Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ trong quân đội

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=207369

 THS2018 – Tòa soạn gửi bài viết ngày 01/12/2010 nhằm trả lời trước những “tự do chửi lãnh đạo” dù là những phản ứng tiêu cực trong nước của các nhóm CCB QĐND và dù nhóm nhỏ nhưng cũng đã tạo nhiều ảnh hưởng không tốt về NNVN nhất là tình trạng “đổi mới và tiến triển dân chủ”. Những nhóm phản động nước ngoài cũng đã lợi dụng thời cơ để khai thác, xúi dục.

Nguyễn Năng Nam,

Ths. Phòng Chính trị, Học viện Khoa học Quân sự 

Từ viết tắt In trang Gửi tới bạn

Tìm hiểu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ trong quân đội không phải là một đề tài mới, mà là một lĩnh vực đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập tới với nhiều công trình có giá trị. Bài viết trình bày có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đánh giá, sắp xếp, sử dụng cán bộ trong quân đội, coi đây là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho công tác cán bộ trong quân đội trong điều kiện hiện nay.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không để lại một tác phẩm riêng nào bàn về vấn đề cán bộ và công tác cán bộ trong quân đội. Nhưng khi nghiên cứu di sản lý luận được thể hiện trong nhiều bài nói, bài viết và thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quân đội của Người, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đặc biệt đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ trong quân đội. Bởi, cán bộ là “đầu óc”, là “những người đặt kế hoạch và điều khiển đánh trận”[1], trực tiếp chăm lo huấn luyện bộ đội, lãnh đạo, quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ trong các đơn vị, và khi “anh em tư tưởng vững, chính trị vững, kỹ thuật khá, thân thể khỏe mạnh thì nhất định thắng”[2].

Là người cán bộ cách mạng, cán bộ trong quân đội phải có đủ “đức”, đủ “tài”; phải vừa “hồng”, vừa “chuyên”. Xét về mặt đạo đức, đó là trung với Đảng, hiếu với dân; phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính; lời nói đi đôi với việc làm; phải luôn luôn quan tâm đến cấp dưới. Người yêu cầu “cán bộ phải thương yêu săn sóc đội viên. Cán bộ phải chăm lo đội viên đủ ăn đủ mặc. Cán bộ có coi đội viên như chân như tay, đội viên mới coi cán bộ như đầu như óc”[3].

Xét về mặt tài năng, theo Người, “tài” không dừng ở “trí”, mà được cụ thể ở sự ứng biến nhanh, nhạy, bén trong các tình huống, tinh thông nghề nghiệp và có khả năng cảm hoá lòng người…

Và quan trọng nhất là năng lực quán triệt, thực hiện đường lối của Đảng, nghị quyết của Đảng ủy Quân sự trung ương và chỉ thị của cấp trên.  Phải kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, bởi nó là kẻ địch hết sức nguy hiểm với trăm thứ bệnh, như: quan liêu, hách dịch, tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa… làm tha hoá, biến chất người cán bộ. Đồng thời, cần chú trọng giáo dục tính kỷ luật để mọi người tự giác chấp hành, tuân thủ mọi điều lệnh, điều lệ quân đội, pháp luật nhà nước, mọi hoạt động quân sự phải nhất quán, chấp hành tuyệt đối chỉ thị, mệnh lệnh, nhiệm vụ cấp trên giao, trong bất kỳ tình huống, hoàn cảnh nào cũng phải giữ nghiêm kỷ luật quân sự.

Đây là cơ sở tạo thành niềm tin vững chắc, sức mạnh to lớn, là động lực mạnh mẽ để cán bộ trong quân đội tự rèn luyện, phát huy tinh thần trách nhiệm và trí thông minh sáng tạo, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.Trong quân đội, “người tướng” – người cán bộ lãnh đạo và chỉ huy trong quân đội có vai trò rất quan trọng. Người nói: “Tướng là kẻ giúp nước. Tướng giỏi… thì nước mạnh. Tướng xoàng thì nước hèn”[4].

Do đó, người tướng phải có “trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”[5]Trí là phải có óc sáng suốt để nhìn mọi việc, để suy xét địch cho đúng. Dũng là không được nhút nhát, phải can đảm, dám làm những việc đáng làm, dám đánh những trận đáng đánh, “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Nhân là phải thương yêu cấp dưới, phải đồng cam cộng khổ với họ, “…phải là người anh, người chị, người bạn của đội viên…

Cán bộ có thương đội viên như chân tay, thì đội viên mới thân cán bộ như ruột thịt”[6].

Đối với địch hàng, ta phải khoan dung. 
Tín là phải làm cho người ta tin mình và cũng còn nghĩa là tự tin vào sức mình nữa, nhưng không phải là tự mãn tự cao. 
Liêm là chớ tham của, chớ tham sắc, tham sắc thì hay bị mỹ nhân kế, chớ tham danh vọng, tham sống. 
Trung là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng. 
Trí và Dũng là hai phẩm chất cơ bản nhất, nó rất cần thiết trong lĩnh vực hoạt động quân sự, giúp cho người cán bộ trong quân đội khi cầm quân đủ sáng suốt, bình tĩnh, quyết đoán, xử trí các tình huống chiến đấu một cách kịp thời, chính xác.

Đối với cán bộ quân sự phải có năng lực về chính trị, vì: “quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”; quân đội ta là quân đội nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, “Đảng có chính cương, chính sách. Đã là quân đội nhân dân thì phải học chính sách của Đảng“.

Do đó, “trong việc chỉnh huấn bộ đội, phải lấy chính trị làm gốc”[7]. Giữa chính trị và chuyên môn có quan hệ với nhau như phần “hồn” và “xác” của cơ thể. Người nhấn mạnh: “Có chuyên môn mà không có chính trị thì chỉ còn cái xác không hồn.

Phải có chính trị trước rồi có chuyên môn[8].

Chính trị của quân đội không chỉ là chính trị – tinh thần mà còn là chính trị – thực tiễn, được thể hiện trên tất cả các mặt, các lĩnh vực hoạt động của con người và tổ chức trong quân đội.

Thực chất xây dựng quân đội về chính trị là xây dựng bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của quân đội.Đối với cán bộ chính trị phải có tư duy về chiến lược, chiến thuật, có khả năng chỉ huy và dạy cho bộ đội đánh giặc, phải thực hiện tốt nhiệm vụ cụ thể của mình đối với bộ đội; đối với nhân dân và đối với quân địch.

Ba nhiệm vụ đó rất rõ ràng, ngắn gọn nhưng nội dung của nó hết sức phong phú và rộng lớn. 

Đối với bộ đội, “chính trị viên phải thân thiết như một người chị, công bình như một người anh, hiểu biết như một người bạn”[9].

Chính vì thế, “tư cách của chính trị viên có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội. Người chính trị viên tốt, thì bộ đội ấy tốt.

Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt”[10]

Đối với nhân dân, chính trị viên phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu.

Muốn được như vậy phải đốc thúc bộ đội siêng giúp dân, hăng hái đánh giặc, không những thế, người chính trị viên phải dạy cho bộ đội biết kính trọng dân, thương yêu dân, giúp đỡ nhân dân bằng những việc làm thực tế, miệng nói, tay làm. 

Đối với quân địch, chính trị viên phải biết làm cho bộ đội nắm vững âm mưu thủ đoạn của địch, không được chủ quan khinh địch, luôn nêu cao tinh thần cảnh giác…

Muốn hoàn thành nhiệm vụ trên cương vị, chức trách của mình, đòi hỏi chính trị viên phải thường xuyên học tập, tu dưỡng rèn luyện để không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt, cả về năng lực và phẩm chất cách mạng, đặc biệt phải có những phẩm chất ý chí, trách nhiệm, có năng lực hiểu thấu đáo công việc, năng lực thực hiện nhiệm vụ với hiệu quả và chất lượng cao.

Trong quân đội, cán bộ phải thực sự gương mẫu, dân chủ, cởi mở, sâu sát với đồng sự, với chiến sỹ và nhân dân; “phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh”[11]. Người quan tâm lấy giáo dục, thuyết phục, nêu gương làm chính.

Trong lời nói, việc làm phải lấy chính trị trọng hơn quân sự; phải biết làm cho tinh thần của bộ đội, sức mạnh của tổ chức được truyền qua súng, phải thực sự làm sao cho chính trị là linh hồn của quân đội cách mạng. Người kiên quyết chống lối làm việc chủ quan, đại khái, phô trương, ham chuộng hình thức; lối làm việc gặp đâu hay đấy, nói hay làm dở, nói nhiều làm ít, nói mà không làm hoặc làm việc thiếu kế hoạch, thiếu kiểm tra, kiểm soát.Tóm lại, cán bộ trong quân đội phải vững vàng về chính trị, giỏi về chuyên môn; nghề nào cũng phải học, phải thông thạo, bởi lẽ chỉ có nhiệt tình không thôi thì chưa đủ, mà còn phải có tri thức nữa.

Vì thế, cán bộ trong quân đội phải “học tư tưởng chiến lược, chiến thuật, học cách dạy bộ đội đánh giặc, học phương pháp chỉ huy chiến đấu”[12]; “phải ra sức học chính trị, quân sự, văn hoá, cần phải nâng cao lập trường và tư tưởng của giai cấp công nhân, cần phải nắm vững đường lối quân sự của Đảng…”[13]; nắm vững bản chất cách mạng và tính biện chứng khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin để vận dụng và giải quyết đúng đắn trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng cũng như thực hiện nhiệm vụ cụ thể ở đơn vị; kiên quyết phê phán những biểu hiện lệch lạc, như: chỉ coi trọng kinh nghiệm mà xem thường lý luận, hoặc chỉ coi trọng lý luận mà xem nhẹ kinh nghiệm; học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tiễn; thao trường, bãi tập gắn với chiến trường, không lý thuyết suông, giáo điều sách vở, phải biết tự học; phải kết hợp việc “học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”[14], phải biết học trong thực tiễn, trong công việc và trong đấu tranh cách mạng.

Tóm lại, “muốn trở nên người quân nhân mới…, thì mỗi chiến sĩ, từ trên đến dưới, các cấp bậc đều phải nghiên cứu, học tập, luôn luôn cầu tiến bộ”[15].

Xây dựng đội ngũ cán bộ trong quân đội theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn được thể hiện xuyên suốt trong đánh giá, sắp xếp, sử dụng cán bộ. Đánh giá cán bộ và công tác cán bộ là khâu quan trọng, do đó, phải có những yêu cầu riêng, có những chuẩn mực phù hợp với từng thời kỳ, từng đơn vị, từng lĩnh vực, phải chú trọng cả đức và tài, cả phẩm chất và năng lực, lấy hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ làm thước đo. Người viết: “Xem xét cán bộ, không chỉ xem ngoài mặt mà còn phải xem tính chất của họ.

Không chỉ xem một việc, một lúc mà phải xem toàn cả lịch sử, toàn cả công việc của họ”[16]. Nghĩa là, quá khứ, hiện tại và tương lai của mọi người không phải luôn luôn giống nhau.

Do đó, xem xét, đánh giá cán bộ phải xuất phát từ hiện thực khách quan, với quan điểm toàn diện, lịch sử cụ thể, không thể lấy quá khứ để áp dụng cho hiện tại, lấy hiện tại để suy diễn cho tương lai, không phải tùy tiện, vô nguyên tắc, lúc thế này, lúc thế khác, do lòng yêu ghét của mình. Qua đó mới biết chỗ tốt và chỗ xấu của cán bộ, từ đó mà nâng cao chỗ tốt, sửa chữa chỗ xấu.

Đối với việc cất nhắc cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ, từ công việc và năng lực cũng như sự phát triển của cán bộ, vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái…

Trước khi cất nhắc cán bộ phải xem xét công tác, cách sinh hoạt, cách nói, cách viết, việc làm của họ có đúng với lời nói, bài viết của họ hay không; có đặt lợi ích việc nước, việc công lên trên việc tư, việc nhà; có dám nghĩ, dám làm, vượt mọi khó khăn, nguy hiểm để hoàn thành nhiệm vụ hay không; phải phù hợp tài năng của từng người, phù hợp giữa người và việc, khai thác, phát huy hiệu quả trong công tác…

Chẳng hạn, người đi giỏi thì làm giao thông, người cẩn thận thì làm trinh thám, người gan góc dũng cảm thì làm xung phong, những người bắn giỏi thì dùng ra trận…

Để việc cất nhắc cán bộ đạt hiệu quả cao cần phê phán những bệnh như:

1. Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, vì cho họ tốt hơn người bên ngoài;
2. Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình mà chán ghét những người chính trực;
3. Ham dùng những người tính tình hợp với mình mà tránh những người tính tình không hợp với mình.

Sau khi đã đề bạt rồi thì phải theo dõi, giúp đỡ, kiểm tra người cán bộ đó; nếu không như thế thì hỏng việc. Cất nhắc cán bộ không nên làm theo lối “giã gạo”, nghĩa là trước khi cất nhắc không xem xét kỹ, khi cất nhắc rồi thì không giúp đỡ họ, khi họ sai lầm thì đẩy họ xuống, chờ lúc họ làm khá lại cất nhắc lên; một cán bộ bị nhắc lên thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời. Do đó, “Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu.

Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”[17]. Ngoài ra, còn phải chú ý và làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đây là công việc gốc của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên.

Trong công tác cán bộ, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta phải biết khéo kết hợp cán bộ già với cán bộ trẻ. Đây là vấn đề tính tất yếu, tự nhiên, hợp quy luật, bởi “Số cán bộ  có ít, không đủ cho Đảng dùng. Đồng thời, theo luật tự nhiên, già thì phải yếu, yếu thì phải chết. Nếu không có cán bộ mới thế vào, thì ai gánh vác công việc của Đảng”.

Để làm tốt việc này, cần phải xác định rõ ưu, khuyết điểm của hai thế hệ cán bộ này và “Cán bộ cũ phải hoan nghênh, dạy bảo, dìu dắt, yêu mến cán bộ mới… Hai bên phải tôn trọng nhau, giúp đỡ nhau, học lẫn nhau, đoàn kết chặt chẽ với nhau… Như thế mới chữa khỏi bệnh hẹp hòi[18].

Cán bộ không chỉ có già và trẻ, mà còn có cũ và mới, tại chỗ và nơi khác điều đến,… khéo kết hợp các loại cán bộ đó cũng không kém phần quan trọng. Để kết hợp tốt, thì cán bộ cũ, cán bộ tại chỗ phải hoan nghênh, dạy bảo, dìu dắt, yêu mến cán bộ mới, cán bộ nơi khác điều về. Hai bên phải tôn trọng nhau, giúp đỡ nhau, học lẫn nhau, đoàn kết chặt chẽ với nhau. Điểm mấu chốt ở đây là phải đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Đồng thời, phải biết ưu, nhược điểm của từng loại cán bộ để có sự khéo kết hợp.

Việc kết hợp nhuần nhuyễn các loại cán bộ này đã toát lên một tư tưởng lớn của Người về một triết lý phát triển bền vững; không chấp nhận tư tưởng phong kiến, Người đã kết hợp hài hòa tư duy truyền thống của dân tộc với tư duy hiện đại, kết hợp chặt chẽ giữa tính khoa học và cách mạng để khai thác tối đa mặt mạnh và hạn chế tối đa mặt yếu của từng loại cán bộ.

Muốn sử dụng cán bộ tốt phải quan tâm tới cán bộ trên cơ sở nguyên tắc và “tình thương yêu”.

Người dạy: “Đảng phải thương yêu cán bộ”, Đảng phải luôn dùng lòng nhân ái mà giúp đỡ, lãnh đạo cán bộ, thương yêu không phải là vỗ về, nuông chiều, thả mặc, thương yêu là “giúp họ học tập thêm, tiến bộ thêm.

Là giúp họ giải quyết những vấn đề khó khăn sinh hoạt, ngày thường…”, thương yêu “là luôn luôn chú ý đến công tác của họ, kiểm thảo họ… phải nêu rõ những ưu điểm, những thành công của họ…

Phải vun đắp chí khí của họ, để đi đến chỗ “bại cũng không nản, thắng cũng không kiêu”… “Kiêu ngạo là bước đầu của thất bại”[19].

Đối với những người trực tiếp làm công tác cán bộ, Người đã đặt ra yêu cầu cao về phẩm chất, năng lực và tính tự giác sửa chữa các căn bệnh ảnh hưởng tới nhiệm vụ của họ, đó là khi đánh giá, xem xét cán bộ phải “tự biết mình”, tức là biết được “sự phải trái của mình”, sửa chữa những khuyết điểm của mình, để “mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng”[20], như thế mới không phạm những căn bệnh:
1. Tự cao tự đại;
2. Ưa người ta nịnh mình;
3. Do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người;
4. Đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau…

Nếu phạm một trong bốn bệnh đó thì người làm công tác cán bộ cũng như mắt đã mang kính có màu, không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của những cái mình trông.

Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ cùng xu thế toàn cầu hoá kinh tế đang là các nhân tố cơ bản tác động mạnh mẽ và toàn diện đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có quân đội nói chung và đội ngũ cán bộ trong quân đội nói riêng, thì việc chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ trong quân đội một cách toàn diện càng có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết.

Quân đội vững mạnh sẽ chiến thắng những âm mưu thâm độc của chiến lược “diễn biến hoà bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ hòng thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng, xoá bỏ chủ nghĩa xã hội và “phi chính trị hoá quân đội” của các thế lực thù địch; đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ trong quân đội còn xuất phát từ chính yêu cầu của sự nghiệp xây dựng quân đội theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, với mục tiêu chiến đấu vì lý tưởng của Đảng là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội…

Xây dựng đội ngũ cán bộ trong quân đội còn phải xuất phát từ đường lối chính trị, đường lối quân sự của Ðảng và nhiệm vụ của quân đội, đáp ứng sự phát triển của tình hình và nhiệm vụ cách mạng. Trên cơ sở nắm vững đường lối giai cấp, tiêu chuẩn cán bộ của Ðảng để vận dụng và cụ thể hóa vào quân đội.

Tức là, chúng ta phải biết kết hợp hài hoà tính toàn diện với tính khách quan, lịch sử, cụ thể, phát triển, trong đó sự thống nhất giữa quan điểm toàn diện với quan điểm khách quan phải đặt lên hàng đầu nhằm đáp ứng nhu cầu của thực tiễn cách mạng và xây dựng quân đội.

Trong đó tập trung: xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; có số lượng và cơ cấu hợp lý; có trình độ kiến thức chuyên môn hóa ngày càng cao, năng lực chỉ huy và tổ chức hoạt động thực tiễn tốt, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.

Kết hợp chặt chẽ việc giữ gìn cán bộ qua chiến đấu, cán bộ có kinh nghiệm với việc trẻ hóa đội ngũ, tạo sự chuyển biến liên tục, vững chắc giữa các thế hệ; đảm bảo cán bộ trong quân đội thực sự là nòng cốt, tin cậy của Đảng trong xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao…

Tiếp tục đổi mới việc đánh giá, lựa chọn, sử dụng cán bộ trên cơ sở lấy hiệu quả công tác là chính; bảo đảm đánh giá đúng, sử dụng hợp lý, thể hiện tính liên tục, kế thừa, phát triển.

Chú trọng quy hoạch đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp, bảo đảm sự vững vàng về chính trị trong quá trình chuyển tiếp các thế hệ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì cấp chiến lược, chiến dịch.

Tạo sự chuyển biến toàn diện, đồng bộ về chất lượng đội ngũ cán bộ cả thường trực và dự bị.

Nghiên cứu đề ra các giải pháp phát huy nguồn lực của đất nước đào tạo cán bộ cho quân đội; điều chỉnh, bổ sung các chế độ, chính sách phù hợp để bồi dưỡng, phát triển đội ngũ và thu hút nhân tài vào phục vụ quân đội.

[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.320.
[2] Hồ Chí Minh, Sđd., t.6, tr.320.
[3] Hồ Chí Minh, Sđd., t.6, tr.320.
[4] Hồ Chí Minh, Sđd., t.3, tr.519.
[5] Hồ Chí Minh, Sđd., t.5, tr.479.
[6] Hồ Chí Minh, Sđd., t.6, tr.109.
[7] Hồ Chí Minh,Sđd, t.6, tr.464.
[8] Hồ Chí Minh,Sđd, t.9, tr.492.
[9] Hồ Chí Minh, Sđd., t.5, tr.392.
[10] Hồ Chí Minh, Sđd., t.5, tr.392.
[11] Hồ Chí Minh, Sđd., t.5, tr.296.
[12] Hồ Chí Minh, Sđd., t.6, tr.319.
[13] Hồ Chí Minh, Sđd, t.9, tr.495.
[14] Hồ Chí Minh, Sđd., t.6, tr.50.
[15] Hồ Chí Minh, Sđd., t.5, tr.417.
[16] Hồ Chí Minh, Sđd., t.5, tr.278.
[17] Hồ Chí Minh, Sđd., t.5, tr.273.
[18] Hồ Chí Minh, Sđd., t.5, tr.237.
[19] Hồ Chí Minh, Sđd., t.5, tr.283.
[20] Hồ Chí Minh, Sđd., t.6, tr.278.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s