Dư luận Trung Quốc nói về Chiến tranh Tháng 2 năm 1979: Đầu hàng tập thể – Sự ô nhục chưa từng có trong lịch sử Trung Quốc (Phần 4)

VChiều ngày 16.3.1979, Chính phủ Trung Quốc tổ chức họp báo tại Bắc Kinh về cái gọi là ‘Chiến tranh phản kích tự vệ chống Việt Nam’. Các nhà báo Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa không đến dự, còn các nhà báo phương Tây thì đều có mặt. Điều này thể hiện các nước phương Tây khi đó rất quan tâm đến tình hình chiến sự cụ thể vì họ đã nghe được đủ loại tin nhưng không được kiểm chứng, nên đều bị coi là tin đồn không đáng tin; nay Trung Quốc tổ chức họp báo thông tin về tình hình chiến sự đánh Việt Nam nên họ ùn ùn kéo đến…

Đại đội 8, Tiều đoàn 2, Trung đoàn 448, Sư đoàn 150, Quân đoàn 50, Đại quân khu Thành Đô sau khi đầu hàng tập thể quân dân Cao Bằng.

Tại cuộc họp báo, Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Hoa tuyên bố: “Quân đội chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ tác chiến ở biên giới phía Nam và đã rút hết về nước!”. Dừng vài giây, Hoàng Hoa nói tiếp: “Hiện không còn bất cứ một người lính nào trên đất Việt Nam nữa!”.

Nhưng thực tế, trong số hơn nửa triệu binh lính, dân binh, quân dự bị tham gia trận chiến này, vẫn còn mấy trăm người hiện đang không rõ tung tích. Trên chiến trường, không rõ tung tích có nghĩa thế nào thì ai cũng biết. Nên trong các buổi truy điệu, họ đều được coi là tử sĩ. Ngoài ra, còn có 239 người khi đó đang bị Việt Nam giam giữ trong các trại tù binh. Trong số đó, có nguyên vẹn một đại đội sau khi bị bao vây, mất liên lạc với trên đã họp chi bộ với sự có mặt của các cán bộ cấp trên và ra nghị quyết đầu hàng tập thể. Vụ này được coi là “sự kiện nhục nhã nhất” trong lịch sử quân đội Trung Quốc (PLA).

Vụ việc này nhiều lần được báo chí bàn luận, mổ xẻ, phân tích trong suốt nhiều năm qua, mới nhất là trên trang Tin hàng đầu mỗi ngày (kknews.cc) các ngày 1.5.2018, 22.7.2018, ngày 9.11.2018; news.qq.com ngày 21.4.2018, trang DWNews ngày 28.4.2018 và Sohu.com ngày 6.9.2018.

Toàn bộ Đại đội 8 và các sĩ quan sở chỉ huy tiền phương của Trung đoàn 448 bị dẫn giải về trại giam

“Trận chiến nhục nhã nhất” là nhan đề bài báo đăng trên mạng “Chiến lược” Trung Quốc (Chinaiiss.com) ngày 12.11.2013. Bài báo cho rằng đây là vết nhơ, sự kiện ô nhục trong lịch sử quân đội Trung Quốc. Trang Sohu.com ngày 6.9.2018 cũng chạy tiêu đề “Trận nhục nhã nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh, sau khi về nước Trung đoàn trưởng bị tống giam, Phó tư lệnh quân đoàn bị bãi chức”. Trang Tin tức hàng đầu mỗi ngày thì viết: Tuy Trung Quốc tuyên bố đã giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh này, nhưng lại lựa chọn cách quên nó đi.

Trong chiến tích được công bố, phần thương vong không hề đả động đến những người bị bắt. Theo ghi chép về trao đổi tù binh dưới sự trung gian của Hội Chữ thập đỏ quốc tế thì số lính Trung Quốc bị phía Việt Nam bắt làm tù binh tổng cộng 239 người, trong đó có 219 người ở cùng một trung đoàn. Phía sau 219 tù binh này là sự kiện đầu hàng có tính chất xấu xa nhất trong lịch sử đạo quân mang tên “Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc – PLA”.

Theo thông tin trên báo chí Trung Quốc, “sự kiện nhục nhã chưa từng có trong lịch sử quân đội Trung Quốc” này diễn ra như sau:

Trước khi xảy ra cái gọi là “Chiến tranh phản kích tự vệ chống Việt Nam” sư đoàn 150, quân đoàn 50 của Quân khu Thành Đô được khẩn cấp mở rộng biên chế từ sư đoàn loại B nâng lên thành sư loại A, được bổ sung thêm nhiều cựu binh đã qua rèn luyện điều động từ các đơn vị phía Bắc xuống và số lớn tân binh mới nhập ngũ, quân số từ hơn 6.000 tăng vọt thành hơn 11.000 người. Cán bộ các cấp phần lớn chưa có kinh nghiệm chiến đấu, sĩ quan chỉ huy cấp đại dội, trung đội đều mới được đề bạt. Tuy đã được huấn luyện khẩn cấp trước khi xảy ra chiến tranh nhưng chất lượng quân sự chưa được kiểm nghiệm. Sư đoàn trưởng là Lưu Đồng Sinh, Chính ủy Dương Chấn Đạo, sư đoàn 150 gồm 3 trung đoàn bộ binh có phiên hiệu 448, 449, 450 và trung đoàn pháo binh.

Ngày 21.2.1979, sư đoàn 150 hành quân bằng xe lửa và ô tô từ Tứ Xuyên vượt qua 3.000km tới mặt trận Quảng Tây, tập kết tại các khu vực Ninh Minh, Minh Giang trước ngày 5.3 làm nhiệm vụ dự bị, đề phòng quân đội Việt Nam đánh sang. Sau khi chính phủ Trung Quốc tuyên bố rút quân, hầu hết sư đoàn 150 (trừ trung đoàn pháo binh) nhận lệnh của Sở chỉ huy tiền phương Quân khu Quảng Châu vượt biên sang Việt Nam qua cửa khẩu Thủy Khẩu làm nhiệm vụ càn quét ở phía Tây Cao Bằng dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh quân đoàn 41. Để giúp phối hợp với đơn vị bạn và tăng cường chỉ huy, quân đoàn 50 đã cử hai Phó tư lệnh quân đoàn là Quan Khoát Minh, Lâm Trung Hòa và Phó chính ủy Hầu Bồi Tụ lập thành tổ công tác về nằm vùng tại sư đoàn 150.

Tù binh Trung Quốc xếp hàng đi ăn cơm trong trại. Ảnh tư liệu.

Sáng 7.3, trung đoàn 448 vào đến thị xã Cao Bằng theo đường số 3 qua cửa khẩu Thủy Khẩu sang Tà Lùng, huyện Phục Hòa, ít giờ sau tổ công tác nằm vùng của Quan Khoát Minh cũng tới. Theo hiệp đồng với quân đoàn 41 thì sư đoàn 150 được giao nhiệm vụ trong vòng 7 ngày phải càn quét, lùng sục tiêu diệt đối phương, tìm kiếm các kho vật tư của đối phương (nói trắng ra là cướp bóc, vơ vét của cải) và tìm kiếm, thu dung lính Trung Quốc bị thương, tử trận… trong khu vực phía tây Cao Bằng rộng 280km2 mà sư đoàn 121, quân đoàn 41 đã bị quân dân Việt Nam đánh cho tơi tả trước đó.

Trung đoàn 448 được khẩn cấp nâng từ loại B lên loại A trước khi xảy ra chiến tranh, cán bộ chỉ huy các cấp đều chưa qua đánh trận. Ê-kíp chỉ huy bao gồm: trung đoàn trưởng Lý Thiệu Văn, Chính ủy Lý Triệu Bích, 3 trung đoàn phó: Hồ Khánh Trung, Lan Văn Bân, Vương Bảo Nhân, 3 phó chính ủy: Long Đức Xương, Điền Văn Siêu, Vương Khiêm Trí và Tham mưu trưởng Cao Lập Hoa, Tham mưu phó Phó Bồi Đức còn có 3 trung đoàn bộ binh và 5 đại đội trực thuộc, tổng quân số hơn 2.500 người.

Trong 3 ngày từ 7 đến 10.3, hoạt động của sư đoàn 150 được đánh giá là “hoàn thành nhiệm vụ”. Tối 10.3, quân đoàn 41 ra lệnh cho sư 150 ngừng tiến công, trong vòng 3 ngày phải tiến theo hướng Bắc vừa truy quét đối phương vừa hành quân về nước, ngày 14.3 phải rút về nước qua đường Bình Mãng (tức hướng Sóc Giang, Hà Quảng). Tuy nhiên khi lựa chọn đường rút về, giữa Phó tư lệnh quân đoàn 50 Quan Khoát Minh và Sư đoàn trưởng 150 Lưu Đồng đã bộc lộ mâu thuẫn. Lưu Đồng cho rằng đơn vị đã hoàn thành nhiệm vụ nên cứ rút quân theo đúng đường cũ đã sang (tức quốc lộ 3 qua cửa khẩu Tà Lùng), về nước an toàn là thắng lợi.

Còn Quan Khoát Minh lại cho rằng sư đoàn 150 chưa hoàn thành nhiệm vụ tìm diệt sinh lực và lùng sục tìm kiếm kho tàng của Việt Nam, nếu rút quân về theo hướng bắc hướng Thiên Phong Lĩnh thì có thể mở rộng chiến quả (vơ vét được nhiều của cải hơn). Hai bên mâu thuẫn gay gắt, không ai chịu ai. Sau khi biết tin, Bộ Tư lệnh quân đoàn 41 đã gửi điện ra lệnh cho sư đoàn 150 rút về theo đường cũ; nhưng bức điện quan trọng đã mã hóa đó đã bị một nhân viên cơ yếu sơ xuất hủy đi mà không dịch ra. Vì thế, cuối cùng Quan Khoát Minh đã ra lệnh cho sư đoàn chia làm 3 cánh rút về theo hướng Bắc như ý ông ta.

Hai trung đoàn 449 và 450 rút quân khá trót lọt, nhưng trung đoàn 448 thì không may mắn như họ. Theo ý Quan Khoát Minh, để thu được thêm nhiều vật tư, hàng hóa của Việt Nam thì phải “vạch cỏ đánh Thỏ” nên đã chia thành 2 cánh vừa rút vừa lùng sục tìm kiếm kho tàng trong các hang động

Sáng 11.3, cánh Tây của tiểu đoàn 2 gồm đại đội 8 đặc nhiệm có Sở chỉ huy tiền phương trung đoàn 448 với Trung đoàn trưởng Hồ Khánh Trung và Phó chính ủy Long Đức Xương đi kèm bị quân đội Việt Nam tập kích ở thôn Nà Ca (xã Minh Tân, huyện Nguyên Bình). Quân Việt Nam không đông, nhưng chiếm được địa thế có lợi, dùng súng máy bắn quét. Phía Trung Quốc bất ngờ, không kịp trở tay nên thương vong nặng nề.

Trung đoàn báo cáo lên trên, xin cứu viện. Sư đoàn 150 thấy tình hình nghiêm trọng nên đồng ý, định lệnh cho 2 trung đoàn 449, 450 quay lại cứu viện, nhưng bị tổ công tác của quân đoàn 50 bác bỏ, cho rằng tiểu đoàn 2 có thể tự phá vây được, chỉ đồng ý để trung đoàn 448 cử 2 đại đội do Tham mưu phó trung đoàn Phó Bồi Đức chỉ huy quay lại hỗ trợ phá vây, nhưng cả 2 đại đội này đều bị quân dân Việt Nam phục kích, đánh cho tan tác…

Sau mấy ngày bị bao vây, tiểu đoàn 2 và Sở chỉ huy tiền phương của trung đoàn 448 bị đánh tơi tả, đạn dược lương thực cạn dần, không thấy quân cứu viện đến, tinh thần binh sĩ sa sút nghiêm trọng, triệt để mất ý chí chiến đấu chỉ biết co cụm chờ cứu viện. Ngày 13.3, Quân đoàn 41 được báo cáo tình hình một bộ phận trung đoàn 448, sư đoàn 150 bị bao vây, đã lệnh cho các đơn vị gần đó tới cứu viện, nhưng có đơn vị chưa đến nơi đã quay đầu. Sau này, có tin Quân ủy Trung Quốc cho rằng trung đoàn 448 bị bao vây ở vùng núi non hiểm trở, không huy động lực lượng lớn thì khó giải vây. Mà lúc này Trung Quốc đã tuyên bố rút quân, nếu triển khai hành động quân sự quy mô lớn sẽ gây ảnh hưởng xấu trên quốc tế nên đã ra lệnh các đơn vị cứu viện quay về.

Ngày 19.3.1979, Phó Bồi Đức, Long Đức Xương và các cán bộ chỉ huy gồm đại đội trưởng, chính trị viên đại đội 8, tiểu đoàn 2 đã tổ chức họp chi bộ đảng mở rộng, ra nghị quyết quyết định hạ vũ khí, kéo cờ trắng cả tập thể ra đầu hàng quân đội Việt Nam. Đây được cho là điều chưa từng có trong lịch sử quân đội Trung Quốc từ xưa đến nay.

Tấm ảnh đã trở thành biểu tượng cho sự thất bại của phía Trung Quốc trong Chiến tranh Tháng 2 năm 1979

Sau này khi tổng kết, chỉ riêng trong trận Nà Ca, Lãng Trang này, trung đoàn 448 bị tập kích thất lạc cả thảy 542 người, để mất vào tay đối phương 407 khẩu súng các loại, 202 người bị bắt làm tù binh, trong đó có Phó chính ủy Long Đức Xương, Tham mưu phó Phó Bồi Đức, Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2, đại đội trưởng, chính trị viên đại đội 8 cùng các cán bộ đại đội, trung đội… Số còn lại đều bị chết hoặc mất tích.

Sau chiến tranh, Dương Dũng, Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc đích thân dẫn đoàn cán bộ xuống quân đoàn 50 điều tra, tổng kết, xử lý vụ việc được coi là “ô nhục chưa từng có trong lịch sử quân đội” này. Phó tư lệnh quân đoàn Quan Khoát Minh bị kỷ luật cách chức, giáng cấp xuống cấp sư đoàn, trong quyết định kỷ luật ghi rõ: “tham sống sợ chết”, Phó tư lệnh Lâm Trung Hòa bị giáng chức, Phó chính ủy Hầu Bồi Tụ bị cảnh cáo trong đảng, các cán bộ chỉ huy cấp sư đoàn, trung đoàn cũng bị kỷ luật hoặc điều chỉnh. Vụ việc được đưa thành giáo trình phản diện điển hình của việc tăng cường chỉ huy trong quân đội.

Từ tháng 5 đến tháng 6.1979, hai nước Trung – Việt tiến hành 5 đợt trao trả tù binh tại cửa khẩu Hữu Nghị nằm giữa Lạng Sơn và Quảng Tây. Đến ngày 22.6.1979, 239 tù binh Trung Quốc (thực ra là 238 người và hài cốt 1 tù binh bị chết trong trại do bị thương) đã được Việt Nam trao cho phía Trung Quốc. Tất cả họ bị đưa về “Lớp học tập” ở sân vay Ngô Vu ở ngoại ô Nam Ninh để thẩm tra, một số cán bộ chỉ huy có trách nhiệm trong vụ đầu hàng tập thể của trung đoàn 448 bị xử lý kỷ luật và chuyển cho tòa án quân sự trừng phạt. Lý Hòa Bình, đại đội trưởng và Phùng Tăng Mẫn, chính trị viên Đại đội 8 đặc nhiệm thuộc Tiểu đoàn 2 bị nhận án 10 năm tù giam vì tội “phản bội đầu hàng”.

Về biên chế tổ chức, trong đợt điều chỉnh biên chế quân đội năm 1985, quân đoàn 50 và Sư đoàn 150 với 4 trung đoàn trực thuộc cũng bị xóa phiên hiệu, vĩnh viễn không tồn tại trong biên chế của quân đội Trung Quốc nữa.

Lời kết:

Đã 40 năm trôi qua kể từ khi xảy ra cuộc Chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979; hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã bình thường hóa quan hệ, Hiệp định phân định biên giới trên bộ đã được ký kết và công tác phân giới cắm mốc đã hoàn thành, biên giới trên bộ đã thực sự là đường biên giới hòa bình, hợp tác. Quan hệ về chính trị, ngoại giao hai bên chặt chẽ; hợp tác về kinh tế, thương mại, du lịch đang phát triển rất nhanh. Hai nước hiện nay đang tích cực phát triển quan hệ hợp tác toàn diện trên các mặt…

Chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc Tháng 2.1979 là một câu chuyện buồn trong lịch sử, một câu chuyện buồn trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Dẫu vậy, nó vẫn là lịch sử, cần phải được nhìn nhận với sự thật đầy đủ. Cần thiết phải nhắc để nhân dân ta và các thế hệ sau ghi nhớ, biết ơn và tôn vinh những chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh để bảo vệ biên cương Tổ quốc, như chúng ta đã và sẽ vẫn tôn vinh bao nhiêu anh hùng liệt sĩ trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Chiến tranh bảo vệ biên giới Tháng 2.1979 không thể bị lãng quên.

Cần phải đưa vào sách giáo khoa những sự thật lịch sử về Hoàng Sa, Trường Sa và cuộc Chiến tranh biên giới phía Bắc. Con em chúng ta cần biết và có quyền biết lịch sử, biết những gì mà ông cha đã làm, để tự hào và tiếp nối truyền thống. Chúng ta tôn trọng lịch sử, sòng phẳng với lịch sử không có nghĩa là chúng ta kích động hận thù. Mọi người dân Việt Nam cần được biết sự thật, để hiểu đâu là lẽ phải và để rút ra bài học cho các mối quan hệ quốc tế trong bối cảnh phức tạp ngày nay.

Thu Thủy 

Advertisements

4 thoughts on “Dư luận Trung Quốc nói về Chiến tranh Tháng 2 năm 1979: Đầu hàng tập thể – Sự ô nhục chưa từng có trong lịch sử Trung Quốc (Phần 4)”

  1. “Ở góc độ của người Việt Nam, tôi thấy rõ ràng tên gọi ‘Phản kích tự vệ’ mà phía Trung quốc nói với báo giới của cuộc chiến này như thế là không chính xác, rõ ràng là 6 tỉnh biên giới của Việt Nam bị xâm lược và không thể nói chuyện là [có] người anh hùng nào, hay tốt đẹp gì trong việc đi sang [Việt Nam], ở đây không có câu chuyện gì phải tự vệ, bởi vì tất cả mọi chuyện là xảy ra trên đất Việt Nam.
    “Tại sao lại gọi là tự vệ? Một đất nước Trung Quốc từ sức người, sức của, từ diện tích cho đến sức dân đều lớn hơn Việt Nam rất nhiều, làm gì có câu chuyện là phải tự vệ với một nước Việt Nam rất là nhỏ, rất là bé, rất là nghèo nàn mà năm 1979 vừa mới ra khỏi bom đạn chiến tranh?”. lịch sử ‘đã bị bóp méo’ bởi phía Trung Quốc, Tiến sỹ Nghiêm Thúy Hằng, từ Bộ môn Trung Quốc học, Khoa Đông Phương học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, nói với Bàn tròn thứ Năm từ London của BBC Tiếng Việt hôm 14/2/2019.
    “Vừa rồi tôi có nghe nhà báo Tô Bình – một khách mời từ BBC Tiếng Trung cùng tham gia Bàn tròn – thuật lại những phản ứng của phía Trung Quốc, tôi thấy rõ ràng ở đây đã có một sự tuyên truyền rất khác biệt giữa hai phía và sự thật của cuộc chiến tranh năm 1979 đã bị bóp méo rất nhiều. Cuộc chiến này đúng là cuộc chiến mà ông Đặng Tiểu Bình đã đặt Việt Nam vào thế không có một sự lựa chọn nào khác.
    “Khi mà Tổ quốc bị xâm lược như vậy, thì tất nhiên người Việt Nam phải đứng lên để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ – giá trị toàn vẹn lãnh thổ là một giá trị xuyên suốt trong lịch sử Việt Nam, thế thì cũng nên dạy cho toàn thể thế hệ sau về bài học lịch sử này của cha ông.
    “Không phải để khắc sâu hận thù, mà để sau này rút kinh nghiệm: thêm yêu hòa bình và những người đứng trong cương vị lãnh đạo tuyệt đối không nên để cho những câu chuyện chiến tranh tương tự có thể xảy ra, vì đây là một tội ác, rõ ràng là một tội ác đối với chính dân tộc của mình,”.

    Like

  2. Ngày càng có nhiều người Trung Quốc hiểu biết, tôn trọng lẽ phải, nhất là những người lính đã từng tham gia cuộc chiến tranh ấy nhận rõ sự thực, dũng cảm phản bác lại những điều mà họ từng ngộ nhận; công bố và phân tích về những thực tế phũ phàng của cuộc chiến tranh phi nghĩa, trái đạo lý ấy…
    Đã 40 năm trôi qua kể từ 17/2/1979, chính quyền Trung Quốc khi đó nói, họ tiến hành cái gọi là “Chiến tranh phản kích tự vệ” để đáp trả “những hành động khiêu khích chống Trung Quốc của Việt Nam”,… rêu rao họ đã giành chiến thắng và đạt được mục đích đề ra”.v.v. và v.v… Tuy nhiên, sự thực hoàn toàn không phải như vậy.
    Người Việt Nam không im lặng chịu trận, Theo tài liệu “Chiến tranh Trung – Việt, bước ngoặt của Chiến tranh Lạnh” đăng trên một số báo mạng Trung Quốc, “mức độ đẫm máu, ác liệt của cuộc chiến tranh này đến giờ vẫn khiến người ta rùng mình kinh sợ. Trong các trận đánh tiến công cụ thể, Trung Quốc thường sử dụng binh lực đông gấp từ 5 đến 7 lần để bao vây tấn công quân Việt Nam. Trung Quốc cũng chiếm ưu thế áp đảo về hỏa khí, đạn dược. Trong cuộc chiến tranh này Trung Quốc đã bắn 883.381 quả đạn cỡ trên 82mm, lượng đạn bắn bình quân mỗi ngày nhiều gấp 6 lần Chiến tranh Triều Tiên; phía Việt Nam chỉ bắn lượng đạn không tới 1/10 số đạn Trung Quốc đã bắn”.
    Còn theo số liệu tổng kết của Cục Hậu cần Quân khu Côn Minh: Cuộc chiến tháng 2 năm 1979 chỉ kéo dài 1 tháng, nhưng tổng cộng đã tiêu hao 1,06 triệu quả đạn pháo các cỡ,… bị chết 8.531 người, bị thương hơn 23.000, bị bắt làm tù binh 239, bình quân mỗi ngày có 1 trung đoàn bị loại khỏi vòng chiến. “Thương vong lớn ngoài dự kiến là một trong những nguyên nhân khiến Trung Quốc phải kết thúc sớm cuộc chiến. Trong 2 ngày đầu, Trung Quốc đã mất hơn 4.000 quân, đến mức quân y không kịp trở tay”.
    Phía Trung Quốc cũng phải thừa nhận: “Điều không thể phủ nhận là người Việt Nam không im lặng chịu trận. Binh sĩ Việt Nam kinh nghiệm phong phú, từng trải chiến trận trong 3 ngày đầu tiên đã khiến quân đội Trung Quốc thương vong nặng nề. Người Việt Nam sử dụng chiến thuật phục kích, tập kích khiến lực lượng tiến công của quân đội Trung Quốc trở nên khá hỗn loạn”.
    Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc Tháng 2/1979 là một câu chuyện buồn trong lịch sử, một câu chuyện buồn trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Dẫu vậy, nó vẫn là lịch sử, cần phải được nhìn nhận với sự thật đầy đủ. Cần thiết phải nhắc để nhân dân ta và các thế hệ sau ghi nhớ, biết ơn và tôn vinh những chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh để bảo vệ biên cương Tổ quốc, như chúng ta đã và sẽ vẫn tôn vinh bao nhiêu anh hùng liệt sĩ trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Chiến tranh bảo vệ biên giới Tháng 2/1979 không thể bị lãng quên.

    Like

  3. Chiến tranh Biên giới Việt Trung năm 1979 người dân Việt Nam không bao giờ quên mối thù do lãnh đạo Trung Quốc thời đó là Đặng Tiểu Bình gây ra cho nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, đối với nhân dân Trung quốc thì phần nào cũng chia sẻ được nỗi đau với họ, khi con em họ phải chết một cách oan uổng vì một cuộc chiến phi nghĩa. Nói về nguyên nhân thảm bại, Diễn đàn Cường quốc của Nhân dân Nhật báo điện tử ngày 13/7/2016 đã đăng một bài viết, cho rằng “sự thê thảm, ác liệt của cuộc chiến tranh khiến người ta kinh sợ, nhưng điều khiến người ta phẫn uất nhất là hàng mấy vạn binh lính Trung Quốc đang tuổi thanh xuân phơi phới đã phải chết thảm trong cuộc chiến tranh giống như trò chơi ấy.
    Bài báo viết:
    Cuộc chiến diễn ra ác liệt, thê thảm như thế do mấy nguyên nhân sau:
    1. Trung Quốc dùng “chiến thuật biển người” để xung phong đánh trận địa đối phương… Lâu ngày sống trong hòa bình, ít được huấn luyện quân sự, chiến sĩ không biết đánh nhau, sĩ quan không biết chỉ huy, lại thiếu sự huấn luyện đánh rừng núi và đánh ban đêm; bộ đội tăng, thiết giáp và bộ binh không thể tác chiến hiệp đồng, vì thế đã phải trả giá rất lớn.
    2. Quân đội Trung Quốc sử dụng đơn vị cơ giới hóa thọc sâu bao vây, nhưng quên rằng phía Bắc Việt Nam toàn là vùng núi và rừng rậm nhiệt đới, không lợi cho tác chiến tăng, thiết giáp. Quân Việt Nam được trang bị vũ khí chống tăng của Liên Xô và thu được của Mỹ, dễ dàng hạ gục xe tăng của quân đội Trung Quốc.
    3. Đánh giá không đầy đủ về ý chí chiến đấu của người Việt Nam nên bị hố to.
    4. Về mặt chiến tranh du kích, Việt Nam vận dụng phương châm “địch tiến ta lui, địch dừng ta quấy, địch mệt ta đánh, địch lui ta đuổi” giỏi hơn chúng ta nhiều.
    5. Khi đó quân đội Trung Quốc chưa thực hiện chế độ quân hàm, sĩ quan chỉ huy đều mặc áo 4 túi, chiến sĩ áo hai túi. Sau khi bộ đội bị đánh tan tác, ai chỉ huy và có phục tùng nhau hay không trở thành vấn đề lớn. Đó cũng là một nguyên nhân khiến quân đội Trung Quốc thương vong lớn.
    6. Có một số đơn vị sĩ khí rất kém. Có đơn vị, sĩ quan dẫn cả đại đội ra đầu hàng tập thể. Một đơn vị khi bị bao vây, cán bộ chỉ huy đã vứt bỏ bộ đội một mình chạy về, còn giả vờ bị thương để chui vào bệnh viện.
    7. Coi chiến tranh thành trò chơi luyện binh. Mục đích chiến tranh mà Trung Quốc đề ra ban đầu đều không đạt được. “Người anh em Khmer Đỏ” Polpot bị gục ngã trước sự tiến công của quân đội Việt Nam. Vấn đề là, binh sĩ Trung Quốc liệu có đáng phải đổ máu vì cái chính quyền như thế không?…
    Đã 40 năm trôi qua kể từ khi xảy ra cuộc Chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979; hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã bình thường hóa quan hệ, Hiệp định phân định biên giới trên bộ đã được ký kết và công tác phân giới cắm mốc đã hoàn thành, biên giới trên bộ đã thực sự là đường biên giới hòa bình, hợp tác. Quan hệ về chính trị, ngoại giao hai bên chặt chẽ; hợp tác về kinh tế, thương mại, du lịch đang phát triển rất nhanh. Hai nước hiện nay đang tích cực phát triển quan hệ hợp tác toàn diện trên các mặt…Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc Tháng 2/1979 là một câu chuyện buồn trong lịch sử, một câu chuyện buồn trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Dẫu vậy, nó vẫn là lịch sử, cần phải được nhìn nhận với sự thật đầy đủ.và sòng phẳng.

    Like

  4. Bọn lính sơn cước là lính thiện chiến nhất của Quân đội Trung quốc mà đầu hàng có Nghị quyết, thì Đặng Tiểu Bình vì mục đích lấy lòng Mỹ để xin viện trợ mọi mặt. Cái giá phải trả cho mưu đồ của Đặng quá lớn. Đó là xương máu của nhân dân hai nước Việt – Trung.
    Những bức hình trên là hình chụp nguyên vẹn một đại đội sơn cước Trung Quốc, mà bộ đội ta chẳng cần hô “Thấu xéng chiu sâu khoan tai” (tiếng Tàu: “Đầu hàng thì sẽ được đối đãi tử tế”), đã ra hàng, chịu bị bắt làm tù binh ở xã Minh Tâm, huyện Nguyên Bình, Cao Bằng.
    Chuyện là thế này.
    Đại đội sơn cước ra hàng này, thuộc Trung đoàn bộ binh 448, Sư đoàn 150, Quân đoàn 50, quân khu Thành Đô. Đơn vị còn có đầy đủ cả bộ sậu: Đại đội trưởng Lý Hòa Bình, Chính trị viên Phùng Tăng Mẫn, cả ban chi ủy, các trung đội trưởng… và đầy đủ vũ khí trang bị. Cùng đi với đại đội còn có hai cán bộ do trung đoàn phái xuống để đốc chiến, một vị là Tham mưu phó Trung đoàn Phó Bồi Đức, vị kia là Phó chính ủy Trung đoàn Long Đức Xương. Cả đại đội còn đầy đủ cả trăm con người.
    Sáng 11/3, cánh Tây của Tiểu đoàn 2 gồm Đại đội 8 đặc nhiệm có Sở chỉ huy tiền phương Trung đoàn 448 với Trung đoàn trưởng Hồ Khánh Trung và Phó chính ủy Long Đức Xương đi kèm bị quân đội Việt Nam tập kích ở thôn Nà Ca (xã Minh Tân, huyện Nguyên Bình). Quân Việt Nam không đông, nhưng chiếm được địa thế có lợi, dùng súng máy bắn quét. Phía Trung Quốc bất ngờ, không kịp trở tay nên thương vong nặng nề.
    Khi các đơn vị còn lại rút được êm xuôi, Đại đội sơn cước 8 dùng phải bản đồ cũ (75 tuổi) nên thành ra 1 đám “trẻ lạc” và bị quân ta phản công bao vây trên một mỏm đồi đá. Nhìn xung quanh, thấy đâu đâu cũng có quân ta, và đối chiếu với bản đồ, ban chỉ huy đại đội biết rằng, đánh để mở đường về là vô vọng. Chính vì vậy, Chi bộ Đại đội này đã tiến hành họp cấp ủy mở rộng, có ghi Nghị quyết đàng hoàng. Khi ra hàng và giao nộp vũ khí, đại đội này trình ta cả bản Nghị quyết.
    Trong Nghị quyết ra hàng, có ghi rõ thế này:
    “Tuân theo lời dạy của lãnh tụ Lê-Nin, là: Hãy làm việc cụ thể – trong từng giai đoạn cụ thể. Vậy nay quyết nghị ra hàng, để bảo toàn lực lượng, đặng còn về với Tổ quốc” :v
    Nói là một sự tích, độc nhất vô nhị, chưa từng có trong toàn bộ lịch sử chiến tranh thế giới, vì chưa từng có đơn vị quân đội của một quốc gia theo thể chế XHCN nào vẫy cờ trắng kèm Nghị quyết của Chi bộ như thế cả.Đây cũng được cho là điều chưa từng có trong lịch sử quân đội Trung Quốc từ xưa đến nay và bị báo chí nước này gọi là “sự kiện nhục nhã”. Vụ việc đã được đưa thành giáo trình phản diện điển hình của việc tăng cường chỉ huy trong quân đội Trung Quốc.
    Sau khi được trao trả, Lý Hòa Bình, Đại đội trưởng và Phùng Tăng Mẫn, Chính trị viên Đại đội 8 nhận án 10 năm tù giam vì tội ”phản bội đầu hàng”.Do phạm quá nhiều sai lầm và thiệt hại nặng, trong đợt điều chỉnh biên chế năm 1985, Quân đoàn 50 và Sư đoàn 150 với 4 trung đoàn trực thuộc bị xóa phiên hiệu, vĩnh viễn không còn tồn tại trong biên chế của quân đội Trung Quốc.

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s