ý nghĩa chung: ĐQ là một quốc gia thống trị nhiều quốc gia khác.

Một cách toán học: ĐQ là một tập hợp nhiều quốc gia trong đó có một quốc gia thống trị và những quốc gia bị trị.

Quốc gia bị trị gọi là thuộc địa. Thuộc địa có thể là toàn thể hoặc một phần lãnh thổ của một quốc gia. Thí dụ: Nam Kỳ của Việt Nam đã từng một thời là thuộc địa bị thống trị bởi ĐQ Pháp.

Mục đích thống trị của ĐQ là khai thác các tài nguyên của thuộc địa. Tài nguyên bị khai thác thường chỉ được hiểu là các loại tài nguyên dễ thấy được như nông sản, khoáng sản; ít người biết đến một loại tài nguyên đặc biệt quan trọng, đó là “dân thuộc địa”. Tài nguyên “dân thuộc địa” bao gồm cả phần hồn lẫn phần xác. Phần xác của dân thuộc địa thì được dùng để lao động trong các đồn điền, hầm mỏ; để phục dịch người của mẫu quốc; để làm lính đánh thuê, v.v…. Phần hồn của một số ít dân thuộc địa thì được huấn luyện để làm tay sai cai quản thuộc địa và tuyên truyền bảo vệ ĐQ. Mọi quyền lợi từ thuộc địa sẽ không thể khai thác được nếu không sử dụng con người bản xứ của thuộc địa, do đó tài nguyên “dân thuộc địa” được coi như là loại tài nguyên đặc biệt quan trọng.

Để có thuộc địa, ĐQ đi xâm chiếm.

Xét cho cùng, dân mẫu quốc chẳng ai muốn chinh chiến vì họ chẳng có được quyền lợi gì trực tiếp trong xâm chiếm,  nhưng là do quyền lợi thiết thực của một nhà lãnh đạo độc tài (như vua chúa) và của một số giới chức có quyền lực trong chính quyền. Như vậy:

Thực chất, ĐQ không phải là một quốc gia nhưng chỉ là một nhóm quyền lực trong chính quyền có lợi ích trực tiếp trong việc xâm chiếm thuộc địa.

Nhưng, khi kinh tế phát triển thì tài phiệt cũng phát triển. Túi khôn loài người đã nói “Có tiền mua tiên cũng được”. Đương nhiên tài phiệt phải tìm cách dùng tiền để gây ảnh hưởng trên các giới chức chính quyền ngõ hầu tạo ra những chính sách có lợi cho doanh nghiệp của họ. Dần dà, tài phiệt hình thành một hệ thống siêu quyền lực điều khiển chính quyền thông qua những giới chức then chốt của chính quyền lệ thuộc vào tiền bạc của tài phiệt trong các cuộc bầu cử. Thí dụ :

Chế độ dân chủ ở Mỹ đã dựa vào bầu cử tự do để chọn ra những người đại diện quản lý đất nước. Thoạt nhìn, thấy có vẻ hợp lý và dân chủ để không cho phép bất cứ ai hoặc tổ chức nào có thể gây ảnh hưởng trên một giới chức được chọn vì luật pháp đã qui định những mức tiền giới hạn trong việc cho và nhận của một quỹ vận động tranh cử. Thí dụ như: đóng góp bằng tiền mặt không được quá $100, đóng góp vô danh không được quá $50, và những giới hạn khác như qui định sau đây vào năm 2017 – 2018 :

https://www.fec.gov/help-candidates-and-committees/candidate-taking-receipts/contribution-limits-candidates/

Contribution limits for 2017–2018 federal elections:

Recipient
Candidate committee PAC† (SSF and nonconnected) Party committee: state/district/local Party committee: national Additional national party committee accounts‡
Donor Individual $2,700* per election $5,000 per year $10,000 per year (combined) $33,900* per year $101,700* per account, per year
Candidate committee $2,000 per election $5,000 per year Unlimited transfers Unlimited transfers
PAC: multicandidate $5,000 per election $5,000 per year $5,000 per year (combined) $15,000 per year $45,000 per account, per year
PAC: nonmulticandidate $2,700* per election $5,000 per year $10,000 per year (combined) $33,900* per year $101,700* per account, per year
Party committee: state/district/local $5,000 per election $5,000 per year Unlimited transfers Unlimited transfers
Party committee: national $5,000 per election** $5,000 per year Unlimited transfers Unlimited transfers

Nhưng, bởi quyền tự do ngôn luận và tự do biểu lộ chính kiến, những Super PAC* đã được thành lập. Theo đó, mặc dù bị cấm quyên tiền trực tiếp cho các ứng cử viên hoặc bị cấm phối hợp chi tiêu với các ứng cử viên mà họ được hưởng lợi; nhưng những Super PAC lại được quyền thu không giới hạn từ các cá nhân, các tập đoàn, các hiệp hội, sau đó có thể chi tiêu không giới hạn để ủng hộ hoặc chống lại bất cứ một ứng cử viên nào đó.

*(Super PAC: Super Politcal Action Committee: Siêu Ủy Ban Hành Động Chính Trị)

Link: https://www.opensecrets.org/pacs/superpacs.php?cycle=2012

Với trò chơi Super PAC, các giới chức chính quyền do đắc cử từ bầu cử sẽ phải lệ thuộc vào những Super PAC. Vì thế, các tài phiệt sẽ sử dụng và khống chế những Super PAC bằng sức mạnh của tiền bạc. Như vậy: Với chế độ dân chủ, tự do bầu cử, tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, những tài phiệt sẽ dễ dàng thâu tóm quyền lực quốc gia thông qua các Super PAC và các giới chức dân cử.

Những hoạt động của những tổ chức dân sự như Super PAC đã chứng tỏ sự tự do không được giới hạn và không được kiểm soát sẽ phá hoại nền dân chủ,  sẽ đưa đến tình trạng quyền lực quốc gia bị tập trung vào một nhóm tài phiệt siêu quyền lực chẳng khác gì chính quyền bị thâu tóm vào một đảng. Đó là biến thể nghịch lý từ một nền dân chủ bầu cử tự do nhưng lại rất hợp lý đối với sự khôn ngoan của giới đại tài phiệt trong vấn đề thâu tóm quyền lực chính trị bằng cách sử dụng sức mạnh của đồng tiền.

Vậy: Khi kinh tế đã phát triển và chế độ bầu cử tự do đã tạo điều kiện cho sự hình thành một tập đoàn tài phiệt siêu quyền lực gây ảnh hưởng trên chính sách xâm chiếm và khai thác thuộc địa thì Đế Quốc chính là tập đoàn tài phiệt siêu quyền lực. Đó là ĐQ mới.

ĐQ mới hay tập đoàn tài phiệt siêu quyền lực sẽ thống trị chính quyền thông qua các giới chức then chốt được chọn ra trong bầu cử tự do.Thí dụ:

Jacob Schiff, một đại tài phiệt, được coi như là người có quyền lực nhất và ảnh hưởng nhất trong lịch sử nước Mỹ:

. Vì Jacb Schiff là người đã dùng sức mạnh tài chánh để tạo nên chiến thắng của hạm đội Nhật đánh tan tác hạm đội Nga Hoàng vào năm 1905 ở eo biển Đối Mã.

. Vì Jacob Schiff là người đã đóng góp phần lớn công sức trong việc lật đổ Nga Hoàng và đưa Chế Độ Cộng Sản lên ngôi ở Nga vào năm 1917.

. Vì Jacob Schiff là người đã đánh cắp chức vụ Tổng Thống Mỹ, từ đương kim Tổng Thống William Howard Taft rất được dân chúng Mỹ trân trọng, để trao cho Woodrow Wilson thông qua một trò phù phép dân chủ trong cuộc bầu cử Tổng Thống vào năm 1912.

(Được biết, sau khi không thành công trong thương lượng với đương kim Tổng Thống William Howard Taft, một người của Đảng Cộng Hòa, về sự thông qua đạo luật về Federal Reserve, Jacob Schiff bèn đưa cựu Tổng Thống Cộng Hòa Theodore Roosevelt ra tranh cử trong tư cách tự do. Thế là số phiếu của Đảng Cộng Hòa bị xé làm hai, và Woodrow Wilson của Jacob Schiff đắc cử Tổng Thống).

. Vì Jacob Schiff là người đã tạo ra FED**, một tổ chức dân sự của một nhóm tài phiệt nhưng lại có quyền kiểm soát tiền tệ của nước Mỹ một cách hiến định. Chú ý rằng, đạo luật về FED chỉ được thông qua và ban hành bởi những trò chơi dân chủ của Jacob Schiff, trong đó có sự tác thành chức vụ Tổng Thống cho Woodrow Wilson; có sự dàn xếp dự luật về FED được thông qua Quốc Hội chỉ vào 2 ngày trước lễ Giáng Sinh, ngày mà quý vị Nghị Sĩ và Dân Biểu đang nôn nóng về với gia đình.

** (FED: Federal Reserve: Quỹ Dự Trữ Liên Bang)

Quyền kiểm soát tiền tệ trên nước Mỹ dành cho tổ chức dân sự FED chính là siêu quyền lực. Bởi vì từ hơn trăm năm trước, Nam Tước Rothschild và cũng là một ông chủ ngân hàng có thế lực đã quả quyết:

“Hãy cho tôi quyền kiểm soát tiền tệ của quốc gia, tôi sẽ không cần quan tâm đến ai là người làm ra luật”.

(Xin xem thêm vê Jacob Schiff ở phụ đính NHẬN DIỆN “SIÊU QUYỀN LỰC” và tham khảo WHO STOLE AMERICA?)

Khác biệt giữa 2 cách khai thác thuộc địa của ĐQ cũ và ĐQ mới:

. Với ĐQ cũ: sản phẩm cuối cùng khai thác được từ thuộc địa thường chỉ là những nông khoáng sản như Trà, cà phê, cao su, quặng mỏ, …. Sự khai thác như vậy sẽ cần sự chiếm đóng lâu dài và sức lao dộng của dân thuộc địa. 

. Với ĐQ mới: Bởi vì ĐQ mới những tài phiệt cho nên họ sẽ khai thác thuộc địa theo quan điểm quản lý doanh nghiệp. Có sinh lợi thì khai thác, không sinh lợi nữa thì thôi. Họ sẽ rất linh động trong việc tạo dựng những cơ hội và lợi dụng cơ hội để khai thác. Họ không cần chiếm đóng hay chiếm đóng thuộc địa lâu dài khi mà sự khai thác không còn sinh lợi (“bỏ rơi” VNCH sau Hiệp Định Paris 1973 là một thí dụ)

Khác với ĐQ cũ thường chỉ khai thác những nông khoáng sản không có giá trị bao nhiêu mà lại tốn phí nhiều thời gian, ĐQ mới khai thác những sản phẩm công nghiệp có giá trị cao như xe cộ, máy móc cơ khí, sản phẩm điện tử, các software, các dịch vụ ngân hàng tài chánh, v.v…. ở những thuộc địa có dân trí cao, hoặc đặc biệt là khai thác xương máu của dân thuộc địa cho sự tiêu thụ vũ khí và dịch vụ quân sự thông qua những cuộc chiến tranh (thí dụ như ở Chiến Tranh VN)

So sánh 2 trường hợp khai thác thuộc địa của ĐQ mới:

1). Trường hợp nước Nhật:

Sau Thế Chiến 2, Nhật đầu hàng Mỹ, Mỹ áp đặt guồng máy hành chính và Hiến Pháp trên nước Nhật, Nhật coi như là thuộc địa của Mỹ.

Nhật sẵn có dân trí cao. Đầu tư khai thác sức lao động dân Nhật chắc chắn sẽ sinh lợi cao vì dân trí cao sẽ sản sinh ra những giá trị cao trong các ngành công nghiệp và ngân hàng tài chánh. Thế là chương trình McAthur đã điều kiện cho ĐQ tài phiệt đầu tư vào Nhật và đã giúp khôi phục nước Nhật. Một sự đầu tư khai thác thuộc địa của ĐQ mà 2 bên đều hưởng lợi.

2). Trường hợp Việt Nam:

Cũng cùng vào thời điểm sau Thế Chiến 2 như ở nước Nhật, nhưng dân trí Việt thấp. Quá thấp! Do đó, nếu đầu tư thì không hi vọng gì sinh lợi vì dân trí quá thấp của Việt Nam sẽ không thể sản sinh ra được những giá trị cao.

Nhưng, tài nguyên “con người dân thuộc địa” ở Việt Nam thì có thể khai thác để tiêu thụ bom đạn còn tồn đọng quá nhiều từ thế chiến 2. Thế là: trên cơ sở nắm bắt được khao khát và quyết tâm giành độc lập của dân Việt, người Pháp đã bị sử dụng như quân đánh thuê trong Chiến Tranh Đông Dương giai đoạn 1, người dân Mỹ bị đưa vào thế đi xâm chiếm nhưng được tuyên truyền che lấp dưới chiêu bài chống cộng và bảo vệ tự do trong Chiến Tranh Đông Dương giai đoạn 2. Nhưng, thực chất, trong cả 2 giai đoạn của Chiến Tranh Đông Dương; ĐQ tài phiệt đã khai thác xương máu dân thuộc địa Việt, Miên, Lào để tiêu thụ vũ khí; chiêu bài chống cộng và bảo vệ tự do chỉ là lấy cớ để buộc dân Mỹ ra trận và đặc biệt là đóng thuế để trả tiền chiến phí.

Như vậy, thuộc địa có dân trí cao sẽ được coi trọng và đối xử tử tế; thuộc địa có dân trí thấp sẽ không được coi trọng, thậm chí còn bị giết bỏ bừa bãi bằng cách gây ra chiến tranh (như ở VN sau thế chiến 2). ĐQ mới đối xử với thuộc địa cũng giống như trong một công ty: nhân viên giỏi sẽ được coi trọng; nhân viên kém sẽ không được coi trọng, thậm chí còn bị điều động vào những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.

Do đó, dân trí cao phải là mục đích hướng tới để tránh hiểm họa và để có thể tiếp nhận được nhiều đầu tư có giá trị cao giúp mau chóng phát triển đất nước. Muốn vậy, điều kiện tiên quyết của đất nước phải là an ninh, ổn định và nhiều công ăn việc làm trong môi trường tự do kinh doanh. Kẻ nào nhân danh yêu nước, tự do, dân chủ, nhân quyền, hòa bình, công lý, v.v… nhưng lại phá hoại những điều kiện tiên quyết cho mục đích phát triển dân trí thì đều phải xét lại, nếu không thì chì là những kẻ lừa bịp hoặc ngu dốt.

Khách Quan.

Phụ đính:   

NHẬN DIỆN “SIÊU QUYỀN LỰC”.

Nhiều người nói về “Siêu Quyền Lực” ở Mỹ nhưng hầu như chỉ đưa ra những thông tin mơ hồ. Nay, xin nêu ra một nhận diện cụ thể về một thực tế “Siêu Quyền Lực”.

“Hãy cho tôi quyền kiểm soát tiền tệ của quốc gia, tôi sẽ không cần quan tâm đến ai làm ra luật”.

(Xem tham khảo: WHO STOLE AMERICA?)

http://www.takebackourrights.org/docs/StoleAmerica.html

Đó là phát biểu vào thế kỷ 19 của Baron (Nam Tước) MA Rothschild, một khám phá có từ hơn 100 năm trước của một doanh nhân và cũng là một nhà chính trị. Cho dù phát biểu đó là một sự thật hiển nhiên nhưng hiếm có người thường dân hiểu được và biết đến, nhất là đối với dân Việt Nam dẫu rằng đã được thừa kế túi khôn của tiền nhân “có tiền mua tiên cũng được”.

Baron MA Rothschild là tộc trưởng của họ Rothschild. Rothschild lại được biết là một Đế Chế Ngân Hàng hùng mạnh ở Âu Châu.

Không cần quan tâm đến ai làm ra luật cũng có nghĩa là có quyền đứng trên luật pháp ! Bởi vì, người làm ra luật của quốc gia là ai ?

 – Là người đứng đầu Hành Pháp: là Quốc Trưởng, Nhà Vua, Tổng Thống, những người có thể tự ban hành những sắc luật không cần thông qua Quốc Hội.

– Là Quốc Hội hay Cơ Quan Lập Pháp gồm các Dân Biểu và Nghị Sĩ, là cơ quan có thể làm ra các đạo luật.

– Là Cơ Quan Tư Pháp gồm những Thẩm Phán có quyền giải thích luật.

Như vậy, khi không cần quan tâm đến ai làm ra luật cũng có nghĩa là có quyền lực đứng trên cả Chính Quyền Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp. Có quyền lực đứng trên Chính Quyền nhưng thường dân thì không thấy, không biết, chẳng phải đó chính là Siêu Quyền Lực sao!

Như vậy :

. Siêu Quyền Lực trong một quốc gia là “Người” (hay một tổ chức) có thể kiểm soát được tiền tệ của một quốc gia.

. Suy rộng ra, Siêu Quyền Lực trong thế giới là “Người” (hay một tổ chức) có thể kiểm soát được tiền tệ của thế giới

Nhưng, ai là “Người” tài giỏi đã có khả năng kiểm soát được tiền tệ của nước Mỹ ?

Để thực hiện khám phá siêu quyền lực “kiểm soát tiền tệ” đó, Rothschild đã phái Jacob Shiff làm đại lý thực hiện mưu đồ thành lập Quỹ Dự Trữ Liên Bang (Federal Reserve), một tổ chức dân sự của một nhóm tài phiệt quốc tế nhưng lại có quyền kiểm soát tiền tệ nước Mỹ, một mưu đồ đứng trên chính quyền. Mưu đồ đã được thực hiện hoàn hảo bằng “Đạo Luật Quỹ Dự Trữ Liên Bang” (The Federal Reserve Act) vào năm 1913 trong một bối cảnh đầy những mưu mô toan tính của nhóm tài phiệt Jacob Shiff. Thứ nhất : Việc thông qua Đạo Luật ở Quốc Hội đã được tính toán tinh vi sao cho việc thảo luận và biểu quyết được sắp xếp vào 2 ngày trước Lễ Giáng Sinh, một thời điểm mà các thành viên Quốc Hội đều mong trở về với gia đình và không kịp tìm hiểu ! Đảm nhiệm việc sắp xếp thảo luận và biểu quyết này ắt phải do một thành viên rất có thế lực ở Quốc Hội. Thứ hai : Jacob Shiff và nhóm cộng sự đã “lấy cắp chức vụ Tổng Thống” trong năm bầu cử 1912 của đương kim Tổng Thống Cộng Hòa rất được trân trọng William Howard Taft bằng cách đưa cựu Tổng Thống Cộng Hòa Theodore Roosevelt ra tranh cử trong tư cách một đảng thứ ba. Thế là phiếu của Đảng Cộng Hòa bị xé ra làm hai và Tổng Thống Woodrow Wilson “được chế tạo” ! Thế là Tổng Thống Wilson phải “lại quả” bằng cách ký ban hành đạo luật về Quỹ Dự Trữ Liên Bang thay vì sẽ bị phủ quyết nếu Tổng Thống là William H. Taft, người đã nói sẽ phủ quyết bất kỳ đạo luật nào cho phép tư nhân sở hữu Quỹ Dự Trữ Liên Bang ! (Xem thêm “Who stole America?” ở bên dưới)

“Giờ đây, nắm được quyền kiểm soát tiền tệ của quốc gia, tất nhiên nhóm tài phiệt của Quỹ Dự Trữ Liên Bang sẽ không cần quan tâm đến người làm luật” và là Siêu Quyền Lực hợp pháp ở Mỹ.

Như vậy, kể từ năm 1913, với Quỹ Dự Trữ Liên Bang, thực chất chỉ là tập hợp một nhóm tài phiệt quốc tế* chẳng có liên quan gì đến Liên Bang và dự trữ, Jacob Shiff và nhóm tài phiệt cộng sự đã có quyền kiểm soát tiền tệ nước Mỹ một cách hợp pháp, vĩnh viễn và là Siêu Quyền Lực đứng trên Chính Quyền. Đặc biệt, tập đoàn Siêu Quyền Lực “Quỹ Dự Trữ Liên Bang” có thể được thừa kế cha truyền con nối một cách vĩnh viễn như một Đế Chế đứng trên chính quyền của nước Mỹ. (Tự do dân chủ của Mỹ lâu nay bị thống trị bởi đế chế siêu quyền lực FED là như vậy !)

*Gồm một số trong đó là: Rothchilds of London and Berlin; Lazard Brothers of Paris; Israel Moses Seif of Italy; Kuhn, Loeb and Warburg of Germany; and the Lehman Brothers, Goldman, Sachs and the Rockefeller families of New York.

Do đó, người được coi là có quyền lực nhất và có ảnh hưởng nhất trong lịch sử nước Mỹ phải là nhà tài phiệt Do Thái Jacob Shiff.

Ngoài ra, còn được biết thêm về Jacob Shiff: Hạm đội Nhật tiêu diệt hạm đội Nga năm 1905 là do Jacob Shiff tài trợ chiến phí. Làm suy yếu Nga Hoàng là do Jacob Shiff. Tài trợ cho Trosky và Lenin lật đổ Nga Hoàng và thành lập nhà nước Cộng Sản đầu tiên năm 1917 là do Jacob Shiff. Cộng Sản Nga rồi sau đó là Liên Sô lại tác động mạnh mẽ đến lịch sử và chính trị nước Mỹ là do Jacob Shiff. Như thế, chẳng phải là nhà tài phiệt Do Thái Jacob Shiff là người có quyền lực nhất và có ảnh hưởng nhất đến lịch sử nước Mỹ sao ?

Người Việt liệu có tỉnh ra để hiểu và ứng dụng được gì không về Siêu Quyền Lực, về con người Jacob Shiff có quyền lực nhất và ảnh hưởng nhất trong lịch sử nước Mỹ và trong những vấn đề Cộng Sản, dân chủ, nhân quyền? Có thấy được không: Cộng Sản, nhân quyền, dân chủ bị khuấy động lên là trò kinh doanh của Siêu Quyền Lực ?

Tác giả: Khách Quan.

Tham khảo:

WHO STOLE AMERICA?

William E. Dannemeyer

U.S. Congressman, 1979-1992

http://www.takebackourrights.org/docs/StoleAmerica.html

        If you want to take over a country, one of the first things you do is to seize control of the money supply.  Jacob Schiff was the son of a Jewish rabbi, born in Frankfurt, Germany.  He was sent to America in the late nineteenth century by the European Rothschild financial dynasty.  One of his assigned tasks was to seize control of the money supply of the U.S. Government.  At that time it was under the control of the U.S. Congress pursuant to Article 1, Section 8 of the U.S. Constitution which states:

“The Congress shall have Power to coin Money, regulate the Value thereof.”

Baron MA Rothschild had stated this truism in the nineteenth century:

“Give me control over a nation’s currency and I care not who makes the laws.”

Sự đời ông bác sĩ và ông dược sĩ chửi nhau bằng “khám bệnh” và “bán thuốc” trong bệnh viện TQTH.

Trương Phượng cùng với Y Hùng Hra và 92 người khác.

31 phút · 

ÔI CÁI SỰ ĐỜI ! ÔNG BÁC XỈ THÌ DẠY ÔNG TỆ KHÔNG ĐƯỢC HỘI NHÓM ,KHÔNG ĐƯỢC MÈO MÃ GÀ ĐỒNG ! ÔNG DỰC XỈ THẤY VẬY BỨC XÚC LÚC ĐẦU THÌ KHUYÊN SAU DẠY ÔNG BÁC XỈ CÁCH THIẾN HEO LUÔN ! ĐÚNG LÀ KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ CÁI LỔ NÓ HÚT HẾT MỌI VẬT !!!
QUẠ ! QUẠ ! QUẠ !!!
Nguyễn Q..ốc Nam
7 phút · 


Bác xỉ đâu roài !!! Em là Dược Sĩ Nam đây, nay mình có chút vấn đề trao đổi nha, em hỏng có chọc ghẹo gì á nha bác xỉ .
Chúng ta cùng mặc chung màu áo blue đúng hăm ? Chỉ khác là bác xỉ chăm sóc điều trị cho thú cưng, còn em là bán thuốc tây cho người bệnh. Thôi vấn đề chuyên môn ….ta bỏ qua😹
Một lần nọ, trời xám xịt, em nhớ là hình như ngày bão tố, giông tố kéo về . Bổng dưng em nhận được một cú điện thoại sét đánh từ bác xỉ, hỏi em thẳng thừng một câu xanh rờn rằng ” ủa bộ con candy nó tạo phản hả ” . Trời đất ơi, em xanh mặt, em không biết chuyện gì.
Em chấn an em bằng một ngụm nước , xong em hỏi ” candy là bà chị em đó ?,có gì không anh ” Thì lập tức bác xỉ xuống giọng điệu ngọt ngào, chứ ko còn hầm hố nữa. 

Trong hình ảnh có thể có: văn bản


Nhiều lần bác xỉ muốn quan hệ với em, quan hệ đây là làm quen kết bạn nha mấy má 😹
Ờh rủ em đi củ chi , ờh em ậm ực oh..oh.
Và nhiều cục thính chà bá luôn á nha, tin nhắn em còn nha 🥴🥴
Hổm bác xỉ lên live em ở dưới comment em chọc ghẹo chút, bác xỉ liền nổi điên lên, đòi trả thù em 😞😞. Nhưng cóc cóc sợ đâu, bác xỉ có kiêm tiêm, em có thuốc độc, chả ai sợ ai. 

Trong hình ảnh có thể có: văn bản


Nay thấy bác xỉ lên stt thuyết giảng về ” đấu tranh, về cách sống, về mối quan hệ, về trong sạch, về tiền bạc phân minh, về ái tình lục dục” pla pla và mây mây 😷v..v
Đó là lý thuyết của bác xỉ, tốt nhất bác xỉ nên khuyên 1 cặp cổ thụ, bạn bè chí cốt của bác xỉ đi nhé . Đôi khi thúi quắc từ trong nhà thúi ra đó, đôi khi trước mắt mà bác nhìn ko thấy đó, nhào vào mà ngăn cảng ” cái đôi uyên ương quyền lực đấy đi ” 😂😂
Bác xỉ chân chính, nhân văn quá ! Thì bác xỉ nên coi lại mình coi có vướng phải cái trên không nha .

Không có mô tả ảnh.


Thôi không nói nữa, nói mắc công mích lòng, nhưng mà qua câu chuyện này, đủ biết bác ở cái ranh giới nào, và cái ” giới” nào rồi ☺️z
P/s ! Nè chuỵ nói cái lũ quạ tụi bây ! dám đăng thì đừng gỡ xuống .Học cách con quạ chúa lúc đăng,lúc gỡ ! Chị mầy đăng lại thằng nào con nào sợ sao báo cáo hoài vậy !!! HÈN !!!!!!

Hóa ra anh Trịnh Hoài Nam bị báo cáo Facebook vì “mất dậy”

Trương Phượng cùng với Y Hùng Hra và 62 người khác.

4 tháng 1 lúc 19:53 · 

TIN NÓNG ! TIN NÓNG ĐÊ !!!
Tưởng chú Trịnh Hoài Nam giận anh em cộng đồng mạng hay đem chú đăng làm status chính hay chú giận mấy con quạ trong tổ cắn xé lẫn nhau ! Bất tuân thượng lệnh ! nên chú hỏng thèm xuất hiện nick nào trên fây hết. Ai dè chú bị báo cáo vì hành vi gây rối nên bị xóa nick.Phần còn lại cô bác, anh chị em đọc tiếp! 
P/s : Cái bác đăng cái tút này cũng biến đâu mất tiêu??? Em kịp chụp lại. Hồi hộp quá có phải bã không ???

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, văn bản


Trong hình ảnh có thể có: văn bản


Trong hình ảnh có thể có: văn bản


Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đại dương, văn bản, nước và ngoài trời
Trong hình ảnh có thể có: văn bản
Trong hình ảnh có thể có: văn bản

Quyền lợi nhóm hay lợi ích cá nhân rất dễ phản bội tổ quốc và nhân dân

Facebooker: Trần Nhật Quang

Trong hình ảnh có thể có: 5 người, bao gồm Hung Hra


Chỉ vì không cùng cách nghĩ, mà lũ Tổ Quạ Trên Hết có cái tên rất kêu là “Tổ Quốc Trên Hết” và bè lũ của chúng, sẵn sàng bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo những nạn nhân của chúng, một cách rất trắng trợn, dối trá vô liêm sỉ và dã man tàn bạo, xúc phạm nhân phẩm, dánh dự, sinh mệnh chính trị các nạn nhân.
Bản chất 3 que xỏ lá có gen trong máu của chúng, hệt lũ 3 que cờ vàng CCCĐ hải ngoại.
Với bản chất 3 que xỏ lá hệt 3 que cờ vàng CCCĐ và phản động, cho nên, vì 
1. Có gốc gác Cách mạng (Cha ông chiến đấu, hy sinh vì đất nước trước đây),
2. Còn sống trong chế độ ta,
Với 2 lý do trên, nên chúng còn ủng hộ chế độ và chống phá Đảng, Nhà nước từng phần, dù vô tình hay hữu ý.
Nhưng nếu đặt chúng vào chế độ khác, hay nếu đất nước lại có chiến tranh, thì với bản chất dối trá 3 que xỏ lá trong máu, thì chúng rất dễ đầu hàng địch và theo địch.
Nếu đất nước lại có chiến tranh, hoặc chế độ có nguy cơ biến động (Chỉ nếu thôi nhé), thì tôi sẽ:
1. Không sử dụng chúng hoặc như điểm 2 dưới đây:
2. Bắt giữ, nhốt chúng vào rừng sâu, để chúng không có cơ hội đầu hàng địch, theo địch.
Tôi đặc biệt nhấn mạnh chúng là những tên dối trá xuyên tạc, vu cáo hung hăng nhất hiện nay như @Trịnh Lê Hoài Nam (Trần Hải Yến), Phùng Út Hà, Nguyễn Minh Tuệ, Xường Phi Trần, @Gia Việt Bùi, Trọng Nghĩa Nguyễn, Doãn Như Lân…và những kẻ nấp trong bóng tối, dấu mặt giật dây, hướng dẫn chúng.
Một số tên không tag được, Xường Phi Trần báo cho đồng bọn nhé.
.
Ảnh: Những tên rất dễ phản bội khi có cơ hội và Bùi Tín, Cù Huy Hà Vũ có cha chúng là những Nhà Cách mạng.

Âm Mưu Chống Việt Nam Của Bè Lũ Phản Động Trung Quốc

HOÀNG-NAM TRAN·

THỨ NĂM, 20 THÁNG 12, 2018

“Đồng Chí B” Nói Về Âm Mưu Chống Việt Nam Của Bè Lũ Phản Động Trung Quốc. Nói chung, sau khi ta đã thắng Mỹ thì không còn tên Đế quốc nào dám đánh ta nữa.

Chỉ có những kẻ nghĩ rằng, họ có thể đánh và dám đánh chúng ta, là bọn Phản động Trung quốc. Nhưng nhân dân Trung quốc hoàn toàn không muốn như vậy. Tôi không rõ bọn Phản động Trung quốc này còn tồn tại bao lâu nữa. Dẫu sao, chừng nào bọn chúng còn đó thì chúng sẽ tấn công ta như chúng vừa làm gần đây [vào đầu năm 1979].

Nếu chiến tranh đến từ phương Bắc thì các tỉnh [Bắc Trung bộ] Nghệ An, Hà Tĩnh và Thanh Hóa sẽ trở thành căn cứ cho cả nước. Đó là những căn cứ vững chắc nhất, tốt nhất và mạnh nhất không gì so sánh được. Vì nếu như vùng đồng bằng [Bắc bộ] vẫn liên tục căng thẳng như vậy thì tình hình sẽ hết sức phức tạp. Hoàn toàn không phải là chuyện đơn giản.

Nếu không có nhân dân Việt nam thì sẽ chẳng có ai dám đánh Mỹ, bởi vì lúc Việt nam đang đánh Mỹ thì cả thế giới còn lại sợ Mỹ…(25) Mặc dầu Trung quốc đã giúp [Bắc] Triều tiên, nhưng đó chỉ vì mục đích bảo vệ sườn phía Bắc của họ mà thôi. Sau khi chiến tranh chấm dứt [ở Triều tiên] và áp lực chuyển sang Việt nam, ông ta [có lẽ ám chỉ Chu Ân Lai như những đoạn tiếp theo sẽ gợi ý] nói rằng, nếu như Việt nam tiếp tục chiến đấu thì họ sẽ phải tự lo liệu lấy. Ông ta sẽ không giúp nữa và đã gây sức ép buộc chúng ta phải ngừng đấu tranh.

Khi ta ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chính Chu Ân Lai là người đã chia cắt nước ta ra làm hai [phần]. Sau khi nước ta bị chia thành hai miền Bắc và Nam như vậy, cũng chính ông ấy lại ép chúng ta không được đụng chạm gì đến Miền Nam. Họ cấm ta vùng lên [chống lại Việt nam Cộng hòa được Mỹ ủng hộ]. [Nhưng] họ đã không làm chúng ta sờn lòng. Khi tôi vẫn còn đang ở trong Nam và đã chuẩn bị phát động chiến tranh du kích ngay sau khi ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, Mao Trạch Đông đã nói với Đảng ta rằng, chúng ta cần ép các đồng chí Lào chuyển giao ngay hai tỉnh đã giải phóng cho Chính phủ Viên Chăn(26).

Nếu không Mỹ sẽ tiêu diệt họ, một tình huống hết sức nguy hiểm [theo quan điểm Trung quốc]. Việt nam lại phải làm việc ngay lập tức với phía Mỹ [về vấn đề này]. Mao đã bắt ta phải làm như vậy và chúng ta cũng đành phải làm như vậy(27). Rồi sau khi hai tỉnh giải phóng của Lào đã được bàn giao cho Viên Chăn, bọn Phản động Lào ngay lập tức bắt Hoàng thân Su-pha-nu-vông.

Phía các đồng chí Lào có hai tiểu đoàn lúc ấy đang bị bao vây. Hơn nữa họ chưa sẵn sàng chiến đấu. Sau đó một tiểu đoàn đã vượt thoát [khỏi vòng vây]. Khi đó tôi đưa ra ý kiến là phải chấp nhận cho các bạn Lào phát động chiến tranh du kích. Tôi mời phía Trung quốc đến để thảo luận việc này với ta.

Tôi nói: “Các đồng chí, nếu các anh tiếp tục gây sức ép với Lào như thế thì Lực lượng của họ sẽ tan rã hoàn toàn. Bây giờ họ phải được phép tiến hành đánh du kích”.

Trương Văn Thiên(28), người trước kia đã từng là Tổng Bí thư [Đảng Cộng sản Trung quốc] và có Bí danh là Lạc Phủ, đã trả lời: “Vâng, thưa các đồng chí, điều các đồng chí nói là đúng. Chúng ta hãy cho phép Tiểu đoàn Lào ấy được đánh du kích”. Tôi hỏi Trương Văn Thiên ngay lập tức: “Các đồng chí, nếu các đồng chí đã cho phép Lào tiến hành chiến tranh du kích, thì đâu có gì đáng sợ nếu phát động chiến tranh du kích ở Miền Nam Việt nam. Điều gì đã làm cho các đồng chí phải sợ hãi đến nỗi các đồng chí lại ngăn cản chúng tôi ?” Ông ấy [Trương Văn Thiên] trả lời: “Không có gì phải sợ cả !

Đó là điều Trương Văn Thiên đã nói. Tuy nhiên Hà Vĩ, Đại sứ Trung quốc tại Việt nam khi ấy, [và] có mặt lúc đó cũng nghe thấy những điều vừa nói. Ông ta đã đánh điện về Trung quốc [báo cáo những gì đã trao đổi giữa Lê Duẩn và Trương Văn Thiên].

Mao trả lời ngay lập tức: “Việt nam không thể làm như vậy được [phát động chiến tranh du kích ở Miền Nam]. Việt nam nhất định phải trường kỳ mai phục !” Chúng ta quá nghèo. Làm sao ta có thể đánh Mỹ nếu như chúng ta không có Trung quốc là hậu phương vững chắc ? [Do đó], chúng ta đành nghe theo họ, có phải không ?(29) Dẫu sao thì chúng ta vẫn không nhất trí. Ta bí mật tiến hành phát triển Lực lượng của ta. Khi [Ngô Đình] Diệm kéo lê máy chém đi khắp các tỉnh Miền Nam, ta đã ra lệnh tổ chức Lực lượng quần chúng để chống chế độ này và giành lại chính quyền [từ tay Chính phủ Diệm]. Chúng ta không cần để ý đến họ [Trung quốc]. Khi cuộc đồng khởi giành chính quyền đã bắt đầu, chúng tôi sang Trung quốc gặp Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình.

Đặng Tiểu Bình nói với tôi: “Các đồng chí, bây giờ sai lầm của các anh thành việc đã rồi, các anh chỉ nên đánh ở mức độ trung đội trở xuống.” Đấy là một kiểu ràng buộc mà họ muốn áp đặt lên ta. Tôi nói [với Trung quốc]: “Vâng, vâng ! Tôi sẽ thực hiện như vậy. Tôi sẽ chỉ đánh ở mức trung đội trở xuống”. Sau khi chúng ta đánh và Trung quốc nhận ra rằng chúng ta đã chiến đấu có hiệu quả, Mao đột ngột có đường lối mới. Ông ta nói rằng trong khi Mỹ đánh nhau với ta, ông ấy sẽ mang Quân đội [Trung quốc] vào giúp ta làm đường.

Mục đích chính của ông ấy là tìm hiểu tình hình Việt nam để sau này có thể đánh ta và từ đó bành trướng xuống Đông Nam Á. Không còn lý do nào khác. Chúng ta biết vậy nhưng phải chấp nhận [việc đưa quân Trung quốc vào miền Bắc Việt nam]. Chuyện này thì cũng được. Họ quyết định đưa quân vào.

Tôi chỉ yêu cầu là họ đưa người không thôi, nhưng Quân đội họ vào mang cả súng ống, đạn dược. Tôi lại đành phải đồng ý. Sau đó ông ấy [Mao Trạch Đông] bắt ta tiếp nhận hai vạn quân, đến để làm đường từ Nghệ Tĩnh vào Nam. Tôi từ chối. Họ vẫn liên tục yêu cầu nhưng tôi không thay đổi ý kiến. Họ bắt tôi phải cho họ vào nhưng tôi không chấp nhận. Họ tiếp tục gây áp lực nhưng tôi vẫn không đồng ý. Các đồng chí, tôi đưa ra những ví dụ này để các đồng chí thấy được âm mưu lâu dài của họ là muốn cướp nước ta, và âm mưu của họ xấu xa tới chừng nào.

Sau khi Mỹ đưa vài trăm ngàn quân vào Miền Nam, chúng ta đã tiến hành Tổng tiến công Mậu Thân 1968, buộc chúng phải xuống thang. Để đánh bại Đế quốc Mỹ ta phải biết cách kéo địch xuống thang dần dần. Đó là chiến lược của ta. Chúng ta chiến đấu chống lại một kẻ địch lớn, có dân số hơn hai trăm triệu người và họ từng thống trị thế giới. Nếu ta không thể bắt họ xuống thang dần từng bước, thì ta sẽ lúng túng và không thể tiêu diệt kẻ thù được.

Ta phải đánh cho chúng tê liệt ý chí để buộc chúng đến bàn đàm phán và không cho phép chúng đưa thêm quân vào. Khi đã đến lúc họ muốn đàm phán với chúng ta, Hà Vĩ viết thư cho ta nói: “Các anh không thể ngồi xuống đàm phán với Mỹ được. Các anh phải kéo quân Mỹ vào miền Bắc mà đánh chúng.” Ông ta đã gây sức ép bằng cách đó, khiến chúng ta hết sức bối rối.

Đó hoàn toàn không phải là chuyện đơn giản. Thật là mệt mỏi mỗi khi những tình huống tương tự [với Trung quốc] lại xảy ra. Chúng ta đã quyết định rằng không thể làm theo cách đó được [về ý kiến của Hà Vĩ không nên đàm phán với Mỹ]. Ta đã ngồi xuống ở Paris. Ta đã kéo Mỹ xuống thang để đánh bại chúng. Trong khi đó Trung quốc lại tuyên bố [với Mỹ]: “Nếu người không đụng đến ta thì ta cũng không đụng đến người. Muốn mang bao nhiêu quân vào Việt nam, điều đó tùy theo các anh.” Trung quốc, theo ý của họ, đã làm như vậy và ép ta làm theo. Họ đã tích cực đổi chác với Mỹ và dùng ta làm con bài để mặc cả như thế đấy. Khi người Mỹ nhận ra rằng họ đã thua, ngay lập tức họ sử dụng Trung quốc để xúc tiến việc rút quân ở Miền Nam sao cho thuận lợi. Nixon và Kissinger đã đến Trung quốc để thảo luận việc này.

Trước khi Nixon đến Trung quốc, [mục tiêu chuyến đi này của ông ta] nhằm giải quyết vấn đề Việt nam theo chiều hướng có lợi cho Mỹ và giảm thiểu đến tối đa sự thất bại của họ, đồng thời cho phép ông ta lôi kéo Trung quốc gần hơn về phía Mỹ, Chu Ân Lai đã đến gặp tôi. Châu nói với tôi: “Vào lúc này, Nixon sắp đến gặp tôi, chủ yếu là để thảo luận vấn đề Việt nam, do đó tôi nhất định phải đến gặp đồng chí để bàn bạc.” Tôi trả lời: “Thưa đồng chí, đồng chí có thể nói bất kỳ điều gì đồng chí muốn, nhưng tôi vẫn không hiểu. Đồng chí là người Trung quốc; tôi là người Việt nam. Việt nam là đất nước của [chúng] tôi, hoàn toàn không phải là của các đồng chí. Đồng chí không có quyền phát biểu [về công việc của Việt nam], và đồng chí không có quyền thảo luận[những chuyện đó với Mỹ](30). Hôm nay, thưa đồng chí, tôi nói riêng với đồng chí một điều, mà thậm chí tôi chưa từng nói với Bộ Chính trị của chúng tôi, rằng các đồng chí đã đặt ra một vấn đề nghiêm trọng và vì vậy tôi cần phải nói.”

Năm 1954, khi Việt nam chiến thắng ở Điện Biên Phủ, tôi đang ở Hậu Nghĩa. Bác Hồ đánh điện cho tôi, nói rằng tôi cần phải đi Nam để tổ chức lại [các Lực lượng ở đó] và nói chuyện với Đồng bào Miền Nam [về việc này](31). Tôi đi xe thổ mộ xuôi Nam. Dọc đường Đồng bào đổ ra chào đón tôi vì họ nghĩ chúng tôi đã chiến thắng. Thật đau lòng xiết bao ! Nhìn Đồng bào Miền Nam tôi đã khóc. Bởi vì sau đó Mỹ sẽ nhảy vào Miền Nam và tàn sát Đồng bào tôi một cách dã man.

Vào tới nơi, tôi lập tức đánh điện cho bác Hồ yêu cầu được ở lại và không tập kết ra Bắc, để có thể tiếp tục chiến đấu mười năm nữa hoặc lâu hơn. [Tôi nói với Chu Ân Lai]: “Thưa đồng chí, đồng chí đã gây ra những khó khăn cho chúng tôi như vậy đấy [muốn nói đến vai trò của ông ta trong việc chia cắt Việt nam tại Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954]. Đồng chí có biết thế không ?” Chu Ân Lai đáp: “Tôi xin lỗi các đồng chí. Tôi đã sai. Tôi đã sai trong chuyện này[ám chỉ việc chia cắt Việt nam tại Giơ-ne-vơ](32).

Sau khi Nixon đã đi thăm Trung quốc, ông ta [Châu] lại sang Việt nam một lần nữa để hỏi tôi về một số vấn đề liên quan đến Cuộc chiến đấu trong Nam. Tuy nhiên tôi cũng nói ngay với Chu Ân Lai: “Nixon đã gặp các đồng chí. Chẳng bao lâu nữa họ [Mỹ] sẽ tấn công chúng tôi mạnh hơn.” Tôi hoàn toàn không sợ. Cả hai bên [Mỹ và Trung quốc] đã thỏa thuận với nhau nhằm đánh ta mạnh hơn. Ông ấy [Châu] đã không phản đối quan điểm này là không có cơ sở, và chỉ nói rằng: “Tôi sẽ gửi thêm súng ống đạn dược cho các đồng chí.” Rồi ông ta nói [về sự e ngại một âm mưu Bí mật giữa Mỹ và Trung quốc]: “Không có chuyện đó đâu.” Dẫu sao họ cũng đã thảo luận đánh ta mạnh hơn như thế nào, kể cả ném bom bằng B-52 và phong tỏa cảng Hải Phòng.

Vấn đề rõ ràng là như vậy. Nếu Liên xô và Trung quốc không bất đồng với nhau thì Mỹ không thể đánh chúng ta một cách tàn bạo như chúng đã làm. Chừng nào hai nước [Trung quốc và Liên xô] còn xung đột thì người Mỹ sẽ không bị ngăn trở [vì sự phản đối của khối Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất]. Mặc dầu Việt nam đã có thể đoàn kết với cả hai nước Trung quốc và Liên xô, nhưng để làm việc này là hết sức khó khăn vì lúc đó chúng ta phải dựa vào Trung quốc rất nhiều.

Thời gian đó Trung quốc hàng năm viện trợ cho ta nửa triệu tấn lương thực, cũng như súng ống, đạn dược, tiền bạc, chưa nói đến cả đô la nữa. Liên xô cũng giúp ta tương tự như vậy. Nếu chúng ta không làm được điều đó [giữ gìn sự thống nhất và đoàn kết với họ] thì mọi chuyện có thể hết sức nguy hiểm. Hàng năm tôi phải sang Trung quốc hai lần để trình bày với họ [ban Lãnh đạo Trung quốc] về các diễn biến ở trong Nam. Còn với Liên xô, tôi không cần phải nói gì cả [về tình hình Miền Nam]. Tôi chỉ nói chung chung. Khi làm việc với phía Trung quốc, tôi phải nói rằng cả hai chúng ta đang cùng đánh Mỹ. Tôi đã đi (sang đấy) một mình. Tôi phải tham dự vào những chuyện đó. Tôi phải sang Trung quốc và bàn bạc với họ nhiều lần như vậy với mục đích chính là thắt chặt quan hệ song phương [Trung quốc và Việt nam]. Chính vào lúc đó Trung quốc ép chúng ta phải tách xa khỏi Liên xô, cấm ta không được đi cùng với Liên xô nữa(33). Họ làm rất căng thẳng chuyện này. Đặng Tiểu Bình, cùng với Khang Sinh(34), đến nói với tôi: “Đồng chí, chúng tôi sẽ giúp các anh vài tỷ (Nhân dân tệ) một năm. Các anh không được nhận gì từ Liên xô nữa.” Tôi không chấp nhận như vậy. Tôi nói: “Không, chúng tôi nhất định phải Đoàn kết và Thống nhất với toàn phe Xã hội Chủ nghĩa.(35)

Năm 1963, khi Nikita Khơrútxốp có sai lầm, Trung quốc lập tức ra Cương lĩnh 25 điểm và mời Đảng ta đến và góp ý kiến. Anh Trường Chinh và tôi cùng đi với một số anh em khác. Trong khi bàn bạc, họ [Trung quốc] lắng nghe ta chừng mười điểm gì đó, nhưng khi tới ý kiến “không xa rời phe Xã hội Chủ nghĩa”(37) thì họ không nghe nữa… Đặng Tiểu Bình nói: “Tôi chịu trách nhiệm về Văn bản của chính tôi. Tôi xin ý kiến các đồng chí nhưng tôi không chấp nhận điểm này của các đồng chí.

Trước khi đoàn ta về nước, Mao có tiếp anh Trường Chinh và tôi. Mao ngồi trò chuyện cùng chúng tôi và đến cuối câu chuyện ông ta tuyên bố: “Các đồng chí, tôi muốn các đồng chí biết việc này. Tôi sẽ là Chủ tịch của 500 triệu bần nông và tôi sẽ mang một đạo quân đánh xuống Đông Nam Á.”(38) Đặng Tiểu Bình cũng ngồi đó và nói thêm: “Đó chủ yếu là vì bần nông của chúng tôi đang ở trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn !” Khi chúng tôi đã ra ngoài, tôi nói với anh Trường Chinh: “Anh thấy đấy, một âm mưu cướp nước ta và cả Đông Nam Á. Bây giờ chuyện đã minh bạch.” Họ dám ngang nhiên tuyên bố như vậy. Họ nghĩ chúng ta không hiểu.

Rõ ràng là không một phút nào họ không nghĩ tới việc đánh Việt nam ! Tôi sẽ nói thêm để các đồng chí có thể thấy rõ hơn tầm quan trọng Quân sự của việc này. Mao hỏi tôi: -Lào có bao nhiêu Cây số vuông ? Tôi trả lời: -Khoảng 200 nghìn [Cây số vuông]. -[Mao hỏi:] Dân số của họ là bao nhiêu ? -[Tôi đáp:] Gần ba triệu. -[Mao nói:] Thế thì cũng không nhiều lắm ! Tôi sẽ mang người của chúng tôi xuống đấy ! -[Mao hỏi:] Thái lan thì có bao nhiêu Cây số vuông ? -[Tôi trả lời:] Khoảng 500 nghìn. -[Mao hỏi:] Và có bao nhiêu người ? -[Tôi đáp:] Gần 40 triệu ! -Mao nói:] Trời ơi ! Tỉnh Tứ Xuyên của Trung quốc có 500 nghìn Cây số vuông mà có tới 90 triệu dân. Tôi sẽ lấy thêm một ít người của chúng tôi đi xuống đấy nữa [Thái lan] !

Đối với Việt nam, họ không dám nói thẳng về việc di dân như vậy. Tuy nhiên, ông ta [Mao] nói với tôi: “Các đồng chí, có thật người Việt nam đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên không ?” Tôi nói: “Đúng.” “Thế có thật là các anh cũng đánh bại cả quân Thanh nữa phải không ?” Tôi đáp: “Đúng.” Ông ta lại hỏi: “Và cả quân Minh nữa, đúng không ?” Tôi trả lời: “Đúng, và cả các ông nữa. Tôi sẽ đánh bại cả các ông.(39) Ông có biết thế không ?” Tôi đã nói với Mao như vậy đó. Ông ấy nói: “Đúng ! Đúng !” Mao muốn chiếm Lào, cả nước Thái lan… cũng như muốn chiếm toàn vùng Đông Nam Á. Mang người đến ở đó. Thật là phức tạp.

Trong những năm trước [về các vấn đề có thể nảy sinh từ mối đe dọa của Trung quốc trong những thời kỳ đó], chúng ta đã có sự chuẩn bị tích cực chứ không phải chúng ta không chuẩn bị gì. Nếu chúng ta không chuẩn bị thì tình hình vừa qua đã có thể rất nguy. Đó không phải là chuyện đơn giản. Mười năm trước tôi đã có mời anh em bên Quân đội đến gặp tôi. Tôi nói với họ rằng Liên xô và Mỹ đang có mâu thuẫn với nhau. Còn Trung quốc, họ lại bắt tay với Đế quốc Mỹ.

Trong tình hình căng thẳng như vậy các anh phải lập tức nghiên cứu vấn đề này. Tôi sợ bên Quân đội anh em chưa hiểu nên tôi nói thêm rằng không có cách nào khác để hiểu vấn đề này. Nhưng họ phát biểu rằng chuyện này rất khó hiểu. Đúng là không dễ dàng chút nào. Nhưng tôi không thể nói cách khác được. Và tôi cũng không cho phép ai căn vặn mình.(40) Khi tôi đi Liên xô, họ cũng rất cứng rắn với tôi về Trung quốc. Liên xô đã triệu tập một Hội nghị 80 đảng [Cộng sản] để ủng hộ Việt nam, nhưng Việt nam không tham dự Hội nghị này, vì [Hội nghị] không chỉ nhằm giúp đỡ Việt nam mà còn dự định lên án Trung quốc.

Do đó Việt nam đã không đi. Phía Liên xô hỏi: “Các anh đã từ bỏ Chủ nghĩa Quốc tế rồi hay sao ? Tại sao các anh lại làm như vậy ?” Tôi đáp: “Tôi hoàn toàn không từ bỏ Chủ nghĩa Quốc tế. Tôi chưa hề làm như vậy. Tuy nhiên, muốn là người theo Chủ nghĩa Quốc tế thì trước hết phải đánh bại Đế quốc Mỹ. Và nếu người ta muốn đánh Mỹ thì phải thống nhất và đoàn kết với Trung quốc. Nếu tôi đi dự hội nghị này thì Trung quốc sẽ gây ra những khó khăn nghiêm trọng cho chúng tôi. Xin các đồng chí hiểu cho.” Ở Trung quốc có rất nhiều ý kiến khác nhau và đang tranh cãi. Chu Ân Lai đồng ý xây dựng cùng Liên xô một mặt trận chống Mỹ.

Một lần tôi đến Liên xô dự lễ Quốc khánh, tôi có được đọc một bức điện của Trung quốc gửi Liên xô nói rằng “Nếu Liên xô bị tấn công thì Trung quốc sẽ kề vai sát cánh cùng Liên bang Xô viết.”(41) Đó là nhờ Hiệp ước hữu nghị Xô-Trung được ký kết trước đây [tháng 2/1950]. Ngồi cạnh Chu Ân Lai tôi hỏi ông ấy: “Trong bức điện mới đây gửi Liên xô, các đồng chí đã đồng ý cùng với Liên xô thành lập một mặt trận, nhưng tại sao các đồng chí lại không thành lập một mặt trận chống Mỹ ?” Chu Ân Lai đáp: “Chúng tôi có thể. Tôi đồng tình với quan điểm của đồng chí. Tôi sẽ thành lập một mặt trận với các đồng chí[về Việt nam]. Bành Chân(42) cũng đang ngồi đó, nói thêm: “Ý kiến này cực kỳ đúng đắn !” Nhưng khi vấn đề được đưa ra thảo luận ở Thượng Hải, Mao nói rằng không thể được và gạt bỏ ý kiến này. Các đồng chí đã thấy vấn đề phức tạp ra sao.

Mặc dầu Chu Ân Lai có bảo lưu một số ý kiến, dẫu sao ông cũng đã đồng ý thành lập một mặt trận và đã giúp đỡ Việt nam rất nhiều. Chính nhờ ông mà tôi hiểu [nhiều chuyện đang diễn ra ở Trung quốc]. Nếu không thì có thể rất nguy hiểm. Có lần ông ấy nói với tôi: “Tôi phải làm hết sức mình để sống sót ở đây, dùng Lý Cường(43) để tích lũy và cung cấp Viện trợ cho các đồng chí.” Và thế đấy [ám chỉ Châu đã có thể dùng Lý Cường vào việc giúp đỡ Việt nam]. Tôi hiểu rằng nếu không có Chu Ân Lai thì không thể có được sự viện trợ như vậy. Tôi thật biết ơn ông ta. Tuy nhiên cũng không đúng, nếu nói rằng những người khác trong ban Lãnh đạo Trung quốc có cùng quan điểm với Chu Ân Lai. Họ khác nhau trên nhiều phương diện. Nhưng có thể nói rằng người kiên trì nhất, người có đầu óc đại Hán và người muốn chiếm cả vùng Đông Nam Á, chính là Mao. Tất cả mọi chính sách [của Trung quốc] đều nằm trong tay Mao.

Cũng có thể nói như vậy về các nhà Lãnh đạo hiện nay của Trung quốc. Chúng ta không biết trong tương lai mọi chuyện sẽ ra sao, nhưng dẫu sao [sự thực là] họ đã tấn công ta. Trước đây Đặng Tiểu Bình đã từng làm hai việc mà giờ đây lại lật ngược hẳn lại. Đó là, khi ta thắng lợi ở Miền Nam, nhiều nhà Lãnh đạo Trung quốc không hài lòng.

Tuy nhiên Đặng Tiểu Bình cũng vẫn cứ chúc mừng ta. Kết quả là ông ta lập tức bị những người khác coi là phần tử xét lại. Khi tôi đi Trung quốc lần cuối cùng(44), tôi là Trưởng đoàn, và tôi đã gặp đoàn đại biểu Trung quốc do Đặng Tiểu Bình dẫn đầu. Khi nói tới vấn đề lãnh thổ, gồm cả thảo luận về một số hòn đảo, tôi có nói: “Hai nước chúng ta nằm cạnh nhau. Có một số khu vực trên lãnh thổ chúng tôi chưa được phân định rõ ràng. Cả hai phía chúng ta cần phải thành lập một ủy ban để xem xét vấn đề này. Thưa các đồng chí, xin hãy nhất trí với tôi [về chuyện này]. Ông ấy [Đặng] đã đồng ý, nhưng vì vậy mà sau đó ông ta lại bị các nhóm Lãnh đạo khác chụp mũ xét lại tức thời.

Nhưng bây giờ thì ông ấy [Đặng] điên thật rồi. Bởi vì ông ta muốn tỏ ra mình không phải là xét lại nên ông ta đã đánh Việt nam mạnh hơn. Ông ta đã bật đèn xanh cho họ tấn công Việt nam.Sau khi đánh bại Đế quốc Mỹ, chúng ta vẫn giữ một đạo quân hơn một triệu người. Một số Lãnh đạo Liên xô đã hỏi ta: “Các đồng chí còn định đánh nhau với ai nữa mà lại vẫn duy trì một đội quân [thường trực] lớn như vậy ?” Tôi đáp: “Sau này các đồng chí sẽ hiểu.” Lý do duy nhất khiến chúng ta giữ một đạo quân thường trực như vậy chính là vì Trung quốc [mối đe dọa của họ đối với Việt nam]. Nếu như không có [sự đe dọa đó] thì đội quân [thường trực lớn] này sẽ không còn cần thiết nữa. Đã bị tấn công gần đây trên cả hai mặt trận, [chúng ta có thể thấy rõ rằng] sẽ rất nguy hiểm nếu chúng ta không duy trì một đội quân lớn. [Ý nghĩa của chữ B này trong bản gốc không được rõ] Từ cuối Đại chiến thế giới thứ hai, tất cả đều cho rằng Đế quốc Mỹ chính là tên Sen đầm Quốc tế.

Chúng có thể xâm chiếm và đe dọa các nước khác trên thế giới. Mọi người, kể cả các cường quốc, đều sợ Mỹ. Duy chỉ có Việt nam là không sợ Mỹ mà thôi. Tôi hiểu được điều này nhờ cuộc đời hoạt động của mình đã dạy tôi như vậy. Người đầu tiên sợ [Mỹ] chính là Mao Trạch Đông. Ông ta nói với tôi, cả Việt nam và Lào, rằng: “Các anh phải lập tức chuyển giao ngay hai tỉnh giải phóng của Lào cho chính quyền Viên Chăn. Nếu không thì Mỹ sẽ lấy cớ để tấn công. Thế thì hết sức nguy hiểm.” Về phía Việt nam, chúng ta nói: “Chúng tôi sẽ đánh Mỹ để giải phóng Miền Nam.” Ông ta [Mao] nói: “Các anh không được làm như vậy. Miền Nam Việt nam cần phải trường kỳ mai phục, có thể một đời người, năm đến mười đời, thậm chí hai mươi đời nữa. Các anh không thể đánh Mỹ. Đánh nhau với Mỹ là một việc nguy hiểm.” Mao Trạch Đông đã sợ Mỹ đến như vậy…

Nhưng Việt nam không sợ. Việt nam đã tiến lên và chiến đấu. Nếu Việt nam không đánh Mỹ thì Miền Nam sẽ không được giải phóng. Một nước chưa được giải phóng thì vẫn cứ là một nước phụ thuộc. Không có nước nào được Độc lập nếu chỉ có một nửa nước được Tự do. Đó là tình hình cho đến năm 1975, khi đất nước ta cuối cùng đã giành được hoàn toàn Độc lập. Có Độc lập thì sẽ có Tự do. Tự do phải là thứ Tự do cho cả nước Việt nam…

Ăng-ghen đã từng nói về chiến tranh nhân dân. Sau đó Liên xô, rồi Trung quốc và cả ta nữa cũng nói [về vấn đề này]. Tuy nhiên, ba nước khác nhau rất nhiều về nội dung [của chiến tranh nhân dân]. Sẽ là không đúng nếu chỉ vì anh có hàng triệu người mà anh muốn làm gì thì làm. Trung quốc cũng nói về chiến tranh nhân dân nhưng [họ chủ trương]địch tiến ta lùi”. Nói cách khác, phòng ngự là chủ yếu, và chiến tranh chia làm ba giai đoạn, lấy nông thôn bao vây thành thị, trong khi [chủ lực] vẫn lẩn trốn trong vùng rừng núi…

Trung quốc đã thiên về phòng ngự và rất yếu [trong Đại chiến Thế giới thứ hai]. Thậm chí, với 400 triệu dân chống lại Quân đội Nhật chỉ có khoảng 300 đến 400 ngàn người, Trung quốc vẫn không thể đánh bại Nhật.(45) Tôi phải nhắc lại như vậy vì trước kia Trung quốc đã gửi cố vấn sang ta nên một số anh em [ta] không hiểu. Họ nghĩ rằng Trung quốc rất là tài giỏi. Nhưng họ cũng không tài giỏi lắm đâu, và vì thế ta cũng không làm theo [sự cố vấn của Trung quốc].(46) Năm 1952 tôi rời miền Bắc sang Trung quốc chữa bệnh. Đấy là lần đầu tiên tôi ra nước ngoài.(47) Tôi đã đánh dấu hỏi về họ [Trung quốc] và thấy rất nhiều chuyện lạ. Những vùng [đã từng] bị quân Nhật chiếm đóng có dân cư là 50 triệu người, nhưng không có thậm chí một người du kích…

Khi tôi từ Trung quốc về, tôi gặp bác [Hồ]. Bác hỏi: -Đây là lần đầu tiên chú đi ra nước ngoài có phải không ? -Vâng, tôi ra nước ngoài lần đầu tiên. -Chú thấy những gì ? -Tôi thấy hai chuyện: Việt nam rất dũng cảm và họ [Trung quốc] hoàn toàn không. Tôi hiểu điều đó từ bấy giờ. Chúng ta [người Việt nam] khác hẳn họ. Lòng dũng cảm là đặc tính cố hữu trong từng con người Việt nam, và do vậy chúng ta chưa từng có chiến lược thiên về phòng ngự. Mỗi người dân là một chiến sĩ.

Gần đây, họ [Trung quốc] đem vài trăm ngàn quân xâm lấn nước ta. Trên phần lớn mặt trận, ta mới sử dụng dân quân du kích và bộ đội địa phương để đánh trả. Chúng ta không thiên về phòng ngự, và do vậy họ đã thất bại. Họ không thể tiêu diệt gọn một trung đội nào của Việt nam, còn ta diệt gọn vài trung đoàn và vài chục tiểu đoàn của họ. Đạt được điều đó vì ta có chiến lược nghiêng về tấn công. Đế quốc Mỹ đã đánh nhau với ta trong một Cuộc chiến dài lâu. Họ hết sức mạnh mà vẫn thua. Nhưng ở đây có một yếu tố đặc biệt, đó là sự mâu thuẫn gay gắt giữa Trung quốc và Liên xô. [Vì thế], họ đã đánh ta ác liệt như vậy. Việt nam chống Mỹ và đánh chúng quyết liệt, nhưng chúng ta cũng biết rằng Mỹ là một nước rất lớn, có khả năng huy động một đội quân mười triệu người và dùng tất cả những vũ khí tối tân nhất để đánh ta. Vì vậy chúng ta phải chiến đấu một thời gian dài để kéo chúng xuống thang.

Chúng ta là người có thể làm được như vậy; Trung quốc thì không. Khi quân Mỹ tấn công Quảng Trị, Bộ Chính trị đã ra lệnh đưa bộ đội vào ứng chiến ngay lập tức. Chúng ta không sợ. Sau đó tôi có sang Trung quốc để gặp Chu Ân Lai. Ông ta nói với tôi: “Nó [Cuộc chiến đấu ở Quảng Trị] có lẽ là độc nhất vô nhị, chưa từng có. Đời người chỉ có một [cơ hội], không hai. Không ai dám làm việc mà các đồng chí đã làm.” …Chu Ân Lai đã từng là Tổng Tham mưu trưởng. Ông dám nói và ông cũng thẳng thắn hơn. Ông nói với tôi: “Nếu tôi được biết trước cách đánh mà các đồng chí đã sử dụng thì có lẽ chúng tôi không cần đến cuộc Trường chinh.” Vạn lý Trường chinh để làm gì ? Vào lúc bắt đầu cuộc Trường chinh họ có một đội quân 300 nghìn người; và khi kết thúc họ chỉ còn lại có 30 nghìn. 270 nghìn đã bị tiêu hao. Đó quả thật là ngu ngốc nếu làm theo cách ấy… [Tôi] nói như vậy để các đồng chí hiểu, chúng ta đã tiến xa hơn bao nhiêu. Sắp tới, nếu ta lại phải chiến đấu chống Trung quốc, chúng ta nhất định thắng lợi… Dẫu sao, một sự thực là nếu như một nước khác [không phải Việt nam] phải đánh nhau với Trung quốc, thì chưa chắc họ có thể thắng như vậy [giống Việt nam] được. …Nếu Trung quốc và Liên xô nhất trí với nhau, thì cũng chưa chắc là Mỹ sẽ dám đánh ta. Nếu như hai nước đoàn kết và cùng giúp ta, thì cũng chưa chắc rằng Mỹ sẽ dám đánh ta theo cách như chúng đã làm. Họ có thể chùn bước ngay từ đầu. Họ có thể bỏ cuộc như trong thời Tổng thống Kennedy. Việt nam, Trung quốc và Liên xô tất cả cùng giúp Lào và Mỹ tức thời ký hiệp ước với Lào. Họ không dám gửi quân sang Lào, họ chấp nhận cho Đảng [Nhân dân Cách mạng] Lào tham gia vào Chính phủ ngay lập tức. Họ không dám tấn công Lào nữa.

Sau đó, khi hai nước [Liên xô và Trung quốc] có mâu thuẫn với nhau, phía Mỹ lại được [Trung quốc] thông báo rằng họ có thể tiếp tục đánh Việt nam mà không sợ gì cả. Đừng sợ [Trung quốc trả đũa]. Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông nói với Mỹ: “Nếu người không đụng đến ta thì ta sẽ không đụng đến người. Các anh có thể đưa bao nhiêu quân vào Miền Nam Việt nam cũng được. Điều đó tùy theo các anh.”(48) …Chúng ta [hiện nay] tiếp giáp với một quốc gia lớn, một nước có những ý đồ bành trướng, mà nếu được thực hiện thì sẽ bắt đầu với cuộc xâm lăng Việt nam. Như vậy, ta phải gánh vác một vai trò lịch sử nữa, khác trước. Dẫu sao, chúng ta không bao giờ thoái thác nhiệm vụ lịch sử của mình. Trước đây, Việt nam đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình và lần này Việt nam quyết tâm không cho chúng bành trướng. Việt nam bảo vệ nền Độc lập của chính mình và đồng thời cũng là bảo vệ nền Độc lập của các nước Đông Nam Á. Việt nam quyết không để cho Trung quốc thực hiện mưu đồ bành trướng của họ. Cuộc chiến gần đây [với Trung quốc] mới chỉ là một hiệp. Hiện nay họ vẫn đang ráo riết chuẩn bị trên nhiều chiến trường. Dù sao đi nữa, mặc họ chuẩn bị đến mức nào, Việt nam cũng vẫn sẽ thắng… Tiến hành chiến tranh không phải là một cuộc dạo chơi trong rừng. Dùng một triệu quân để tiến hành chiến tranh chống nước khác kéo theo vô vàn khó khăn.

Chỉ mới đây thôi, họ đem 500 đến 600 ngàn quân đánh chúng ta, mà họ không có đủ phương tiện vận tải để chuyên chở lương thực cho Quân đội họ. Trung quốc hiện nay có một đội quân ba triệu rưỡi người, nhưng họ phải để lại một nửa trên biên giới [Trung-Xô] nhằm phòng ngừa Liên xô. Vì lý do đó, nếu họ có mang một hoặc hai triệu quân sang đánh ta, chúng ta cũng không hề sợ hãi gì cả. Chúng ta chỉ có 600 ngàn quân ứng chiến và nếu sắp tới chúng ta phải đánh với hai triệu quân, thì cũng không có vấn đề gì cả. Chúng ta không sợ. Chúng ta không sợ vì chúng ta đã biết cách chiến đấu. Nếu họ mang vào một triệu quân thì họ cũng chỉ đặt được chân ở phía Bắc.

Càng đi xuống vùng trung du, vùng đồng bằng châu thổ, và vào Hà Nội hoặc thậm chí vào sâu hơn nữa thì sẽ càng khó khăn. Các đồng chí, các đồng chí đã biết, bè lũ Hitler đã tấn công ác liệt như thế nào, mà khi tiến đến Leningrad chúng cũng không thể nào vào nổi. (Phải đối mặt) với những (làng mạc,) thành phố, nhân dân và công tác phòng ngự, không ai có thể thực hiện một cuộc tấn công hiệu quả chống lại từng người cư dân. Thậm chí có đánh nhau hai, ba hoặc bốn năm chúng cũng không thể nào tiến vào được. Mỗi làng xóm của chúng ta [trên biên giới phía Bắc] là như vậy. Chủ trương của ta là: Mỗi huyện là một pháo đài, mỗi tỉnh là một chiến trường. Chúng ta sẽ chiến đấu và chúng sẽ không thể nào xâm nhập được. Tuy nhiên, sẽ không đầy đủ nếu chỉ nói đến đánh giặc ngoài tiền tuyến. Ngưới ta cũng cần phải có một đội quân hậu tập trực tiếp, hùng mạnh. Sau khi Cuộc chiến vừa qua chấm dứt, chúng ta đã nhận định rằng, sắp tới, ta cần đưa thêm vài triệu người lên (các tỉnh) mặt trận phía Bắc. Nếu giặc đến từ phương Bắc, hậu phương trực tiếp của cả nước sẽ là Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh…

Hậu phương trực tiếp để bảo vệ Thủ đô phải là Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh. Chúng ta có đủ người. Ta sẽ đánh bằng nhiều cách… Ta có thể dùng hai hoặc ba quân đoàn giáng cho địch một đòn quyết liệt khiến chúng choáng váng, trong khi tiếp tục bảo vệ lãnh thổ của ta. Để làm được như vậy, mỗi người lính phải là một người lính thực sự, mỗi tiểu đội phải là một tiểu đội thực sự. Vừa trải qua một trận chiến, chúng ta không được chủ quan. Chủ quan khinh địch là không đúng, nhưng thiếu tự tin thì cũng sai. Ta không chủ quan khinh địch nhưng ta cũng đồng thời tin tưởng vững chắc vào thắng lợi của chúng ta. Ta cần phải có cả hai yếu tố đó.

Trung quốc hiện đang có âm mưu tấn công ta nhằm bành trướng xuống phía Nam. Nhưng trong thời đại hiện nay người ta không thể làm gì mà che đậy giấu giếm được. Trung quốc vừa mới gây hấn với Việt nam có vài ngày, cả thế giới đã đồng thanh hô lớn: “Không được đụng đến Việt nam !” Thời nay không còn giống như thời xưa nữa. Ngày xưa chỉ có ta (đối mặt) với họ [Trung quốc]. Ngày nay cả thế giới sát cánh chặt chẽ bên nhau. Nhân loại hoàn toàn chưa bước vào giai đoạn Xã hội Chủ nghĩa; thay vì thế bây giờ lại là thời mà mọi người đều mong muốn Độc lập và Tự do. [Thậm chí] trên những hòn đảo nhỏ, nhân dân ở đó cũng mong muốn Độc lập Tự do. Cả loài người hiện nay là như vậy. Điều đó rất khác với thời xưa. Khi ấy mọi người còn chưa biết rõ về những khái niệm này. Lời bác Hồ: “Không có gì quý hơn Độc lập Tự do !” là tư tưởng của thời đại ngày nay. Đụng đến Việt nam là đụng đến nhân loại và xâm phạm đến Độc lập Tự do… Việt nam là quốc gia tượng trưng cho Độc lập và Tự do.

Khi bàn đánh Mỹ, anh em ta trong Bộ Chính trị đã cùng thảo luận chuyện này để cân nhắc xem ta có dám đánh Mỹ hay không. Tất cả đều đồng ý đánh. Bộ Chính trị đã biểu thị quyết tâm của mình: Để đánh Mỹ chúng ta nhất định phải không sợ Mỹ. Tất cả đã đồng lòng. Trong khi tất cả đều nhất trí đánh Mỹ, để không sợ Mỹ chúng ta cũng phải không sợ Liên xô. Mọi người đều đồng ý. Chúng ta cũng cần không sợ Trung quốc. Mọi người đều tán thành. Nếu chúng ta không sợ ba cái (nước lớn) đó, ta có thể đánh Mỹ. Đấy là chúng tôi đã làm việc như thế nào ở Bộ Chính trị trong thời gian đó. Mặc dầu Bộ Chính trị đã họp và thảo luận như vậy và mọi người đều nhất trí đồng lòng, sau đó lại có người đã nói lại với một đồng chí những điều tôi nói. Người đồng chí đó lại chất vấn Bộ Chính trị, hỏi rằng tại sao Anh Ba(49) lại nói rằng nếu chúng ta muốn đánh Mỹ thì chúng ta phải không sợ cả Trung quốc ? Tại sao anh ấy lại đặt vấn đề như vậy ?(50) Lúc đó anh Nguyễn Chí Thanh, một người thường được cho rằng là có cảm tình với Trung quốc, đứng dậy nói: “Thưa các đồng chí trong Bộ Chính trị và bác Hồ kính mến, lời phát biểu của Anh Ba là đúng. Cần phải nói như vậy [về việc cần phải không sợ Trung quốc], bởi vì họ [Trung quốc] đã gây khó khăn cho chúng ta trong nhiều vấn đề. Họ ngăn cản chúng ta ở đây, rồi trói tay ta ở kia. Họ không cho ta đánh…”(51)

Trong khi ta đang chiến đấu trong Nam, Đặng Tiểu Bình đã quy định rằng tôi chỉ nên đánh từ mức trung đội trở xuống, và không được đánh ở mức độ lớn hơn. Ông ta [Đặng] nói: “Ở Miền Nam, do các anh đã phạm sai lầm là đã phát động Cuộc chiến, các anh chỉ được đánh từ cấp trung đội trở xuống, chứ không được đánh lớn hơn.” Đó là họ đã ép ta như thế nào. Chúng ta không sợ ai cả. Ta không sợ bởi vì ta có chính nghĩa. Chúng ta không sợ thậm chí các nước đàn anh. Ta cũng không sợ bạn bè ta.(52)

Tất nhiên, chúng ta không sợ quân thù. Ta đã đánh chúng. Chúng ta là những con người; chúng ta không phải sợ bất kỳ ai. Chúng ta Độc lập. Cả thế giới biết rằng ta Độc lập. Chúng ta phải có một Quân đội mạnh, bởi vì nước ta đang bị đe dọa và bị bắt nạt… Không thể nào khác được. Nếu không thì sẽ rất nguy hiểm vì ta là một nước nghèo. Ta có một đội quân mạnh, nhưng việc đó không làm chúng ta yếu đi chút nào.

Đối với ta Trung quốc có một số chủ trương: Xâm lược và chiếm đóng nước ta; làm ta suy yếu về kinh tế và làm cho đời sống của nhân dân ta khó khăn hơn. Vì những lý do đó, để chống Trung quốc chúng ta phải, trước hết, không chỉ chiến đấu, mà còn phải tự làm cho mình mạnh lên. Để đạt được điều đó, theo quan điểm của tôi, Quân đội ta không thể là một đội quân chỉ dựa vào nguồn cung cấp của nhà nước, mà còn phải là một đội quân sản xuất giỏi. Khi giặc đến họ sẽ cầm chắc tay súng. Khi không có giặc họ sẽ sản xuất mạnh mẽ. Họ sẽ là biểu tượng cao nhất và tốt nhất trong sản xuất, sẽ làm ra nhiều (của cải vật chất) hơn bất cứ ai. Tất nhiên, đấy không phải là chuyện mới lạ.(53) Hiện nay, Quân đội ta đang gánh vác một sứ mệnh lịch sử: Bảo vệ Độc lập và Tự do của đất nước, đồng thời bảo vệ Hòa bình và Độc lập trên toàn thế giới. Nếu chính sách bành trướng của bè lũ phản cách mạng Trung quốc không thể thực hiện được thì đó chính là lợi ích của cả thế giới. Việt nam có thể làm được. Việt nam đã có năm chục triệu người. Việt nam có Lào và Căm bốt là bạn và có địa thế hiểm trở. Việt nam có cả phe (Xã hội Chủ nghĩa) ta và cả nhân loại đứng về phiá mình. Rõ ràng là chúng ta có thể làm được việc đó. …

Các đồng chí có thấy ai ở trong Đảng ta, trong nhân dân ta mà hoài nghi rằng ta sẽ thua Trung quốc không ? Không có ai, tất nhiên rồi. Nhưng chúng ta phải duy trì những quan hệ thân hữu của mình. Chúng ta không muốn sự hằn thù dân tộc. Tôi nhắc lại: Tôi nói như vậy vì không bao giờ tôi mang lòng hận thù đối với Trung quốc. Tôi không có thứ tình cảm như vậy, dù chính họ là người đã đánh ta. Hôm nay tôi muốn các đồng chí biết rằng trên đời này người đã từng bảo vệ Trung quốc lại chính là tôi ! Đúng như vậy đó. Tại sao thế ? Bởi vì trong hội nghị ở Bucharest tháng 6 năm 1960, sáu mươi đảng đã phản đối Trung quốc nhưng chỉ có mình tôi là người đã bênh vực Trung quốc.(54) Nhân dân Việt nam ta là như vậy. Tôi sẽ tiếp tục nhắc lại rằng: Dù họ có đối xử tồi tệ đến đâu chăng nữa, chúng ta biết rằng nhân dân Trung quốc là bạn ta.

Về phía chúng ta, ta không mang những mặc cảm xấu xa đối với Trung quốc. Còn về ý đồ của một số Lãnh đạo [Trung quốc] thì là chuyện khác. Chúng ta nhắc tới họ chỉ như một bè lũ mà thôi. Chúng ta không ám chỉ cả nước họ. Ta không nói nhân dân Trung quốc xấu với ta. Ta nói rằng chỉ có bè lũ phản cách mạng Bắc Kinh là như thế. Tôi nhắc lại lần nữa ta phải tuân thủ nghiêm nhặt như vậy. Tóm lại, hãy giữ cho tình hình trong vòng kiểm soát chặt chẽ, sẵn sàng chiến đấu và không bao giờ lơi là cảnh giác. Đối với Trung quốc ta cũng làm như vậy. Tôi tin chắc rằng trong vòng năm mươi năm nữa, hoặc thậm chí có thể một trăm năm, Xã hội Chủ nghĩa sẽ thành công; và khi đó thì ta sẽ không còn vấn đề gì nữa. Nhưng nó đòi hỏi thời gian. Bởi vậy chúng ta phải chuẩn bị và sẵn sàng trên mọi phương diện. Bây giờ không ai còn hoài nghi gì nữa. Nhưng 5 năm trước tôi biết chắc rằng không có đồng chí nào lại nghĩ là Trung quốc có thể đánh ta. Vậy mà có đấy. Đó là trường hợp vì các đồng chí ấy không có hiểu biết đầy đủ về vấn đề này.(55) Nhưng đó không phải là trường hợp xảy ra với chúng ta [Lê Duẩn và ban Lãnh đạo].(56) Chúng ta biết rằng họ sẽ đánh ta trong khoảng mười năm hoặc hơn.

Do đó chúng ta không bị bất ngờ [vì cuộc tấn công tháng giêng 1979 của Trung quốc]. @Bùi Xuân Bách, Bản dịch tiếng Việt. Nguồn: Thư viện Quân đội, Hà Nội. Tài liệu do Christopher E. Goscha phát hiện và dịch sang tiếng Anh, Nhóm nghiên cứu Việt nam đương đại, Trường Khoa học Chính trị, Paris. Youtube: https://www.youtube.com/watch ?v=kCAoG8GMSq0Ghi chú của Christopher Goscha: 25-56. Tài liệu này được dịch từ bản sao một số trích đoạn trong bản gốc. Nó được chép lại từ bản gốc lưu trữ trong Thư viện Quân đội, Hà Nội. Christopher E. Goscha, người dịch tài liệu này (ra tiếng Anh) đã được phép hoàn toàn đầy đủ để làm việc đó. Văn bản là bài nói chuyện được cho là của “Đồng Chí B”. Nó có thể do chính “Đồng Chí B” viết, nhưng có nhiều khả năng hơn nó là bản đánh máy của một người nào đó dự buổi nói chuyện của “Đồng Chí B(một Cán bộ cao cấp hoặc một Thư ký đánh máy).

Trong Văn bản, “Đồng Chí B” có đề cập rằng, trong những cuộc họp của Bộ Chính trị ông ta được gọi là “Anh Ba”. Đó là Bí danh mà chúng ta được biết là của Tổng Bí thư Lê Duẩn, đã dùng trong Đảng Lao động Việt nam (từ 1976 là “Đảng Cộng sản Việt nam”). Mặc dầu tài liệu không đề ngày tháng, nhưng rõ ràng Văn bản được viết trong năm 1979, sau cuộc tấn công Việt nam của Trung quốc. Nó được củng cố thêm bằng một tài liệu khác mang tính cáo buộc mạnh mẽ, xuất bản năm 1979 theo chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt nam, trong đó đã liệt kê tuần tự sự phản bội của Trung quốc và, không hoàn toàn bất ngờ, cùng đề cập đến nhiều sự kiện mà Lê Duẩn đã kể lại trong tài liệu này. Xem: Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt nam, Sự thật về quan hệ Việt nam-Trung quốc trong 30 năm qua(Hà Nội: Nhà Xuất Bản Sự Thật, 1979). Trong phần Ghi chú này có cho thêm số trang trong bản tiếng Pháp của cùng Văn kiện: Ministère des Affaires Étrangères, La vérité sur les relations vietnamo-chinoises durant les trente dernière années. Dịch giả xin cám ơn Thomas Engelbert, Stein Tønnesson, Nguyen Hong Thach, và hơn cả là một độc giả Việt nam ẩn danh, đã sửa chữa và đóng góp cho nhiều ý kiến quý báu. Dịch giả xin chịu trách nhiệm về những sai sót trong bản dịch này.

25. Những dấu tỉnh lược (…) như vậy là nguyên văn trong bản gốc; những dấu tỉnh lược và nhận xét của Dịch giả được đặt trong dấu ngoặc vuông: […].

26. Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 đã cho Pathet Lao, Đồng minh gần gũi của Việt nam Dân chủ Cộng hòa, một khu vực tập kết tạm thời ở hai tỉnh (Bắc Lào) Phong Xa Lỳ và Sầm Nưa. Không có một nhượng địa tương tự cho Khơ-me It-xa-la, Đồng minh của Việt nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

27. Cuốn sách Sự thật về quan hệ Việt nam-Trung quốc trong 30 năm qua cho biết cuộc hội đàm cấp cao về Lào diễn ra vào tháng 8/1961 (La vérité sur les relations vietnamo-chinoises durant les trente dernière années, trang 34).

28. Trương Văn Thiên là một trong những thành viên của Đoàn đại biểu Trung quốc, người đã có mặt khi Lê Duẩn phát biểu những nhận xét này. Ông còn là Thứ trưởng Ngoại giao nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, là Ủy viên lâu năm trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung quốc. Trong những năm 1950 ông ta là Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị giữ trách nhiệm về liên lạc đối ngoại với các nước Xã hội Chủ nghĩa.

29. Sách Sự thật về quan hệ Việt nam-Trung quốc trong 30 năm qua đã miêu tả cuộc gặp gỡ như sau: “Trong một cuộc trao đổi ý kiến với những người Lãnh đạo Việt nam, Ủy viên trung ương của Đảng Cộng sản Trung quốc, thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trương Văn Thiên cho rằng ở Miền Nam Việt nam có thể tiến hành đánh du kích. Nhưng sau đó Đại sứ Trung quốc tại Hà Nội, theo chỉ thị của Bắc Kinh, đã thông báo với phía Việt nam rằng đó không phải là ý kiến của Trung ương Đảng Cộng sản Trung quốc mà chỉ là ý kiến cá nhân.”The Truth…, trang 40. (La vérité…, trang 31)

30. Xem Sự thật về quan hệ Việt nam-Trung quốc trong 30 năm qua, trang 60. (La vérité…, trang 47)

31. Lê Duẩn muốn nói đến nhiệm vụ giải thích việc tập kết Cán bộ Miền Nam ra Bắc. Lê Duẩn cũng cố tình lảng tránh không đề cập đến việc Trung quốc đã giúp Việt nam chiến thắng ở Điện Biên Phủ năm 1954.

32. Xem Sự thật về quan hệ Việt nam-Trung quốc trong 30 năm qua trang 60, đoạn phía Việt nam đã nói với Trung quốc tháng 11/1972: “Việt nam là của chúng tôi; các đồng chí không được bàn với Mỹ về vấn đề Việt nam. Các đồng chí đã nhận sai lầm năm 1954 rồi, bây giờ không nên sai lầm một lần nữa.” (La vérité…, trang 47) 33. Một trong những thư ký của Lê Duẩn, Trần Quỳnh, gần đây đã cho lưu hành ở Việt nam cuốn Hồi ức của ông ta, trong đó có nhiều chi tiết lý thú về đường lối của Lê Duẩn đối với sự phân liệt Trung Xô và sự chia rẽ trong (hàng ngũ Cán bộ cao cấp của) Đảng Lao động Việt nam về vấn đề này trong những năm 1960. Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn, không in ngày tháng, tự xuất bản, Dịch giả hiện có một bản. 34. Khang Sinh (1903-1975), một trong những chuyên viên hàng đầu của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về an ninh quốc gia. Ông ta được Bộ Nội vụ (NKVD) Liên xô đào tạo trong những năm 1930, và trở thành cố vấn thân cận nhất cho Mao trong việc cắt nghĩa những chính sách của Liên xô. Khang Sinh cũng từng là Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung quốc năm 1962, và Ủy viên Bộ Chính trị từ 1969; giữa 1973 và 1975 ông ta là Ủy viên Ban thường vụ Bộ Chính trị. 35. Xem Sự thật về quan hệ Việt nam-Trung quốc trong 30 năm qua trang 43, trong đó Việt nam tuyên bố là Đặng Tiểu Bình đã hứa sẽ coi Việt nam là ưu tiên số một trong vấn đề viện trợ cho nước ngoài để đổi lấy việc Việt nam sẽ khước từ mọi viện trợ của Liên xô. (La vérité…, trang 33)

36. Xem “Sự thật về quan hệ Việt nam-Trung quốc trong 30 năm qua” trang 43. (La vérité…, trang 33) và cả Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn.

37. Tháng 11/1966, Liên xô lên án Trung quốc đã từ bỏ đường lối Cộng sản thế giới đã được thông qua tại các Hội nghị Mascơva 1957 và 1960. Xem thêm Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn.

38. Bộ Ngoại giao, Sự thật về quan hệ Việt nam-Trung quốc trong 30 năm qua cho biết Mao đã phát biểu như vậy với đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt nam ở Vũ Hán năm 1963. Trong sách đã trích dẫn lời Mao nói: “Tôi sẽ làm Chủ tịch 500 triệu bần nông đưa quân xuống Đông Nam châu Á.” (La vérité…, trang 9).

39. Đoạn này có thể dịch (sang tiếng Anh) là “và tôi sẽ đánh bại cả các anh nữa” hoặc “tôi có thể đánh bại cả các anh”.

40. Đối với Dịch giả (Christopher E. Goscha), chỗ này không được rõ là Lê Duẩn muốn nói tới ai khi dùng chữ “Quân sự”. (Ngược lại, đối với người dịch ra tiếng Việt thì rõ ràng trong ngôn cảnh này ông nói là tôi mời một số anh em bên Quân đội…, một cách nói thân mật, thường dùng thời đó nhưng tất nhiên hàm chỉ một số tướng tá cao cấp).

41. Đây có lẽ dựa vào lời Đại sứ Trung quốc tại Máscơva chuyển cho phía Liên xô nhân dịp kỷ niệm 15 năm ngày ký kết Hiệp ước Hữu nghị, Đồng minh và Tương trợ Trung-Xô. Đại sứ Trung quốc Phan Tự lực đã nói với Liên xô: “Nếu bọn Đế quốc dám tấn công Liên xô, nhân dân Trung quốc không hề ngần ngại, sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình theo Hiệp ước và cùng với nhân dân Liên xô vĩ đại… sẽ kề vai sát cánh chiến đấu cho đến thắng lợi cuối cùng.” Trích từ Donald S. Zagoria, Mạc tư khoa, Bắc Kinh, Hà nội(New York: Pegasus, 1967), trang 139-140.

42. Bành Chân là Ủy viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung quốc từ 1951 đến 1969.

43. Lý Cường là Phó Chủ tịch Ủy ban liên lạc kinh tế đối ngoại của Quốc vụ viện từ 1965 đến 1967. Giữa 1968 và 1973, ông là Thứ trưởng Bộ Ngoại thương, và từ 1973 là Bộ trưởng Ngoại thương Trung quốc.

44. Đây muốn nói tới chuyến đi của Lê Duẩn vào tháng 11/1977.

45. Lê Duẩn quên rằng cho đến tháng 3/1945, thậm chí chỉ với số người ít hơn, Pháp đã có thể cai trị Việt nam mà không gặp quá nhiều khó khăn.

46. Về cố vấn Trung quốc, xin xem Qiang Zhai, Trung quốc và chiến tranh Việt nam, 1950-1975 (Chapel Hill: Nhà xuất bản Viện đại học North Carolina, 2000), và Christopher E. Goscha, “Bối cảnh châu Á của Cuộc chiến Pháp-Việt” luận án trình bày tại Trường Cao đẳng thực hành, thuộc Viện Đại học Sorbonne, Paris, 2000, phần Trung quốc.

47. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp Lê Duẩn thường xuyên ra miền Bắc, nhưng ông thường được cho là vẫn ở lại Miền Nam thời kỳ này trong cương vị Bí thư Xứ ủy Nam kỳ, mà sau này đổi thành Trung ương cục Miền Nam vào đầu năm 1950. Dịch giả cũng hoài nghi việc Lê Duẩn đi Trung quốc năm 1952. Hồ Chí Minh thì có, nhưng Lê Duẩn thì không.

48. Về chi tiết này, xin xem Chương 6 của cuốn sách này.

49. Điều này khẳng định “Đồng Chí B” cũng chính là “Anh Ba”. Ta biết rằng Anh Ba là Bí danh của Lê Duẩn, từ đó suy ra “Đồng Chí B” cũng là Lê Duẩn. Từ những sự kiện được nói đến trong Văn bản thì điều này là chắc chắn, và cuốn Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn, cũng khẳng định điều này.

50. Ở đây có thể ám chỉ Hoàng Văn Hoan. (Để có cái nhìn toàn cảnh hơn) về một quan điểm cần tranh luận, xin tham khảo thêm cuốn Giọt nước trong biển cả (Hồi ức về một cuộc cách mạng) (Bắc Kinh: Nhà xuất bản Tin Việt nam, 1986).

51. Xem thêm Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn.

52. Đây có lẽ muốn nói bóng gió tới Liên xô (và khối Đông Âu).

53. Hình thức chiến tranh này đã từng có ở Trung quốc và những nơi khác trong hoàn cảnh chiến tranh du kích.

54. Điều này đã diễn ra vào tháng 6/1960. Để biết thêm về lập trường của Lê Duẩn trong vấn đề này xin xem Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn. Sau đại hội Đảng Cộng sản Ru-ma-ni tháng 6/1960, Liên xô đã tổ chức một cuộc họp tại chỗ các trưởng đoàn đại biểu những nước có mặt. Trong buổi họp đó Khơ rút xốp đã phê phán Trung quốc nặng nề, đặc biệt là Mao, người mà ông ta cho là “giáo điều” vì những quan điểm của Mao về vấn đề chung sống hòa bình. Xem Adam B. Ulam, The Communists: The Story of Power and Lost Illusions 1948-1991(New York: Macmillan, 1992), trang 211.

55. Dường như đây là một cái tát vào mặt Hoàng Văn Hoan mà không phải ai khác.

56. Đây có lẽ muốn nói tới những nhà Lãnh đạo khác đang có mặt nghe Lê Duẩn nói chuyện, và có thể là một chỉ hiệu rằng người đồng chí thân Trung quốc đã nói ở trên không có mặt trong buổi nói chuyện này. Xem thêm Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn.

“Đại Gia Rác, Việt Kiều Yêu Nước” David Dương Ôm Đầu Máu Bỏ Của Chạy Lấy Người Thoát Khỏi Thiên Đường CSVN?

THS – Nội dung bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm và chủ trương của Thiên Hạ Sự. Trong tinh thần truyền thông 2 chiều, tòa soạn gửi đến một bài viết từ một nhà báo chống Cộng viết về một doanh nghiệp Việt kiều hoạt động tại Việt Nam.

VietPress USA (12/6/2016) – Nhà “đại Việt kiều Yêu nước” có nhiều bằng cấp do Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Chính phủ CsVN Nguyễn Tấn Dũng; Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao CsVN Phạm Bình Minh trao tặng; có “vinh dự” đọc diễn văn ca ngợi đảng CsVN và Nhà nước CHXHCNVN trong Đại hội Họp Mặt Kiều Bào Mừng Xuân Quê Hương Ất Mùi 2015; có công thu xếp các phái đoàn CsVN qua kết nghĩa “Sister Cities” với nhiều thành phố ở Hoa Kỳ.. hôm nay được chính thức ôm đầu máu bỏ của chạy lấy người!


Tin từ Hà Nội vừa tiết lộ rằng văn phòng Trung ương đảng CsVN và Thủ tướng CsVN Nguyễn Xuân Phúc đã ra quyết định theo yêu cầu của liên Bộ Tài Chánh và Bộ Tài Nguyên Môi trường cho thanh tra thuế vụ; thanh tra vi phạm môi trường, truy thu trốn thuế và xử lý các vi phạm của “Kiều bào Yêu nước của ta” là “Vua rác David Dương” liên quan đến hoạt động đầu tư “công nghệ mới nhất của Mỹ” về chôn rác tại dự án xử lý rác thải ở Đa Phước thuộc thành phố Saigon.


Trên báo mạng “Tình Thương & Cuộc Sống” (http://tinhthuongvacuocsong.com/dai-gia-rac-david-duong-lai-tay-khong-bat-giac-xu-ly-rac-o-long-an/) mở đầu bài viết về “Việt kiều Rác” dưới tựa đề “Đại gia rác” David Dương lại “tay không bắt giặc” xử lý rác ở Long An” đã viết như sau:


“Chủ đầu tư nhiều tai tiếng: 
Ông David Dương, Tổng Giám đốc Công Ty Cổ Phần (CTCP) Xử lý chất thải Việt Nam – Long An là một Việt kiều Mỹ, và là người sáng lập VWS (Vietnam Waste Solution). VWS là chủ đầu tư Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước (gọi tắt là bãi rác Đa Phước) tại xã Đa Phước, huyện Bình Chánh, TP.HCM, mỗi ngày tiếp nhận khoảng 5.000 tấn rác của thành phố với khá nhiều “tai tiếng” trong thời gian gần đây.


“Những tai tiếng của VWS đã được ông Lê Mạnh Hà, nguyên Phó Chủ tịch UBND TP.HCM, nay là Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ nêu ra và đăng tải công khai trên nhiều phương tiện truyền thông đại chúng. Đó là việc UBND TP.HCM thanh toán chi phí cho VWS cao hơn so với các doanh nghiệp cùng sử dụng công nghệ chôn lấp.


“Hàng năm ngân sách TP.HCM chạy vào khoản lợi nhuận của doanh nghiệp này 3 triệu USD. Chưa kể Nhà nước phải thanh toán tăng hằng năm 3% giá xử lý rác cho VWS, trong khi các doanh nghiệp khác không được tăng như vậy. Bên cạnh đó là việc bất hợp lý khi đóng cửa bãi chôn lấp số 3 Khu xử lý rác Phước Hiệp để chuyển về khu xử lý rác Đa Phước của VWS. Và vì sao mấy năm qua TP.HCM không thực hiện đấu thầu xử lý rác?


“Trên thực tế, bãi rác Đa Phước được cho là có sự “can thiệp công nghệ” hiện đại của Mỹ, và TP.HCM mỗi ngày phải mất hơn 49.000 USD để chi trả cho việc xử lý rác ở đây. Công nghệ hiện đại ở đâu chưa thấy, nhưng việc gây ô nhiễm từ bãi rác này khiến người dân quanh vùng lên tiếng phản đối kịch liệt.


“Kết luận của Thanh tra TP.HCM mới đây về hoạt động của bãi rác Đa Phước cho thấy nhiều điểm bất thường về chủ đầu tư VWS. Vì theo hợp đồng VWS ký với Sở TN&MT TP.HCM vào ngày 28/2/2006, VWS sẽ tiếp nhận khối lượng chất thải rắn sinh hoạt, sau đó tiến hành phân loại, tái chế sản xuất phân compost, tái sử dụng plastic, phần còn lại không sử dụng được sẽ chôn lấp.


“Tuy nhiên, trên thực tế VWS chưa thực hiện phân loại, tái chế như hợp đồng mà chôn lấp toàn bộ với công suất 3.000 tấn/ngày trong thời gian 24 năm. VWS cũng chưa thực hiện đúng giấy phép đầu tư số 2535 cấp ngày 28/12/2005 khi không xây dựng và điều hành nhà máy phân loại, thu gom nguyên liệu tái chế và tái sử dụng chất thải công suất 2.500 – 3.000 tấn/ngày.


“Tại khâu xử lý nước rỉ, bãi rác Đa Phước đưa vào hoạt động từ năm 2007 nhưng phải đến 31/12/2015, Sở TN&MT mới ban hành quy định về kiểm tra, giám sát và nghiệm thu công tác cung ứng dịch vụ. Như vậy, trong vòng 8 năm hoạt động, bãi rác Đa Phước không có ai giám sát về các công tác cung ứng dịch vụ.”


Ngày 29-3-2016, trên trang tin tức của VOA (http://m.voatiengviet.com/a/ong-david-duong-va-dau-tu-rac-o-viet-nam/3259702.html) có đăng tải bài phỏng vấn của ông Bùi Văn Phú hỏi ông David Dương với phần mở đầu rằng:
Công ty rác California Waste Solutions (CWS) do một người Việt làm chủ đã hoạt động ở California trong hơn hai thập niên, hiện có hợp đồng thu gom rác cho hai thành phố Oakland và San Jose ở miền bắc California.


Năm 2005, ông David Dương là tổng giám đốc của CWS quyết định đem công nghệ rác từ Hoa Kỳ về Việt Nam và đã mở ra công ty con là Vietnam Waste Solutions (VWS) với dự án khu liên hợp xử lý chất thải tại Đa Phước thuộc Tp Hồ Chí Minh.


Trong thời gian đầu các cơ quan truyền thông trong nước hết lời ca ngợi VWS là một đóng góp của Việt kiều từ Mỹ trong việc đầu tư giúp đất nước phát triển. Nhưng hơn một năm qua báo chí trong nước lại nhắc VWS đến với nhiều thông tin rất tiêu cực.”


Ông Bùi Văn Phú viết trên VOA hỏi rằng “trong một buổi họp giữa tân Bí thư Thành ủy Tp Hồ Chí Minh là ông Đinh La Thăng với các nhà đầu tư nước ngoài, bà Huỳnh Thị Lan Phương, phó tổng giám đốc của VWS, đã phát biểu một câu mà báo Tiền Phong Online có ghi lại: “Em nói xong không biết có còn về Mỹ được không”. Câu nói đó gây nhiều hoang mang cho Việt kiều về nước đầu tư, thưa ông David, chuyện gì đã xảy ra với công ty VWS?”


Ông David Dương nói rằng vào “Thời điểm đó bà Lan Phương có bức xúc về những khó khăn về thuế má, hợp đồng của công ty. Trong buổi họp, bà ấy đã đăng ký để phát biểu nhưng chương trình gần hết rồi mà không thấy kêu bà phát biểu nên bà giơ tay lên. Trong lúc bức xúc đó vì nói hết mọi chuyện sợ là quá dài, vì công ty của chúng tôi đang bị nói xấu, đánh phá và có một mạng xã hội trên Facebook còn nhân danh phó chủ nhiệm văn phòng chính phủ cũng đánh phá chúng tôi, đưa lên nhiều bài nói xấu có ảnh hưởng đến công ty, vì quá bức xúc nên bà Lan Phương đã có những phát biểu như thế.”


Ông David Dương kể ra các khó khăn của công ty VWS hiện nay là ông làm tốt, công nghệ kỹ thuật chôn rác cao, tiền lãnh giá cao; trong khi những Công ty trong nước cũng sử dụng công nghệ tốt nhất nhân loại là chôn rác như thế mà lại lãnh tiền giá thấp, không được ưu đãi về giảm miễn thuế; ít được báo chí truyền thông ca ngợi nên sinh lòng ganh ghét đố kỵ với công việc đầu tư của VWS và cá nhân ông; moi chuyện cũ từ năm 2005, 2006 ra nói hoài như vụ Thành phố trả trước 9 Triệu Mỹ kim.. v.v. và v.v…!


Ông David Dương cũng giải thích rằng Công ty xử lý rác thải Phước Hiệp đã hoạt động 10 năm rồi mà không đầu tư gì cả, không hiệu quả nên tự nhiên Thành phố đóng cửa và lấy số rác thải 2.000 tấn mỗi ngày của bãi rác Phước Hiệp giao cho bãi rác Đa Phước của ông David Dương xử lý giúp. Ông David Dương nói :”Phước Hiệp là dự án của công ty môi trường đô thị. Họ đã không đầu tư và thực hiện công việc đến nơi đến chốn, vận hành không đúng như để nước dơ tràn xuống sông, ngấm vào hệ thống nước ngầm, vì vấn đề bảo vệ môi trường nên nhà nước quyết định đóng cửa và giao cho mình trên 2 nghìn tấn rác. Nên có thể họ nghĩ là do tác động của mình. Thực sự chúng tôi không tác động vào việc đó vì mình có hợp đồng với thành phố để xử lý 3 nghìn tấn rác tối thiểu một ngày. Mình chỉ muốn đem công nghệ từ Mỹ về và làm công việc cho được tốt. Còn bên Phước Hiệp từ đó đến nay đã mười năm rồi mà không đầu tư đến nơi đến chốn, không nhẽ họ nhận chi phí thấp hay sao? Mình không có tham vọng làm hết mọi chuyện vì ở thành phố hiện nay cũng còn vài ba dự án xử lý rác nữa. Tuy nhiên nay đã có văn bản cho biết đến năm 2020 sẽ đóng cửa các bãi rác của thành phố.”
Ông David Dương ký hợp đồng xử lý rác tới 50 năm vào ngày 28/2/2006, đã làm được 10 năm 4 tháng 10 ngày tính cho đến ngày hôm nay 12/6/2016. Ông cho biết nếu đáng cửa bãi rác Đa Phước thì Thành phố sẽ ưu ái dành đất cho ông chuyển về Khu xử lý Môi Trường Xanh ở Long-An mà ông đã ký kết với vốn đầu tư 500 Triệu Mỹ kim.


Tuy nhiên trong bài viết “Tay không bắt cọp” nói về đầu tư của David Dương tại Dự án Khu Công nghệ Môi trường Xanh Long An, báo mạng “Tình Thương & Cuộc Sống” chỉ ra rằng: “Khi những tai tiếng tại dự án Đa Phước vừa được công bố không bao lâu, Sở TN&MT tỉnh Long An lại khiến dư luận đặt nhiều dấu chấm hỏi khi đặt bút ký bản hợp đồng với chủ đầu tư VWS.
“Theo quy hoạch, Khu Công nghệ Môi trường xanh thuộc địa bàn xã Tân Lập, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An cách trung tâm TP.HCM khoảng 55-60km (đi theo hướng Quốc lộ 1A) có diện tích 1.760 ha. Tuy nhiên, thực tế khu đất dự án này do UBND TP.HCM chi tiền ngân sách đền bù giải phóng mặt bằng và VWS dù không tốn bất cứ chi phí nào, vì sao vẫn nghiễm nhiên là chủ đầu tư của dự án?


“Theo tìm hiểu của phóng viên, hiện trạng dự án chỉ mới thực hiện xong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, chưa được san lấp mặt bằng, chưa có cơ sở hạ tầng kỹ thuật (đường giao thông, cấp điện, cấp nước) và do khu vực chưa có đường vào nên việc di chuyển đến khu công nghệ này từ hướng Quốc lộ 1A hoàn toàn được thực hiện bằng phương tiện đường thủy.
“Hiện vẫn chưa rõ dự án này đã hoàn thành báo cáo đánh giá tác động môi trường hay chưa? Theo các chuyên gia, khu vực dự án nằm ở vùng lõi của vùng Đồng Tháp Mười, nếu các yếu tố môi trường không đạt tiêu chuẩn 100% theo quy định của Nhà nước sẽ đe dọa đến môi trường sinh thái và môi trường sống của hàng triệu người dân khu vực này.”


Báo báo mạng “Tình Thương & Cuộc Sống” cho hay rằng ông David Dương chỉ “mượn đầu heo nấu cháo” mà thôi vì ông không có vốn đầu tư, ông chưa làm dự án mà đã đem cầm cố mượn tiền! Báo nầy viết: “Có thể khẳng định, hiện VWS không có năng lực xử lý rác cho tỉnh Long An và việc ký kết hợp đồng này hoàn toàn có thể bị chủ đầu tư lợi dụng để vay, huy động vốn. Trên thực tế, vừa qua VWS đã công bố ký kết hợp đồng vay 148 triệu Mỹ kim với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cho giai đoạn 1 của dự án Khu công nghệ Môi trường xanh Long An.


“Tài sản thế chấp cho khoản vay này được mô tả: “Tài sản hình thành trong tương lai thuộc khu dự án Khu công nghệ môi trường xanh theo hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số 01/2016/7839490/HĐBĐ ký ngày 7/4/2016 giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm gồm toàn bộ lợi ích thu được từ dự án, máy móc thiết bị và công trình xây dựng thuộc dự án”.
“Theo tìm hiểu của phóng viên, thì dự án Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước đã được VWS mang đi “cắm” tại BIDV từ năm 2006 đến nay. Như vậy, phải chăng các cơ quan chức năng nên thẩm định lại năng lực tài chính của nhà đầu tư này vì theo như công bố của VWS thì vốn đầu tư giai đoạn I của Khu Công nghệ Môi trường xanh lên đến 500 triệu USD.”


Trong khi đó, báo Pháp Luật CsVN ca ngợi ông David Dương vì tinh thần yêu quê hương, yêu dân tộc của ông như sau (http://plo.vn/thi-truong-tieu-dung/doanh-nhan-viet-kieu-va-trach-nhiem-que-huong-479559.html ):
“Mong muốn được đóng góp nhiều hơn cho đất nước, ý chí và sự quyết tâm là đặc điểm khiến ai cũng phải nể phục khi nhắc đến ông David Trung Dương (còn gọi là David Dương), Tổng Giám đốc Công ty TNHH Xử lý Chất thải rắn Việt Nam (Vietnam Waste Solutions – VWS).


“Cho dù tôi hay mọi người ở khắp nơi trên thế giới hay ngay tại Việt Nam thì đều mong muốn được cống hiến những điều tốt đẹp nhất cho đất nước mình…” – ông David Dương mở đầu câu chuyện với chúng tôi như thế.
Báo Pháp Luật hỏi: “Có người nói rằng khi đi xa, cho dù bôn ba mưu sinh ở bất kỳ đâu, người ta vẫn nhớ, lòng vẫn hướng về quê hương đất nước, về nơi mình được sinh ra. Và bằng cách này hay cách khác họ sẽ cố gắng đóng góp để phát triển đất nước. Là một doanh nhân Việt kiều, cá nhân ông cảm nhận thế nào?


“Ông David Dương: “Tôi nghĩ rằng câu nói này rất đúng về niềm khát khao được đóng góp một cái gì đó cho quê hương Việt Nam. Không chỉ của riêng tôi mà tôi tin rằng rất nhiều người gốc Việt đang định cư trên toàn thế giới đều có mong muốn như vậy. Bản chất của người Việt Nam mình vốn rất yêu quê hương, luôn hướng về đất nước.


“Tôi rất tự hào vì mình là một trong những người gốc Việt đầu tiên làm về thu gom và tái chế rác ở Mỹ. Công việc của mình không chỉ tạo ra việc làm cho vài trăm công nhân viên nước sở tại mà còn góp phần phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường. Tôi luôn ao ước có thể cống hiến những thành quả như vậy tại Việt Nam. Và tôi đang làm theo nguyện vọng của đấng sinh thành là thành lập Công ty TNHH Xử lý Chất thải rắn Việt Nam. Mỗi ngày, công ty tôi nhận xử lý 3.000 tấn rác. Khi thấy công việc của mình đem lại nhiều nguồn lợi về môi trường, sức khỏe cho người dân, tôi cảm thấy mãn nguyện.”


Là “đại Kiều Bào Yêu nước như thế, yêu đảng, yêu Xã Hội Chủ nghĩa như thế”, ông David Dương đã tích cực đóng góp nhiều thứ để được giới lãnh đạo phe nhóm trước đây cho nhiều ưu ái miễn giảm thuế, khỏi thanh tra.. nước thải của rác thúi chảy tràn vào nhà dân ở vùng Đa Phước, dân biểu tình thì quan lớn cho công an trấn áp dọa nạt cũng như tình trạng dân biểu tình vì môi trường cá chết hiện nay.. Lấy tiền rác cho mấy tên cầm đầu đảng và Chính phủ thuộc phe cũ ăn, nay phe mới đang “bới lông tìm vết” để diệt tội ác tham nhũng của phe cũ.. và con vịt bầu David Dương bắt đầu bị đưa ra làm thịt!


Bộ Tài Chánh Hà Nội phúc trình cho biết mức truy thu trốn thuế của Công ty VWS do ông David Dương làm chủ trong 10 năm hoạt động vừa qua sẽ trên 10 Triệu USD. Có tin nói là USD 12 Triệu tiền truy thu trốn thuế. Ngoài ra khoản tiền phạt kinh doanh trốn thuế sẽ bị mức phạt 150% tức khoảng USD 15 Triệu nữa.


Từ khi ông David Dương nhận được Giấy phép Đầu tư khu xử lý rác thải Đa Phước ngày ngày 28/2/2006, nước thải ô nhiễm sình hôi cả vùng Đa Phước dân kêu cứu, báo chí phản ảnh nhưng chưa hề có lần nào bị phái đoàn điều tra Môi trường đến thăm hỏi xem xét. Cho đến khi Hà Nội đưa ông tân Bí thư Thành ủy Saigon là ông “Vớt bèo” Đinh La Thăng vào thì mới có phái đoàn Thanh tra của Sở Tài Nguyên Môi Trường Thành phố đi điều tra kết luận những điều tệ hại không như Công ty VWS báo cáo và quảng cáo lâu nay!


Hiện nay trước làn sóng dân đòi “Môi trường Sạch”, thay vì phải có biện pháp đối với Nhà máy Formosa thì Hà Nội cho làm thịt “Kiều bào ta có công vì đảng, vì nhà nước XHCNVN và vì nhân dân Việt Nam anh hùng” David Dương để làm gương.


Theo kế hoạch của CsVN và Trung Quốc thì những Công ty nào từ Hoa Kỳ hiện đang hoạt động tại Việt Nam sẽ lần lượt bị thanh tra, phạt thuế, bị sách nhiễu và kết quả bị “tự rút lui” hoặc “bị đóng cửa” để không còn ảnh hưởng của Mỹ dù tời đây Việt Nam sẽ vào làm thành viên của Hiệp Định Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương TPP (Trans-Pacific Partnership).


CsVN sẽ ưu tiên cho các Công ty từ Bắc Âu hoặc các Công ty Trung quốc đội lốt dưới danh nghĩa Đài Loan (giống như Formosa) hay các quốc gia khác, nhất là Lào và Campuchia vào đầu tư, hợp tác với Việt Nam để xuất hàng hóa Trung Quốc qua thị trường Mỹ và các nước trong khối TPP trong thời gian tới.


Chúng tôi nhận được tin rằng sau khi làm thịt “Việt kiều yêu nước, Kiều bào ta ở hải ngoại” David Dương thì sẽ có thêm ít nhất 2 Công ty Việt kiều ở Mỹ làm ăn tại Việt Nam sẽ bị giũ sổ. VietPress USA đang theo dõi và sẽ tường trình tiếp đến đọc giả khắp nơi.


Dù có tin chắc chắn rằng, chính quyền Hà Nội sẽ có biện pháp dứt điểm đối với “Đại gia rác” David Dương trong tuần nầy; nhưng chúng tôi vẫn khẳng định rằng tin nầy được loan dè dặt. Trong thời gian TT Barack Obama về Việt Nam, mặc dầu ông David Dương rất muốn đi trong đoàn doanh nghiệp Mỹ tháp tùng Tổng Thống; nhưng ông David Dương đã không “dám” xuất hiện. Thà là bỏ của chạy lấy người còn hơn vừa bị “ủ tờ” vừa bị tịch thu toàn bộ tài sản. Nếu với mức truy thu thuế và mức phạt thuế tối thiểu 20 Triệu USD, chắc chắn ông David Dương không có khả năng chi trả và như vậy nhà máy xử lý rác thải của ông nếu có máy móc hiện đại gì thì sẽ bị tịch thu. Ông “Việt kiều yêu nước” đã dạy cho CsVN biết cách xử lý rác thải thì nay đã đến lúc họ tự làm lấy và bắt ông phải ói ra cho họ ăn những gì ông đã nuốt vào lâu nay từ bãi rác Đa Phước!


Hạnh Dương