Ngoại giao Việt Nam

NGOẠI GIAO VIỆT NAM SẼ ĐƯỢC NÂNG CAO TRÊN TRƯỜNG QUỐC TẾ THÔNG QUA VIỆC NHẤT THỂ HOÁ TỔNG BÍ THƯ KIÊM CHỦ TỊCH NƯỚC

Thông tin được quan tâm hàng đầu trong nước cũng như trên các phương tiện truyền thông quốc tế là sự kiện Hội nghị TW Đảng Cộng Đảng Việt Nam lần thứ 8, thống nhất giới thiệu Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng để Quốc Hội Việt Nam bầu vào chức danh CHỦ TỊCH NƯỚC.

Sau chủ tịch Hồ Chí Minh, thì đây là lần đầu tiên Bộ Chính Trị, Ban Chấp Hành TW Đảng Cộng Sản Việt Nam thực hiện quyết nghị nhất thể hoá hai chức danh TỔNG BÍ THƯ – CHỦ TỊCH NƯỚC, chủ trương này ngay lập tức nhận được sự đồng thuận rất cao trong nội bộ Đảng và Nhân dân, khi mà, trong thời điểm hiện nay, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng là người gần như duy nhất hội đủ điều kiện về Tài – Đức – Uy tín để nắm giữ trọng trách này trong thời kỳ Việt Nam tiếp tục công cuộc đổi mới mạnh mẽ về xây dựng và phát triển đất nước. Một trong những hiệu quả cực kỳ quan trọng trong chủ trương nhất thể hoá TỔNG BÍ THƯ kiêm CHỦ TỊCH NƯỚC là Quan hệ ngoại giao của Việt Nam chắc chắn sẽ được nâng lên một tầm cao mới trên trường quốc tế.

Trong một thế giới toàn cầu hóa với sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa các quốc gia, hội nhập quốc tế đã trở thành sự lựa chọn khách quan và tất yếu. Như người “hoa tiêu” góp phần đưa con tàu Việt Nam tiến ra biển lớn, ngoại giao Việt Nam đã xác định đúng, bám sát dòng chảy của thời đại, luôn nỗ lực hết sức mình để định vị đất nước một cách có lợi nhất trong cục diện khu vực và thế giới.

* Trước hết, chúng ta đã đẩy mạnh việc đưa quan hệ với các nước đi vào chiều sâu thực chất, cơ bản hoàn tất việc thể chế hóa khuôn khổ quan hệ với các đối tác ưu tiên, quan trọng. Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử đối ngoại 70 năm qua, chúng ta đã xây dựng được khuôn khổ quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với tất cả cả nước lớn, trong đó có 5 nước thành viên thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Đường hướng ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta là Đa phương hoá đường lối ngoại giao, giữ vững lập trường tư tưởng chính trị, đôi bên cùng có lợi, tối đa hoá quyền lợi của các bên, trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

* Thứ hai, ngoại giao luôn đi đầu trong việc triển khai chủ trương hội nhập quốc tế toàn diện mà Đại hội Đảng XI đã đề ra. Ngoại giao đã tích cực đóng góp vào việc tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại: lần đầu tiên sau hai thập kỷ, Việt Nam liên tục xuất siêu từ năm 2012 đến năm 2014, tiếp tục là điểm sáng ở Đông Nam Á trong việc thu hút đầu tư nước ngoài với sự có mặt của trên 100 tập đoàn đa quốc gia hàng đầu trên thế giới, trong đó nhiều tập đoàn đã và sẽ đặt “đại bản doanh” tại Việt Nam. Sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 22 về hội nhập quốc tế, công tác đối ngoại đã chứng kiến những bước tiến mạnh mẽ. Lần đầu tiên, Việt Nam tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, tiến hành đàm phán đồng thời nhiều Hiệp định thương mại tự do lớn như TPP và RCEP, được bạn bè quốc tế tín nhiệm bầu với số phiếu rất cao vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc như Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014 – 2016, Ủy ban Di sản Thế giới của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) nhiệm kỳ 2013 – 2017, đảm nhiệm chức Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cơ quan năng lượng Nguyên tử quốc tế (IAEA) nhiệm kỳ 2013 – 2015. Trong giai đoạn này, ngoại giao đa phương cũng được nâng tầm, chuyển từ phương châm “tham gia tích cực” sang “chủ động đóng góp xây dựng luật chơi chung” với việc Việt Nam đưa ra nhiều sáng kiến, đề xuất hợp tác được các nước bạn bè, đối tác ủng hộ, đánh giá cao tại các diễn đàn từ ASEAN đến ASEM, APEC và Liên hợp quốc. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định sau 2 năm triển khai Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị, “công tác hội nhập quốc tế đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, đóng góp tích cực vào thành tựu phát triển chung của đất nước”.

* Thứ ba, ngoại giao đã phối hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh trong việc bảo vệ vững chắc an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Chúng ta đã hoàn thành phân giới, cắm mốc trên toàn tuyến biên giới trên bộ với Trung Quốc và Lào, đang triển khai phân định biên giới với Cam-pu-chia, góp phần đưa đường biên giới trên bộ giữa Việt Nam với các nước láng giềng trở thành đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển. Ngoại giao cũng giành được sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế đối với lập trường chính nghĩa và các lợi ích chính đáng của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã khẳng định “ngoại giao đã có những đóng góp xứng đáng vào việc bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”.

* Thứ tư, công tác ngoại giao văn hóa, thông tin tuyên truyền đối ngoại, bảo hộ công dân và công tác người Việt Nam ở nước ngoài đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Chúng ta đã vận động thành công để UNESCO công nhận thành nhà Hồ, quần thể danh thắng Tràng An, châu bản triều Nguyễn, tín ngưỡng thờ cúng Hùng vương, hát xoan Phú Thọ là di sản văn hóa thế giới. Trên mặt trận thông tin tuyên truyền, ngoại giao đã góp phần xây dựng đồng thuận và huy động sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân đối với các đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, quảng bá và nâng cao hình ảnh, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Ngoại giao cũng luôn có mặt trên tuyến đầu trong việc hợp tác, đấu tranh nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của kiều bào ta ở nước ngoài, vận động kiều bào ngày càng hướng về quê hương, đất nước, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bằng các nguồn lực tinh thần, vật chất.

Toàn ngành ngoại giao luôn nhận thức rõ, những thành tựu đối ngoại quan trọng suốt 70 năm qua là nhờ có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước, nỗ lực vượt bậc của tất cả các lực lượng làm công tác đối ngoại cũng như sự phối hợp hiệu quả, hỗ trợ tích cực của các Bộ, ban ngành và địa phương cả nước. Với phương châm “đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể”, ngành Ngoại giao luôn sát cánh cùng các lực lượng đối ngoại khác, hình thành nên thế chân kiềng vững chắc gồm đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, cùng phấn đấu vì mục tiêu chung là phục vụ tốt nhất các lợi ích an ninh, phát triển của đất nước, nâng cao hơn nữa vị thế của Việt Nam ở khu vực và trên trường quốc tế.

Nhất thể hoá TỔNG BÍ THƯ – CHỦ TỊCH NƯỚC không chỉ là một chủ trương đúng đắn, mà còn là xu thế tất yếu trong quá trình phát triển của đất nước về an ninh, chủ quyền, kinh tế, chính trị,… khi mà ngày nay, cục diện thế giới và khu vực đang không ngừng biến động. Chúng ta đang sống trong một thế giới có hòa bình, nhưng không hề yên bình. Châu Á – Thái Bình Dương vẫn là khu vực phát triển năng động nhất và có triển vọng trở thành trung tâm quyền lực mới của thế giới trong thế kỷ 21, song cũng đã trở thành địa bàn cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn. Hòa bình và hợp tác vẫn là xu thế chủ đạo, nhưng các nhân tố bất ổn, thậm chí nguy cơ xung đột cục bộ ngày càng nhiều. Đặc biệt, tình hình Biển Đông diễn biến rất phức tạp, các nguy cơ đe dọa an ninh, chủ quyền biển đảo của đất nước nổi lên ngày càng gay gắt. Thách thức và cơ hội luôn đan xen, có tính chuyển hóa lẫn nhau. Làm sao “biến nguy thành an”, định vị đất nước như thế nào sao cho có lợi nhất trong bàn cờ chiến lược ở khu vực và trên thế giới là trăn trở đêm ngày của những người làm công tác đối ngoại. Trước đây, Bác Hồ đã từng nói: “Lạc nước hai xe đành bỏ phí. Gặp thời một tốt cũng thành công”. Nhiệm vụ của ngoại giao ngày nay là phải lấy tư duy “trong nguy có cơ” để tìm ra thời cơ, vận hội của đất nước.

Trong thế giới ngày nay, một quốc gia dẫu kinh tế không mạnh, dân không đông, song nếu có chính sách đối ngoại đúng đắn vẫn có thể bảo vệ các lợi ích chính đáng, nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế. Là một quốc gia có vị trí địa chiến lược quan trọng ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong tình hình mới, tranh thủ các điều kiện thuận lợi nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước vượt qua nguy cơ “bẫy thu nhập trung bình”. Để làm được điều đó, đã đến lúc ngoại giao Việt Nam cần “dấn thân” hơn nữa.

Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 28 (12/2013), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định ba nhiệm vụ đối ngoại quan trọng nhất trong thời gian tới là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ chế độ Xã hội Chủ nghĩa. Ba nhiệm vụ này mang tính biện chứng, tác động qua lại, và liên quan mật thiết đến nhau. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Trong thời bình, ngoại giao là lực lượng “đi đầu trong kiến tạo hòa bình, bảo vệ Tổ quốc và thu hút nguồn lực cho phát triển đất nước” . Để thực hiện trọng trách lớn lao đó, toàn ngành ngoại giao đang nỗ lực đổi mới tư duy, tìm tòi sáng tạo hơn nữa từ lối tư duy đến cách làm nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác đối ngoại. Bám sát cái “bất biến” là lợi ích quốc gia, dân tộc để ứng xử “vạn biến” linh hoạt, thích ứng với một thế giới đang không ngừng thay đổi là yêu cầu bắt buộc đối với ngoại giao Việt Nam trong thời kỳ mới. Như một chiếc “ăng-ten” của đất nước, ngoại giao nhất thiết phải làm tốt công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược để phát hiện ra các xu thế mới, đặt Việt Nam vào đúng dòng chảy của thời đại, đồng thời không để đất nước bị bất ngờ trước bất kỳ tình huống nào.

Thật vậy, Bác Hồ đã nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Nhận thức rõ điều đó, toàn ngành luôn coi việc xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có chuyên môn nghiệp vụ ngang tầm khu vực và dần tiếp cận trình độ quốc tế không chỉ là điều kiện tiên quyết để triển khai thắng lợi mọi nhiệm vụ đối ngoại mà Đảng và Nhà nước giao phó mà còn là mệnh lệnh từ trái tim của những người làm công tác đối ngoại.

Những thách thức mới và diễn biến nhanh, khó đoán của chính trị thế giới khiến Việt Nam phải chủ động trong đường lối ngoại giao, mà việc NHẤT THỂ HÓA – không gì khác ngoài việc góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường ngoại giao thế giới. Bởi thực tế cho thấy: Thế giới trong thế kỷ 21 tiếp tục chứng kiến nhiều biến đổi phức tạp và khó lường. Toàn cầu hoá tiếp tục phát triển sâu rộng và tác động tới tất cả các nước. Các quốc gia lớn nhỏ đang tham gia ngày càng tích cực vào quá trình hội nhập quốc tế. Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc của các quốc gia, dân tộc trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, các cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ chính quyền, khủng bố vẫn xẩy ra ở nhiều nơi với tính chất và hình thức ngày càng đa dạng, phức tạp.

Thế kỷ 21 đang mở ra những cơ hội to lớn nhưng cũng chứa đựng rất nhiều thách thức. Sau gần hai thập kỷ tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, thế và lực của nước ta đã lớn mạnh lên nhiều. Chúng ta có lợi thế rất lớn là tình hình chính trị – xã hội cơ bản ổn định. Môi trường hoà bình, sự hợp tác, liên kết quốc tế và những xu thế tích cực trên thế giới tiếp tục tạo điều kiện để Việt Nam phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực. Tuy nhiên, chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức rất lớn. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã từng chỉ rõ tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII năm 1996 là tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, diễn biến hoà bình do các thế lực thù địch gây ra đến nay vẫn tồn tại và diễn biến hết sức phức tạp, đan xen và tác động lẫn nhau.

Vì vậy, chủ trương nhất thể hoá TỔNG BÍ THƯ – CHỦ TỊCH NƯỚC do Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đảm nhiệm, cũng là Chủ động hội nhập quốc tế, trước hết là hội nhập kinh tế quốc tế là nội dung quan trọng trong đường lối và hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong bối cảnh thế giới toàn cầu hóa và cách mạng khoa học kỹ thuật diễn ra rất mạnh mẽ hiện nay. Trong tiến trình hội nhập này, Việt Nam đặt ưu tiên cao cho việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, mở rộng và đa dạng hoá thị trường, tranh thủ vốn, kinh nghiệm quản lý và khoa học công nghệ tiên tiến cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Việt Nam đã tham gia sâu rộng và ngày càng hiệu quả ở các tổ chức khu vực như ASEAN, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu á – Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Á – Âu (ASEM) và đang tích cực đàm phán để sớm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Những đóng góp của Việt Nam vào các hoạt động của các tổ chức, diễn đàn quốc tế đã góp phần từng bước nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Sự tham gia, hoạt động tích cực của Việt Nam ở Liên Hợp Quốc cũng được các nước đánh giá cao và đó là cơ sở để Việt Nam ứng cử vào chiếc ghế Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2008 – 2009.

Với nhận thức sâu sắc rằng, thế giới hiện nay đang phải đối phó với những vấn đề toàn cầu mà không một nước nào có thể tự đứng ra giải quyết được, Việt Nam đã và đang hợp tác chặc chẽ với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực để cùng nhau giải quyết những thách thức chung như dịch bệnh truyền nhiễm, đói nghèo, tội phạm xuyên quốc gia, ô nhiễm môi trường, buôn lậu ma túy, … Đặc biệt từ sau sự kiện 11/9/2001, Việt Nam đã tích cực tham gia vào nỗ lực chung của các nước tăng cường hợp tác chống khủng bố trên cơ sở song phương và đa phương nhằm loại trừ tận gốc nguy cơ của khủng bố đối với an ninh và ổn định của các quốc gia. Những nỗ lực này của Việt Nam thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm của mình đối với bạn bè ở khu vực và quốc tế, góp phần vào sự nghiệp chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, ổn định và phát triển.

Ở khía cạnh một Tham Luận Khoa Học về Học Thuật Ngoại Giao, cá nhân tôi – một người yêu đất nước nhận thấy Ngoại giao là phương diện then chốt, mà trong đó ngoại giao Nhân dân được Đảng và Nhà nước quan tâm hàng đầu, nên nhất thiết, ở Tham luận Hàn Lâm mang tính học thuật này, tôi thiết nghĩ chúng ta phải nhìn nhận đúng tình hình chính trị Thế giới để góp phần đưa ngoại giao Việt Nam lên tầm cao mới trước bước ngoặc lịch sử thể hiện qua chủ trương của Đảng và Nhà nước trong nhất thể hoá chức danh TBT- CTN rất đúng đắn.

Tham luận Hàn Lâm mang tính Học Thuật của tôi, không gì khác, ngoài việc đóng góp ý kiến của mình để góp phần xây dựng Đất nước – nơi chúng ta là người dân phải có nghĩa vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và tự hào về Đất nước chúng ta trước bạn bè Quốc tế.

Vì thế, nhận diện tình hình chính trị thế giới là đóng vai trò quan trọng trong công tác ngoại giao hiện đại để tiên lượng và không bị động.

Thật vậy, thế giới chứng kiến những thay đổi khó lường trước, và thách thức bất cứ quốc gia nào nếu không vững về đường lối ngoại giao. Trường ngoại giao quốc tế thay đổi nhanh chóng, khi ngày 08/11/2016 là “ngày định mệnh” đối với nước Mỹ (cũng như nhiều nước khác), khi Donald Trump bất ngờ thắng cử, trở thành tổng thống thứ 45 của Mỹ. Đó là một chính biến làm thay đổi cục diện cuộc chơi (game changer), khiến nước Mỹ (và phần lớn thế giới) ngỡ ngàng, bối rối và lo sợ. Đó không phải chỉ là sự kiện thay đổi tổng thống Mỹ như “đến hẹn lại lên”, mà là một bước ngoặt lịch sử, mở ra một giai đoạn mới bất định. Khủng hoảng chính trị Mỹ có thể làm đảo lộn trật tự thế giới, “như khi Liên Xô sụp đổ” (năm 1991). (“America: the Failed State”, Francis Fukuyama, Prospect, December 13, 2016)

Cơn địa chấn chính trị bất ngờ và bất định này đang làm nước Mỹ chia rẽ sâu sắc, đe dọa trật tự thế giới cũ và quan hệ quốc tế. Trong cuốn sách mới xuất bản, Richard Haass (Chủ tịch Council on Foreign Relations) nhận xét rằng từ đầu năm 2017, chúng ta đang chứng kiến “sự đảo lộn có tính hệ thống” (systemic disorder) và “mất phương hướng chiến lược” (strategic disorientation). (“A World in Disarray: American foreign Policy and the Crisis of the Old Order”, Richard Haass, Penguin Press, January 2017).

Nếu Donald Trump chơi lá bài Nga để chống Tàu (khác với Nixon-Kissinger chơi lá bài Tàu để chống Nga trước đây) thì ông ta có thể làm đảo lộn bàn cờ chiến lược Biển Đông, cũng như chính sách đối ngoại của các nước Đông Á và ASEAN (trong đó có Việt Nam). Học thuyết Kissinger về tam giác chiến lược Mỹ-Nga-Trung có thể bị đảo ngược (“Reverse Kissinger”, Blake Franko, American Conservative, January 10, 2017). Nghịch lý Donald Trump là một hiện tượng lạ, nhưng đã có tiền lệ trong lịch sử. Thời xưa tại Trung Quốc, Lã Bất Vi ngộ ra rằng “buôn vua” lãi hơn tất cả, nên đã bỏ kinh doanh đi “buôn vua” và dựng lên Tần Thủy Hoàng. Lã Bất Vi còn đúc kết kinh nghiệm viết “Lã Thị Xuân Thu”. Nay tại Mỹ, Donald Trump cũng bỏ kinh doanh bất động sản, nhưng không “buôn vua” mà làm vua luôn. Donald Trump là Lã Bất Vi của nước Mỹ!

Trump vốn là con người thất thường, nên chính sách của Trump cũng bất thường. Đặc điểm chính sách của Trump là hành động ngay (không cần nghĩ trước), vì vậy mọi chính sách của chính quyền Trump có thể là “lâm thời” (adhoc). Chính vì Trump thiếu nhất quán nên làm thiên hạ khó đoán. Lệnh cấm nhập cảnh (travel ban) đối với 7 nước Hồi giáo là một ví dụ, đang gây tranh cãi và phản ứng làm náo loạn cả nước Mỹ.

Trong khi Trump quyết định rút khỏi TPP (bỏ ngỏ khu vực này cho Trung Quốc thao túng) thì ông ấy lại bổ nhiệm những nhân vật “diều hâu” chống Trung Quốc (như Peter Navarro và Rex Tillerson) vào những vị trí then chốt. Trước đây, Nixon-Kissinger đã “vô tình” tạo ra con quái vật Frankenstein và dung dưỡng nó lớn mạnh bằng kế sách “Constructive Engagement”, nay Trump lại “vô ý” rút khỏi TPP vì “America First”, mà hệ quả là bỏ rơi khu vực này để nó tha hồ lũng đoạn. Trung Quốc có thể thay thế TPP (do Mỹ đứng đầu) bằng RCEP (do TQ cầm cái), phân hóa và làm đảo lộn trật tự của Mỹ tại khu vực này.

Tại sao tham luận này tôi phải mất ròng rả gần 4 tháng trời để viết về vai trò của Trump trong ngoại giao thế giới? Chúng ta hãy nhìn vào cách sắp xếp nhân sự của Donal J Trump. Sắp xếp nhân sự chủ chốt của Trump chính là dấu hiệu về đường lối chính sách (đối nội cũng như đối ngoại). Không chờ nhậm chức, (20/1/2017) Trump đã bất ngờ ra tay trước bằng mấy nước cờ táo bạo, làm đảo lộn bàn cờ quốc gia lẫn quốc tế, đe dọa xóa sổ di sản của Tổng thống Obama và các đời tổng thống trước đó. Theo Newt Gingrich, “khoảng 60 hoặc 70% sắc lệnh của Obama sẽ bị Trump hủy bỏ” (Fox News, 26/12/2016).

* Thứ nhất, Trump không đợi Trung Quốc nắn gân mà đã phá lệ, thách thức Trung Quốc trước bằng cuộc điện đàm với tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn (2/12/2016). Sự kiện đó không phải ngẫu nhiên, mà là kết quả chuẩn bị nhiều tuần trước đó, giữa các quan chức hàng đầu hai bên (Bob Dole, Reince Priebus, Edwin Feulner). Bằng 10 phút điện đàm, Trump đe dọa làm sụp đổ chính sách “Một Trung Quốc” đã tồn tại hơn 4 thập kỷ. Tiếp theo điện đàm, Trump còn khẳng định, “Tôi quá hiểu chính sách ‘Một Trung Quốc’, nhưng tôi không hiểu tại sao chúng ta bị ràng buộc bởi chính sách đó” (Fox News, 11/12/2016).

* Thứ hai, Trump bổ nhiệm Peter Navarro đứng đầu Hội đồng Thương mại Quốc gia, có văn phòng ngay trong Nhà Trắng, có nhiệm vụ phối hợp chính sách kinh tế để đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Navarro là nhân vật chống Tàu, tác giả cuốn sách (và bộ phim) “Chết Bởi Trung Quốc”, nay trở thành nhà kinh tế quyền lực nhất. Bắc Kinh bị sốc trước quyết định bổ nhiệm Peter Navarro, cũng như Wilbur Ross (Bộ trưởng Thương mại), Robert Lighthier (Đại diện Thương mại). Sau cuộc điện đàm với Thái Anh Văn, việc bổ nhiệm ba nhân vật “diều hâu” chống Tàu là tín hiệu rõ ràng về ưu tiên của Trump. Chiến tranh thương mại và chạy đua vũ trang với Trung Quốc chỉ là vấn đề thời gian. Có nhiều lý do để Trung quốc lo ngại vì kinh tế đang xuống dốc và chính trị bất ổn. (“Peter Navarro is about to become one of the world’s most powerful economists”, Economist, Jan 21, 2017).

* Thứ ba, Trump bổ nhiệm Rex Tillerson làm Ngoại Trưởng, một quyết định gây tranh cãi, không phải chỉ vì Tillerson là CEO của Exxon-Mobil, mà còn là nhân vật thân với Putin. Phát biểu của Tillerson trong buổi điều trần tại Thượng Viện (12/1/2017) càng làm lãnh đạo Trung Quốc bị sốc. Tillerson đã nói thẳng thừng rằng chiến dịch Trung Quốc xây đảo nhân tạo trị giá hàng tỷ đô-la tại Biển Đông (với tài nguyên dầu khí) là “bất hợp pháp và giống Nga chiếm Crimea…”.

Rõ ràng, bối cảnh quốc tế như thế, khiến ngoại giao Việt Nam cần phải giữ vững lập trường dưới sự lãnh đạo của Đảng mà đứng đầu là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, thì tại tham luận này tôi cũng đề cập khái quan về tình hình Asean, khi mà Châu Á – Thái Bình Dương tiếp tục là khu vực tăng trưởng kinh tế năng động với việc đẩy mạnh nhiều hoạt động hợp tác, liên kết kinh tế. Việc hiện thực hóa Cộng đồng ASEAN góp phần tạo động lực mới giữa các quốc gia thành viên và củng cố vị trí trung tâm của ASEAN tại khu vực. Tuy vậy, đây cũng là địa bàn hội tụ hầu hết những đặc điểm phức tạp chung của tình hình thế giới. Việc các nước lớn đẩy mạnh cạnh tranh chiến lược, gia tăng ảnh hưởng tại khu vực cùng với các vấn đề nội bộ của nhiều nước đã và đang làm gia tăng nguy cơ tiềm ẩn đối với môi trường hòa bình, ổn định của khu vực. Tranh chấp chủ quyền biển, đảo và chủ nghĩa dân tộc cực đoan có xu hướng căng thẳng hơn; tình hình Biển Đông có nhiều diễn biến rất phức tạp.

Tôi đã dành thời gian nhiều năm để nghiên cứu, tra cứu học thuật về ngoại giao để đến thời điểm này, tôi nhận thấy và rất vui mừng công bố nghiên cứu của mình trong sự kiện nhất thể hoá TỔNG BÍ THƯ – CHỦ TỊCH NƯỚC mà tôi gọi là ” bước ngoặc lịch sử vĩ đại của Dân tộc Việt Nam”, bởi lẽ, theo tôi tình hình đó tác động sâu sắc, nhiều chiều tới nước ta, một mặt, tạo ra nhiều cơ hội; mặt khác, đặt ra những thách thức rất lớn đối với môi trường an ninh, phát triển và không gian sinh tồn của đất nước, đòi hỏi công tác đối ngoại đảng, cũng như toàn thể mặt trận đối ngoại nói chung phải không ngừng nỗ lực, củng cố, đưa các mối quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả hội nhập quốc tế, góp phần tạo thế và lực mới cho đất nước, phục vụ đắc lực nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đảng ta cũng xác định triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại, thực chất là xây dựng một nền đối ngoại toàn diện, tạo nên xung lực tổng hợp của các lĩnh vực, các loại hình, các kênh đối ngoại, trong một kế hoạch tổng thể, có sự chỉ đạo thống nhất, sự quản lý tập trung và phối hợp nhịp nhàng giữa các kênh, các lĩnh vực đối ngoại nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả đối ngoại tổng thể. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều nghị quyết chỉ đạo công tác đối ngoại, như Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế. Đối với lĩnh vực đối ngoại đảng, Bộ Chính trị khóa XI đã ban hành Kết luận số 73-KL/TW, ngày 8-2-2012, về “Tăng cường quan hệ đối ngoại của Đảng trong tình hình mới”. Kết luận số 73-KL/TW xác định, tăng cường và nâng cao hơn nữa hiệu quả quan hệ đối ngoại của Đảng để tạo nền tảng chính trị cho quan hệ ổn định, bền vững giữa nước ta và các nước; tiếp tục tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trên thế giới, các chính đảng, tổ chức, chính giới các nước và bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, nhân dân ta; tạo thế chủ động trong việc xử lý các vấn đề khu vực và quốc tế; thực hiện lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; góp phần làm giàu tri thức và nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta, nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam.

Theo quan điểm cá nhân, tôi có vài kiến nghị, trước hết chúng ta cần phải bám sát các mục tiêu: Đảng ta cũng xác định triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại, thực chất là xây dựng một nền đối ngoại toàn diện, tạo nên xung lực tổng hợp của các lĩnh vực, các loại hình, các kênh đối ngoại, trong một kế hoạch tổng thể, có sự chỉ đạo thống nhất, sự quản lý tập trung và phối hợp nhịp nhàng giữa các kênh, các lĩnh vực đối ngoại nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả đối ngoại tổng thể. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều nghị quyết chỉ đạo công tác đối ngoại, như Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế. Đối với lĩnh vực đối ngoại đảng, Bộ Chính trị khóa XI đã ban hành Kết luận số 73-KL/TW, ngày 8-2-2012, về “Tăng cường quan hệ đối ngoại của Đảng trong tình hình mới”. Kết luận số 73-KL/TW xác định, tăng cường và nâng cao hơn nữa hiệu quả quan hệ đối ngoại của Đảng để tạo nền tảng chính trị cho quan hệ ổn định, bền vững giữa nước ta và các nước; tiếp tục tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trên thế giới, các chính đảng, tổ chức, chính giới các nước và bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, nhân dân ta; tạo thế chủ động trong việc xử lý các vấn đề khu vực và quốc tế; thực hiện lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; góp phần làm giàu tri thức và nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta, nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam.

Bên cạnh đó, chúng ta cần phải đặt ra các bước để nâng cao ngoại giao trên trường quốc tế, thông qua các bước đồng loạt và thực hiện quy cũ là:
Chúng ta đã chủ động và tích cực mở rộng, tăng cường quan hệ giữa Đảng ta với các Đảng cộng sản, công nhân, cánh tả, các đảng cầm quyền, các đảng tham chính và các chính đảng khác trên cả bình diện song phương và đa phương, tạo nền tảng chính trị vững chắc cho quan hệ đối ngoại của đất nước. Đến nay, Đảng ta đã có quan hệ ở các mức độ khác nhau với 228 chính đảng ở 112 nước trên khắp các châu lục. Đảng ta cũng tham gia một cách tích cực và có trách nhiệm tại các diễn đàn đa phương chính đảng, như Hội nghị quốc tế các đảng chính trị châu Á (ICAPP), Cuộc gặp quốc tế các đảng cộng sản và công nhân (IMCWP), Hội thảo quốc tế các đảng cộng sản (ICS), Diễn đàn Xao Pao-lô (SPF), qua đó tham gia thảo luận việc giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực, góp phần nâng cao uy tín của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời làm cho dư luận quốc tế hiểu rõ, ủng hộ những vấn đề liên quan tới lợi ích chính đáng của quốc gia, nhất là vấn đề Biển Đông. Có thể nói, điểm đột phá quan trọng của đối ngoại đảng trong những năm qua là chúng ta đã chủ động mở rộng, thúc đẩy toàn diện, thực chất quan hệ với các đảng cầm quyền, các đảng tham chính trên thế giới. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI của Đảng đã xác định rõ chủ trương quan hệ đối ngoại của Đảng ta là: “Trước sau như một ủng hộ các đảng cộng sản và công nhân, các phong trào tiến bộ xã hội trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung của thời đại; mở rộng quan hệ với các đảng cánh tả, đảng cầm quyền và những đảng khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”. Như vậy, bên cạnh quan hệ truyền thống với các đảng cộng sản, công nhân, cánh tả, Đại hội XI của Đảng đã nhấn mạnh một chủ trương rất quan trọng, đó là mở rộng và tăng cường quan hệ với các đảng cầm quyền và các đảng khác. Trên tinh thần đó, chúng ta đã tích cực thúc đẩy quan hệ với các đảng cầm quyền, các đảng tham chính tại các nước, nhất là ở những nước có vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại của ta. Ngoài ra, Đảng ta cũng đã từng bước triển khai lộ trình quan hệ với các đảng cầm quyền, tham chính tại Hoa Kỳ, Anh. Về số lượng, cho đến nay, trong số 228 chính đảng mà Đảng ta có quan hệ, có 59 đảng cầm quyền và 38 đảng tham chính. Về nội dung hợp tác, căn cứ vào mức độ quan hệ và đánh giá vai trò, vị thế, triển vọng của các chính đảng, chúng ta đã chủ động ký kết nhiều thỏa thuận hợp tác với các đảng cầm quyền, tham chính ở một số nước, xác định rõ phạm vi và nội dung hợp tác, phù hợp với lợi ích của ta và yêu cầu mở rộng quan hệ đối ngoại đảng trong tình hình mới. Thực tiễn cho thấy, các Đảng cầm quyền, tham chính luôn có vị thế và tiếng nói quan trọng trên chính trường, có ảnh hưởng quyết định đến đường lối, chính sách đối ngoại của các nước. Do đó, mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền, tham chính đóng vai trò rất quan trọng, vừa góp phần tăng cường sự hiểu biết, tin cậy chính trị, tạo điều kiện thúc đẩy quan hệ song phương ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, vừa linh hoạt thích ứng với những chuyển biến nhanh chóng, khó lường trên chính trường các nước.

Chúng ta đã triển khai hiệu quả nhiều hoạt động đối ngoại cấp cao của lãnh đạo Đảng, góp phần thiết thực tăng cường quan hệ với các đối tác quan trọng. Những năm qua, hoạt động đối ngoại của các đồng chí lãnh đạo cấp cao có ý nghĩa chiến lược trong triển khai đường lối đối ngoại của Đảng ta, đặc biệt là các chuyến thăm chính thức của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tới các nước láng giềng, đối tác truyền thống, đối tác quan trọng, như Lào, Campuchia, Trung Quốc, Cuba, Ấn Độ, Thái Lan, Singapore, Bỉ, Anh, Italia, Vaticăng, Nga, Bêlarút, Hàn Quốc, Liên minh châu Âu (EU). Điểm nhấn nổi bật là trong năm 2015, Tổng bí thư đã thực hiện ba chuyến thăm tới Trung Quốc (tháng 4/2015), Hoa Kỳ (tháng 7/2015) và Nhật Bản (tháng 9/2015). Các chuyến thăm là những dấu mốc quan trọng tăng cường sự tin cậy chính trị, định ra các phương hướng, biện pháp lớn trong quan hệ song phương. Nhìn một cách tổng thể, qua các chuyến thăm, chúng ta, một mặt, thúc đẩy, đưa các mối quan hệ với các nước đối tác quan trọng đi vào chiều sâu; mặt khác, thiết lập được vị thế cân bằng trong quan hệ với các nước lớn, tạo điều kiện thuận lợi để triển khai các quyết sách đối ngoại một cách chủ động, hiệu quả, độc lập, tự chủ, mở ra không gian hợp tác, quan hệ mở hơn cho đất nước. Đây chính là thành quả đối ngoại to lớn và có ý nghĩa quan trọng của nhiệm kỳ vừa qua.

Một điểm nữa cần được nhấn mạnh là, việc các nước, dù khác biệt với ta về chế độ chính trị, hay từng có thời kỳ đối đầu với nước ta, đều đã đón tiếp Tổng Bí thư Đảng ta với những nghi thức trọng thị, cho thấy các nước hết sức coi trọng quan hệ với Việt Nam, đang ngày một tôn trọng hơn thể chế và sự lựa chọn chế độ chính trị của nhân dân ta, thừa nhận vai trò lãnh đạo đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chúng ta đã phát huy hiệu quả kênh đối ngoại Đảng để xử lý các vấn đề liên quan đến an ninh và phát triển của đất nước. Trong bối cảnh môi trường quốc tế và khu vực những năm qua diễn biến hết sức phức tạp, có nhiều vấn đề lớn về an ninh và phát triển đã nảy sinh trong quan hệ của nước ta với các nước láng giềng, quan hệ đối ngoại trên kênh đảng đã thực sự phát huy hiệu quả, góp phần quan trọng giải quyết nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến Biển Đông, biên giới, nguồn nước sông Mê Công…

Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực sẽ còn có nhiều biến động phức tạp. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh. Cục diện thế giới theo xu hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh hơn. Hợp tác, cạnh tranh và tính tùy thuộc lẫn nhau, nhất là giữa các nước lớn, ngày càng gia tăng. Đối với nước ta, thế và lực, sức mạnh tổng hợp, uy tín quốc tế ngày càng được củng cố, nâng cao, nhưng chúng ta cũng đứng trước nhiều yêu cầu mới, vấn đề mới trong việc phục vụ sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Nhằm khai thác tối đa các thuận lợi, thời cơ, vượt qua các khó khăn, thách thức, trong thời gian tới, đối ngoại Đảng cần quán triệt sâu sắc các chủ trương, định hướng lớn về đối ngoại theo tinh thần Đại hội XII của Đảng, tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

* Thứ nhất, tiếp tục phát huy lợi thế, sức mạnh, vai trò của đối ngoại Đảng trong duy trì môi trường quốc tế hòa bình, ổn định, tăng cường và đưa các mối quan hệ quốc tế đi vào chiều sâu, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đối ngoại Đảng cần tiếp tục phát huy tốt vai trò xây dựng nền tảng chính trị trong quan hệ với các đối tác quốc tế, qua đó góp phần thúc đẩy tổng thể quan hệ hợp tác của Việt Nam với các quốc gia trên thế giới.

* Thứ hai, tích cực nâng cao hiệu quả thực chất, thúc đẩy các nội dung quan hệ Đảng tiếp tục đi vào chiều sâu, cả trên bình diện song phương và đa phương. Tiếp tục chủ động, tích cực triển khai chủ trương tăng cường quan hệ truyền thống với các Đảng cộng sản, công nhân, cánh tả; mở rộng và đưa quan hệ với các Đảng cầm quyền, tham chính đi vào chiều sâu. Chủ động và tích cực phát huy vai trò của Đảng ta tại các diễn đàn đa phương chính đảng. Nội dung trao đổi, hợp tác trên kênh đảng đi sâu vào các lĩnh vực, vấn đề có ý nghĩa thiết thực đối với công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước, như kinh nghiệm cầm quyền, năng lực và kỹ năng lãnh đạo, quản lý và trình độ, kiến thức chuyên môn của lãnh đạo, cán bộ đảng các cấp.

* Thứ ba, phối hợp đồng bộ và chặt chẽ với ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân nhằm huy động và phát huy hơn nữa sức mạnh tổng hợp cho công tác đối ngoại. Đây là một truyền thống quý báu của đối ngoại nước ta. Việc huy động và củng cố sức mạnh vật chất luôn được kết hợp chặt chẽ với việc huy động và phát huy sức mạnh tinh thần; kết hợp chặt chẽ các kênh, các binh chủng và lĩnh vực của đối ngoại, từ ngoại giao nhà nước, đến đối ngoại đảng, ngoại giao nhân dân. Trong bối cảnh hiện nay, đối ngoại càng cần phải trở thành một mặt trận thống nhất dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của Đảng, với sự tham gia năng động, sáng tạo, phối hợp nhịp nhàng của các cấp, các ngành, của mọi tổ chức, cá nhân.

* Thứ tư, không ngừng đổi mới tư duy trên tất cả các kênh đối ngoại, cả về nội dung, phương thức, chiến lược, chiến thuật triển khai hoạt động. Việc xử lý linh hoạt các mối quan hệ quốc tế của Đảng tạo điều kiện thuận lợi chung cho công tác đối ngoại, góp phần tăng cường nền tảng, sự gắn kết, bổ sung và thống nhất trong thực tiễn triển khai hoạt động đối ngoại giữa đối ngoại Đảng với ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân. Đồng thời, trong cục diện thế giới phức tạp như hiện nay, cần nắm chắc phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại, không để các khác biệt về thể chế chính trị – xã hội cản trở việc mở rộng các mối quan hệ quốc tế của Đảng.

* Thứ năm, thường xuyên củng cố và tăng cường năng lực của lực lượng tham gia công tác đối ngoại, trong đó có đối ngoại Đảng. Chúng ta phải xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực chuyên môn toàn diện, am hiểu luật pháp, giỏi ngoại ngữ và bảo đảm các điều kiện cần thiết cho việc triển khai hiệu quả các hoạt động đối ngoại.

Là một bộ phận cấu thành của nền ngoại giao toàn diện Việt Nam, đối ngoại Đảng đã có nhiều đóng góp quan trọng, hiệu quả vào thành công chung của mặt trận đối ngoại thời kỳ đổi mới, phục vụ công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Việc xử lý linh hoạt các mối quan hệ quốc tế của Đảng tạo điều kiện thuận lợi chung cho công tác đối ngoại, góp phần củng cố nền tảng chính trị, tăng cường sự gắn kết, bổ sung và thống nhất trong thực tiễn triển khai hoạt động đối ngoại giữa đối ngoại đảng với ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân. Với những thành quả quan trọng, nổi bật đã đạt được thời gian vừa qua, với quyết tâm mạnh mẽ của Đảng, Nhà nước và các lực lượng làm đối ngoại, công tác đối ngoại của nước ta sẽ tiếp tục đạt kết quả thiết thực, hiệu quả toàn diện, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đây là đề tài nghiên cứu tham luận cá nhân về vấn đề hàn lâm, học thuật ngoại giao của Trần Huy Tuấn
• Thời gian nghiên cứu đề tài: tháng 6/2016 – 10/2018
• Hoàn thành đề tài: tháng 12/06/2018 – 21/09/2018

Kính chúc đ/c TBT, các đồng chí lãnh đạo Đảng ngoại giao Nhà nước nhiều sức khoẻ, chèo lái con thuyền đưa Dân tộc Việt Nam tiến mạnh, tiến vững, tiến chắc để cập bến bờ vinh quang và vị thế được nâng cao trên trường Hội nhập Quốc Tế.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s