TẦM NHÌN CỦA TƯỚNG THƯỚC DẦN ĐƯỢC CỤ THỂ HÓA TRONG ĐỀ ÁN QUỐC SỬ ?

Facebooker Phạm Quang NúiH

Và một vài thông tin liên quan đến chủ đề “nhạy cảm” này trên báo Tiền Phong cũng cách đây 5 năm : CHỦ QUYỀN HOÀNG SA, TRƯỜNG SA : VNCH THỰC THI RA SAO ?

Hơn 5 năm về trước, khi Trung tướng Nguyễn Quốc Thước thẳng thắn nhắc đến chủ đề được cho là vô cùng “nhạy cảm” ở thời điểm đó bằng những chia sẻ cảm nhận theo ông là về “sự hy sinh của những người lính Việt Nam Cộng hòa (VNCH)” tháng 1.1974 ở bài phát biểu “Cần tôn vinh những người lính VNCH chống ngoại xâm” được đăng trên báo Thanh Niên vào ngày 7/1/2014 trong Chuyên đề : 40 năm hải chiến Hoàng Sa (19.1.1974 -19.1.2014) khiến không ít người còn mơ hồ về trận hải chiến này không khỏi bị “sốc”. “Sốc” không hẳn là vì vẫn còn nặng nề tư tưởng “bên này – bên kia”.. ở khía cạnh nào đó, cũng như Cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc tròn 40 năm chúng ta vừa tuyên truyền rất mạnh mẻ “chưa có tiền lệ”, thì trận Hải chiến này hầu như không được nhắc đến trước đó trong sách lịch sử nói riêng chứ chưa nói đến trong tài liệu truyền thông chính thống nước nhà nói chung.

Trong bài viết này : Tướng Thước cho biết Bác Hồ đã nói “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, đó là tư tưởng xuyên suốt. Sau 30 năm thống nhất đất nước, những người sau năm 1975 di tản đa phần đã từng trở về, vì họ hiểu thế nào là ý nghĩa của Tổ quốc.

Theo ông, lên án chế độ VNCH là chuyện khác, nhưng tôn vinh tinh thần yêu nước của người lính VNCH chống ngoại xâm là cần thiết, hai điều này hoàn toàn khác nhau.

Tướng Thước cho rằng, hành động của người lính VNCH bảo vệ chủ quyền, đưa người ra chiến đấu giữ Hoàng Sa tháng 1.1974, không để một thế lực nước ngoài nào vào xâm lược mảnh đất của Tổ quốc là hành động yêu nước, hành động chính nghĩa và cần được nhân dân ghi nhận.

“Tổ quốc chúng ta có đất, có biển, có trời. Việt Nam giải phóng Campuchia khỏi nạn diệt chủng Pol Pot, và rút quân về, đó là hành động chính nghĩa. Nhưng bất kỳ thế lực nào lấy danh nghĩa giúp chúng ta, chiếm đất, đảo của chúng ta và không trả lại đó là hành động phi nghĩa”, trung tướng Nguyễn Quốc Thước nhấn mạnh.

Như đã nói, chủ đề về trận Hải chiến Hoàng Sa 1974 từng được xem là”nhạy cảm” hay là một “khoảng trống lịch sử không rõ ràng” trước đây trong sách sử nước nhà sau giải phóng (1975). Thậm chí đến thời điểm hiện tại, 5 năm sau phát biểu trên của tướng Thước, vẫn còn một số kẻ với động cơ, mục đích chính trị không rõ ràng (đa phần là những “gương mặt thân quen, đầu đàn” trong vụ kích động đốt sách, biểu tình chống Bộ sử 15 tập của nhà nước) dựa vào đó lấy làm “bằng chứng” cào xới lại để xuyên tạc và công kích ông là “cùng một lò lật sử”, là quay lại phản bội đồng đội mình, giúp kẻ thù bắn vào họ thêm lần thứ hai và quay lại phỉ nhổ vào chính chế độ đã nuôi dưỡng mình” hay “Một thời cống hiến cho cách mạng, cho Đảng, cho nhân dân, mà về già lại biến chất “… từ đó chúng đưa ra những suy diễn u ám để một số người thiếu thông tin hiểu sai về những tâm nguyện, cảm nhận rất tình người của một vị tướng xuyên suốt cuộc đời được Đảng, Nhà nước và nhân dân vô cùng yêu mến, kính trọng.

Hiện nay, rất nhiều độc giả đã hoan nghênh và tiếp tục kỳ vọng vào những công trình lịch sử nước nhà sẽ lấp đầy “những khoảng trống lịch sử” cũng như xây dựng một nhận thức mới về lịch sử Việt Nam một cách toàn bộ, toàn diện..mà chủ đề Hải chiến Hoàng Sa năm 1974 là một trong những “khoảng trống” đó, phần nào cho chúng ta hiểu và trân quý cái tâm lẫn tầm nhìn xa trông rộng nhưng đầy sâu sắc, giá trị của tướng Thước trong bài phát biểu trên báo Thanh Niên 5 năm về trước nay dần được hiện thực hóa, cụ thể hóa trong chính sử nước nhà.

Theo như những thông tin ghi nhận trên truyền thông được gợi mở trong đề án Bộ Quốc sử Việt Nam từ các thành viên Hội đồng khoa học biên soạn thì Bộ quốc sử tới đây không né tránh những “khoảng trống nhạy cảm” như chính quyền Việt Nam Cộng hòa, hải chiến bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa. Bộ sử được Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đề xuất lên Đảng, Nhà nước từ năm 2012. Đến năm 2014, đề án được Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Bộ Chính trị đồng ý.

PGS Nguyễn Mạnh Hà, nguyên Viện trưởng Lịch sử Đảng, thành viên Hội đồng khoa học biên soạn, bộ quốc sử cho rằng nếu chính sử không thừa nhận Việt Nam Cộng hòa thì Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc khẳng định và bảo vệ chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Bởi theo công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, chủ quyền phải được kế thừa liên tục. Trong khi giai đoạn 1954-1975, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã thụ đắc chủ quyền hai quần đảo này. Năm 1974, khi Trung Quốc nổ súng xâm lược quần đảo Hoàng Sa, các binh sĩ Việt Nam Cộng hòa đã chiến đấu, nhiều người ngã xuống để bảo vệ đảo. “Thời điểm đó có sự phân chia chế độ chính trị, nhưng những người lính Việt Nam Cộng hòa hy sinh vì Tổ quốc thì phải được ghi vào sách sử”, ông Hà nói.

Ông Hà cho rằng nếu chính sử không thừa nhận Việt Nam Cộng hòa thì Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc khẳng định và bảo vệ chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Bởi theo công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, chủ quyền phải được kế thừa liên tục. Trong khi giai đoạn 1954-1975, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã thụ đắc chủ quyền hai quần đảo này.

Năm 1974, khi Trung Quốc nổ súng xâm lược quần đảo Hoàng Sa, các binh sĩ Việt Nam Cộng hòa đã chiến đấu, nhiều người ngã xuống để bảo vệ đảo. “Thời điểm đó có sự phân chia chế độ chính trị, nhưng những người lính Việt Nam Cộng hòa hy sinh vì Tổ quốc thì phải được ghi vào sách sử”, ông Hà nói.

Quan điểm này của bộ sử được ông Phạm Đức Bảo, Viện phó Viện Nghiên cứu chính sách ủng hộ. Ông Bảo cho rằng : Khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 thì ngay sau đó nhân dân TP Sài Gòn biểu tình chống Trung Quốc. Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu lập tức gửi kháng thư đến Liên Hợp Quốc phản đối hành động xâm lược này. (Trích trong bài : Bộ quốc sử Việt Nam lần đầu tiên đề cập nhiều vấn đề nhạy cảm, http://yenbai.noichinh.vn/…/bo-quoc-su-viet-nam-lan-dau-tie…)

Để chúng ta có cái nhìn khách quan và cho mình một cảm nhận riêng về chủ để “nhạy cảm”, “mới mà không mới” trong phát biểu của tướng Thước hay Đề án Quốc sử khi nói đến Chủ quyền Hoàng Sa thời VNCH cũng như đôi nét về trận Hải chiến Hoàng Sa…Xin mời mọi người tham khảo qua bài viết chính thống được đăng trên báo Tiền Phong cũng cách đây 5 năm – 9.7.2014 (Cũng hi vọng đây không phải là “tư liệu” để cho những kẻ cực đoan cố tình suy diễn theo hướng “tô đen lịch sử” để tiếp tục tấn công báo Tiền Phong là “ngụy sử, lật sử” như chúng đang công kích vào hệ thống truyền thông, báo chí nước ta trong thời gian qua từ VTV, Thanh Niên, Tuổi Trẻ…thậm chí là cả Ban tuyên giáo TW) : 

CHỦ QUYỀN HOÀNG SA, TRƯỜNG SA : VIỆT NAM CỘNG HÒA THỰC THI RA SAO?

Ngày 23/5/2014, tại cuộc họp báo quốc tế của Bộ Ngoại giao về chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa, trả lời báo chí về việc quản lý Hoàng Sa, Trường Sa những năm 1960-1970 của thế kỷ trước, Bộ Ngoại giao khẳng định “Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có giá trị pháp lý với Hoàng Sa và Trường Sa”.

Khẳng định chủ quyền

Lý giải vấn đề này, ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới, Bộ Ngoại giao Việt Nam nói: “Việt Nam tôn trọng vấn đề 12 hải lý nêu trong công thư chứ không đề cập tới Hoàng Sa, Trường Sa vì thế đương nhiên không có giá trị pháp lý với Hoàng Sa và Trường Sa. Giá trị công thư phải đặt trong bối cảnh cụ thể. Công thư gửi Trung Quốc lúc đó Hoàng Sa và Trường Sa đang thuộc quản lý của Việt Nam cộng hòa, Trung Quốc chỉ là một bên tham gia. Không thể cho người khác cái gì mà bạn chưa có được”.

Chính quyền Việt Nam đã thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa trước năm 1975 như thế nào? Phóng viên Tiền Phong có bài viết cung cấp thêm thông tin cho bạn đọc.

Kế thừa

Trong thế kỷ 19 và thế kỷ 20 đầy biến động, Việt Nam cũng như nhiều nước khác bị thực dân đế quốc đô hộ, nhưng nhà nước phong kiến Việt Nam đã khéo léo trong việc thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là việc kế thừa văn hóa biển lâu đời của người Việt, mà bằng chứng thể hiện trên Trống Đồng Ngọc Lũ hay các di chỉ ven biển Đông cũng như các di tích khảo cổ ven bờ và các hòn đảo.

Triều đình nhà Nguyễn tiếp nhận sự quản lý đối với Hoàng Sa từ triều Lê với nhiều văn bản cấp quốc gia quản lý Hoàng Sa. Năm 1802 dưới thời vua Gia Long đã thiết lập Đội Hoàng Sa đã kiểm soát và khai khẩn quần đảo.

Mặc dù đất nước chịu họa xâm lăng của người Pháp, nhưng triều đình nhà Nguyễn vẫn là nhà nước nắm giữ chính quyền, đặc biệt là sự kiểm soát chặt chẽ địa lý hành chính khu vực miền Trung nơi có kinh đô Huế. Nghị định ra ngày 15/6/1932 toàn quyền Đông Dương đã đặt Hoàng Sa thành đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Thừa Thiên, tức là dưới sự quản lý trực tiếp của Triều đình Huế. Binh lính được đưa ra đảo đồn trú. Năm 1938 có chỉ dụ của Đại Nam Hoàng Đế Bảo Đại số 10, ngày 30/3/1938 về Hoàng Sa.

Việc quản lý vẫn tiếp tục ngay cả khi phát xít Nhật chiếm đóng trái phép (Năm 1939 chính phủ Pháp đã phản đối việc chiếm đóng của phát xít Nhật). Phát xít thua trận, Hội nghị San Francisco được tổ chức với 51 nước tham dự. Điều 2 của hòa ước San Francisco năm 1951 có hiệu lực tái lập sự toàn vẹn lãnh thổ cho những quốc gia từng bị phát xít Nhật chiếm đóng. Đoàn đại biểu Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền tại Hoàng Sa và nhận được sự đồng ý của 48/51 đại biểu của các nước tham dự và tiếp tục sự quản lý hoàn toàn hợp pháp của mình với Hoàng Sa và Trường Sa.

Sau năm 1954, tăng cường luật pháp

Hiệp định Geneve lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến tạm thời, ghi: “Trong khi đợi tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam, bên nào có quân đội của mình tập hợp ở vùng nào theo quy định của Hiệp định này thì bên ấy sẽ phụ trách quản lý hành chính ở vùng ấy”. Bản Tuyên bố chung, được phổ biến rộng rãi tại miền Nam khi đó cũng ghi rõ: “Đường ranh giới quân sự tạm thời này không thể diễn giải bằng bất cứ cách nào rằng đó là một biên giới phân định về chính trị hay lãnh thổ”. Việc tổng tuyển cử thống nhất hai miền vì nhiều lý do bị trì hoãn, nhưng việc thực thi chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa luôn được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) chú ý.

Vấn đề hải phận đã được cụ thể hóa bằng Sắc lệnh số 81-NG của Thủ tướng chính phủ VNCH ngày 27/5/1965 ấn định hai khu vực: Một khu vực gọi là Khu vực phòng vệ trong giới hạn 03 Hải lý kể từ bờ. Một khu vực gọi là Khu vực kế cận kể từ ranh giới ngoài hải phận đến giới hạn 12 hải lý kể từ bờ. Trong khu vực kế cận, văn kiện ấn định cho quốc gia những thẩm quyền tương đương với quyền mà thỏa ước Geneve quy định cho một quốc gia ven biển, đối với vùng kế cận hải phận của mình. 
Năm 1969, VNCH đã thành lập một Ủy ban Liên bộ soạn thảo dự luật quy định hải phận quốc gia.

Vấn đề thềm lục địa cũng nóng lên cùng với những hoạt động con thoi: Một bản tuyên cáo của Chủ tịch Ủy ban lãnh đạo quốc gia ngày 7/9/1967 xác định phần lòng đất và đáy biển thềm lục địa là một phần lãnh thổ quốc gia, và thuộc thẩm quyền của Chính phủ VNCH.

Năm 1968, VNCH thành lập một Ủy ban nghiên cứu thềm lục địa, sau đó giao công việc lại cho Ủy ban Quốc gia dầu hỏa 2/6/1971.

Ngày 13/7/1961 dưới thời Đệ nhất cộng hòa, Tổng thống VNCH đã ban hành sắc lệnh 174NV đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam thay vì tỉnh Thừa Thiên và thành lập lại quần đảo này thành xã Định Hải, quận Hòa Vang.

Dưới thời Đệ nhị cộng hòa, Nghị định số 709-BNV/HC ngày 21/10/1969 của Thủ tướng chính phủ VNCH đã sáp nhập xã Định Hải vào xã Hòa Long cũng thuộc quận Hòa Vang tỉnh Quảng Nam.

Tìm tiếng nói quốc tế

Hội nghị Liên Hợp Quốc (LHQ) lần 1 về Luật Biển được tổ chức vào năm 1958 tại Geneve với 86 quốc gia tham dự, trong đó có VNCH. Hội nghị này đã chấp thuận bốn công ước về luật biển.

-Công ước về lãnh hải và vùng tiếp cận

-Công ước về biển cả

-Công ước về đánh cá và bảo toàn tài nguyên sinh vật ở biển cả

-Công ước về thềm lục địa

Tất cả các công ước này có hiệu lực vào các năm khác nhau sau đó, với số quốc gia kết ước trung bình vào khoảng 40 mỗi công ước. Kỹ sư Trần Văn Khởi, Tổng cục trưởng Dầu hỏa và Khoáng sản của VNCH đánh giá rằng: “Hai khuyết điểm vô cùng quan trọng của các công ước này là không định được giới hạn của lãnh hải, và không định nghĩa rõ ràng về thềm lục địa”.

Cuối năm 1974, sau khi Trung Quốc đánh chiếm trái phép Hoàng Sa, Đoàn VNCH cũng tham dự Hội nghị Luật biển lần thứ 3 của LHQ tại Caracas ngày 2/7/1974. Hội nghị này có gần 150 quốc gia được mời tham dự.

Hội nghị Luật biển tại Caracas bàn nhiều về quyền khảo cứu và khai thác tài nguyên biển. Một số nước đưa quan điểm mọi quốc gia đều có quyền khảo cứu và khai thác trong khu vực biển quốc tế miễn là tuân hành theo những quy định và điều kiện do cơ quan quốc tế ấn định. Song, người ta tính rằng vào thời điểm đó “chỉ có chưa được 10 quốc gia trên thế giới có khả năng và phương tiện khai thác”.

Đoàn Việt Nam, trưởng phái đoàn VNCH là ngoại trưởng Vương Văn Bắc, ngày 30/7/1974 đã chính thức trình bày lập trường: “Chính phủ VNCH đặc biệt chú trọng đến vấn đề khai thác tài nguyên thiên nhiên ở phần phía Nam của thềm lục địa liên hệ. Lập trường của VNCH về ranh giới thềm lục địa là phải áp dụng tiêu chuẩn khoảng cách 200 hải lý kể từ đường căn bản nhưng khi thềm lục địa rộng hơn khoảng cách trên bề rộng của thềm lục địa sẽ được ấn định ra đến cạnh ngoài cùng thấp nhất của bờ lục địa”.

Chính phủ VNCH cũng bày tỏ rằng hoàn toàn ủng hộ lập trường đã được đề nghị, theo đó việc phân tranh thềm lục địa phải được giải quyết bằng những cuộc thương thuyết trực tiếp và song phương theo nguyên tắc công bằng hay mọi tranh chấp nếu có, sẽ được giải quyết bằng mọi phương cách hòa bình bởi những cơ quan tài phán quốc tế.

Cũng trong hội nghị này, ngày 28/8/1974 tổng trưởng Ngoại giao Vương Văn Bắc, Trưởng phái đoàn VNCH đã lên diễn đàn long trọng tuyên bố rằng: “Chính phủ VNCH không chấp nhận mọi xâm phạm đến sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia bất kể trên đất liền hay khoảng biển thuộc quyền tài phán quốc gia. Cũng như đã có thông báo với Tổng thư ký LHQ và Hội đồng An ninh, Phái đoàn VNCH xác nhận một lần nữa rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những thành phần bất khả phân của lãnh thổ VNCH.

(Theo báo Tiền Phong)
https://www.tienphong.vn/…/chu-quyen-hoang-sa-truong-sa-vie…

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, văn bản
Trong hình ảnh có thể có: 2 người, văn bản
Trong hình ảnh có thể có: ngoài trời và văn bản
Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và ngoài trời
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, cây và ngoài trời


Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, đám đông và ngoài trời
Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s