Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

Tấn bi kịch ở châu Á và kết cuộc của Giấc mơ Mỹ

Marc Frey

Phan Ba dịch

Marc Frey, sinh năm 1963, là giáo sư về Lịch sử Quốc tế và là người giữ chức vụ Helmut Schmidt Chair of International History ở Jacobs University Bremen, Đức. Các lĩnh vực làm việc chính của ông là Lịch sử Mỹ hiện đại và Lịch sử quá trình phi thuộc địa hóa ở Đông Nam Á.

Lời nói đầu

Chiến tranh Việt Nam là xung đột quân sự dài nhất của thế kỷ 20. Cuộc chiến này đã bắt đầu như là cuộc xung đột giữa thế lực thực dân Pháp và phong trào dân tộc-cộng sản của Việt Minh trong Đệ nhị thế chiến. Mãi ba mươi năm sau đó, chiến tranh mới chấm dứt khi Hoa Kỳ rút lui ra khỏi Việt Nam, Sài Gòn thất thủ và đất nước này được thống nhất.

Cuộc chiến đã để lại những vết thương thật sâu ở Việt Nam mà cho tới nay vẫn còn chưa lành lại. Là một trong số ít các quốc gia còn bị cộng sản nắm quyền, Việt Nam đã phải chịu đựng những hậu quả lâu dài của cuộc chiến về mặt sinh thái, xã hội và kinh tế. Điều này cũng đúng cho cả Lào và đặc biệt là cho Campuchia, nơi Chiến tranh Việt Nam đã khởi động một vòng xoáy của bạo lực mà các tác động của nó trước sau vẫn còn quyết định vận mệnh của đất nước này.

Đối với Hoa Kỳ, cuộc xung đột chấm dứt với chiến bại đầu tiên trong lịch sử. “Hội chứng Việt Nam” vẫn còn ảnh hưởng tới chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ cho tới ngày hôm nay. Cuộc chiến đã tác động đến quan điểm của nhiều người Mỹ về đất nước họ, và dẫn tới việc phê phán xét lại “Thuyết ngoại lệ” Mỹ – tức là niềm tin rằng quốc gia của những người di dân có thể là một gương mẫu cho các nước và dân tộc khác.

Ở nước Đức, Chiến tranh Việt Nam đã làm thay đổi hình ảnh nước Mỹ mà cho tới tận những năm sáu mươi vẫn còn hết sức tốt đẹp. Hơn hai mươi năm sau khi người Mỹ giải phóng nước Đức ra khỏi chế độ Quốc Xã, một tinh thần chống Mỹ đã hình thành và lan rộng, ảnh hưởng đến suy nghĩ của nhiều người Đức trẻ tuổi về nước Mỹ. Ở Đức, khi người ta thảo luận về nước Mỹ và cuộc Chiến tranh Việt Nam, bên cạnh sự phẫn nộ có phân biệt trái phải thường hay có một sự hả hê ác tâm nhất định đi cùng – một sự hài lòng kỳ lạ về việc là không chỉ có lịch sử nước Đức mới đầy những con đường đi sai lầm và đầy những phát triển tai hại. Thế nhưng từ giữa những năm tám mươi và chậm nhất là kể từ khi tái thống nhất, nhận thức của nhiều người Đức và sự quan tâm đến nước Mỹ đã biến đổi một cách cơ bản. Đặc biệt, “Tấm gương Mỹ” được tuyên truyền ở khắp nơi trong mối liên quan với “toàn cầu hóa”, cùng với cuộc khủng hoảng của nhà nước an sinh xã hội và quá trình chuyển đổi từ xã hội công nghiệp sang một xã hội dịch vụ và thông tin, đã tăng cường mối quan tâm chung và tích cực đến lịch sử và xã hội Hoa Kỳ.

Quyển sách dẫn nhập này xuất phát từ những cố gắng muốn đáp ứng mối quan tâm đó. Công việc soạn thảo đã cố gắng mang lại cấu trúc cho những câu hỏi chủ đạo sau: Tại sao Hoa Kỳ can dự vào Việt Nam? Các nhà hoạt động chính trị có những động lực nào? Những cột mốc quyết định của Chiến tranh Việt Nam nằm ở đâu? Cuộc chiến có những tác động nào đến nước Mỹ? Và cuối cùng: Tại sao Hoa Kỳ thua cuộc chiến này? Qua đó có thể thấy rằng trọng tâm của quyển sách này nằm ở góc nhìn của nước Mỹ. Thế nhưng để đánh giá thì phải mang nó vào trong bối cảnh của lập trường Bắc và Nam Việt Nam, cũng như quốc tế.

Quyển sách này dựa trước hết vào nghiên cứu của các sử gia Mỹ, những người từ lâu đã tích cực nghiên cứu lịch sử của cuộc Chiến tranh Việt Nam. Cũng mang lại nhiều gợi ý là những cuộc thảo luận với sinh viên của khoa Lịch sử Anh-Mỹ trường Đại học Köln và của Chương trình Bắc Mỹ thuộc Đại học Bonn. Các phê bình của Tiến sĩ Claus Daufenbach (Bonn), Tiến sĩ Detlef Felken (München), Giáo sư Tiến sĩ Jürgen Heideking († 2000, Köln), Tiến sĩ Wilfried Mausbach (Washington) và Sigrid Schneider (Köln) cũng đã giúp tôi rất nhiều. Xin cảm ơn những người này tại đây. Anne Frey đã tư vấn cho tôi một cách hết sức thông thạo và chuyên môn, và đã trợ giúp trên nhiều mặt để bản thảo này được hoàn thành. Trách nhiệm cho văn bản, cũng như cho những đánh giá sai lầm có thể có chỉ nằm ở bản thân tôi.

I. Hoa Kỳ và Cuộc Chiến tranh Đông Dương của Pháp (1945-1954)

 Chế độ thực dân và phong trào chống thực dân ở Việt Nam cho tới 1945

Máy bay Mỹ bay một vòng danh dự trên Hà Nội, một giàn nhạc chơi bài “Star Spangled Banner”. Nhân viên tình báo Mỹ “Office of Strategic Services” (OSS) đứng từ trên một khán đài nhìn xuống một quảng trường có hàng trăm ngàn người tụ tập lại ở đó. Đứng tại tâm điểm của sự kiện là nhà dân tộc chủ nghĩa và cộng sản người Việt Hồ Chí Minh. Vào ngày 2 tháng Chín năm 1945 đó, dựa theo Thomas Jefferson, ông đã tuyên bố nền độc lập của đất nước ông, thoát khỏi chế độ thuộc địa Pháp và sự chiếm đóng của Nhật: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”[1]. Và cũng như Jefferson đã quy nhiều tội phạm về cho vua Anh George III, Hồ cũng biện hộ cho tuyên ngôn độc lập bằng sự độc đoán của chế độ thực dân Pháp.

Các sĩ quan OSS cùng với Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, Hà Nội, tháng Tám 1945

Hồ đã hoạt động nhiều năm trời cho sự kiện này. Như cha của ông – một quan lại của triều đình Huế, người rời bỏ gia đình của ông và trở thành thầy giáo đi dạy học hết nơi này sang nơi khác – Hồ cũng muốn đi ra thế giới bên ngoài ngay từ sớm. Trong năm 1922, từ ở Sài Gòn ông lên một chiếc tàu thủy làm phụ bếp và đi đến Bombay, New York và London. Trước khi Đệ nhất thế chiến bùng nổ, ông làm báo ở Paris và liên kết với những người thuộc phe Xã hội Pháp. Năm năm sau, giới công chúng lần đầu tiên chú ý đến con người Việt Nam trẻ tuổi đó: ông kêu gọi Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson, người tham dự các cuộc đàm phán hòa bình ở Versailles, hãy tạo thêm áp lực ủng hộ lời yêu cầu đòi quyền tự quyết cho mọi dân tộc, nhưng không có kết quả. Năm 1920, niềm tin cá nhân và hoàn cảnh chính trị đã dẫn Hồ đến với những người cộng sản Pháp, đảng duy nhất dứt khoát chống lại mọi hình thức của chủ nghĩa thực dân. Chẳng bao lâu sau đó, ông rơi vào xung đột với cảnh sát vì những bài báo bút chiến và chống thực dân gay gắt. Năm 1924, Hồ phải rời Pháp. Bắt đầu từ đó, Hồ có một cuộc sống nay đây mai đó, sống nhiều năm ở Moscow, ở Trung Quốc và ở Thái Lan. Trước sau ông vẫn kiếm tiền sống bằng cách viết lách. Thế nhưng qua thời gian lưu vong, ông không chỉ trở thành một nhà báo biết diễn đạt thông thạo bằng nhiều thứ tiếng – Hồ trở thành một nhà cách mạng chuyên nghiệp. Năm 1929, ông cùng với các trí thức người Việt khác thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương ở Hongkong, và cuối cùng ông đã đặt ra một mục tiêu duy nhất: nền độc lập của Việt Nam, thoát khỏi thế lực thuộc địa Pháp. Nhưng mãi Đệ nhị thế chiến mới mở ra cho Hồ những khả năng mà ông đã chờ đợi từ lâu. Vì trong những năm ba mươi, hoàn toàn không có điều gì cho thấy rằng chế độ thuộc địa Pháp ở Đông Dương sẽ sớm chấm dứt.

Ba năm trước khi Hồ ra đời, trong năm 1887, Pháp thành lập Liên bang Đông Dương sau những trận chiến kéo dài. Pháp đã lợi dụng các xung đột địa phương ở Việt Nam và dần dần mở rộng chế độ thuộc địa ra thành bốn đơn vị hành chánh: Nam Kỳ với thủ đô Sài Gòn, Vương quốc An Nam ở miền Trung Việt Nam, Bắc Kỳ với trung tâm Hà Nội ở miền Bắc, và vương quốc láng giềng Campuchia. Lào nhập vào vài năm sau đó. Sau khi những kháng cự cuối cùng bị bẻ gãy năm 1897, công cuộc thuộc địa hóa có hệ thống được bắt đầu. Hành chánh được tập trung hóa, quyền tự trị của làng mạc bị hạn chế nhiều và tiếp tục bị làm suy yếu đi bởi một hệ thống lao động khổ sai (corvée). Thị trường nội địa bị đóng kín cho tới mức trên thực tế chỉ có hàng hóa Việt và Pháp là đến được với thị trường. Qua trưng thu và khai phá, nhiều nông trại và đồn điền lớn đã thành hình, sản xuất gạo và cao su cho xuất khẩu. Đi cùng với việc này là công cuộc xây dựng kênh đào, đường sắt và đường bộ.

Nhà hát trong Chợ Lớn

Cho tới Đệ nhất thế chiến, hạ tầng cơ sở được cải thiện, kinh tế tiền tệ và kinh tế thực dân, và cả việc xây dựng một hệ thống giáo dục mang dấu ấn Pháp cũng đã làm thay đổi cấu trúc xã hội một cách sâu sắc. Cộng đồng làng mạc truyền thống, khai thác đất trồng trọt phần lớn như là sở hữu chung, bắt đầu tan rã ở một vài vùng, nhất là khi việc tái phân chia đất đai đã mang lại một giai cấp tinh hoa mới. Trong khi xã hội nông thôn nằm trong một trạng thái có nhiều căng thẳng giữa truyền thống Nho giáo-Phật giáo và hiện đại tư bản-Phương Tây, con số tương đối nhỏ người dân thành thị ngày càng hướng tới Kitô giáo và nền văn hóa giáo dục Pháp nhiều hơn. Việc Tây Phương hóa cũng được tạo điều kiện dễ dàng qua những lợi ích kinh tế mà tầng lớp này hưởng được qua liên kết với nước Pháp. Thế nhưng sự chống đối chính quyền thực dân bắt đầu tăng lên trong nội bộ giới tinh hoa nhỏ của Việt Nam. Các cuộc nổi dậy ở Trung Quốc (1911) và cuộc Cách mạng tháng Mười Nga của năm 1917 đã để lại một ấn tượng sâu đậm, vì chúng hứa hẹn sẽ giải phóng khỏi sự cai trị của nước ngoài và sự bình đẳng về xã hội, luật pháp, kinh tế và chính trị cho tất cả mọi người.

Vào thời điểm cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu ở Pháp và Việt Nam năm 1930, những người trí thức này bắt đầu thảo luận công khai về tình cảnh kinh tế-xã hội và chính trị. Trong khi chủ nghĩa tư bản đang nằm trong cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất của nó thì Liên bang Xô viết của Josef Stalin đã đạt được nhiều thành công về kinh tế với công cuộc xây dựng “chủ nghĩa xã hội trong một nước”. Cả lịch sử của đất nước cũng đưa ra những khả năng cho sự nhận dạng: nó đưa ra nhiều ví dụ đa dạng của công cuộc kháng chiến chống lại người Trung Quốc, những người đã cai trị đất nước này nhiều thế kỷ. Vào cuối những năm ba mươi, đàn áp những người bất đồng chính kiến tăng lên ở Việt Nam. Năm 1939, có khoảng 2000 người chống chế độ thực dân, dân tộc chủ nghĩa và cộng sản đã bị bắt. Một vài người có thể thoát được truy nã, trong số họ là Tướng Võ Nguyên Giáp sau này. Thế nhưng toàn bộ gia đình ông đã chết trong trại của Pháp. Chính quyền thuộc địa Pháp và 27.000 người lính của họ vẫn còn có thể kiểm soát được một dân tộc 18 triệu người.

Đảng Cộng sản Đông Dương cũng như các phong trào giải phóng dân tộc khác ở châu Á đã được thúc đẩy mạnh qua các diễn tiến trên trường quốc tế. Chiến thắng nước Pháp của Hitler trong tháng Sáu 1940, nước Nhật, liên kết với Đức, chiếm đóng Việt Nam (tháng Chín 1940/tháng Bảy 1941) và sự cộng tác với người Nhật của chính quyền thuộc địa, trung thành với chính phủ Vichy. Khi người Nhật chiếm đóng nhiều phần rộng lớn ở Đông Nam Á chỉ vài tháng sau lần tấn công Pearl Harbor trong tháng Mười Hai 1941, tiếng chuông đánh dấu sự kết thúc chế độ thực dân Âu châu nói chung đã được gióng lên. Ngay cả khi người Nhật chiếm đóng đối xử tàn bạo hơn nhiều khi so với chế độ thực dân Âu châu, ví dụ của nước Nhật đã cho các phong trào giải phóng dân tộc từ Miến Điện qua bán đảo Mã Lai và Indonesia cho tới Đông Dương thấy rõ một điều: cái được cho là tính ưu việt của Phương Tây so với văn hóa Á châu, so với chiến lược, chính trị và tổ chức Á châu, đã bộc lộ ra là ảo giác, là huyền thoại.

Khai thác than ở Hòn Gai

Trong thời gian người Nhật nắm quyền tối cao ở Đông Dương, chính quyền thuộc địa Pháp đàn áp chống những người cộng sản, những nhóm chống chế độ thực dân và chống Nhật một cách ác liệt chưa từng có cho tới lúc đó. Một cuộc nổi dậy của Đảng Cộng sản ở miền Nam của đất nước trong tháng Mười Một 1940 đã bị đàn áp đẫm máu bằng không quân, trên năm ngàn người bị bắt và hơn một trăm người bị xử bắn. Để có thể đối phó lại với cuộc truy nã, với sự tham gia mang tính quyết định của Hồ Chí Minh, người từ Trung Quốc đã trở về Việt Nam, Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, gọi tắt là Việt Minh, đã được thành lập. Thuộc vào trong đó, bên cạnh một vài lực lượng trung lưu, trước hết là giới trí thức trẻ mà đã quay sang với chủ nghĩa cộng sản trong những năm ba mươi. Là nhóm chính trị duy nhất, Việt Minh giành lấy về phần mình cuộc đấu tranh chống chế độ thực dân Pháp  chống kẻ thù của Đồng Minh. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, thành công của họ có liên quan tới Hồ Chí Minh. Ông không những được kính trọng như là một nhà cách mạng quốc tế có nhiều kinh nghiệm. Tài năng tổ chức nổi bật của ông, khả năng thuyết phục người khác nhiệt tình hoạt động cho sự việc của ông, và sức mạnh tích hợp của ông đã đưa ông lên trở thành lãnh tụ không tranh cãi của phong trào kháng chiến và giành độc lập của Việt Nam trong những năm từ 1941 cho tới 1945. Hồ và Việt Minh đã mở ra cho giới trí thức một triển vọng cộng tác với người dân ở nông thôn, chiếm 95% người Việt, như là cán bộ tuyên truyền, như là chỉ huy quân đội hay như là thầy giáo. Họ đấu tranh cho quyền lợi của người nghèo và nông dân, tiến hành những chiến dịch xóa nạn mù chữ trong làng mạc, khuyến khích phụ nữ tham gia đời sống chính trị, hứa hẹn tự do dân chủ và biết cách dùng những từ ngữ đơn giản để diễn tả thế giới như là một cuộc xung đột giữa cái tốt và cái xấu.

Ý thức hệ của Việt Minh bắt nguồn từ lý thuyết của Lênin về một liên minh quốc gia “của tất cả các lực lượng chống đế quốc và tiến bộ” trong các xã hội thuộc địa. Họ vay mượn từ Mao Trạch Đông, người tiến hành một cuộc chiến tranh du kích chống lại người Trung Hoa Quốc gia từ cuối những năm hai mươi, sự chuyển tải của chủ nghĩa cộng sản sang hoàn cảnh của châu Á. Họ hướng tới các tác phẩm của ông về việc huy động tầng lớp nông dân và về chiến tranh du kích. Nhưng có tác động đặc biệt tới những người theo Việt Minh là sự nhấn mạnh tới một chủ nghĩa dân tộc Việt Nam. Cái làm cho nó khác biệt với các phong trào dân tộc trong những nước Đông Nam Á khác là việc một chủ nghĩa dân tộc Việt Nam đã tồn tại từ trước khi người Pháp đến. Chế độ thực dân ở Việt Nam vì vậy không thúc đẩy sự thành hình một nhận thức dân tộc, mà nó hướng nhận thức dân tộc này đi theo các ý tưởng chống thực dân.

Lúc đầu, Việt Minh tập trung trong vùng rừng núi Việt Bắc khó đi lại ở cạnh biên giới Việt-Trung. Mãi tới khi người Nhật chấm dứt chính quyền Pháp trong tháng Ba 1945 (Paris được quân đội Pháp và Đồng Minh giải phóng trong tháng Tám 1944), tình hình mới thay đổi. Sau khi người Nhật tuyên bố “nền độc lập” của Việt Nam, và đưa Hoàng đế Bảo Đại đã được người Pháp sử dụng lên làm người đứng đầu nhà nước phụ thuộc vào Nhật, thì Việt Minh mới có thể nhanh chóng kiểm soát được thêm sáu tỉnh ở miền Bắc. Thành công của Việt Minh không chỉ có liên quan tới lực lượng chiếm đóng đã suy yếu đi của Nhật. Cho tới 1943/1944, nền kinh tế phục vụ cho chiến tranh, lạm phát và bóc lột đất nước đã dẫn tới thiếu thốn trong cung cấp lương thực, điều còn trầm trọng thêm qua xuất khẩu gạo bắt buộc sang các vùng đất khác trong khu vực do Nhật chiếm đóng. Trong hai năm chiến tranh cuối cùng, đặc biệt là ở miền Bắc, ở Bắc Kỳ, đã xảy ra nạn đói cướp đi sinh mạng từ một tới hai triệu người. Con số này tương ứng với gần một phần năm dân số. Hàng trăm ngàn người nghèo đói đã tham gia Việt Minh trong thời gian này.

Trong năm tháng từ tháng Ba 1945 cho tới khi nước Nhật đầu hàng vào ngày 15 tháng Tám 1945, Việt Minh trở thành đồng minh chính thức của phe Đồng Minh. Điệp viên OSS ở Việt Nam được trợ giúp về mặt tiếp vận, nhận được thông tin về các hoạt động của quân đội Nhật, và du kích Việt Minh giúp đỡ cho các phi công Mỹ bị bắn rơi. OSS cung cấp vũ khí cho Việt Minh và thậm chí còn nhận Hồ làm điệp viên của OSS, bí danh “Lucius”. Khi người lãnh tụ không tranh cãi của Việt Nam tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) vào ngày 2 tháng Chín 1945, người Mỹ và Việt Minh, điệp viên OSS và Hồ Chí Minh đã có một thời gian cộng tác nhiều thành công. Vào thời điểm đó, không ai nghĩ rằng liên minh chiến tranh này chẳng bao lâu nữa sẽ tan rã.

————————————————————————————————————————

[1] David G. Marr, Vietnam 1945. The Quest for Power, Stanford/CA 1995, trang 535.

Chiến tranh Đông Dương của Pháp bắt đầu

Đối với Việt Minh, những người đã tước vũ khí người Nhật ở nhiều vùng của Việt Nam và tuyên bố đất nước độc lập, có ba vấn đề đứng ở hàng đầu trong chính sách của họ. Đứng trước nạn đói, họ cố gắng phân chia một cách công bằng số lương thực ít ỏi trong những vùng đất do họ kiểm soát. Gắn chặt với việc đó là cố gắng mở rộng ảnh hưởng của họ trong Việt Nam. Thật sự là Việt Minh đã có nhiều thành công lớn trong lúc đó. Trong lúc phong trào chỉ có tròn 5000 thành viên tích cực vào lúc chiến tranh kết thúc thì bốn năm sau đó đã là 700 000. Miền Bắc chiếm số đông, nhưng Việt Minh cũng có cơ sở vững chắc trong các vùng nông thôn của miền Nam cũng như trong các thành phố, đặc biệt là ở Sài Gòn. Tuy vậy, ảnh hưởng của họ ở miền Nam ít hơn ở miền Bắc rất nhiều. Hai giáo phái chịu ảnh hưởng của Phật giáo, mang tính dân tộc chủ nghĩa, đạo Cao Đài và Hòa Hảo, nắm quyền gần như là tự trị ở nhiều vùng tại đồng bằng sông Cửu Long cũng như ở nhiều vùng khác của miền Nam. Mỗi một giáo phái này có khoảng một triệu thành viên. Việt Minh xem việc xây dựng quân đội của họ như là một mối quan tâm quan trọng khác. Lực lượng quân đội vào cuối 1946 là khoảng 80.000 người, chủ yếu đóng ở miền Bắc. Thêm vào đó là một con số lớn hơn rất nhiều của những đơn vị không chính quy, hoạt động trên mọi miền đất nước.

Việt Minh trong thời gian của Cách mạng tháng Tám. Hình: Wikipedia

Trong Đệ nhị thế chiến, Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt đã cố gắng thuyết phục các thế lực thuộc địa hãy từng bước trao trả lại nền độc lập cho những nước châu Á bị họ chiếm hữu. Thế nhưng những lời yêu cầu của ông đã bị phản đối kịch kiệt. Người Anh, người Pháp và người Hà Lan tin rằng chỉ với sự giúp đỡ của các nước thuộc địa, họ mới có thể tái xây dựng được những nền kinh tế quốc dân đã bị chiến tranh tàn phá. Để không gây nguy hại tới liên minh chiến tranh với Hà Lan và đặc biệt là với Liên hiệp Anh, Roosevelt phải chấp nhận nhiều thỏa hiệp lớn. Thế nhưng người Tổng thống này muốn dùng nước Pháp bị Đức chiếm đóng và chính quyền thuộc địa trung thành với chính phủ Vichy của nó để đưa ra một ví dụ làm gương. Sau khi quân đội Đồng Minh giài phóng nhiều phần đất rộng lớn của Pháp trong mùa hè 1944 và quân đội Pháp trở thành một yếu tố quan trọng trong cố gắng đánh bại nước Đức, Tướng Charles de Gaulle đã dùng mọi quyền lực để tuyên bố quyền sở hữu các nước thuộc địa của ông. Trong khi Roosevelt trì hoãn một quyết định thì Liên hiệp Anh đã tạo tiền đề để nước Pháp quay trở lại Đông Dương: Thủ tướng Winston Churchill để cho “nước Pháp tự do” của de Gaulle tham chiến chống Nhật ở Đông Nam Á. Khi người Nhật thiết lập chế độ bù nhìn dưới quyền của Hoàng đế Bảo Đại ở Việt Nam trong tháng Ba 1945, cả chính phủ Mỹ cũng chấp nhận để cho quân lính Pháp chiến đấu chống kẻ thù chung. Cuối cùng, sau cái chết của Roosevelt trong tháng Tư 1945, Washington cũng chấm dứt sự phê phán của ông ấy về chủ nghĩa thực dân. Tin chắc rằng Roosevelt đã đi quá xa, tân tổng thống Harry S. Truman hoan nghênh sự giúp đỡ của nước Pháp trong cuộc chiến chống Nhật. Qua đó, ngoài Việt Minh ra thì không còn điều gì ngăn chận việc tái thiết lập chế độ thực dân của Pháp ở Đông Dương sau chiến tranh nữa.

Thể theo kế hoạch được Đồng Minh thỏa thuận tại Hội nghị Potsdam vào tháng Bảy 1945, quân đội Anh chiếm đóng phần phía Nam của Việt Nam trong tháng Chín, trong khi một quân đội Trung Hoa Quốc gia tiến vào miền Bắc cho tới vĩ tuyến 17. Đi theo người Anh là quân đội Pháp mà một phần được chở sang Việt Nam trên những con tàu của Mỹ. Sau những trận đánh ác liệt chống lại Việt Minh, tướng Pháp Philippe Leclerc tuyên bố chiến thắng ở miền Nam năm tháng sau đó. Cả hai giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo, những người mà vào lúc đầu còn liên kết với Việt Minh, cũng đổi chiến tuyến và dàn xếp với người Pháp. Thế nhưng thật sự thì không thể nói đến một chiến thắng của quân đội Pháp được. Họ kiểm soát Sài Gòn cũng như những thành phố lớn khác, và họ giành được đất từ Việt Minh – thế nhưng họ không thể giữ được. Ngay sau khi quân đội Pháp rút đi thì các du kích quân Việt Minh lại quay trở về những ngôi làng đó.

Lính Pháp đổ bộ vào bờ biển An Nam, tháng Bảy 1950

Tại thủ đô Sài Gòn, Cao ủy Đông Dương, Đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu, tiếp nhận chính quyền, và với việc bổ nhiệm người Việt vào trong các chức vụ cao cấp, ông hy vọng có thể đáp ứng cho ý thức dân tộc Việt Nam lẫn các lợi ích của nước Pháp. Tuy vậy, chính phủ này không thể hiện một giải pháp mang tính dân tộc thay thế cho Việt Minh. Ở trong đó, bên cạnh người Pháp thì chỉ có đại địa chủ, doanh nhân và luật sư – évolués, như người Pháp gọi họ –, những người mong muốn một sự hiện diện của chính quyền thực dân.

Ở miền Bắc, tình hình còn phức tạp hơn. Quân đội Trung Hoa quốc gia bóc lột đất nước này một cách tàn nhẫn. Hồ Chí Minh hoài công kêu gọi Hoa Kỳ hãy chấm dứt tình trạng tồi tệ của những đạo quân cướp bóc và ngăn chận lần quay trở lại của người Pháp. Trong tháng Hai 1946, Tưởng Giới Thạch, lãnh tụ người Trung Hoa quốc gia, ký kết với người Pháp một hiệp định tạo khả năng cho chính quyền thực dân quay trở lại Bắc Kỳ, dưới điều kiện là Pháp phải từ bỏ những ưu đãi về kinh tế ở Trung Quốc. Hồ ở trong một tình thế khó khăn. Ông có thể cố gắng ngăn chận việc thực hiện hiệp định, bằng cách là chiến đấu chống lại người Hoa và người Pháp. Một khả năng khác cho ông là thương lượng với những người Trung Hoa quốc gia. Thế nhưng ông lại quyết định đàm phán với đặc sứ của tướng de Gaulle, Jean Sainteny. Các cuộc đàm phán này dẫn tới một thỏa hiệp tạm thời vào ngày 6 tháng Ba 1946. Pháp công nhận Việt Nam như là một “nhà nước tự do” nằm trong Liên hiệp Pháp – tên mới cho hệ thống thuộc địa cũ của Pháp. Đổi lại, Hồ đồng ý tôn trọng sự kiểm soát của người Pháp cả ở miền Bắc Việt Nam trong vòng năm năm. Hồ, bị nội bộ phê phán gay gắt vì hiệp định này, đã lý giải hành động của mình như sau: “Đối với tôi, thà tôi ngửi phân Pháp năm năm còn hơn là phải ăn phân Tàu cả đời.”[1]

Thế nhưng người Việt hết sức thất vọng vì hiệp định này hoàn toàn không có giá trị gì cả: trong khi Hồ còn ở Paris để đàm phán thêm nhiều chi tiết thì d’Argenlieu, với sự ủng hộ của chính phủ ông, đã tuyên bố thành lập một nhà nước Nam Kỳ riêng trong mùa hè 1946. Và cả những yêu cầu về kinh tế mà Hồ phải đối mặt với chúng ở Paris cũng vượt xa những điều khoản trong cuộc trao đổi với Sainteny. Hồ lại nhượng bộ thêm một lần nữa. Thật ra thì người Pháp không quan tâm tới một hiệp định với Việt Minh. Họ hoàn toàn không thể hiện ý định giao cho Việt Nam một thể chế tự trị, nói chi đến nền độc lập. Thêm vào đó, để giải quyết các xung đột mang tính địa phương, quân đội thực dân Pháp ngày càng hay dùng những biện pháp đàn áp bằng quân sự. Cuối cùng, trong tháng Mười Một 1946, quân đội Pháp có cơ hội để dạy cho Việt Minh một bài học. Khi quân đội Pháp dựa trên những lý do giả mạo mà ném bom thành phố cảng Hải Phòng vào ngày 23 tháng Mười Một 1946 và giết chết 6000 người dân thường, sự kiên nhẫn của Hồ, bị những người đi theo đường lối cứng rắn trong Việt Minh thúc ép, chấm dứt. Bắt đầu từ lúc đó, Việt Minh dùng vũ khí chống lại chế độ thực dân Pháp trên toàn nước. Với những trận đánh trong Hải Phòng và quanh Hà Nội, thành phố mà quân đội Pháp mãi tới tháng Mười Hai sau nhiều trận chiến liên tục mới có thể giành được quyền kiểm soát, cuộc chiến tranh kéo dài gần ba mươi năm trời ở Việt Nam bắt đầu.

————————————————————————————————————————

[1] The Pentagon Papers. The Defense Department History of the United States Decisionmaking in Vietnam (The Senator Gravel Edition), 4 tập, Washington 1971, tập 1, trang 50.

Hoa Kỳ, Chiến Tranh Lạnh và Đông Nam Á

Từ năm 1945 cho tới 1950, chính sách Đông Dương của Mỹ đã dịch chuyển từ một trạng thái trung lập có khuynh hướng nghiên về phía nước Pháp sang tích cực giúp đỡ thế lực thuộc địa và cuộc chiến chống Việt Minh của nước này. Nguyên nhân cho sự biến đổi này là đa dạng: truyền thống chống cộng sản, các phát triển đối nội, những sự kiện trong đối ngoại và thay đổi trong hệ thống nhà nước quốc tế, cân nhắc về kinh tế và những đánh giá chiến lược. Chúng góp phần dẫn tới một thế giới quan chịu nhiều ảnh hưởng bởi nhận thức về mối đe dọa từ cộng sản. Kết hợp lại với nhau, những yếu tố đó ở phía Mỹ đã tạo nên các tiền đề cho cuộc Chiến Tranh Lạnh và thành lập khối ở Đông và Tây. Hoạt động của Hoa Kỳ ở Việt Nam là một sản phẩm của tình trạng lưỡng cực này. Lịch sử Chiến tranh Việt Nam vì vậy mà có liên quan hết sức chặt chẽ với lịch sử của cuộc Chiến Tranh Lạnh. Cả cuộc Chiến tranh Đông Dương của Pháp, từ góc nhìn của Washington vào lúc ban đầu là một cuộc chạm trán giữa thế lực thuộc địa và phong trào giải phóng dân tộc-cộng sản, cũng đã nhanh chóng phát triển thành một phần của Chiến Tranh Lạnh. Chỉ sau một thời gian ngắn, quân đội Pháp đã không còn chỉ chiến đấu để tái thành lập chế độ thực dân của họ, mà còn để đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản đang hoạt động dưới chiêu bài chủ nghĩa dân tộc ở Đông Nam Á.

Đại đội súng cối nhảy dù lê dương (1er Compagnie étrangère parachutiste de mortiers lourds)

Cùng với Liên bang Xô viết, Hoa Kỳ và Liên hiệp Anh đã chiến thắng nước Đức Quốc Xã và Nhật. Thế nhưng ngay từ trong năm cuối cùng của cuộc chiến, người ta đã có thể nhìn thấy rõ những rạn nứt trong liên minh “Liên Hiệp Quốc”. Nhà độc tài Xô viết Stalin tuy vẫn cho rằng trật tự đó sau chiến tranh là có thể có, trật tự mà trong đó ông vẫn còn có thể tiếp tục hợp tác được với các thế lực Phương Tây. Nhưng đồng thời ông vẫn hy vọng rằng Phương Tây sẽ khoan dung và thừa nhận lần dùng bạo lực để mở rộng và củng cố phạm vi ảnh hưởng của Xô viết ở châu Âu. Stalin và các cố vấn của ông đã không nhận rõ được rằng những mục tiêu mà ông theo đuổi qua đó thì không thể nào tương hợp được với Phương Tây, và dưới ấn tượng của sự tàn phá khủng khiếp trong Liên bang Xô viết thì họ cũng không sẵn sàng điều chỉnh các đòi hỏi của họ cho phù hợp với những lợi ích của các thế lực Phương Tây.

Thủ tướng Anh Churchill và Tổng thống Mỹ Roosevelt tuy đã đồng ý để cho Liên bang Xô viết mở rộng vùng ảnh hưởng ở Đông Âu. Thế nhưng cuộc Xô viết hóa đầy bạo lực và sự đàn áp dã man những quyền tự do cá nhân và các đảng dân chủ đã nuôi dưỡng lòng nghi ngờ của họ đối với Stalin và làm tăng cường sự chống đối. Sau cái chết của Roosevelt, người lên nắm quyền lực Harry S. Truman không còn muốn “vuốt ve” người Xô viết nữa, và biết rằng đại đa số người Mỹ cũng đồng quan điểm này với ông. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, sự phản kháng tăng lên nhanh chóng từ Mỹ và Tây Âu, chống lại lần mở rộng quyền lực Xô viết ở Đông Âu, cũng có liên quan tới những hy vọng lớn lao mà người Mỹ đã đặt ra cho tương lai. Ngay từ trước khi bước vào cuộc Đệ nhị thế chiến, Tổng thống Roosevelt đã tuyên bố với người Mỹ và công chúng thế giới rằng, Hoa Kỳ phải bảo vệ dân chủ và tự do. Sau tháng Mười Hai 1941, hàng triệu người Mỹ đã bước vào cuộc chiến với niềm tin rằng việc thiết lập dân chủ và chủ nghĩa tư bản ở khắp nơi trên thế giới là sự bảo đảm duy nhất để không bao giờ xảy ra một thế chiến nữa.

Việc Stalin liên tục cự tuyệt hợp tác với Phương Tây và không muốn tìm kiếm một giải pháp chính trị đồng thuận cho tương lai của nước Đức đang bị chiếm đóng, áp lực lên Thổ Nhĩ Kỳ, sự trợ giúp của Xô viết cho du kích quân cộng sản ở Hy Lạp cũng như nhiều xung đột khác đã tạo thêm căng thẳng cho các quan hệ giữa những cựu đồng minh trước đây cho tới năm 1947. Trước bối cảnh đó, trong tháng Ba 1947, Tổng thống Truman tuyên bố Học thuyết Ngăn chặn (containment), có giá trị và được áp dụng ở phạm vi vượt ra khỏi Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ rất xa. Nó hứa hẹn rằng Hoa Kỳ sẽ giúp đỡ và hỗ trợ cho tất cả các dân tộc đang chiến đấu chống lại những thiểu số quá khích (cộng sản) hay đang bị áp lực từ bên ngoài. Truman tuyên bố rằng bây giờ là thời điểm để cho các dân tộc trên trái Đất lựa chọn giữa tự do và áp bức.

Với Kế hoạch Marshall (1947), Hoa Kỳ đã tạo một công cụ để ổn định các nền kinh tế quốc dân của (Tây) Âu châu, liên kết Hoa Kỳ và châu Âu chặt chẽ với nhau hơn. Ngoài ra, các cựu thù đã tiến lên trở thành đồng minh trong một trật tự thế giới mới. Nhật Bản cần phải được xây dựng trở thành một thế lực khu vực hướng về Phương Tây ở Viễn Đông, để ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc và Xô viết, và qua đó góp phần tăng cường an ninh cho Hoa Kỳ và Phương Tây. Ở châu Âu, Tây Đức, trái tim công nghiệp, cần phải được tích hợp vào trật tự dân chủ-tư bản. Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản (1952) cũng như lần thành lập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (North Atlantic Treaty Organization, NATO) năm 1949 và kết nạp nước Cộng hòa Liên bang Đức vào các cấu trúc quân sự của Phương Tây trong năm 1955 đã tạo khả năng để liên kết các chính sách an ninh tại Đông Á và Tây Âu vào trong hệ thống trật tự toàn cầu của Hoa Kỳ.

Qua đó, thuyết của Truman và công cuộc tái tích hợp kinh tế là hai mặt của cùng một cái huy chương: Phần chính sách an ninh phục vụ cho việc “ngăn chặn” vùng ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản, phần kinh tế phục vụ cho sự phát triển của trật tự tự do-tư bản. Cả hai phương diện bảo đảm cho the American way of life, một hệ thống dân chủ, nhà nước pháp quyền, cái có nhiệm vụ tạo mọi khả năng phát triển và tiêu thụ cho cá nhân. Trong hệ thống này, Đông Nam Á có một chức năng thiết yếu. Khu vực này lúc đầu cần phải là thị trường nguyên liệu và tiêu thụ cho Nhật Bản và châu Âu, để rồi dần dần tự tiến lên trở thành một nhà hoạt động độc lập, một tiểu trung tâm được tích hợp về kinh tế và liên kết với toàn thế giới, có khuynh hướng thân thiện với các giá trị và mô hình xã hội Mỹ.

Công nhận chính quyền Bảo Đại

Ở dưới bình diện của các ý tưởng chủ đạo và viễn tưởng to lớn về kinh tế thế giới và địa chính trị, Hoa Kỳ vào lúc đầu không quan tâm nhiều cho lắm tới Đông Dương. Washington tự hạn chế mình ở mức độ thận trọng thúc giục người Pháp hãy tiến hành cải tổ và hỗ trợ thành lập những nhóm dân tộc chủ nghĩa có định hướng Tây Phương ở Việt Nam. Vì cả trong Bộ Ngoại giao Mỹ, người ta cũng không nghi ngờ rằng Hồ là “cá nhân có nhiều ảnh hưởng nhất và có lẽ là có năng lực nhất” ở Việt Nam, và không có sự chọn lựa dân tộc chủ nghĩa nào khác để thay thế ông.[1] Một vài nhà báo và nhân viên của Bộ Ngoại giao vì vậy mà đề nghị hãy tiến hành tiếp xúc với Việt Minh. Mặc cho khuynh hướng ý thức hệ của ông, họ cho rằng ông trước hết là một nhà dân tộc chủ nghĩa Việt Nam. Không thể xác minh được quan hệ trực tiếp của ông với Moscow. Thế nhưng từ quan điểm của các chuyên gia về Âu châu có nhiều ảnh hưởng trong Bộ Ngoại giao thì điều đó không phải là lý do để đánh giá mới về Hồ và Việt Minh. Còn ngược lại – không có liên lạc còn được diễn giải là Stalin hoàn toàn tin tưởng vào tay sai của ông ở Việt Nam, và Hồ không cần được dẫn dắt. Chính sách đối ngoại của Mỹ sẽ luôn rơi vào tình thế khó xử đó: về một mặt, họ ủng hộ chấm dứt chế độ thực dân, tuyên truyền cho quyền tự quyết của các dân tộc và thận trọng hoạt động để giải tán các thuộc địa. Mặt khác, họ luôn luôn chùn bước (ngoại trừ Indonesia và Hà Lan) trước việc tạo áp lực có hiệu quả lên các thế lực thực dân châu Âu. Và họ cương quyết từ chối không tiếp xúc với những người dân tộc chủ nghĩa theo cộng sản của “Thế giới thứ Ba” đang thành hình.

Bảo Đại ngày phong vương

Ở Việt Nam, cố gắng của người Pháp, xây dựng một sự lựa chọn chính trị khác thay thế Việt Minh mà họ có thể chấp nhận được, đã không thành công. Cuối cùng thì Hoàng đế Bảo Đại, sau khi ngần ngừ ít lâu, là người duy nhất được công chúng biết tới mà đã tuyên bố sẵn sàng đứng đầu một chính phủ dựa vào ân sủng của Pháp. Trong cái được gọi là Hiệp ước Elysée của tháng Ba 1949, nước Pháp hứa trao cho Việt Nam “nền độc lập”, đổi lại nhiều nhân nhượng về kinh tế. Tuy vậy, chính sách đối ngoại và quốc phòng vẫn còn nằm trong phạm vi trách nhiệm của Pháp. Ngoài ra, Việt Nam, Lào và Campuchia phải gia nhập Liên hiệp Pháp, điều tiếp tục đào rỗng ruột lời hứa hẹn về nền độc lập. Cũng như trong quá khứ, thuộc trong chính phủ Việt Nam mới dưới quyền của Bảo Đại là những lực lượng hưởng lợi về chính trị và kinh tế từ một liên kết lâu dài với nước Pháp. “Nguyên thủ quốc gia” này không thể là một sự lựa chọn dân tộc khác để thay thế cho Việt Minh. Bảo Đại, người mà hầu hết thời gian đều sống với gia đình ông tại Côte d’Azur và ở Việt Nam thì thích ở thị trấn nghỉ dưỡng Đà Lạt xa vắng, không có tiếp xúc với người dân nông thôn và đã tách rời quá xa ra khỏi cuộc sống Việt Nam với các vấn đề của nó.

Việc Mao Trạch Đông chiến thắng Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc và người Trung Hoa quốc gia chạy trốn sang Đài Loan trong mùa thu 1949 đã có tác động đáng kể tới chính sách Đông Dương của Hoa Kỳ. Trong Quốc hội ở Washington, phe Cộng hòa đối lập quy trách nhiệm “mất Trung Quốc” về cho chính phủ Truman. Họ cáo buộc chính phủ không hỗ trợ đầy đủ cho Tưởng Giới Thạch và không cương quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản. Những lời cáo buộc này lại càng nghiêm trọng hơn, khi nhiều người Mỹ không chỉ có cảm giác bị đe dọa trên bình diện quốc tế mà còn lo sợ rằng ngay chính nước Mỹ cũng đã bị một âm mưu cộng sản thâm nhập. Ngay trong tháng Ba 1947, Tổng thống Truman đã ra lệnh kiểm tra tất cả các nhân viên liên bang, xem liệu họ có tiếp xúc với những người cộng sản Mỹ và quốc tế hay không, và một “Ủy ban về những hoạt động phi Mỹ” của Hạ viện (House Un-American Activities Committee, HUAC) điều tra cuộc sống của nhiều người dân. Những nỗi lo sợ về một âm mưu còn được tăng cường qua Chiến tranh Triều Tiên: từ 1950 cho tới 1954, thượng nghị sĩ Cộng hòa Joseph McCarthy còn tổ chức một “cuộc truy lùng” những người cựu cộng sản, trí thức và tự do. Bầu không khí nội địa của “kỷ nguyên McCarthy” yêu cầu cần phải có một chính sách đối ngoại cương quyết.

Trong tháng Giêng 1950, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Liên bang Xô viết công nhận Việt Minh là chính phủ hợp pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đối với Washington, bước đi này là bằng chứng cuối cùng cho sự hợp tác chặt chẽ giữa những người cộng sản Việt Nam, Trung Quốc và Xô viết. Như là một phản ứng, vào ngày 7 tháng Hai 1950, năm ngày sau khi Quốc Hội Pháp phê chuẩn Hiệp ước Elysée, Hoa Kỳ công nhận “nhà nước Việt Nam” dưới quyền Hoàng đế Bảo Đại như là một đất nước độc lập nằm trong Liên hiệp Pháp. Vẫn còn trong tháng Ba 1950, chính phủ Truman tiếp tục hỗ trợ tài chính cho cuộc Chiến tranh Đông Dương của Pháp, và chuyển giao 15 triệu dollar viện trợ quân sự cho Paris. Với lần công nhận ngoại giao này, Hoa Kỳ đã hợp thức hóa chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương. Bắt đầu từ đó, bên cạnh chính quyền thuộc địa Pháp, ở Việt Nam có hai chính phủ tranh giành quyền lực trong nước, được khối Đông Âu hay Phương Tây hợp thức hóa, và đều tuyên bố chủ quyền của mình trên toàn Việt Nam.

Quyết định ủng hộ Bảo Đại là một quyết định không dễ dàng cho chính phủ Mỹ. Trong Bộ Ngoại giao ở Washington, người ta biết rõ rằng vị cựu hoàng đế không phải là một đối trọng chính trị cho Hồ. Và người ta cũng biết rõ rằng việc xây dựng một lựa chọn dân tộc khác thay thế cho Việt Minh chỉ có thể khi người Pháp quyết định tự do hóa thật sự chế độ thực dân của họ, và có thể đưa ra cho người Việt những triển vọng đáng tin cậy về một nền độc lập. Thế nhưng trong bầu không khí đối nội và đối ngoại nóng bỏng sau khi “mất Trung Quốc”, người ta đã quyết định nghiên về phía được cho là ít tai hại hơn. Bây giờ, Bảo Đại và người Pháp xuất hiện như là những người bảo vệ các giá trị và mô hình xã hội của Phương Tây. Qua đó, trong cảm nhận của Mỹ, cuộc nổi dậy dân tộc của Việt Minh chống lại chế độ thực dân Pháp, bị cộng sản nắm thế áp đảo, đã biến thành một âm mưu toàn cầu của chủ nghĩa cộng sản chống Phương Tây được bộc lộ ra ở Việt Nam.

Vua xứ An Nam Bảo Đại, có toàn quyền Đông Dương tháp tùng rời dinh với đoàn tùy tùng.

Không văn kiện nào khác của lịch sử Mỹ sau chiến tranh mà có thể khiến cho người ta hiểu thấu được cảm nhận của xung đột Đông Tây như một tài liệu về chiến lược do Hội đồng An ninh Quốc gia (National Security Council, NSC) soạn thảo. NSC-68, tên của bản phân tích do Paul Nitze (người đứng đầu Ban Kế hoạch Chính trị trong Bộ Ngoại giao) góp phần quyết định soạn thảo, xác nhận các giả định cơ bản trong chính sách đối ngoại và an ninh Mỹ từ 1947, nhưng xét lại chúng một cách nghiêm khắc dưới ấn tượng của lần Xô viết cho nổ thử quả bom nguyên tử đầu tiên trong tháng Chín 1949. Văn kiện phân tích mọi lĩnh vực của chính sách đối ngoại và an ninh Mỹ này bắt đầu bằng câu: “Các vấn đề mà chúng ta phải đối phó với chúng là rất lớn, và chúng có liên quan không chỉ tới thành tựu hay phá hủy nền cộng hòa này, mà là tới nền văn hóa nói chung.” Mục tiêu của Liên bang Xô viết, được dẫn dắt bởi “một niềm tin cuồng tín mới”, là “quyền thống trị tuyệt đối trên phần còn lại của thế giới.”[2] Trong tương lai gần, Liên bang Xô viết muốn mở rộng quyền lực của mình ra trên toàn Âu-Á. Vì vậy mà trước tiên là phải đẩy lùi ảnh hưởng Xô viết ở vùng ngoại vi, trước khi người ta có thể bắt đầu thúc đẩy chính chế độ đó đi tới một thay đổi trong tư tưởng hệ và chính trị của nó nhờ vào những cuộc nổi dậy mang tính dân tộc chủ nghĩa của các dân tộc thiểu số trong Liên bang Xô viết. Hoa Kỳ phải chống lại và đẩy lùi sự xâm lược này bằng mọi quyết tâm. Được đưa ra như là những biện pháp phù hợp: tăng cường vũ trang thật nhiều, viện trợ phát triển, hợp tác quân sự, hoạt động bí mật của mật vụ (covert operations), tiến hành chiến tranh tâm lý và có giải pháp nhanh chóng cho các vấn đề về kinh tế của Nhật Bản và Tây Âu. Tuy NSC-68 không yêu cầu tiến hành chiến tranh rộng lớn, chiến tranh hạt nhân lại càng không, nhưng yêu cầu một chính sách “giải phóng” tích cực. Thuộc vào trong đó không chỉ là một tiềm năng răn đe về hạt nhân có thể khiến cho Liên bang Xô viết không dám tấn công Hoa Kỳ và các đồng minh của Hoa Kỳ. Cũng quan trọng không kém là tăng cường các lực lượng quân sự thông thường. Hoa Kỳ, theo NSC-68, phải có khả năng phá hỏng “các bước đi địa phương của Xô viết qua các hành động địa phương” trên khắp thế giới. Với cái nhìn đến Đông Nam Á, NSC-68 cũng như những phân tích khác của Hội đồng An ninh Quốc gia cho rằng không chỉ Việt Nam mà toàn bộ khu vực đó là mục tiêu bành trướng của cộng sản. Giành lấy quyền lực trong một nước sẽ dẫn tới sự thâm nhập vào các quốc gia khác và cuối cùng rồi sẽ đưa quyền lực về tay các chế độ cộng sản ở khắp nơi. Chiến thắng của một hệ thống trong một đất nước tự động có nghĩa là một sự mất mát của phía bên kia. Trong trò chơi chiến lược tổng bằng không này, những tiếng nói trung dung hầu như không còn được nghe đến nữa – chỉ có bạn và thù, và bất cứ nhà hoạt động nào mà không muốn bị cả bên này lẫn bên kia thu tóm lấy mình thì đều bị nghi ngờ ngay từ đầu. “Trung lập” trở thành một từ để chửi mắng.

Chỉ vài tháng sau đó, các phân tích của Nitze về tính hung hãn của chủ nghĩa cộng sản quốc tế dường như đã trở thành hiện thực: trong tháng Sáu 1950, quân đội cộng sản Bắc Hàn được Stalin và Mao trợ giúp đã tiến xuống miền Nam của bán đảo. Cuộc Chiến tranh Triều Tiên xác nhận các giả định của Bộ Ngoại giao, hướng sự chú ý đến Đông Nam Á mạnh hơn và cỗ vũ cho tính sẵn sàng giúp đỡ cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương. Và nước Pháp đang hết sức cần điều đó. Chỉ riêng trong năm 1949, cuộc chiến đã nuốt chửng 167 triệu franc – số tiền hết sức cần thiết cho công cuộc tái xây dựng nước Pháp. Từ 1950 cho tới 1954, dòng tiền bạc, thiết bị chiến tranh và dịch vụ quân sự Mỹ với tổng giá trị là 2,76 tỉ dollar đã chảy sang Pháp và Việt Nam (ngoài những thứ khác là 1800 xe bọc thép, 31.000 xe Jeep, 361.000 súng cá nhân và súng máy, hai hàng không mẫu hạm và 500 máy bay). Nếu như Hoa Kỳ còn đảm nhận 40% chi phí chiến tranh trong năm 1952 thì 1954 đã là 80%. Ngược lại, viện trợ phát triển kinh tế cho các chính phủ Đông Dương được giới hạn ở tổng cộng là 50 triệu dollar.

Thế nhưng sự trợ giúp của Mỹ bắt đầu từ tháng Ba 1950 đã không thể dẫn tới một chuyển biến có lợi cho quân đội Pháp. Việt Minh kiểm soát tròn hai phần ba lãnh thổ Việt Nam, và vào cuối năm đó tướng Giáp đã có thể đẩy lui hoàn toàn người Pháp ra khỏi vùng biên giới Việt-Trung. Từ đó, trợ giúp về quân sự từ Trung Quốc sang Việt Nam không còn bị ngăn chận nữa. Đột phá mang tính quyết định chiến lược này làm dấy lên nhiều mối lo âu đáng kể ở Paris và dẫn tới việc thay thế những người đứng đầu về quân đội ở Việt Nam. Thế nhưng cả Tướng Jean de Lattre de Tassigny có sức lôi cuốn và luôn luôn lan truyền sự lạc quan cũng chỉ đạt được những thành công tạm thời. Sau mỗi một chiến thắng, sau mỗi một trận đánh thắng lợi, du kích Việt Minh lại quay trở về làng và biến chúng trở thành những vùng đất tử thần về ban đêm cho những người Pháp không được bảo vệ và cho những người theo chính phủ Bảo Đại. Người con trai duy nhất của de Lattre hy sinh trong chiến tranh, và chỉ trong vòng một năm sau khi tiếp nhận quyền chỉ huy, viên tướng này đã qua đời vì bệnh ung thư. Số phận đáng buồn này mang tính tượng trưng cho chế độ thực dân Pháp. Cả các cố gắng xây dựng một quân đội Việt theo Phương Tây và “Việt Nam hóa” cuộc chiến cũng không đạt được thành công nào đáng kể. Cho tới cuối năm 1952, quân đội Pháp – từ 1946 cho tới 1954 có khoảng 35.000 người Đức là lính lê dương chiến đấu ở Đông Dương, phần lớn là thiếu niên mồ côi và bán mồ côi, cũng như tròn 40.000 lính Bắc Phi và châu Phi da đen – đã tổn thất hơn 90.000 người, bị bắt, bị thương và tử trận. Giới công chúng Pháp đã mệt mỏi với cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” (sale guerre) này, và sự bất mãn về chi phí cao đã lan rộng ra trong Quốc Hội. Ở Washington người ta quan sát tiến triển này với nhiều lo ngại, vì cuộc Chiến tranh Việt Nam của Pháp từ lâu đã trở thành một cuộc chiến tranh ủy nhiệm. Từ góc nhìn Mỹ, người Pháp bảo vệ Phương Tây ở Đông Dương, trong khi Hoa Kỳ trợ giúp nó ở Triều Tiên. Đó là hai mặt trận của cùng một cuộc đương đầu chống chủ nghĩa cộng sản quốc tế.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s